Author: bachdn

  • Có nên kích nâng di tích quốc gia Tháp Chăm Phú Diên?

    Hội thảo có sự tham gia của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về bảo tồn di tích Champa trong nước. Ảnh: S.Thùy

    Ngày 21.8, Bảo tàng Lịch sử TP. Huế phối hợp với các đơn vị tổ chức Hội nghị công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia Tháp Chăm Phú Diên (xã Phú Vinh, TP. Huế).

    Theo nhiều chuyên gia, trong khoảng 10 năm sau khi xây dựng nhà bao che và các hạng mục công trình bảo tồn di tích Tháp Chăm Phú Diên, gần như không xảy ra tình trạng ngập úng, thấm mốc. Nhưng mấy năm trở lại đây, di tích này đã bị ảnh hưởng bởi ngập nước, rêu mốc, nhất là trong đợt mưa lũ lịch sử vào năm 2025 vừa qua.

    Trong tình hình biến đối khí hậu ngày càng phức tạp, các chuyên gia đã có nhiều ý kiến tâm huyết đóng góp cho công tác bảo tồn di tích Tháp Phú Diên. Trong đó, ý kiến đề cập đến việc kích nâng di tích lên cao hơn với khoảng 0,8m đến 1m đã nhận được sự quan tâm.

    Các chuyên gia khảo sát di tích Tháp Chăm Phú Diên trước khi diễn ra hội thảo. Ảnh: N.Minh

    Kỹ sư Lê Văn Quảng, nguyên Giám đốc Phân viện Khoa học công nghệ và xây dựng miền Trung (thuộc Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng – IBST, Bộ Xây dựng) nhận định rằng: nếu tính đến kích nâng, về lý thuyết cũng khả thi, nhưng với điều kiện là nâng toàn bộ công công trình di tích. Tức là kích nâng phần đáy tháp và thân tháp riêng, sau đó “nối” lại; thế nhưng phương án này cực kỳ tốn kém và chưa nên triển khai lúc này.

    “Nếu kích nâng thì có sự thay đổi diện mạo công trình – trong khi đây là công trình tích cấp quốc gia. Ngoài ra, khu vực di tích ở vùng ven biển, khi kích nâng lên cao hơn thì liệu công trình có chịu được sức ảnh hưởng của gió bão” – ông Lê Văn Quảng nêu ý kiến.

    Ông Quảng thông tin rằng: thời điểm khảo sát, nghiên cứu di tích này cách đây hơn 2 thập kỷ cho thấy gạch ở Tháp Phú Diên có “cường độ” quá thấp so với gạch ở các tháp Chăm khác tại Việt Nam. Độ xốp gạch cũng khác, cho nên tình trạng rêu mốc cũng nguy cơ cao hơn.

    Do đó, cần nghiên cứu gia cường gạch ở di tích Tháp Phú Diên, bảo tồn thân tháp và xử lý hệ thống thoát nước. Vì chất liệu gia cường hiện chỉ đảm bảo khoảng 4-5 năm nên phải có kế hoạch bảo tồn, bảo quản định kỳ.

    Ông Nguyễn Thế Hùng, nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL) góp ý tại hội thảo. Ảnh: S.Thùy

    Trong khi đó, TS.Trần Minh Đức, nguyên Giám đốc Phân viện Khoa học công nghệ và xây dựng miền Trung cho rằng: nếu đã kích nâng thì phải cao từ 1,5m đến 2m bởi tình hình biến đổi khí hậu là khó lường. Nhưng phương án kích nâng nguy cơ thay đổi diện mạo di tích nên khó thực hiện.

    “Tại di tích Tháp Chăm Phú Diên, ngoài vấn đề ngập nước thì còn rêu mốc và hiện tượng mủn gạch do quá trình hấp thu hơi nước trong không khí đẩy nhanh quá trình ăn mòn” – TS. Trần Minh Đức nói.

    Ông Trần Minh Đức góp ý rằng, việc bảo quản di tích Tháp Chăm cần tập trung các nội dung, như: Với phần thân tháp, tiến hành rút muối, gia cường cứng lớp bề mặt, phủ hóa chất siêu kỵ nước chống hấp phụ ẩm.

    Phần dưới đế tháp, cần tẩy nấm mốc, bơm vữa/chất kết dính/hóa chất chuyên dụng làm đặc cấu trúc; tăng cường chống thấm các vị trí lọt nước. Đồng thời xử lý các vị trí gạch mủn ở toàn bộ công trình.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở VHTT tỉnh Thừa Thiên Huế – nay là TP. Huế. Ảnh: S.Thùy

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở VHTT TP. Huế cho rằng cần bảo tồn di tích ngay tại ví trí vốn có ban đầu, không nên và không đủ điều kiện để thực hiện việc kích nâng, di dời Tháp Phú Diên. Ngoài ra, cần có chương trình bảo tồn, bảo quản có tính hệ thống của Bảo tàng Lịch sử với sự tham gia của các chuyên gia.

    Nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng chia sẻ rằng, quá trình khảo cổ, nghiên cứu và tu bổ bảo tồn di tích Tháp Chăm Phú Diên được thực hiện với những nguyên lý khoa học như các công trình tháp Chăm khác, không có gì đột phá về phương pháp tu bổ. Cái khác cơ bản ở đây chính là hạng mục nhà bao che, so với các dự án tu bổ các tháp khác.

    “Thành công là giữ được vị trí nguyên gốc ban đầu của tháp, vị trí này không chỉ giúp cho chúng ta nghiên cứu về lịch sử văn hóa Champa mà còn giúp nghiên cứu sự thay đổi về địa hình, cảnh quan khu vực này để chúng ta có những nhận thức cho việc triển khai các phương án chống biến đổi khí hậu sau này” – TS. Nguyễn Thế Hùng nói.

    Kỹ sư Lê Văn Quảng, nguyên Giám đốc Phân viện Khoa học công nghệ và xây dựng miền Trung chia sẻ về phương án bảo tồn di tích Tháp Chăm Phú Diên. Ảnh: S.Thùy

    Theo ông, hiện nay kiến trúc của Tháp Chăm Phú Diên vẫn đang còn đứng vững, nhưng vẫn chưa thể yên tâm bởi khi thực hiện phương án bảo tồn trước đây, chúng ta chưa thiết lập chế độ để theo dõi môi trường di tích trong một thời gian dài. Nhiệt độ, độ ẩm, tính toán hàm lượng muối trong di tích và khu vực bên ngoài như thế nào, cấp độ gió tác động tới kiến trúc vào các mùa trong năm như thế nào…

    TS. Nguyễn Thế Hùng cho rằng trước mắt cần tập trung cho công tác bảo quản với những công nghệ hiện đại hơn. Mấy năm trở lại đây, Viện Bảo tồn Di tích đã được Bộ VHTTDL cho triển khai nghiên cứu ứng dụng hóa chất trong bảo quản gạch, đá của di tích, đã được áp dụng tại di tích Hoàng thành Thăng Long và một số di tích khác nữa, có cả tháp Chăm.

    “Bảo tàng có thể nghiên cứu, xem xét để triển khai nội dung này tại di tích Tháp Chăm Phú Diên và các di tích có gạch, đá khác trên địa bàn”- nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng chia sẻ.

    Ông Nguyễn Thiên Bình, Phó Giám đốc Sở VHTT TP. Huế nói rằng Tháp Phú Diên có đặc thù nằm ở vùng cát ven biển nên chịu nhiều ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, biến động địa chất. Ảnh: S.Thùy

    Ông Nguyễn Thiên Bình, Phó Giám đốc Sở VHTT TP. Huế cho biết: Hơn 25 năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị Tháp Phú Diên luôn được các cấp, ngành quan tâm. Nhiều hoạt động khảo sát, nghiên cứu, tu bổ, tôn tạo và chống xuống cấp được triển khai, góp phần bảo vệ các yếu tố gốc và đưa giá trị di tích đến gần hơn với cộng đồng, du khách.

    Tuy nhiên, Tháp Phú Diên có điều kiện bảo tồn đặc thù khi nằm trên cồn cát ven biển, thường xuyên chịu tác động của gió, cát, hơi muối, độ ẩm, nước ngầm, biến động địa chất, thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến vật liệu gạch, kết cấu kiến trúc, nền móng và sự ổn định lâu dài của di tích.

    Hội nghị lần này nhằm ghi nhận ý kiến của các chuyên gia để Bảo tàng Lịch sử TP. Huế và Sở VHTT xây dựng và hoàn thiện phương án bảo tồn di tích một cách bài bản, khoa học, đồng bộ và lâu dài. Các giải pháp tu bổ, gia cố phải dựa trên đầy đủ dữ liệu khảo cổ, kiến trúc, vật liệu, địa chất, môi trường và kết quả nghiên cứu liên quan.

    Tháp Chăm Phú Diên bị ngập úng trong đợt mưa lũ lịch sử tháng 11.2025. Ảnh: N.Minh

    Tháp Phú Diên là di tích kiến trúc Champa cổ bị vùi sâu dưới lòng cát ven biển, được phát hiện vào ngày 18.4.2001. Khi phát hiện, công trình vẫn còn tương đối nguyên vẹn với nhiều yếu tố kiến trúc độc đáo.

    Kết quả thám sát và khảo cổ cho thấy đây là công trình kiến trúc Champa xây  bằng gạch nung, có mặt bằng hình chữ nhật, diện tích trên 30m², gồm một cửa chính hướng Đông và ba cửa giả ở các hướng còn lại. Trong lòng tháp phát hiện Yoni bằng đá cùng nhiều dấu tích kiến trúc và hiện vật liên quan đến tín ngưỡng Champa.

    Các chuyên gia, nhà nghiên cứu và các cơ quan chuyên môn khoa học xác định, Tháp Chăm Phú Diên có niên đại khoảng đầu thế kỷ VIII, thuộc nhóm kiến trúc Champa sớm, mang phong cách chuyển tiếp từ Mỹ Sơn E1 sang Hòa Lai.

    Đây không chỉ là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo mà còn là minh chứng sinh động cho quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa trên vùng đất miền Trung nói chung và vùng đất Huế nói riêng.

    Cuối năm 2001, Bộ VHTT (nay là Bộ VHTTDL) đã xếp hạng Tháp Phú Diên là di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Công tác bảo tồn di tích này cũng đã được tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với các cơ quan chuyên môn triển khai, trong đó có xây dựng nhà bao che.

    SƠN THÙY

    Nguồn https://baomoi.com/co-nen-kich-nang-di-tich-quoc-gia-thap-cham-phu-dien-c55881654.epi

  • Thái Nguyên: Đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng xây mới cầu Bến Oánh

    Dự án nhằm tăng cường kết nối giao thông giữa các phường Linh Sơn, Phan Đình Phùng, mở ra không gian phát triển mới hai bên sông Cầu. Đồng thời góp phần giảm áp lực giao thông cho các tuyến đường hiện hữu, khai thác hiệu quả quỹ đất hai bên sông và thúc đẩy thu hút đầu tư.

    Theo quyết định, tổng chiều dài tuyến khoảng 1.383m, gồm cầu Bến Oánh vượt sông Cầu, cầu Mo Linh vượt suối Mo Linh, đường dẫn hai đầu cầu và hạng mục cải suối Mo Linh. Điểm đầu Dự án tại Km0+000 trên đường Bến Oánh, thuộc phường Phan Đình Phùng; điểm cuối tại Km1+383 trên tuyến đường quy hoạch có mặt cắt B=50m, thuộc phường Linh Sơn.

    Trong đó, cầu Bến Oánh dự kiến dài khoảng 373,55m, chiều rộng cầu và đường dẫn từ 22,5-33,5m. Cầu Mo Linh được xây dựng qua suối Mo Linh, dự kiến dài khoảng 147,2m, rộng 50m. Dự án đồng thời thực hiện cải suối Mo Linh hiện hữu theo định hướng quy hoạch không gian thoát lũ đã được phê duyệt, với chiều dài khoảng 500m; hoàn thiện hệ thống cống rãnh thoát nước, hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục bảo đảm an toàn giao thông.

    Dự án thuộc nhóm B, có tổng mức đầu tư 2.082,349 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương bố trí 800 tỷ đồng, ngân sách địa phương 1.282,349 tỷ đồng; thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2029.

    Dự án được chia thành 2 dự án thành phần. Dự án thành phần 1 gồm xây dựng cầu Bến Oánh, cầu Mo Linh và đường dẫn đầu cầu, với tổng mức đầu tư dự kiến 1.608,345 tỷ đồng. Dự án thành phần 2 thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tổng mức đầu tư dự kiến 474,004 tỷ đồng, diện tích đất thu hồi khoảng 16,82ha.

    Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên là cơ quan chuẩn bị dự án, được giao chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, hợp pháp của hồ sơ và triển khai các bước theo chủ trương đầu tư đã phê duyệt; đồng thời tổ chức thi tuyển phương án kiến trúc, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật.

    Chu Hồng Đông

    Nguồn https://baomoi.com/thai-nguyen-dau-tu-hon-2-000-ty-dong-xay-moi-cau-ben-oanh-c55881514.epi

  • Trình Quốc hội cơ chế, chính sách đặc thù cho các khu đô thị lấn biển

    Các đại biểu tham dự tại Hội trường. Ảnh: Media Quốc hội.

    Ngày 21/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khoá XVI, Thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã trình cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.

    Tờ trình của Chính phủ cho thấy, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ Ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trong đó xác định: “Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội, có năng lực cạnh tranh quốc tế cao để phát triển các khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do và các cụm công nghiệp – dịch vụ – đô thị biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực. Phát triển hệ thống đô thị biển hiện đại, xanh, thông minh, có bản sắc, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Gắn phát triển đô thị biển với tổ chức lại không gian phát triển vùng ven biển, các mạng lưới đô thị quốc gia”.

    Theo Bộ trưởng, việc xây dựng cơ chế, chính sách này nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển, đồng thời thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về rà soát cơ chế chung áp dụng cho các dự án đô thị lấn biển.

    Thực tiễn, nhiều quốc gia đã thực hiện lấn biển để xây dựng các đảo nhân tạo, khắc phục giới hạn về quỹ đất. Những dự án này thường có quy mô đặc biệt lớn và được điều chỉnh bằng khung khổ pháp lý riêng, ổn định. Trong khi đó, Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, 21 tỉnh, thành phố có biển, trong khi quỹ đất ven biển tại các đô thị lớn ngày càng hạn hẹp.

    Theo Chính phủ, dự án xây dựng khu đô thị lấn biển có những đặc thù khác cơ bản so với hoạt động lấn biển thông thường. Trong đó, đất chưa hình thành tại thời điểm lập quy hoạch; dự án thường có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài và nhu cầu vật liệu san lấp rất lớn. Do đó, cơ chế được đề xuất chỉ điều chỉnh việc hình thành khu đô thị lấn biển cách bờ, không điều chỉnh hoạt động lấn biển nói chung.

    Trong quá trình xây dựng hồ sơ, Chính phủ cho biết đã tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan Trung ương và địa phương có biển. Dự thảo đã được thu hẹp đáng kể, trong đó lược bỏ toàn bộ các chính sách về tài chính, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh, hải quan, miễn thị thực và quy định về từ bỏ quyền khởi kiện. Đồng thời, dự thảo không quy định khác với Luật Đất đai và pháp luật về địa chất, khoáng sản; không miễn, giảm các thủ tục về môi trường.

    Về nguyên tắc, dự án phải phù hợp với quy hoạch, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, không cản trở hoạt động hàng hải. Việc quyết định dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động đối với khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân.

    Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế đối với nhà đầu tư chiến lược. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, trình tự lựa chọn, điều kiện ưu đãi, nghĩa vụ giải ngân và chế tài sẽ dẫn chiếu theo Điều 35 của dự thảo Luật Phát triển đô thị. Dự thảo chỉ giữ lại một số nội dung đặc thù, trong đó quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 15% đối với dự án có tổng mức đầu tư từ 100.000 tỷ đồng đến 200.000 tỷ đồng và 10% đối với dự án trên 200.000 tỷ đồng.

    Thời gian hoạt động của dự án không quá 70 năm. Trường hợp dự án chưa hoàn thành, nhà đầu tư không được chuyển nhượng toàn bộ dự án; phần chuyển nhượng cũng không quá 50% diện tích đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật.

    Đối với quy hoạch và khoáng sản, dự thảo đề xuất UBND cấp tỉnh quyết định các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất trong trường hợp chưa có quy định hoặc yêu cầu cao hơn tiêu chuẩn quốc gia, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về hạ tầng. Dự án được áp dụng cơ chế khai thác khoáng sản như đối với dự án quan trọng quốc gia. Việc khai thác cát biển phải thực hiện đánh giá tác động môi trường.

    Đối với việc giao khu vực biển trong vùng lãnh hải, dự thảo quy định thẩm quyền quyết định thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh sau khi có ý kiến của các bộ, ngành liên quan.

    Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết thêm, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo dự kiến tiếp tục hoàn thiện dự thảo theo hướng rà soát khái niệm khu đô thị lấn biển để xác định rõ đối tượng, phạm vi áp dụng; không quy định cụ thể tiêu chí về tổng mức đầu tư xây dựng.

    Cơ quan soạn thảo dự kiến không thiết kế thành một chương riêng về cơ chế, chính sách đối với khu đô thị lấn biển, mà tích hợp những nội dung cần thiết vào các điều khoản phù hợp tại Chương 2 của dự thảo Luật. Qua đó, cùng một vấn đề được điều chỉnh theo một nguyên tắc và một chế độ pháp lý thống nhất trong luật.

    “Việc sớm ban hành cơ chế chính sách này có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo khuôn khổ pháp lý ổn định để hình thành các cực tăng trưởng mới gắn với biển, huy động hiệu quả nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, đồng thời đảm bảo quản lý chặt chẽ tài nguyên biển, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh,” Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu. Ảnh: Media Quốc hội.

    Cần cơ chế kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời của dự án

    Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, sau phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 20/8, Chính phủ đã rất chủ động, tích cực, điều chỉnh ngay một số nội dung và được thể hiện rõ trong tờ trình hôm nay.

    Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự thảo Luật Phát triển đô thị, nhằm mở rộng không gian phát triển, khai thác tiềm năng kinh tế biển và huy động nguồn lực ngoài ngân sách.

    Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra nhận thấy nội dung Chính phủ đề xuất thực chất là cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, chưa hình thành đầy đủ cơ chế quản lý, vận hành đối với một loại đô thị mới có yêu cầu đặc thù về quản trị đô thị. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần xác định rõ mục đích tích hợp các cơ chế, chính sách này vào dự thảo luật.

    Nếu chỉ hướng đến quy định cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án xây dựng khu đô thị lấn biển thì phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 của dự thảo luật hiện nay đã đủ để bao quát nội dung Chính phủ đề nghị bổ sung. Cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc diễn đạt nội dung tích hợp vào Điều 1 cho phù hợp, tránh hiểu nhầm khu đô thị lấn biển là một đơn vị hành chính hoặc một cấp chính quyền.

    Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản thống nhất với các cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai dự án xây dựng khu đô thị lấn biển quy mô lớn, nhưng đề nghị rà soát kỹ từng chính sách về phạm vi, đối tượng, tiêu chí dự án, nhà đầu tư chiến lược, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, điều kiện chuyển nhượng dự án, thời hạn hoạt động, các đặc thù về quy hoạch, khai thác khoáng sản, ưu đãi đối với nhà đầu tư, các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, môi trường và cơ chế quản lý, kiểm soát để bảo đảm tính hợp lý, khả thi.

    Tuy nhiên, các cơ chế chính sách tập trung nhiều vào ưu đãi hỗ trợ và thu hút đầu tư, trong khi cơ chế bảo đảm quản lý vận hành và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời của dự án chưa được quy định đầy đủ. Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị cân nhắc bổ sung các quy định này; đồng thời có thể tích hợp những nội dung thực sự cần thiết vào các điều khoản tương ứng của Chương II, bảo đảm cùng một vấn đề được điều chỉnh theo nguyên tắc và hệ thống tiêu chí thống nhất trong luật.

    Kiều Chinh

    Nguồn https://baomoi.com/trinh-quoc-hoi-co-che-chinh-sach-dac-thu-cho-cac-khu-do-thi-lan-bien-c55881407.epi

  • Quảng Trị tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, nỗ lực thi công trước mùa mưa bão

    Thi công đường dẫn phía Đông cầu Nhật Lệ 3. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

    Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương và chủ đầu tư quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu đến hết tháng 8/2026 đạt tối thiểu 60% kế hoạch vốn.

    Tỉnh Quảng Trị cảnh báo tiến độ giải ngân đang có dấu hiệu chững lại, trong khi thời điểm hiện nay thuận lợi để tăng tốc thi công trước mùa mưa bão.

    Theo số liệu thống kê, đến ngày 31/7, Quảng Trị có tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 hơn 5.025 tỷ đồng, đã giải ngân hơn 2.285 tỷ đồng, đạt 45,47%.

    Từ nay đến hết tháng Tám, tỉnh Quảng Trị giao thêm chỉ tiêu giải ngân hơn 858 tỷ đồng cho các đơn vị nhằm nâng tỷ lệ giải ngân toàn tỉnh lên tối thiểu 60%.

    Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các xã, phường, đặc khu và chủ đầu tư đề cao trách nhiệm người đứng đầu, khẩn trương chỉ đạo, đôn đốc tiến độ; đồng thời phân công lãnh đạo cụ thể phụ trách từng dự án, bảo đảm giải ngân đúng số vốn được giao.

    Tại tỉnh Quảng Trị, đến ngày 31/7, nhiều đơn vị vẫn có tỷ lệ giải ngân dưới 50%. Đơn cử như Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh mới đạt 45,9% kế hoạch; Sở Tài chính đạt 47,5%; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 41,8%; Ban Quản lý Khu kinh tế đạt 37,4%; Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam-Cuba Đồng Hới đạt 35,4%.

    Đáng chú ý, Sở Nông nghiệp và Môi trường mới giải ngân hơn 2,7 tỷ đồng trong tổng số hơn 39 tỷ đồng, đạt 7%; Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đạt 21,8%.

    Ở khối địa phương, áp lực giải ngân cũng rất lớn. Ủy ban Nhân dân phường Đông Hà mới đạt 30%, Ủy ban Nhân dân phường Đồng Hới đạt 28,9%, phường Nam Đông Hà đạt 20,1%, phường Đồng Thuận đạt 26,9%. Một số địa phương có tỷ lệ rất thấp như xã Diên Sanh 5,9%, xã Cam Lộ 8%, xã Cửa Tùng 10,8%, xã Khe Sanh 13,5%, xã Hướng Phùng 19,2% và xã Vĩnh Linh 20,2%.

    Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các đơn vị chưa đạt 60% đến ngày 31/7 phải bảo đảm đến hết tháng Tám đạt tối thiểu 60%; những đơn vị đã đạt hoặc gần đạt mức này tiếp tục phấn đấu tăng thêm khoảng 5%.

    Trong khi đó, các đơn vị có kết quả cao được giao mục tiêu cao hơn. Công an tỉnh đã giải ngân 70%, được giao mục tiêu 75%; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đạt 65,5%, mục tiêu 70%; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và phát triển quỹ đất Đồng Hới đạt 76%, mục tiêu 81%.

    Một số địa phương đạt tỷ lệ rất cao như xã Kim Phú 99,4%, xã Đakrông 94,3%, xã Hướng Hiệp 93,3%, xã Tuyên Phú 90,9% và xã Ba Lòng 90%.

    Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh yêu cầu các chủ đầu tư tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, chủ động phối hợp với các sở, ngành, địa phương để đẩy nhanh tiến độ.

    Lãnh đạo được phân công phụ trách từng dự án phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, không để tình trạng vốn đã bố trí nhưng chậm được giải ngân.

    Tỉnh Quảng Trị giao Sở Tài chính rà soát, tính toán tỷ lệ giải ngân đến hết tháng Tám trên cơ sở số liệu kế hoạch vốn thực tế và số liệu giải ngân của Kho bạc Nhà nước khu vực XII, làm cơ sở tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu cho các tháng tiếp theo.

    Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị xác định tăng tốc giải ngân trong thời điểm này vừa góp phần hoàn thành kế hoạch vốn năm 2026, vừa tạo điều kiện đẩy nhanh thi công, hoàn thành các hạng mục trước mùa mưa bão, hạn chế nguy cơ phát sinh chậm tiến độ do thời tiết.

    Các đơn vị được yêu cầu nghiêm túc thực hiện chỉ tiêu được giao, góp phần duy trì tỷ lệ giải ngân của tỉnh cao hơn mức bình quân chung cả nước./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-tang-toc-giai-ngan-von-dau-tu-cong-no-luc-thi-cong-truoc-mua-mua-bao-c55881360.epi

  • Quảng Ngãi triển khai giải pháp tăng nguồn cung vật liệu, hỗ trợ tiến độ các dự án hạ tầng

    Khai thác vật liệu tại chỗ cung cấp cho công trình đang triển khai

    Chiều 20/8, trao đổi với PV Báo Xây dựng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi Hồ Trọng Phương cho biết, đơn vị đã phát hành văn bản hướng dẫn các chủ đầu tư và địa phương về nhóm các giải pháp tăng nguồn cung vật liệu, hỗ trợ tiến độ các công trình, dự án trên địa bàn.

    Các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gặp khó do thiếu vật liệu. (Ảnh: Lê Danh).

    Theo ông Phương, thời gian qua nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường, đặc biệt là đất san lấp, cát và đá phục vụ các dự án đầu tư công trên địa bàn có thời điểm chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Cùng với đó, tại một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, khoảng cách từ các mỏ vật liệu đang hoạt động đến công trường khá lớn, kéo theo chi phí vận chuyển tăng cao, ảnh hưởng đến giá thành và tiến độ thi công các dự án.

    Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cho biết, Luật Địa chất và Khoáng sản số 54 và số 147 đã bổ sung nhiều cơ chế tạo điều kiện cho chủ đầu tư chủ động xác định các khu vực khoáng sản phù hợp và thực hiện thủ tục khai thác vật liệu phục vụ trực tiếp cho công trình, dự án theo quy định. Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã có các văn bản hướng dẫn và phối hợp triển khai.

    Tuy nhiên, qua theo dõi cho thấy một số chủ đầu tư và địa phương vẫn chưa chủ động rà soát, xác định nguồn vật liệu ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Nhiều dự án vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn cung từ các mỏ thương mại, dẫn đến bị động khi thị trường khan hiếm vật liệu hoặc giá cả, chi phí vận chuyển tăng cao.

    Tình trạng khan hiếm đất đắp đã ảnh hưởng đến tiến độ các công trình, dự án. (Ảnh: Lê Danh).

    Nhằm bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng, góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công, tiết kiệm ngân sách Nhà nước và giảm giá thành công trình, Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các chủ đầu tư khẩn trương rà soát nhu cầu, khối lượng, chủng loại và nguồn cung vật liệu của từng dự án đang triển khai.

    Trường hợp nguồn vật liệu từ các mỏ thương mại không bảo đảm nhu cầu hoặc có cự ly vận chuyển xa làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, chủ đầu tư cần phối hợp với UBND cấp xã nơi có công trình và các địa phương lân cận khảo sát, xác định các khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu san lấp, điều kiện khai thác thuận lợi và cự ly vận chuyển hợp lý để nghiên cứu khai thác phục vụ trực tiếp cho công trình.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, các chủ đầu tư khẩn trương đề xuất khu vực dự kiến khai thác, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan thực hiện các thủ tục về khoáng sản theo quy định. Đồng thời, rà soát và điều chỉnh thiết kế, dự toán, nguồn vật liệu của dự án khi cần thiết để thay thế một phần hoặc toàn bộ nguồn vật liệu dự kiến mua từ các mỏ thương mại.

    Việc lựa chọn nguồn vật liệu phải bảo đảm yêu cầu về chất lượng, trữ lượng, khả năng cung ứng và tiến độ thi công; đồng thời đáp ứng các quy định về an toàn khai thác, bảo vệ môi trường. Các khu vực có cự ly vận chuyển hợp lý, thuận lợi cho tổ chức khai thác và vận chuyển sẽ được ưu tiên nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả đầu tư.

    “Trên cơ sở chỉ đạo quyết liệt tại các buổi làm việc gần đây của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Tâm, chúng tôi sẽ tập trung hỗ trợ tối đa, rút ngắn hết mức có thể ở khâu thủ tục theo quy định để các chủ đầu tư, địa phương nhanh chóng tiếp cận được nguồn vật liệu”, ông Phương nói. 

    Đưa phương án vật liệu vào từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư

    Cũng theo ông Hồ Trọng Phương, lâu nay, công tác xác định nguồn vật liệu từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án chưa được các chủ đầu tư quan tâm đúng mức. Dẫn đến bị động khi nguồn cung trên thị trường khan hiếm, giá vật liệu và chi phí vận chuyển tăng cao.

    Nhu cầu ngoài tỉnh tăng cao đã khiến nguồn cung vật liệu trên địa bàn Quảng Ngãi bị ảnh hưởng. (Ảnh: Lê Danh)

    Đối với nhóm dự án này, Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu chủ đầu tư xem việc xác định nguồn vật liệu xây dựng là một nội dung trọng tâm ngay từ quá trình khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật theo tính chất, quy mô của từng dự án.

    Ở bước lập hồ sơ chuẩn bị đầu tư, các đơn vị tư vấn phải đồng thời khảo sát, đánh giá các khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu san lấp tại khu vực triển khai dự án cũng như địa bàn lân cận. Từ đó xem xét khả năng đáp ứng về trữ lượng, chất lượng, điều kiện khai thác, cự ly vận chuyển và các yếu tố liên quan để lựa chọn nguồn vật liệu phù hợp.

    Đối với những khu vực có khả năng đáp ứng nhu cầu và đủ điều kiện thực hiện thủ tục khai thác theo quy định, chủ đầu tư cần chủ động đưa vào phương án nguồn vật liệu của dự án ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thay vì mặc định toàn bộ nhu cầu phải mua từ các mỏ thương mại.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc chủ động xác định nguồn vật liệu từ sớm sẽ giúp bảo đảm tính khả thi của dự án, hạn chế biến động giá, giảm chi phí vận chuyển, tiết kiệm ngân sách Nhà nước và hạ giá thành xây dựng công trình.

    Nguồn vật liệu tại chỗ, khả thi trong khai thác sẽ được bố trí cho các công trình, dự án. (Ảnh: Lê Danh).

    Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu UBND cấp xã trên địa bàn phối hợp rà soát các khu vực có khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, vật liệu san lấp có khả năng khai thác phục vụ các công trình, dự án đầu tư công trên địa bàn và khu vực lân cận.

    Quá trình rà soát cần ưu tiên các khu vực có điều kiện địa hình, giao thông thuận lợi, cự ly vận chuyển phù hợp. Đồng thời, xem xét các nguồn khoáng sản dôi dư phát sinh trong quá trình thi công công trình, cải tạo mặt bằng hoặc các nguồn khoáng sản đã tập kết tại bãi thải, bãi chứa có khả năng thu hồi, tái sử dụng theo quy định.

    Các địa phương cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin về hiện trạng sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, quốc phòng, an ninh và các yếu tố liên quan để chủ đầu tư có cơ sở lựa chọn khu vực phù hợp, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền trong quản lý, thu hồi khoáng sản.

    Nhóm giải pháp được đưa ra nhằm tăng nguồn cung, kéo giảm giá vật liệu, hỗ trợ tiến độ các công trình, dự án. (Ảnh: Lê Danh).

    Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi đề nghị các chủ đầu tư và địa phương khẩn trương hoàn thành việc rà soát nhu cầu vật liệu của từng công trình, dự án. Cũng như nguồn vật liệu đang sử dụng hoặc dự kiến sử dụng, các khu vực có khả năng khai thác khoáng sản để phục vụ trực tiếp cho công trình, dự án. 

    Song song đó là dự kiến cụ thể từng loại khoáng sản, nhu cầu khối lượng, vị trí, diện tích, cự ly vận chuyển và thời gian cần cung cấp vật liệu. Tổng hợp những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị gửi về Sở trước ngày 30/8/2026 để được hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện các thủ tục theo quy định.

    Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhiền đến năm 2050, tổng số mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường là; gồm: 176 mỏ đá xây dựng; 227 mỏ cát xây dựng; 327 mỏ đất đồi làm vật liệu san lấp và 20 mỏ đất sét làm gạch ngói; tài nguyên dự báo tương ứng khoảng 300 triệu m3 đá, 50 triệu m3 cát và 350 triệu m3 đất san lấp.

    Hiện tỉnh có 45 mỏ đá (trữ lượng 51,6 triệu m3 – công suất 3,25 triệu m3/năm), 39 mỏ cát (tổng trữ lượng còn lại khoảng 7,1 triệu m3, công suất 0,63 triệu m3/năm) và 23 mỏ đất (tổng trữ lượng còn lại khoảng 18,38 triệu m3, công suất 7,33 triệu m3/năm).

    Lê Danh

    Nguồn https://baomoi.com/quang-ngai-trien-khai-giai-phap-tang-nguon-cung-vat-lieu-ho-tro-tien-do-cac-du-an-ha-tang-c55881347.epi

  • Chung cư Hà Nội lên tới 123 triệu đồng/m2, xuất hiện điều đáng chú ý

    Giao dịch giảm, giá chung cư Hà Nội vẫn neo trên 120 triệu đồng/m2

    Theo thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản quý II/2026 vừa được Bộ Xây dựng công bố, thanh khoản thị trường tiếp tục có dấu hiệu suy giảm. Khảo sát của một số tổ chức nghiên cứu thị trường cho thấy tỷ lệ hấp thụ thấp đang gây áp lực ngày càng lớn lên dòng tiền cũng như lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp.

    Theo số liệu báo cáo từ các địa phương, trong quý II/2026, cả nước có khoảng 100.005 giao dịch bất động sản thành công, chỉ bằng 71,5% so với quý I/2026 và bằng 63,7% so với cùng kỳ năm 2025.

    Như vậy, nếu so với quý đầu năm, lượng giao dịch bất động sản thành công giảm gần 30%. Còn so với cùng kỳ năm trước, thị trường mất hơn một phần ba lượng giao dịch.

    Xét theo từng phân khúc, chung cư và nhà ở riêng lẻ ghi nhận 26.567 giao dịch thành công, bằng 86,1% so với quý I/2026 và bằng 77,1% so với cùng kỳ năm 2025.

    Trong khi đó, đất nền vẫn chiếm phần lớn giao dịch với 73.438 giao dịch, nhưng mức giảm lại mạnh hơn. Lượng giao dịch đất nền trong quý II chỉ bằng 67,4% quý trước và 59,9% so với cùng kỳ năm 2025.

    Biểu đồ: Hồng Khanh (Số liệu: Bộ Xây dựng)

    Đáng chú ý, trong khi thanh khoản giảm, giá bất động sản vẫn đang ở mức cao, khiến khoảng cách giữa kỳ vọng của người bán và khả năng tài chính của người mua ngày càng lớn.

    Theo Bộ Xây dựng, trong quý II/2026, giá bán căn hộ chung cư trên thị trường thứ cấp tại nhiều địa phương có xu hướng giảm so với quý I. Tuy nhiên, giá bán sơ cấp tại các đô thị lớn vẫn ở mức rất cao.

    Tại Hà Nội, giá bán căn hộ chung cư bình quân khoảng 123 triệu đồng/m2. Tại TPHCM, mức giá bình quân khoảng 108 triệu đồng/m2, trong khi tại Hưng Yên khoảng 69 triệu đồng/m2.

    Khảo sát trên thị trường, một số dự án tại Hà Nội tiếp tục duy trì mức giá cao. Hateco Laroma được ghi nhận khoảng 133-140 triệu đồng/m2; Bamboo Airways Tower khoảng 97-103 triệu đồng/m2; Sông Hồng Park View khoảng 98-105 triệu đồng/m2 và Sunshine Garden khoảng 80-87 triệu đồng/m2.

    Tại TPHCM, Masteri Thảo Điền có giá khoảng 114-120 triệu đồng/m2; Cantavil An Phú khoảng 80-89 triệu đồng/m2 và An Gia Skyline khoảng 64-72 triệu đồng/m2.

    Tại Hưng Yên, giá căn hộ tại một số dự án ở Ecopark cũng ở mức cao. Sky Oasis Ecopark khoảng 55-70 triệu đồng/m2; Sol Forest Ecopark khoảng 65-85 triệu đồng/m2; Swan Lake Onsen Ecopark khoảng 70-95 triệu đồng/m2.

    Việc giá thứ cấp bắt đầu điều chỉnh trong bối cảnh thanh khoản suy giảm cho thấy người bán đang phải chịu sức ép lớn hơn để đưa ra mức giá phù hợp với khả năng hấp thụ thực tế của thị trường.

    Tại Hà Nội, giá bán căn hộ chung cư bình quân khoảng 123 triệu đồng/m2. Ảnh: Hồng Khanh

    Không chỉ chung cư, phân khúc biệt thự, nhà ở liền kề trong các dự án cũng ghi nhận xu hướng điều chỉnh giá tại nhiều địa phương trong quý II/2026.

    Ghi nhận tại Hà Nội, The Zei có giá khoảng 375-380 triệu đồng/m2; Imperial Plaza khoảng 328-337 triệu đồng/m2; Louis City khoảng 285-292 triệu đồng/m2; Jade Lake Residence khoảng 295-302 triệu đồng/m2.

    Tại TPHCM, mặt bằng giá cũng neo cao. Lakeview City tại TP Thủ Đức có giá khoảng 220-250 triệu đồng/m2; Saigon Mystery Villas khoảng 312-320 triệu đồng/m2; Thủ Thiêm Villa khoảng 215-225 triệu đồng/m2; The Global City khoảng 360-371 triệu đồng/m2.

    Ở chiều ngược lại, một số khu vực có mức giá thấp hơn đáng kể. Sol Villas có giá khoảng 120-130 triệu đồng/m2, Ixora Hồ Tràm khoảng 103-115 triệu đồng/m2 và The Light City khoảng 51-60 triệu đồng/m2.

    Tại Hải Phòng, Vinhomes Imperia Hải Phòng có giá khoảng 120-140 triệu đồng/m2; Vinhomes Marina Cầu Rào 2 khoảng 100-160 triệu đồng/m2; Hoàng Huy Riverside khoảng 90-130 triệu đồng/m2.

    Tồn kho tăng mạnh, doanh nghiệp chịu áp lực dòng tiền

    Một điểm đáng chú ý trên thị trường bất động sản trong quý II/2026 là diễn biến tồn kho bất động sản.

    Theo báo cáo của 25/34 địa phương, lượng bất động sản tồn kho của chủ đầu tư tại các dự án trong quý II/2026 vào khoảng 39.284 căn/nền, gồm chung cư, nhà ở riêng lẻ và đất nền.

    Trong đó, tồn kho chung cư lên tới 12.823 căn, tăng khoảng 22,2% so với quý I/2026. Lượng nhà ở riêng lẻ tồn kho lên tới 15.313 căn, tăng tới 46,4% so với quý trước.

    Như vậy, chỉ riêng hai nhóm chung cư và nhà ở riêng lẻ đã có hơn 28.000 sản phẩm tồn kho tại các dự án được báo cáo.

    Diễn biến này cho thấy thị trường đang đứng trước một nghịch lý: giá bất động sản vẫn ở mức cao tại nhiều khu vực, nhưng khả năng hấp thụ của người mua lại suy yếu.

    Thanh khoản giảm và tồn kho tăng có thể khiến thời gian thu hồi vốn kéo dài, qua đó tạo thêm áp lực lên dòng tiền, đặc biệt với những doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy cao.

    Thời gian qua, mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng điều chỉnh tăng. Dẫn số liệu từ các báo cáo nghiên cứu thị trường, Bộ Xây dựng cho biết, lãi suất vay bất động sản phổ biến khoảng 12-14%/năm, trong khi nhiều khoản vay sau thời gian ưu đãi đã chuyển sang lãi suất thả nổi khoảng 13-15%/năm, thậm chí 15-16%/năm tại một số ngân hàng. 

    “Chi phí vốn tăng làm giảm khả năng hấp thụ tín dụng của người mua nhà, đồng thời gia tăng áp lực tài chính đối với các chủ đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy cao hoặc dự án triển khai kéo dài”, Bộ Xây dựng nhận định.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/chung-cu-ha-noi-len-toi-123-trieu-dong-m2-xuat-hien-dieu-dang-chu-y-c55881427.epi

  • Quản lý đầu tư công bằng dữ liệu, kết quả và trách nhiệm người đứng đầu

    Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh kết luận cuộc họp. Ảnh: Ngọc Hiếu 

    Đánh giá thực chất năng lực chủ đầu tư

    Theo báo cáo của Sở Tài chính tại cuộc họp, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công và các CTMTQG hiện còn thấp, trong khi khối lượng vốn cần tiếp tục giải ngân trong thời gian còn lại của năm rất lớn.

    Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung phân tích những điểm nghẽn ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án như giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, quy hoạch, thủ tục chuyên ngành, chuẩn bị đầu tư và bố trí nguồn vốn.

    Ngoài ra, việc xác định nguồn gốc đất tại một số địa phương còn mất nhiều thời gian; lực lượng làm công tác giải phóng mặt bằng mỏng trong khi nhiều dự án triển khai đồng thời. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu lao động, biến động giá nhiên liệu và nguyên vật liệu xây dựng, nhất là cát xây dựng, đất san lấp, cũng ảnh hưởng đến tiến độ thi công và khả năng tạo khối lượng giải ngân.

    Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh đánh giá, việc xử lý các tồn tại, vướng mắc thời gian qua chưa tích cực, tiến độ chuyển biến còn chậm, trong khi thời gian còn lại của năm không nhiều. Vì vậy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và chủ đầu tư phải rà soát toàn bộ công việc, xác định cụ thể từng điểm nghẽn, giải pháp xử lý và thời hạn hoàn thành.

    “Mỗi vướng mắc phải xác định rõ thuộc thẩm quyền của cơ quan nào, trách nhiệm của ai và khi nào phải hoàn thành. Từ đó, chuyển mạnh sang quản lý đầu tư công dựa trên dữ liệu, kết quả thực hiện và trách nhiệm cụ thể”, đồng chí Lê Trí Thanh nhấn mạnh.

    Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh yêu cầu đánh giá lại năng lực của các chủ đầu tư. Sở Tài chính xây dựng, thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu về tình hình thực hiện dự án của từng chủ đầu tư, làm rõ tiến độ, chất lượng và năng lực tổ chức triển khai.

    Những chủ đầu tư triển khai chậm, chất lượng không bảo đảm hoặc thường xuyên để xảy ra vướng mắc phải được đánh giá cụ thể, làm cơ sở xem xét việc giao nhiệm vụ, bố trí vốn trong những năm tiếp theo. Thành phố cần có cơ chế sàng lọc, không tiếp tục giao nhiệm vụ đối với những chủ đầu tư yếu kém, không đáp ứng yêu cầu.

    Cùng với đó, các cơ quan chuyên môn phải chủ động tham gia ngay từ khâu chuẩn bị đầu tư, lập đề xuất chủ trương đầu tư, hoàn thiện hồ sơ đến trình cấp có thẩm quyền. Dự án khi được bố trí vốn phải đủ điều kiện triển khai, tránh tình trạng có vốn nhưng không thể thực hiện.

    UVTV Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Hoàng Hải Minh phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Ngọc Hiếu 

    Chủ động quỹ đất, nguồn lực cho giải phóng mặt bằng

    Liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng, theo Chủ tịch UBND thành phố Lê Trí Thanh, đây là một trong những khâu then chốt quyết định tiến độ dự án. Các cơ quan, đơn vị phải chủ động bố trí nguồn lực, không để dự án đã có vốn nhưng chưa có mặt bằng triển khai.

    Những dự án có khả năng hoàn thành giải phóng mặt bằng nhanh cần được chủ động xem xét điều chuyển, bổ sung vốn để đẩy nhanh tiến độ. Trường hợp cần thiết, nghiên cứu tách riêng dự án giải phóng mặt bằng để tổ chức thực hiện, tạo quỹ đất sạch phục vụ dự án chính.

    Thành phố yêu cầu tập trung nhân lực cho những địa bàn có nhiều dự án trọng điểm, khối lượng giải phóng mặt bằng lớn; nghiên cứu điều động, tăng cường cán bộ từ những nơi có khối lượng công việc thấp đến địa bàn có nhu cầu cao.

    Đồng thời, đẩy nhanh số hóa dữ liệu đất đai tại các khu vực trọng điểm để phục vụ xác định nguồn gốc đất, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng và nâng cao hiệu quả quản lý.

    Đối với các dự án liên quan đến di dời mồ mả, các địa phương phải chủ động rà soát, bố trí quỹ đất phù hợp. Thành phố nghiên cứu hình thành các khu nghĩa trang mới, bảo đảm hạ tầng, cảnh quan, phù hợp quy hoạch và đáp ứng yêu cầu văn hóa, tâm linh của người dân.

    Về quỹ đất tái định cư, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu rà soát tổng thể nhu cầu của từng dự án, gắn tiến độ bố trí tái định cư với tiến độ giải phóng mặt bằng. Quỹ đất tái định cư phải được chuẩn bị chủ động, đi trước một bước.

    Những khu vực có điều kiện hình thành khu tái định cư tập trung phục vụ nhiều dự án cần được ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng. Đối với khu dân cư nhỏ lẻ, phương án tái định cư phải phù hợp không gian sinh sống hiện hữu, bảo đảm người dân tiếp cận các công trình hạ tầng và tiện ích thiết yếu.

    Về việc điều chỉnh tiến độ dự án, cần phân định rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan phải xác định trách nhiệm và giải pháp khắc phục; nguyên nhân khách quan phải có phương án xử lý phù hợp, không để kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ chung.

    Lãnh đạo thành phố kiểm tra tình hình đầu tư hạ tầng tại Khu công nghiệp Gilimex .Ảnh: Ngọc Hiếu  

    Vốn phải đến đúng dự án, tạo ra kết quả thực

    Chỉ đạo công tác giải ngân vốn đầu tư công, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu thực hiện nghiêm nguyên tắc vốn phải được đưa đến những dự án có khả năng giải ngân thực tế.

    Những dự án đã được bố trí vốn nhưng tiến độ chậm, không có khả năng giải ngân theo các mốc thời gian phải được rà soát để chủ động điều chuyển vốn sang các công trình có khả năng thực hiện và giải ngân tốt hơn. Việc điều chuyển phải được thực hiện kịp thời, không chờ đến cuối năm mới xử lý.

    Thành phố sẽ theo dõi, tổng hợp những dự án thường xuyên phải điều chuyển vốn để xác định nguyên nhân và trách nhiệm. Những dự án liên tục chậm tiến độ, phải điều chuyển vốn nhiều lần cần được đưa vào diện theo dõi, đánh giá để làm cơ sở xem xét trách nhiệm của chủ đầu tư và các đơn vị liên quan trong những năm tiếp theo.

    “Nguồn lực đầu tư công còn hạn chế, trong khi nguồn thu từ đất không phải lúc nào cũng bảo đảm. Vì vậy, từng đồng vốn phải được sử dụng tiết kiệm, đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả cao nhất. Tinh thần được đặt ra là quản lý đầu tư công phải lấy kết quả thực hiện làm thước đo. Dự án được bố trí vốn phải có khả năng triển khai; chủ đầu tư phải đủ năng lực; mỗi điểm nghẽn phải có địa chỉ, người chịu trách nhiệm và thời hạn xử lý cụ thể”, đồng chí Lê Trí Thanh nhấn mạnh.

    Hiếu Nhi

    Nguồn https://baomoi.com/quan-ly-dau-tu-cong-bang-du-lieu-ket-qua-va-trach-nhiem-nguoi-dung-dau-c55881339.epi

  • Mở rộng không gian phát triển từ các khu đô thị lấn biển

    Sáng 21/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận. Ảnh: Thủy Nguyên

    Cơ chế đề xuất chỉ điều chỉnh việc hình thành khu đô thị lấn biển

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thể chế hóa các chủ trương của Trung ương về xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; quản lý, khai thác hiệu quả không gian đất, biển; khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng. Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị về rà soát các chính sách chung áp dụng đối với các dự án đô thị lấn biển.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, nhiều quốc gia đã lấn biển để khắc phục giới hạn về quỹ đất. Các dự án này đều có quy mô đặc biệt lớn và được điều chỉnh bằng khuôn khổ pháp lý riêng, ổn định.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày Tờ trình của Chính phủ về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Thủy Nguyên

    Nước ta có hơn 3.260 km bờ biển, 28 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển, trong khi quỹ đất ven biển tại các đô thị lớn ngày càng hạn hẹp.

    Dự án lấn biển khác cơ bản so với lấn biển thông thường, có ba đặc thù pháp luật hiện hành chưa xử lý: đất chưa hình thành khi lập quy hoạch; quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài; cần khối lượng vật liệu san lấp đất lớn. Do đó, cơ chế đề xuất chỉ điều chỉnh việc hình thành khu đô thị lấn biển, không điều chỉnh hoạt động lấn biển nói chung.

    Sau khi tiếp thu các ý kiến đóng góp, dự thảo đã thu hẹp đáng kể, lược bỏ toàn bộ chính sách về tài chính, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh, hải quan, miễn thị thực và quy định từ bỏ quyền khởi kiện; không quy định khác Luật Đất đai và Luật Địa chất, Khoáng sản; không miễn, giảm thủ tục về môi trường.

    Về nguyên tắc, dự án phải phù hợp với quy hoạch, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, không cản trở hoạt động hàng hải; được quyết định trên cơ sở đánh giá đầy đủ điều kiện về tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động tới khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân.

    Đối với nhà đầu tư chiến lược, trình tự lựa chọn, điều kiện ưu đãi, nghĩa vụ giải ngân và chế tài đều dẫn chiếu theo Điều 35 của luật. Dự thảo chỉ giữ lại ba nội dung đặc thù, gồm: vốn chủ sở hữu tối thiểu 15% với dự án từ 100 đến 200 nghìn tỷ đồng và 10% với dự án trên 200 nghìn tỷ đồng; thời gian hoạt động không quá 70 năm; dự án chưa hoàn thành thì không được chuyển nhượng toàn bộ, phần chuyển nhượng không quá 50% diện tích đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật.

    Về quy hoạch, khoáng sản, UBND tỉnh quyết định chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất khi chưa có quy định hoặc yêu cầu cao hơn chuẩn quốc gia nhưng phải đáp ứng yêu cầu về hạ tầng. Dự án được áp dụng cơ chế khai thác khoáng sản như dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia. Khai thác cát biển phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc giao khu vực biển trong vùng lãnh hải do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định sau khi có ý kiến của các bộ, ngành liên quan.

    Các đại biểu tham gia phiên họp tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

    Tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, cơ quan soạn thảo dự kiến hoàn thiện dự thảo theo hướng rà soát các khái niệm khu đô thị biển, bảo đảm rõ về đối tượng, phạm vi áp dụng; không quy định cụ thể tiêu chí về tổng mức đầu tư xây dựng; không quy định thành một chương riêng mà tích hợp nội dung cần thiết vào các điều khoản phù hợp tại Chương II, bảo đảm cùng một vấn đề được điều chỉnh theo một nguyên tắc, một chế độ pháp lý thống nhất trong luật.

    Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét cho phép xây dựng cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, đồng thời xem xét thông qua cùng với dự án Luật Phát triển đô thị.

    Cần kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án

    Trình bày Báo cáo thẩm tra tóm tắt, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban và các cơ quan tham gia thẩm tra tán thành sự cần thiết xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với dự án khu đô thị lấn biển nhằm mở rộng không gian phát triển, khai thác tiềm năng kinh tế biển và huy động nguồn lực ngoài ngân sách.

    Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra nhận thấy các đề xuất của Chính phủ hiện chủ yếu là cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển, chưa hình thành đầy đủ cơ chế quản lý, vận hành đối với một loại hình đô thị mới có yêu cầu đặc thù về quản trị.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Thủy Nguyễn

    Do đó, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xác định rõ mục đích của việc tích hợp các cơ chế, chính sách này vào dự thảo Luật Phát triển đô thị.

    Theo cơ quan thẩm tra, nếu mục đích chỉ nhằm quy định cơ chế, chính sách đặc thù cho dự án xây dựng khu đô thị lấn biển thì phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 của dự thảo Luật hiện đã đủ bao quát. Vì vậy, cần cân nhắc cách diễn đạt phù hợp, tránh cách hiểu khu đô thị lấn biển là một đơn vị hành chính hoặc một cấp chính quyền.

    Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ chính sách có áp dụng đối với hoạt động lấn biển từ đất liền hay không; phạm vi áp dụng đối với các dự án lấn biển có quy mô, tính chất tương tự tại những địa phương khác, kể cả dự án đang triển khai.

    Trường hợp áp dụng trên phạm vi cả nước, tác động về năng lực, nguồn lực thực hiện, sinh thái, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại cũng cần được đánh giá đầy đủ.

    Theo Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, do đây là những cơ chế, chính sách đặc thù nhằm khuyến khích nhà đầu tư thực hiện dự án lấn biển, phát triển đô thị lấn biển nên có nhiều nội dung khác với quy định của pháp luật hiện hành.

    Vì vậy, cơ quan soạn thảo cần tiếp tục rà soát kỹ, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về đất đai, biển và hải đảo; đồng thời đáp ứng yêu cầu về quốc phòng, an ninh, chủ quyền, an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế.

    Các đại biểu tham gia phiên họp tại hội trường. Ảnh: Khánh Duy

    Cơ quan thẩm tra đề nghị chỉ quy định trong Luật Phát triển đô thị những nội dung thực sự đặc thù, cần thiết, không quy định lại những vấn đề đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh hoặc đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Các chính sách dự kiến tích hợp cũng cần được rà soát để bảo đảm tính thống nhất trong chính dự thảo Luật.

    Về nội dung cụ thể, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản thống nhất với các cơ chế đặc thù để triển khai dự án khu đô thị lấn biển quy mô lớn. Tuy nhiên, từng chính sách cần tiếp tục được rà soát về phạm vi, đối tượng, tiêu chí dự án, nhà đầu tư chiến lược, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, điều kiện chuyển nhượng, thời hạn hoạt động, quy hoạch, khai thác khoáng sản làm vật liệu san lấp và ưu đãi đối với nhà đầu tư.

    Các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, môi trường cũng như cơ chế quản lý, kiểm soát cần được thiết kế tương ứng để bảo đảm tính hợp lý, khả thi.

    Đáng chú ý, cơ quan thẩm tra nhận thấy các chính sách được đề xuất hiện tập trung nhiều vào ưu đãi, hỗ trợ và thu hút đầu tư, trong khi cơ chế quản lý, vận hành và kiểm soát rủi ro trong toàn bộ vòng đời dự án chưa đầy đủ.

    “Do đó, đề nghị cân nhắc kỹ cách thiết kế các cơ chế, chính sách về dự án khu đô thị lấn biển trong Luật Phát triển đô thị”, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nêu.

    Theo đó, có thể tích hợp những nội dung thực sự cần thiết vào các điều, khoản tương ứng tại Chương II của dự thảo Luật, bảo đảm cùng một vấn đề được điều chỉnh theo một nguyên tắc và hệ thống tiêu chí thống nhất.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Tạ Đình Thi trình bày Báo cáo thẩm tra về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập. Ảnh: Thủy Nguyên

    + Cũng trong sáng nay, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.

    Hà Lan

    Nguồn https://baomoi.com/mo-rong-khong-gian-phat-trien-tu-cac-khu-do-thi-lan-bien-c55881461.epi

  • Đồng bộ nguồn điện và lưới truyền tải

    Cùng với đó, hệ thống lưới điện truyền tải, hạ tầng đóng vai trò đưa công suất từ các nhà máy điện hòa vào hệ thống quốc gia cũng tiếp tục đầu tư, mở rộng để đồng hành cùng tốc độ phát triển nguồn.

    Nguồn điện tăng nhanh, lưới truyền tải tăng lực

    Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030, tỉnh được phân bổ 110 dự án nguồn điện, tổng công suất khoảng 5.501 MW. Đến nay, 91 dự án đã được triển khai, tổng công suất khoảng 4.924 MW, tương đương gần 89,5% công suất phân bổ.

    Lưới truyền tải cũng liên tục được đầu tư, nâng cấp. Đơn vị Truyền tải điện Gia Lai thuộc Công ty Truyền tải điện 3 (Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia – EVNNPT) hiện quản lý 26 đường dây với chiều dài quy đổi mạch đơn 1.318,346 km, gồm 9 đường dây 500 kV, 17 đường dây 220 kV; cùng 7 trạm biến áp với tổng công suất 5.230 MVA.

    Nhiều công trình lớn đã hoàn thành gần đây như đường dây 500 kV mạch 3 Dốc Sỏi – Pleiku 2 dài gần 742 km, đi qua 9 tỉnh, thành, vốn đầu tư khoảng 11.949 tỷ đồng (năm 2022); trạm 500 kV Pleiku 2 được nâng công suất lên 1.800 MVA vào tháng 7-2026; trạm 220 kV An Khê đóng điện cuối năm 2024.

    Trạm biến áp 500 kV Pleiku 2 hoàn thành thử nghiệm thao tác xa. Ảnh: EVN

    Cùng với mở rộng quy mô đường dây, trạm biến áp, yếu tố then chốt là lưới điện phải có mặt đúng nơi có nguồn, đúng hướng phụ tải cần đến. Những khu vực tập trung nhiều dự án năng lượng tái tạo như: Krông Pa, Ia Pa, Phú Thiện, Ayun Pa, Vân Canh, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ vì vậy đang được ngành điện và địa phương quan tâm đẩy nhanh tiến độ các công trình lưới.

    Krông Pa là khu vực có tốc độ phát triển nguồn điện nổi bật nhất, với 5 dự án đang vận hành, công suất 113,3 MW; 1 dự án chuẩn bị vận hành một phần 19 MW và 7 dự án đang xây dựng, dự kiến hoàn thành cuối năm 2027 với công suất 202,24 MW. Trong khi nguồn phát triển nhanh, trạm biến áp 220 kV Krông Pa và đường dây 220 kV Chư Sê – Krông Pa đang được xúc tiến.

    Tại buổi làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngày 4-8, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn cho biết, tốc độ phát triển các dự án nguồn điện hiện khá nhanh so với đầu tư hệ thống lưới truyền tải và phân phối, do đó cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng lưới.

    EVNNPT và Tổng Công ty Điện lực miền Trung đang trao đổi phương án tối ưu giải tỏa công suất, giữa hướng cải tạo hạ tầng 110 kV hiện có và hướng chuyển đấu nối nguồn lên cấp 220 kV.

    Đầu tư theo hướng “nguồn đến đâu, lưới đến đó”

    Với định hướng lưới điện đi trước một bước, đồng bộ với quy mô và vị trí các nguồn điện được quy hoạch, nhiều công trình truyền tải quan trọng đang được xúc tiến.

    Nổi bật là dự án trạm biến áp 500 kV Bình Định và đường dây đấu nối (hơn 2.260 tỷ đồng), cùng đường dây 500 kV Bình Định – Krông Buk 2 mạch, dài hơn 187 km (hơn 8.208 tỷ đồng) đi qua nhiều địa bàn.

    Dự án được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận EVNNPT là nhà đầu tư từ tháng 1-2026; dự kiến khởi công quý I/2028, hoàn thành năm 2029. Tháng 7-2026, EVNNPT và Ngân hàng Phát triển châu Á đã làm việc với tỉnh về thẩm định vốn ODA cho dự án.

    Theo Quy hoạch điện VIII, các tuyến 500 kV Bình Định – Vân Phong và Dung Quất – Bình Định cũng sẽ tiếp tục củng cố lưới 500 kV phía Đông tỉnh.

    Ở khu vực Krông Pa – Ayun Pa, trạm 220 kV Krông Pa (quy hoạch 250 MVA) và đường dây 220 kV Chư Sê – Krông Pa là công trình cần ưu tiên đầu tư sớm, cùng các công trình tăng cường liên kết 220 kV khu vực phía Nam, Đông Nam tỉnh.

    Ông Ngô Sơn Hải – Phó Tổng Giám đốc EVN – cho hay: EVN đang đẩy nhanh tiến độ các dự án lưới truyền tải, đồng thời khuyến khích xã hội hóa đầu tư hạ tầng đấu nối, theo đó chủ đầu tư nhà máy điện có thể trực tiếp bỏ vốn xây dựng đường dây đến điểm đấu nối và sẽ phối hợp với Bộ Công Thương hoàn thiện cơ chế chi phí đấu nối, đẩy nhanh thủ tục hành chính liên quan.

    Công nhân ngành điện vệ sinh sứ cách điện, bảo dưỡng thiết bị tại Trạm biến áp 110 kV Diên Hồng (phường Diên Hồng), góp phần bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, liên tục. Ảnh: EVN

    Theo EVNNPT, giai đoạn 2026-2030, đơn vị triển khai 13 dự án lưới điện truyền tải trên địa bàn. Nhóm dự án đang thỏa thuận vị trí, hướng tuyến và chuẩn bị hồ sơ có 2 dự án là Trạm biến áp 220 kV Krông Pa và đường dây 220 kV Krông Pa – Chư Sê).

    Nhóm dự án đang trình chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư có 2 dự án là đường dây 500 kV Vân Phong – Bình Định và đường dây 220 kV Tuy Hòa – Phước An.

    Nhóm dự án có số lượng dự án nhiều nhất, đang trong giai đoạn phê duyệt dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, gồm 7 công trình: trạm biến áp 500 kV Bình Định và đấu nối, đường dây 500 kV Bình Định – Krông Buk; đường dây 500 kV đấu nối trung tâm điện khí hỗn hợp Dung Quất vào Bình Định; trạm biến áp 220 kV Nhơn Hội và đường dây đấu nối Phước An – Nhơn Hội; đường dây 220 kV Chư Sê – rẽ Pleiku 2 – Krông Buk mạch 2; công trình nâng khả năng tải đường dây 220 kV Tuy Hòa – Quy Nhơn; trạm biến áp Pleiku 2 500 kV nối cấp thêm 250 MVA.

    2 dự án đã bước vào giai đoạn thi công là đường dây 220 kV Pleiku 2 – Krông Buk mạch 2 và đường dây 220 kV Phù Mỹ – rẽ Phước An – Quảng Ngãi mạch 2.

    Lực lượng vận hành sửa chữa bảo dưỡng thiết bị đường dây 220 kV Quy Nhơn – Tuy Hòa. Ảnh: EVN

    Về dài hạn, EVNNPT đề xuất tập trung đầu tư theo 3 nhóm ưu tiên, trong đó với các tuyến 500 kV tạo thêm hướng truyền tải mới, có khả năng giải tỏa khối lượng công suất lớn; các trạm 500 kV, 220 kV tại những khu vực tập trung nhiều nguồn điện và các tuyến 220 kV đấu nối trực tiếp dự án nguồn vào hệ thống, theo nguyên tắc “nguồn đến đâu, lưới đến đó”.

    EVNNPT đề xuất quy hoạch lưới với tầm nhìn 5-10 năm; xác định phương án đấu nối ngay từ khi xem xét dự án nguồn lớn; rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng; đồng thời chủ động chuẩn bị các công trình cho giai đoạn 2031-2035 theo định hướng của Bộ Công Thương.

    TRỌNG LỢI

    Nguồn https://baomoi.com/dong-bo-nguon-dien-va-luoi-truyen-tai-c55881390.epi

  • Đại biểu Trần Văn Tuấn: Cần đơn giản hóa, tiền tệ hóa chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất

    Mở đầu phát biểu, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh Trần Văn Tuấn chỉ ra thực tế khi bị thu hồi đất, điều người dân quan tâm thường rất cụ thể: Một mét vuông hay một sào đất được đền bù, hỗ trợ bao nhiêu tiền và tổng số tiền nhận được là bao nhiêu. Trong khi đó, Điều 108 Luật Đất đai hiện hành lại quy định khá nhiều hình thức hỗ trợ như ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm, tái định cư, di dời…

    Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Trần Văn Tuấn phát biểu thảo luận.

    Cùng với đó là cơ chế cho phép địa phương quyết định thêm các biện pháp, mức hỗ trợ khác cho từng dự án. Dù mang ý nghĩa an sinh xã hội, cách tiếp cận này lại làm cho phương án bồi thường trở nên phức tạp do phải xác định nhiều yếu tố như nhân khẩu, tỷ lệ đất thu hồi, thời gian hỗ trợ, giá gạo, nguồn thu nhập… Những dữ liệu này không phải lúc nào cũng đầy đủ, thống nhất, dẫn đến hệ quả là việc thu hồi đất và giải phóng mặt bằng bị kéo dài, phát sinh chi phí lớn, đồng thời đẩy cán bộ trực tiếp thực thi vào nhiều rủi ro pháp lý.

    Từ thực tế đó, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đánh giá dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) lần này đã có bước tiến khi Điều 47 (về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất) không còn quy định các hình thức hỗ trợ cụ thể như Điều 108 của Luật Đất đai hiện hành, mà rút gọn các quy định về hỗ trợ thành một nguyên tắc chung.

    Đại biểu cho rằng nếu chỉ rút gọn điều luật mà chưa thay đổi phương thức tính hỗ trợ thì chưa giải quyết được căn bản vấn đề. Bởi nếu sau này, Chính phủ vẫn quy định theo cách phải xác định nhân khẩu, định suất, giá gạo, thời gian hỗ trợ, mức độ ảnh hưởng, các loại hình hỗ trợ riêng lẻ… thì thủ tục thực tế vẫn phức tạp như hiện nay.

    Vì vậy, đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét chuyển đổi từ tư duy “hỗ trợ bằng nhiều chính sách, nhiều tiêu chí” sang “hỗ trợ bằng tiền với công thức đơn giản, dễ xác định”, đồng thời đề xuất 3 vấn đề trọng tâm gồm:

    Thứ nhất, sửa Điều 47 trong dự thảo Luật theo hướng hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất về cơ bản được thực hiện bằng tiền và chi trả một lần cùng với tiền bồi thường; hạn chế các khoản hỗ trợ bằng hiện vật, dịch vụ hoặc phải tổ chức thực hiện riêng lẻ, trừ những trường hợp đặc biệt như tái định cư.

    Thứ hai, đối với hỗ trợ ổn định đời sống, không nên tiếp tục phụ thuộc vào quá nhiều biến số như số nhân khẩu, giá gạo, thời gian hỗ trợ. Có thể xác định khoản hỗ trợ theo tỷ lệ hoặc hệ số thống nhất trên giá trị bồi thường về đất hoặc diện tích đất bị thu hồi, với khung mức do Chính phủ quy định. Như vậy, khi xác định được giá bồi thường đất thì có thể xác định ngay khoản hỗ trợ, người dân dễ kiểm tra, cán bộ dễ thực hiện.

    Thứ ba, đối với hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, đại biểu đề nghị chuyển hoàn toàn sang hỗ trợ bằng tiền. Người dân có thể tự lựa chọn học nghề, tìm việc hoặc tổ chức lại sinh kế; Nhà nước chỉ cần xác định đúng đối tượng và chi trả một khoản tiền hỗ trợ theo công thức rõ ràng.

    Đại biểu nhấn mạnh rằng việc tiền tệ hóa không đồng nghĩa với việc làm giảm quyền lợi của người dân, mà ngược lại, nếu được thiết kế hợp lý, người dân sẽ biết trước số tiền được hưởng, Nhà nước tiết kiệm được thời gian xác minh, chủ đầu tư dự toán chính xác chi phí giải phóng mặt bằng, còn cán bộ thực thi giảm thiểu tối đa rủi ro pháp lý.

    Riêng đối với công tác tái định cư cho người phải di chuyển chỗ ở, đại biểu cho rằng đây vẫn phải là chính sách đặc biệt cần được duy trì để bảo đảm người dân sau khi nhường đất có được nơi ở phù hợp, ổn định lâu dài.

    Toàn cảnh phiên họp sáng 21/8.

    Với tinh thần sửa đổi luật lần này, đại biểu khẳng định điều quan trọng nhất không chỉ là rút gọn số điều luật mà là rút gọn phương thức thực hiện trên thực tế. Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định theo hướng bồi thường đầy đủ giá trị tài sản, hỗ trợ chủ yếu bằng tiền theo công thức đơn giản, thống nhất, hạn chế các khoản xác minh riêng và chỉ duy trì chính sách đặc biệt cho tái định cư cùng các nhóm yếu thế.

    Đây là hướng vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, vừa giảm thủ tục hành chính, giảm chi phí giải phóng mặt bằng và rủi ro pháp lý cho người thực thi, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án phát triển kinh tế – xã hội.

    Lưu Hằng

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-tran-van-tuan-can-don-gian-hoa-tien-te-hoa-chinh-sach-ho-tro-khi-thu-hoi-dat-c55881437.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!