Author: bachdn

  • Những cây cảnh thích hợp trồng trong phòng tắm

    Cây lưỡi hổ

    Cây lưỡi hổ là một trong những lựa chọn hàng đầu cho phòng tắm nhờ khả năng chịu đựng đáng kinh ngạc. Cây có thể sống tốt trong điều kiện ánh sáng yếu, chịu hạn tốt và đặc biệt là có khả năng thanh lọc không khí hiệu quả, hấp thụ các độc tố như formaldehyde, benzen, trichloroethylene.

    Trong phong thủy, lưỡi hổ được coi là biểu tượng của sự mạnh mẽ, bảo vệ, xua đuổi tà khí và mang lại may mắn, tài lộc cho gia chủ.

    Cây lưỡi hổ trong phòng tắm.

    Cây trầu bà

    Trầu bà là loại cây dây leo phổ biến, rất dễ trồng và chăm sóc. Cây có khả năng thích nghi tốt với môi trường ẩm ướt và ánh sáng yếu của phòng tắm. trầu bà nổi tiếng với khả năng hấp thụ các chất độc hại trong không khí như formaldehyde, carbon monoxide và benzen. 

    Về phong thủy, trầu bà tượng trưng cho sự thịnh vượng, may mắn và tài lộc, giúp gia chủ giữ vững tiền tài.

    Cây trầu bà trong phòng tắm thanh lọc không khí.

    Cây lan ý

    Lan Ý là loại cây cảnh đẹp với những bông hoa trắng tinh khôi, mang lại vẻ thanh lịch cho phòng tắm. Cây rất ưa ẩm và có thể phát triển tốt trong điều kiện ánh sáng yếu. Lan ý được NASA xếp vào danh sách những cây có khả năng thanh lọc không khí hàng đầu, loại bỏ nhiều độc tố. 

    Trong phong thủy, lan ý mang ý nghĩa hòa bình, an lành, giúp cân bằng năng lượng và mang lại sự tĩnh tâm cho không gian.

    Lan ý ưa độ ẩm và nhiệt độ ấm áp nên rất thích hợp để trong phòng tắm.

    Cây dương xỉ

    Các loại dương xỉ như dương xỉ Boston, dương xỉ tóc thần vệ nữ rất phù hợp với môi trường ẩm ướt, mát mẻ của phòng tắm. Chúng không chỉ đẹp mắt với những tán lá xanh mướt mà còn có khả năng hấp thụ độ ẩm và thanh lọc không khí. Dương xỉ mang lại cảm giác gần gũi với thiên nhiên, tạo không gian thư thái, trong lành.

    Cây dương xỉ được trồng để giúp thanh lọc không khí cho không gian phòng tắm

    Cây nha đam

    Nha đam không chỉ là một loại cây thuốc quý mà còn là cây cảnh trang trí tuyệt vời cho phòng tắm. Cây có khả năng chịu hạn tốt và không cần quá nhiều ánh sáng. nha đam giúp thanh lọc không khí bằng cách hấp thụ benzen và formaldehyde.

    Trong phong thủy, nha đam được cho là mang lại may mắn, sức khỏe và bảo vệ gia chủ khỏi những điều không may.

    Cây nha đam trong phòng tắm giúp thanh lọc không khí.

    Nhật An

    Nguồn https://baomoi.com/nhung-cay-canh-thich-hop-trong-trong-phong-tam-c55896846.epi

  • Các trường hợp được miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

    Thuế tỉnh Khánh Hòa vừa thông tin một số trường hợp được miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) và hồ sơ, thủ tục thực hiện nhằm giúp người dân, hộ gia đình và các đối tượng chính sách chủ động thực hiện đúng quy định.

    Theo đó, người nộp thuế được miễn thuế SDĐPNN đối với đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; đất ở trong hạn mức của người có công với cách mạng, hộ nghèo theo chuẩn nghèo do Chính phủ quy định. Hộ gia đình, cá nhân có số thuế SDĐPNN phải nộp hằng năm từ 50.000 đồng trở xuống cũng được miễn thuế. Trường hợp người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng, giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất trên 50% giá tính thuế được miễn thuế.

    Trường hợp giảm thuế SDĐPNN gồm: Đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; đất ở trong hạn mức của một số đối tượng chính sách như thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh…; người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng, giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất từ 20% đến 50% giá tính thuế.

    Thuế tỉnh Khánh Hòa thông tin các trường hợp được miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

    Hồ sơ miễn, giảm thuế gồm văn bản đề nghị theo mẫu số 01/MGTH Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 89/2026 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số điều của  Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và Nghị định số 252/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế; bản sao giấy tờ liên quan đến thửa đất chịu thuế; giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng miễn, giảm thuế. Trường hợp miễn, giảm do sự kiện bất khả kháng cần bổ sung các giấy tờ xác định thời gian, địa điểm xảy ra sự kiện và giá trị thiệt hại theo quy định.

    Người nộp thuế không phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm hồ sơ miễn, giảm thuế; cơ quan thuế khai thác thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Ngoài ra, người nộp thuế không phải nộp hồ sơ miễn, giảm đối với trường hợp số thuế SDĐPNN phải nộp hằng năm từ 50.000 đồng trở xuống và một số trường hợp đất ở trong hạn mức thuộc diện được miễn, giảm theo quy định.

    Thuế tỉnh Khánh Hòa khuyến nghị người nộp thuế thường xuyên cập nhật quy định về thuế SDĐPNN để thực hiện đúng nghĩa vụ và bảo đảm quyền lợi về miễn, giảm thuế.

    K. HÀ

    Nguồn https://baomoi.com/cac-truong-hop-duoc-mien-giam-thue-su-dung-dat-phi-nong-nghiep-c55896719.epi

  • Hà Nội: Thị trường nhà liền thổ giảm, nguồn cung ngoại thành tiếp tục dẫn dắt

    Phân khúc nhà liền thổ Hà Nội ghi nhận mức độ suy giảm. (Ảnh: HNV)

    Nhu cầu thị trường ngày càng tập trung vào các khu đô thị tích hợp quy mô lớn, sở hữu hạ tầng đồng bộ, pháp lý minh bạch và tiềm năng tăng trưởng giá trị dài hạn.

    Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường ghi nhận gần 500 căn nhà liền thổ được mở bán. Riêng quý II/2026, thị trường nhà liền thổ Hà Nội ghi nhận khoảng 289 sản phẩm mở bán mới, tăng 26% so với quý trước nhưng giảm 87% so với cùng kỳ năm trước. Sự suy giảm nguồn cung theo năm chủ yếu xuất phát từ việc phần lớn các đợt mở bán trong nửa đầu năm 2026 đến từ các dự án quy mô nhỏ, trong khi vắng bóng các đại dự án khu đô thị tích hợp như cùng kỳ năm trước.

    Về phân bổ không gian, khu vực ngoại thành tiếp tục chiếm ưu thế khi đóng góp khoảng 82% tổng nguồn cung mở bán mới, trong khi khu vực trung tâm duy trì tỷ trọng hạn chế. Xu hướng này phù hợp với định hướng quy hoạch Hà Nội tầm nhìn dài hạn, trong đó thành phố phát triển theo mô hình đa cực với 9 cực tăng trưởng và 9 trung tâm đô thị, thay vì tập trung chủ yếu vào khu vực lõi nội đô như trước đây.

    Trong khi đó, nguồn cầu ghi nhận thanh khoản thị trường suy giảm khi trong quý II/2026, có gần hơn 170 giao dịch, giảm 60% theo quý, giảm 92% theo năm. Tính tổng 6 tháng đầu năm, hơn 600 giao dịch được ghi nhận, trong đó phần lớn thanh khoản tập trung tại các khu đô thị tích hợp có hạ tầng và hệ tiện ích đồng bộ. Sự sụt giảm đáng kể về lượng giao dịch phản ánh xu hướng thận trọng của nhà đầu tư đối với phân khúc tài sản có giá trị lớn, trong bối cảnh các yếu tố kinh tế và địa chính trị toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp.

    Bên cạnh đó, thị trường cũng ghi nhận tâm lý chờ đợi rõ nét khi nhà đầu tư tạm hoãn quyết định xuống tiền nhằm quan sát thêm các thông tin liên quan lãi suất cho vay, hay định hướng quy hoạch đô thị mới của Hà Nội, nhất là kế hoạch phát triển theo mô hình đa cực với 9 trung tâm đô thị.

    Trong ngắn hạn, những yếu tố này dự tính sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tốc độ hấp thụ của thị trường, trong khi nhu cầu thực và dòng tiền đầu tư có xu hướng dịch chuyển có chọn lọc hơn về các dự án quy mô lớn, pháp lý rõ ràng và có khả năng khai thác giá trị bền vững trong dài hạn.

    Giá sơ cấp điều chỉnh nhờ nguồn cung ngoại thành có mức giá dễ tiếp cận hơn do 82% nguồn cung mới gia nhập thị trường thuộc các khu vực ngoại thành như Hoài Đức, Thường Tín, Thạch Thất, Gia Lâm và Phúc Thọ.

    Nguồn cung nhà liền thổ tại Hà Nội trong trung hạn dự tính tiếp tục dịch chuyển ra khu vực ngoại thành, chiếm khoảng 72% tổng nguồn cung trong giai đoạn 2026-2028. Xu hướng này phản ánh lợi thế về quỹ đất cũng như sự phát triển dần của hệ thống hạ tầng giao thông, với một số dự án trọng điểm như Vành đai 4, Vành đai 5, các cầu vượt sông Hồng và các tuyến đường sắt đô thị kết nối khu vực lõi với các khu vực vệ tinh.

    Diễn biến này nhìn chung phù hợp với định hướng quy hoạch đô thị của Hà Nội theo mô hình đa cực đa trung tâm. Trong bối cảnh đó, thị trường có xu hướng phân hóa rõ nét hơn giữa các khu vực và loại hình sản phẩm. Nguồn cung tương lai dự tính tập trung vào các dự án có quy hoạch bài bản, pháp lý rõ ràng và hệ tiện ích đồng bộ, trong khi cấu trúc nhu cầu có thể từng bước dịch chuyển theo hướng cân bằng hơn giữa nhu cầu đầu tư và nhu cầu ở thực trong trung và dài hạn.

    LÊ ANH

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-thi-truong-nha-lien-tho-giam-nguon-cung-ngoai-thanh-tiep-tuc-dan-dat-c55896587.epi

  • “6 rõ” để mọi việc được giải quyết đến cùng

    “6 rõ” để không còn khoảng trống trách nhiệm

    Trước đây, ở một số nơi, việc phân công nhiệm vụ đôi khi còn chung chung, dễ dẫn đến chồng chéo, bỏ sót hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Khi nguyên tắc “6 rõ” được cụ thể hóa, mỗi nhiệm vụ đều phải xác định được người thực hiện, nội dung công việc, thời hạn, trách nhiệm, sản phẩm đầu ra và thẩm quyền giải quyết.

    Tiếp nhận thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hợp Thành.

    Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hợp Thành, tinh thần ấy được thể hiện ngay trong quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính. Từ đầu năm đến nay, địa phương duy trì tỷ lệ giải quyết và trả kết quả đúng hạn đạt mức rất cao, gần như tuyệt đối 100%, không có tình trạng tồn đọng hồ sơ quá hạn kéo dài. Tiến độ xử lý được cập nhật công khai, cán bộ phụ trách từng hồ sơ được xác định rõ, giúp người dân thuận tiện theo dõi, giám sát.

    Ông Lê Trường Giang, Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hợp Thành cho biết: Khi trách nhiệm được phân định cụ thể, quy trình xử lý cũng minh bạch hơn. Từ khâu tiếp nhận đến xử lý, mỗi hồ sơ đều có cán bộ và đơn vị chịu trách nhiệm; tiến độ được công khai để người dân có thể theo dõi.

    Mô hình “Một cửa lưu động” tại xã Hợp Thành giúp người dân tiếp cận các thủ tục hành chính dễ dàng hơn.

    Ở xã Phúc Khánh, từ ngày 1/7/2025 đến nay, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đã tiếp nhận hơn 4.000 hồ sơ của người dân và doanh nghiệp; trong đó, 3.994 hồ sơ đã được giải quyết, trả kết quả, tỷ lệ đúng hạn và trước hạn đạt trên 98,5%.

    Đằng sau con số ấy là áp lực không nhỏ khi trung tâm chỉ có 7 biên chế, trong khi khối lượng công việc ngày càng tăng. Để không có hồ sơ bị “đứng lại” ở bất kỳ khâu nào, đơn vị phân công rõ người phụ trách từng phần việc, đồng thời xác định trách nhiệm phối hợp giữa các bộ phận.

    Ông Trần Văn Vũ, Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phúc Khánh chia sẻ: “Khối lượng công việc lớn buộc đơn vị phải phân công thật cụ thể, nhất là trách nhiệm phối hợp giữa các phòng, ban. Khi phát sinh vướng mắc, cán bộ và khâu xử lý được xác định ngay để kịp thời tháo gỡ”.

    Cách làm này giúp trách nhiệm không còn bị phân tán. Một hồ sơ chậm ở đâu, vướng ở khâu nào, ai có trách nhiệm xử lý đều có thể xác định. “Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm” vì thế không còn là yêu cầu trên giấy, mà trở thành cách tổ chức công việc hằng ngày.

    Nhờ “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, tỷ lệ đúng hạn và trước hạn của Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phúc Khánh đạt trên 98,5%.

    “6 rõ” để tạo chuyển động

    “6 rõ” không chỉ được áp dụng trong giải quyết thủ tục hành chính, mà đang từng bước trở thành phương thức lãnh đạo, điều hành xuyên suốt tại cơ sở.

    Với xã Phúc Khánh, 3 nhiệm vụ đột phá của cả nhiệm kỳ, gồm phát triển, nâng cao hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu giao thương, kết nối vùng; phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cũng đang được cụ thể hóa thành từng phần việc, tiến độ và trách nhiệm cụ thể.

    Ở mỗi lĩnh vực, nhiệm vụ được gắn với người phụ trách, thời hạn hoàn thành và yêu cầu về sản phẩm. Đặc biệt, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, khối lượng công việc trong các lĩnh vực kinh tế, đất đai, khoáng sản, môi trường tăng lên đáng kể.

    Ông Bùi Trịnh Hải, Trưởng Phòng Kinh tế xã Phúc Khánh cho biết: Nhiều công trình, dự án được chuyển giao về địa phương, khiến khối lượng công việc tăng mạnh. Vì vậy, từng nhóm nhiệm vụ phải được xây dựng kế hoạch, lộ trình và thời gian giải quyết cụ thể.

    Với Phòng Kinh tế xã Phúc Khánh, từng nhóm nhiệm vụ đều được xây dựng kế hoạch, lộ trình và thời gian giải quyết cụ thể.

    Khi một nhiệm vụ lớn được chia thành những phần việc cụ thể, có người phụ trách và mốc thời gian rõ ràng, yêu cầu chung không còn dừng ở “phải làm”, mà chuyển thành câu hỏi cụ thể hơn: ai làm, làm đến đâu, khi nào hoàn thành và sản phẩm là gì? “Đó cũng là cách để người đứng đầu có cơ sở kiểm tra, cán bộ có căn cứ thực hiện, còn kết quả công việc có thể được đánh giá bằng những tiêu chí cụ thể” – ông Hải nhấn mạnh.

    Tại xã Yên Bình, việc thực hiện “6 rõ” đang được hỗ trợ bởi chuyển đổi số. Toàn bộ công việc được vận hành trên hệ thống “Bàn làm việc số”. Mỗi hồ sơ thủ tục hành chính sau khi tiếp nhận được đưa lên hệ thống và tự động phân luồng đến đúng bộ phận chuyên môn.

    Lãnh đạo, cán bộ có thể theo dõi tiến độ xử lý theo thời gian thực. Những nhiệm vụ sắp đến hạn hoặc quá hạn được hệ thống cảnh báo, giúp cán bộ chủ động điều chỉnh tiến độ, hạn chế tình trạng hồ sơ bị bỏ sót hoặc xử lý chậm. Hệ thống có cơ chế cảnh báo tự động đối với nhiệm vụ sắp đến hạn hoặc quá hạn. Các phòng, ban cũng có thể khai thác chung dữ liệu, hạn chế việc yêu cầu người dân cung cấp lại những giấy tờ đã có. Lãnh đạo, cán bộ có thể theo dõi tiến độ xử lý theo thời gian thực. Những nhiệm vụ sắp đến hạn hoặc quá hạn được hệ thống cảnh báo, giúp cán bộ chủ động điều chỉnh tiến độ, hạn chế tình trạng hồ sơ bị bỏ sót hoặc xử lý chậm.

    Tại xã Yên Bình, công nghệ không chỉ giúp quản lý công việc thuận tiện hơn, mà còn làm cho nguyên tắc “6 rõ” trở nên cụ thể, minh bạch và có thể đo đếm.

    Như vậy, công nghệ không chỉ giúp quản lý công việc thuận tiện hơn, mà còn làm cho nguyên tắc “6 rõ” trở nên cụ thể, minh bạch và có thể đo đếm. Mỗi nhiệm vụ có người phụ trách; mỗi công việc có thời hạn; tiến độ được cập nhật; sản phẩm được kiểm chứng. Đây là bước chuyển quan trọng trong cải cách hành chính: từ quản lý bằng quy trình sang quản trị bằng kết quả, từ đánh giá dựa trên báo cáo sang đánh giá bằng dữ liệu và sản phẩm đầu ra.

    “6 rõ” gắn với cơ chế kiểm tra, đánh giá thường xuyên

    Điểm đáng chú ý trong cách làm của nhiều địa phương là “6 rõ” được gắn với cơ chế kiểm tra, đánh giá thường xuyên.

    Theo bà Trịnh Thị Duyên, Chủ tịch UBND xã Phúc Khánh, yêu cầu “6 rõ” đã được địa phương triển khai từ trước. Khi Chỉ thị số 38 của Tỉnh ủy được ban hành, yêu cầu này càng được cụ thể hóa, tạo chuyển biến rõ hơn trong phương thức chỉ đạo, điều hành.

    Bà Trịnh Thị Duyên cũng nhấn mạnh tinh thần: Một nhiệm vụ chỉ thực sự hoàn thành khi có sản phẩm cụ thể, đúng thời hạn và được kiểm tra, đánh giá. Từ giao việc đến kiểm tra; từ kiểm tra đến tháo gỡ; từ tháo gỡ đến đánh giá kết quả – cả quá trình được đặt trong một chu trình khép kín. Đây chính là yếu tố giúp “6 rõ” không trở thành một khẩu hiệu chung chung.

    Tại phường Sa Pa, việc giao nhiệm vụ được cụ thể hóa đến từng lãnh đạo, từng phòng, ban, cơ quan, đơn vị và chuyên viên phụ trách. Mỗi nhiệm vụ đều gắn với thời hạn hoàn thành và yêu cầu báo cáo kết quả.

    Ông Đặng Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND phường Sa Pa cho biết, địa phương không chỉ quan tâm đến việc cán bộ “có báo cáo” hay không, mà tập trung đánh giá kết quả và tiến độ thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Ông Đặng Việt Dũng (áo trắng), Phó Chủ tịch UBND phường Sa Pa trực tiếp chỉ đạo công tác chỉnh trang đô thị chuẩn bị cho Lễ hội mùa thu Sa Pa 2026.

    Tại Sa Pa, công tác chỉnh trang đô thị được giao rõ cho từng đơn vị, phối hợp với tổ dân phố và lực lượng liên quan.

    Cách làm này đang được áp dụng vào những việc rất cụ thể, như xây dựng nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo đảm hành lang vỉa hè, chỉnh trang đường phố. Các nhiệm vụ được giao cho từng đơn vị, phối hợp với tổ dân phố và lực lượng liên quan, gắn với yêu cầu cụ thể về tuyên truyền, vận động, vệ sinh, chỉnh trang và duy trì kết quả.

    Chuyển biến trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ

    Từ những công việc tưởng như rất nhỏ ở cơ sở, yêu cầu “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm” đang dần hình thành nếp làm việc mới: giao đúng người, kiểm tra đúng việc, đánh giá bằng kết quả.

    Đây cũng là tinh thần cốt lõi của Chỉ thị 38-CT/TU ngày 30/7/2026 của Tỉnh ủy Lào Cai về tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trong thi hành nhiệm vụ, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về tinh thần trách nhiệm, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

    Theo Chỉ thị 38-CT/TU, 100% văn bản giao việc phải bảo đảm nguyên tắc “6 rõ”; 100% nhiệm vụ, trừ nhiệm vụ thường xuyên và nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước, được số hóa, theo dõi trên hệ thống đánh giá KPI và hệ thống theo dõi, giám sát tiến độ nhiệm vụ của Tỉnh ủy. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính đúng và trước hạn hằng năm phải đạt từ 95% trở lên.

    Đáng chú ý, Chỉ thị 38-CT/TU yêu cầu việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý hằng quý phải gắn với kết quả, sản phẩm đầu ra; các nhiệm vụ chậm tiến độ phải được làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm. Những trường hợp có dấu hiệu trì trệ, né tránh, đùn đẩy sẽ được kiểm tra, giám sát; cán bộ bị đánh giá “Không hoàn thành nhiệm vụ” trong 2 quý liên tiếp sẽ được xem xét trách nhiệm theo quy định.

    Phát huy vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên trong thực hiện tinh thần “6 rõ” sẽ giúp xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

    Từ những việc cụ thể ở cơ sở, Chỉ thị 38-CT/TU của Tỉnh ủy Lào Cai đang tạo thêm một chuyển biến trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Ở đó, trách nhiệm không dừng lại ở việc “được giao”, mà phải được chứng minh bằng kết quả cuối cùng.

    Thu Hường – Nông Văn Quý

    Nguồn https://baomoi.com/6-ro-de-moi-viec-duoc-giai-quyet-den-cung-c55896488.epi

  • Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: Việc di chuyển phải bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử

    Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (thành phố Huế) tán thành việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về di chuyển di tích lịch sử trong phạm vi thực hiện 2 dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.

    Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (thành phố Huế) đóng góp ý kiến trong phiên thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng nay 23/8.

    Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đình Đông Côi và đình Tam Sơn đều là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh của Bắc Ninh. Đình Đông Côi là không gian thờ phụng ba vị thành hoàng, theo truyền thống địa phương là ba anh em họ Nguyễn có công giúp Triệu Quang Phục chống quân Lương ở thế kỷ VI. Các vị được các triều đại về sau phong sắc, ban mỹ tự và được Nhân dân gìn giữ, hương khói.

    Đại biểu cho rằng giá trị của các di tích không chỉ nằm ở kiến trúc vật thể mà còn gắn với đời sống cộng đồng, tín ngưỡng, lễ hội, thần tích, sắc phong, đồ thờ, nghi lễ và ký ức làng quê. Đây là đặc trưng của vùng Kinh Bắc, nơi các thiết chế văn hóa truyền thống góp phần duy trì những giá trị lịch sử, văn hóa qua nhiều thế hệ.

    Vì vậy, theo đại biểu, nếu phải di chuyển di tích, cần đặt việc bảo tồn các giá trị này trong mối tương quan với quy mô, tính cấp thiết của các dự án.

    Đối với dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đại biểu cho rằng đây là một bộ phận của yêu cầu phát triển hạ tầng chiến lược, cần hoàn thành đồng bộ để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC năm 2027. Dự án xây dựng doanh trại gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh; cơ quan thẩm tra đánh giá đây là nhiệm vụ cấp bách, có yêu cầu tiến độ cao. Do đó, các dự án không thể tùy tiện hoặc kéo dài tiến độ.

    Tán thành việc Quốc hội cho phép di chuyển các di tích trên, nhưng phải kèm theo những điều kiện pháp lý chặt chẽ, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị Nghị quyết xác định rõ phạm vi 2 di tích thuộc dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, không sử dụng cơ chế hướng dẫn để mở rộng thêm đối tượng. Đây cũng là hướng được cơ quan thẩm tra thống nhất.

    Việc di chuyển phải được thực hiện theo cơ chế đặc thù được Quốc hội quyết định tại Điều 2 Nghị quyết 256 ban hành năm 2025, đồng thời phải có phương án cụ thể do cơ quan có thẩm quyền quyết định, bảo đảm tối đa các yếu tố cấu thành và phát huy giá trị di tích sau khi di chuyển. Công khai, minh bạch và tham vấn cộng đồng phải là yêu cầu bắt buộc. Người dân không chỉ được biết di tích sẽ được di chuyển đến đâu mà cần được tham gia vào quá trình xây dựng phương án bảo tồn đời sống văn hóa gắn với di tích…

    Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu giải trình, làm rõ vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Phát biểu giải trình, làm rõ các vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Lâm Thị Phương Thanh cho biết, thừa ủy quyền của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thống nhất tiếp thu ý kiến thẩm tra của Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội và đầy đủ ý kiến kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với nội dung Chính phủ trình tại Tờ trình số 614 và Báo cáo tiếp thu, giải trình số 490 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Theo đó, Chính phủ đề nghị áp dụng cơ chế, chính sách di chuyển đối với 2 di tích đình Đông Côi và đình Tam Sơn theo Điều 2 Nghị quyết 256 của Quốc hội.

    Đối với di tích Đền Tân Trăn, Chính phủ sẽ chỉ đạo rà soát, kiểm tra các vấn đề liên quan đến Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và chưa đưa di tích này vào dự thảo Nghị quyết.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ đã chỉnh lý dự thảo Nghị quyết và gửi Quốc hội kèm Báo cáo tiếp thu, giải trình số 490 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện, Chính phủ sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, chú trọng bảo tồn tối đa và phát huy giá trị di tích; bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và tham vấn ý kiến người dân. Việc di chuyển chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết, không còn giải pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn và phát triển, phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước và quy định pháp luật.

    Đối với ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Bộ trưởng đồng tình và cho rằng việc di chuyển di tích đến địa điểm mới cần tính đến đặc điểm của các đình, đền vốn gắn bó với làng, xã và cộng đồng dân cư.

    Theo Bộ trưởng, trong trường hợp cộng đồng dân cư di chuyển, việc di chuyển đình, đền gắn với cộng đồng dân cư và không gian văn hóa của làng là phù hợp. Tuy nhiên, quá trình này phải tuân thủ đúng quy trình về tu bổ di tích, giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích, thực hiện đúng quy định pháp luật và bảo đảm phát huy giá trị di sản.

    “Việc di chuyển không đơn thuần là thay đổi địa điểm mà quan trọng hơn là phải bảo tồn và phát huy tinh thần, hồn cốt cùng những giá trị của đình, đền gắn với làng, xã, qua đó giữ gìn và tiếp nối truyền thống văn hóa, lịch sử của cộng đồng và dân tộc tại nơi mới”, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh.

    Theo thẩm quyền, UBND tỉnh Bắc Ninh sẽ tổ chức thực hiện. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi quá trình triển khai, bảo đảm thực hiện đúng quy định và các mục tiêu theo tinh thần của Quốc hội.

    Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua theo chương trình.

    Sau khi Nghị quyết được Quốc hội thông qua, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục hỗ trợ địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội.

    Theo Báo Chính phủ

    Nguồn https://baomoi.com/bo-truong-lam-thi-phuong-thanh-viec-di-chuyen-phai-bao-ton-phat-huy-gia-tri-cua-di-tich-lich-su-c55896413.epi

  • Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh: Việc di chuyển phải bảo tồn, phát huy giá trị của di tích lịch sử

    Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Sửu (thành phố Huế) tán thành việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về di chuyển di tích lịch sử trong phạm vi thực hiện 2 dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.

    Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (thành phố Huế) đóng góp ý kiến trong phiên thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng nay 23/8.

    Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, đình Đông Côi và đình Tam Sơn đều là di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh của Bắc Ninh. Đình Đông Côi là không gian thờ phụng ba vị thành hoàng, theo truyền thống địa phương là ba anh em họ Nguyễn có công giúp Triệu Quang Phục chống quân Lương ở thế kỷ VI. Các vị được các triều đại về sau phong sắc, ban mỹ tự và được Nhân dân gìn giữ, hương khói.

    Đại biểu cho rằng giá trị của các di tích không chỉ nằm ở kiến trúc vật thể mà còn gắn với đời sống cộng đồng, tín ngưỡng, lễ hội, thần tích, sắc phong, đồ thờ, nghi lễ và ký ức làng quê. Đây là đặc trưng của vùng Kinh Bắc, nơi các thiết chế văn hóa truyền thống góp phần duy trì những giá trị lịch sử, văn hóa qua nhiều thế hệ.

    Vì vậy, theo đại biểu, nếu phải di chuyển di tích, cần đặt việc bảo tồn các giá trị này trong mối tương quan với quy mô, tính cấp thiết của các dự án.

    Đối với dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đại biểu cho rằng đây là một bộ phận của yêu cầu phát triển hạ tầng chiến lược, cần hoàn thành đồng bộ để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC năm 2027. Dự án xây dựng doanh trại gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh; cơ quan thẩm tra đánh giá đây là nhiệm vụ cấp bách, có yêu cầu tiến độ cao. Do đó, các dự án không thể tùy tiện hoặc kéo dài tiến độ.

    Tán thành việc Quốc hội cho phép di chuyển các di tích trên, nhưng phải kèm theo những điều kiện pháp lý chặt chẽ, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị Nghị quyết xác định rõ phạm vi 2 di tích thuộc dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, không sử dụng cơ chế hướng dẫn để mở rộng thêm đối tượng. Đây cũng là hướng được cơ quan thẩm tra thống nhất.

    Việc di chuyển phải được thực hiện theo cơ chế đặc thù được Quốc hội quyết định tại Điều 2 Nghị quyết 256 ban hành năm 2025, đồng thời phải có phương án cụ thể do cơ quan có thẩm quyền quyết định, bảo đảm tối đa các yếu tố cấu thành và phát huy giá trị di tích sau khi di chuyển. Công khai, minh bạch và tham vấn cộng đồng phải là yêu cầu bắt buộc. Người dân không chỉ được biết di tích sẽ được di chuyển đến đâu mà cần được tham gia vào quá trình xây dựng phương án bảo tồn đời sống văn hóa gắn với di tích…

    Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh phát biểu giải trình, làm rõ vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Phát biểu giải trình, làm rõ các vấn đề đại biểu Quốc hội nêu, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Lâm Thị Phương Thanh cho biết, thừa ủy quyền của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thống nhất tiếp thu ý kiến thẩm tra của Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội và đầy đủ ý kiến kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với nội dung Chính phủ trình tại Tờ trình số 614 và Báo cáo tiếp thu, giải trình số 490 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Theo đó, Chính phủ đề nghị áp dụng cơ chế, chính sách di chuyển đối với 2 di tích đình Đông Côi và đình Tam Sơn theo Điều 2 Nghị quyết 256 của Quốc hội.

    Đối với di tích Đền Tân Trăn, Chính phủ sẽ chỉ đạo rà soát, kiểm tra các vấn đề liên quan đến Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và chưa đưa di tích này vào dự thảo Nghị quyết.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ đã chỉnh lý dự thảo Nghị quyết và gửi Quốc hội kèm Báo cáo tiếp thu, giải trình số 490 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện, Chính phủ sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, chú trọng bảo tồn tối đa và phát huy giá trị di tích; bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và tham vấn ý kiến người dân. Việc di chuyển chỉ được thực hiện khi thực sự cần thiết, không còn giải pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn và phát triển, phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước và quy định pháp luật.

    Đối với ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Bộ trưởng đồng tình và cho rằng việc di chuyển di tích đến địa điểm mới cần tính đến đặc điểm của các đình, đền vốn gắn bó với làng, xã và cộng đồng dân cư.

    Theo Bộ trưởng, trong trường hợp cộng đồng dân cư di chuyển, việc di chuyển đình, đền gắn với cộng đồng dân cư và không gian văn hóa của làng là phù hợp. Tuy nhiên, quá trình này phải tuân thủ đúng quy trình về tu bổ di tích, giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích, thực hiện đúng quy định pháp luật và bảo đảm phát huy giá trị di sản.

    “Việc di chuyển không đơn thuần là thay đổi địa điểm mà quan trọng hơn là phải bảo tồn và phát huy tinh thần, hồn cốt cùng những giá trị của đình, đền gắn với làng, xã, qua đó giữ gìn và tiếp nối truyền thống văn hóa, lịch sử của cộng đồng và dân tộc tại nơi mới”, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhấn mạnh.

    Theo thẩm quyền, UBND tỉnh Bắc Ninh sẽ tổ chức thực hiện. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi quá trình triển khai, bảo đảm thực hiện đúng quy định và các mục tiêu theo tinh thần của Quốc hội.

    Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết để trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua theo chương trình.

    Sau khi Nghị quyết được Quốc hội thông qua, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục hỗ trợ địa phương tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội.

    Theo Báo Chính phủ

    Nguồn https://baomoi.com/bo-truong-lam-thi-phuong-thanh-viec-di-chuyen-phai-bao-ton-va-phat-huy-tinh-than-hon-cot-va-gia-tri-cua-di-tich-lich-su-c55896413.epi

  • Bộ Khoa học và Công nghệ còn 6 cơ sở nhà, đất dôi dư chưa hoàn tất xử lý

    Theo Thông báo Kết luận thanh tra chuyên đề về cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tại Bộ Khoa học và Công nghệ, trước khi hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông có tổng cộng 74 đơn vị trực thuộc. Sau khi hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ kiện toàn, sắp xếp còn 40 đơn vị.

    Tính đến ngày 30/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý 91 cơ sở nhà, đất. Trong đó, 12 cơ sở được xác định là nhà, đất dôi dư phát sinh sau thời điểm hợp nhất ngày 1/3/2025. Ba cơ sở đã hoàn tất việc xử lý, trong khi 9 cơ sở đang tiếp tục thực hiện phương án sắp xếp.

    Bộ Khoa học và Công nghệ còn 6 cơ sở nhà, đất dôi dư chưa hoàn tất xử lý.

    Đáng chú ý, tại thời điểm 19/6/2026, Bộ vẫn còn 6 cơ sở nhà, đất dôi dư chưa hoàn thành phương án sắp xếp. Đây là những cơ sở được đề xuất chuyển giao về địa phương hoặc thu hồi nhưng quá trình xử lý còn vướng mắc.

    Một trong những vấn đề được Thanh tra Chính phủ chỉ ra là công tác kê khai, đăng ký đất đai. Qua kiểm tra, xác minh, có 12 cơ sở nhà, đất chưa thực hiện kê khai đăng ký đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2024.

    Nhiều khu đất có diện tích đáng kể cũng chưa được xử lý dứt điểm. Tại Hà Nội, khu đất khoảng 400 m² ở ngách 19/9 phố Kim Đồng, phường Tương Mai được Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị xử lý, thu hồi nhưng đến ngày 19/6/2026, UBND phường Tương Mai chưa ban hành văn bản thu hồi.

    Tại khu R&D, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhiều lần đề nghị thu hồi cơ sở nhà, đất. Tuy nhiên, đến thời điểm thanh tra, UBND TP Hà Nội vẫn chưa có văn bản thu hồi. Thanh tra xác định nguyên nhân là Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND TP Hà Nội chưa thống nhất được việc áp dụng quy định pháp luật để xử lý cơ sở này.

    Đáng chú ý, tại cơ sở nhà, đất số 70 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, Hà Nội, diện tích đất theo giấy chứng nhận là 2.213,5 m², diện tích nhà 2.537,6 m². Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề xuất trả lại cơ sở để thành phố thu hồi, song đến ngày 19/6/2026 hai bên vẫn chưa thống nhất được việc áp dụng quy định pháp luật để thực hiện sắp xếp.

    Tại Lâm Đồng, diện tích 599.400 m² đất rừng phòng hộ tại cơ sở số 1 đường DT723, phường Lâm Viên – Đà Lạt cũng chưa hoàn tất phương án xử lý. Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị bàn giao phần diện tích này cho địa phương quản lý; UBND tỉnh Lâm Đồng cơ bản thống nhất, nhưng đến ngày 19/6/2026 việc sắp xếp vẫn chưa hoàn thành.

    Ngoài các cơ sở dôi dư, Thanh tra Chính phủ còn chỉ ra tình trạng quản lý, sử dụng chưa hiệu quả tại một số khu đất khác. Tại cơ sở 96A Trần Phú, phường Hà Đông, khu đất rộng 55.133,2 m² có 9 lô đất trống, trong đó một số hộ dân đang sử dụng làm kho tạm, nơi ở. Trong khi đó, tại hai cơ sở số 48 Láng Hạ và 140 Nguyễn Tuân, Viện Công nghệ xạ hiếm chưa thu hồi được tổng cộng hơn 600 m² diện tích đất đang được sử dụng làm kiot, dù đã có quyết định thanh lý hợp đồng từ năm 2014.

    Thanh tra Chính phủ cho rằng, bên cạnh nguyên nhân khách quan do việc hợp nhất làm phát sinh số lượng lớn cơ sở nhà, đất cần xử lý trong thời gian ngắn và phụ thuộc vào quyết định của chính quyền địa phương, còn có nguyên nhân chủ quan. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng một số đơn vị trực thuộc chưa quyết liệt trong quản lý, theo dõi, đôn đốc thực hiện phương án; chưa chủ động phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để tháo gỡ vướng mắc.

    Thanh tra Chính phủ kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân liên quan; đồng thời phối hợp với các địa phương đẩy nhanh việc xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư, tránh để nguồn lực nhà nước tiếp tục bị bỏ ngỏ. Riêng khu đất khoảng 8.000 m² tại số 113 Trần Duy Hưng, Hà Nội, Bộ được yêu cầu có phương án xử lý để khai thông nguồn lực nhà nước.

    Châu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-con-6-co-so-nha-dat-doi-du-chua-hoan-tat-xu-ly-c55896564.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!