Nguồn https://baomoi.com/go-diem-nghen-phe-thai-xay-dung-c55897232.epi
Author: bachdn
-
Hội Cấp Thoát nước Việt Nam kỳ vọng gì ở dự thảo Luật Cấp thoát nước?
3 nhóm chính sách quan trọng của dự thảo Luật Cấp thoát nước
Ông Lương Ngọc Khánh, Phó Trưởng phòng Cấp, thoát nước, Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng cho biết, Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến các Bộ, cơ quan, địa phương và các đơn vị, tổ chức liên quan đối với hồ sơ chính sách của dự án Luật Cấp thoát nước.
Theo dự thảo Luật Cấp thoát nước, việc phát triển cấp, thoát nước đồng bộ, thống nhất và hiệu quả theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch.
Dự kiến, Bộ Xây dựng sẽ trình hồ sơ dự án Luật sang Bộ Tư pháp thẩm định vào tháng 9/2026; trình Chính phủ trong tháng 12/2026; Chính phủ trình Quốc hội xem xét vào tháng 5/2027.
Ông Lương Ngọc Khánh nhấn mạnh, dự thảo Luật Cấp thoát nước xác định ba chính sách cơ bản. Thứ nhất là phát triển cấp, thoát nước đồng bộ, thống nhất và hiệu quả theo chiến lược, quy hoạch và kế hoạch. Thứ hai là nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và khai thác hệ thống cấp, thoát nước. Thứ ba là bảo đảm nguồn lực cho phát triển lĩnh vực cấp, thoát nước.
Dự thảo Luật đồng thời cập nhật các yêu cầu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ.
“Hiện nay, các nội dung về chuyển đổi số, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chuyên ngành cấp, thoát nước chưa được quy định đầy đủ trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành”, ông Khánh nhận định.
Do vậy, Bộ cũng đã xây dựng dự thảo Thông tư quy định về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cấp nước sạch và thoát nước đô thị. Hiện nay, Bộ đang lấy ý kiến các địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan và dự kiến ban hành Thông tư này trong năm 2026.
“Đây là một bước cập nhật mới, trước khi các nội dung liên quan được đưa vào dự thảo Luật Cấp thoát nước”, ông Lương Ngọc Khánh cho biết.
“Dân trong nghề” kỳ vọng gì?
Với tư cách đại diện tổ chức nghề nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam chia sẻ: “Mong muốn của chúng tôi đối với Luật Cấp thoát nước là có một hành lang pháp lý để Nhà nước quản lý, quản trị hiệu quả cấp, thoát nước. Có Luật Cấp thoát nước, các doanh nghiệp ngành nước biết rõ những quy trình đầu tư, xây dựng, vận hành đem lại hiệu quả. Người dân được hưởng những dịch vụ cấp nước, thoát nước tốt và môi trường sạch đẹp”.
Luật Cấp thoát nước được kỳ vọng giải quyết được những vấn đề bức xúc của ngành cấp, thoát nước hiện nay.
Nhấn mạnh vai trò quan trọng của nước đối với đời sống, “cấp nước là dịch vụ thiết yếu”, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch thường trực Hội Cấp thoát nước Việt Nam kỳ vọng: Khi được ban hành, Luật là hành lang pháp lý giải quyết được những vấn đề bức xúc của ngành cấp, thoát nước hiện nay.
Luật Cấp thoát nước phải bảo đảm được việc cấp nước an toàn cho người dân. Với sự tham gia của nhiều nguồn lực đầu tư, giá nước phù hợp. Ngành nước tiếp cận, tiến tới việc số hóa theo quyết định số hóa của ngành Xây dựng về hạ tầng kỹ thuật và đổi mới sáng tạo…
Đặc biệt, dự thảo Luật cũng cần hướng đến việc xã hội hóa trong lĩnh vực xử lý nước thải. Ông Tuấn phân tích, hiện nay, mỗi ngày cả nước sản xuất ra khoảng 13,5 triệu m3 nước cấp. Sau khi sử dụng, nước này chuyển hóa nó thành nước thải, chiếm khoảng 80% lượng nước cấp. Nhưng trên thực tế, Việt Nam mới có khoảng 83-85 công trình xử lý nước thải sinh hoạt, xử lý được khoảng một triệu m3, chiếm 15-18% lượng nước thải.
Về mặt pháp lý, công tác xử lý nước thải là dịch vụ công và công ích. Chính quyền địa phương luôn phải đau đầu trong việc đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải. Bởi nguồn vốn ngân sách thì càng ngày càng khó khăn, trong khi đó, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải rất tốn kém.
Theo ông Tuấn, việc xây dựng hệ thống thoát nước gồm có hai thành phần chính là trạm xử lý nước thải và mạng lưới thu gom, đường ống thoát nước. Trong đó, 30-40% tổng kinh phí là chi phí đầu tư cho trạm xử lý nước thải. Phần lớn kinh phí còn lại là đầu tư cho mạng lưới thu gom, đường ống thoát nước. Hơn nữa, quá trình xây dựng mạng lưới mất nhiều thời gian.
Do vậy, ông Tuấn mong dự thảo Luật Cấp thoát nước hướng đến chính sách xã hội hóa, thu hút đa dạng các thành phần kinh tế tham gia vào việc đầu tư xử lý nước thải; xem xét đến việc tính toán giá xử lý nước thải hợp lý để cho người dân có thể tham gia, hỗ trợ bảo vệ môi trường chung tốt hơn.
-
Bộ Công an cảnh báo vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất
Nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp, Bộ Công an đưa ra cảnh báo về các nhóm hành vi vi phạm phổ biến, hậu quả pháp lý nghiêm trọng cùng các giải pháp phòng ngừa cần lưu ý.
Thực tiễn đấu tranh cho thấy các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn ra khá đa dạng và phức tạp. Trong mảng xử lý nước thải, vi phạm phổ biến nhất là không vận hành, vận hành không thường xuyên hoặc vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý nước thải, quy định tại Điều 11 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/07/2022 của Chính phủ.
Nhiều cơ sở thứ cấp trong khu công nghiệp còn không thực hiện xử lý sơ bộ nước thải phát sinh theo giấy phép môi trường của chủ đầu tư hạ tầng, xả trực tiếp ra hệ thống kênh rạch gây ô nhiễm nguồn nước mặt, vi phạm Điều 15 Nghị định 45/2022/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, tình trạng phát sinh khí thải công nghiệp từ việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch, lò hơi, lò nung hay quá trình tái chế phế liệu làm phát sinh bụi và các khí độc hại như SO₂, NOₓ, CO mà không qua thu gom, xử lý đúng quy định cũng gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng, vi phạm Điều 20 Nghị định 45/2022/NĐ-CP.
Ảnh minh họa.
Đối với công tác quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, lực lượng chức năng ghi nhận nhiều vi phạm trong việc phân loại, lưu giữ, chuyển giao chất thải không đúng quy định theo Điều 29 và Điều 30 Nghị định 45/2022/NĐ-CP. Nhiều cơ sở chưa bố trí khu vực lưu giữ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật hoặc lập sổ sách chứng từ không đầy đủ. Đặc biệt nguy hiểm là hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái phép chất thải nguy hại và chất thải rắn ngay trong hoặc ngoài khuôn viên nhà xưởng, gây suy thoái môi trường đất và nước ngầm. Ngoài ra, việc lập hồ sơ môi trường tại nhiều đơn vị còn nhiều tồn tại như hoạt động khi chưa có Giấy phép môi trường theo Điều 14, không báo cáo công tác bảo vệ môi trường định kỳ theo Điều 43, hoặc thực hiện không đúng nội dung giấy phép đã được cấp.
Những hành vi chôn lấp, xả thải chui hay buông lỏng quản lý chất thải gây ra hậu quả đặc biệt nguy hiểm bởi các chất độc hại sẽ âm thầm phát tán, tích tụ trong đất, nước và không khí trong thời gian dài, tàn phá hệ sinh thái và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Về mặt pháp lý, các hành vi này bị xử lý rất nghiêm khắc. Mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường có thể lên đến 1 tỉ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức theo Điều 6 Nghị định 45/2022/NĐ-CP, đi kèm hình phạt bổ sung như tước giấy phép môi trường hoặc đình chỉ hoạt động. Đối với các vi phạm xả thải vượt quy chuẩn ở mức độ nghiêm trọng hoặc chôn lấp chất thải nguy hại số lượng lớn, cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội gây ô nhiễm môi trường” theo Điều 235 Bộ luật Hình sự. Mức phạt hình sự đối với doanh nghiệp có thể lên đến 12 tỉ đồng, bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Từ thực tiễn xử lý vi phạm, bài học đắt giá dành cho các doanh nghiệp là chi phí phải bỏ ra để khắc phục hậu quả môi trường, nộp phạt hành chính, bồi thường thiệt hại và tổn thất về uy tín thương hiệu luôn lớn hơn rất nhiều so với chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý chất thải ngay từ đầu. Do đó, chấp hành pháp luật về môi trường không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc mà còn là yếu tố sống còn để doanh nghiệp phát triển bền vững.
Để chủ động phòng ngừa vi phạm, cơ quan chức năng khuyến nghị các doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn. Doanh nghiệp phải duy trì vận hành thường xuyên, liên tục các công trình xử lý chất thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường, đồng thời quản lý chặt chẽ khâu phân loại, lưu giữ và chỉ chuyển giao chất thải cho các đơn vị có đủ năng lực pháp lý.
Bên cạnh việc tăng cường kiểm tra nội bộ, rà soát nguy cơ sự cố và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người lao động, người đứng đầu doanh nghiệp phải trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm về công tác bảo vệ môi trường tại đơn vị, tuyệt đối không buông lỏng quản lý hay đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế trước mắt.