Author: bachdn

  • Xây dựng các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia

    Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Tiếp tục chương trình Kỳ họp, sáng 24/8, Quốc hội đã biểu quyết thông qua các luật gồm: Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

    Phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

    Với 471/472 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Luật gồm 5 chương, 35 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở. Luật này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là cấp xã) và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.

    Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trước khi Quốc hội tiến hành biểu quyết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức chỉ đạo, chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.

    Dự thảo Luật cũng tập trung khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải, quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đồng thuận trong cộng đồng dân cư và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Về tiêu chuẩn của hòa giải viên (Điều 8), dự thảo Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở” nhằm mở rộng phạm vi người được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên và bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời, bổ sung tiêu chuẩn “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”; bổ sung tại khoản 5 Điều 8 quy định về các trường hợp không đủ tiêu chuẩn làm hòa giải viên, bao gồm người đang trong thời hạn thi hành quyết định xử lý kỷ luật, trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, người đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích để bảo đảm chặt chẽ.

    Về nghĩa vụ của hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải, dự thảo Luật bổ sung nghĩa vụ của hòa giải viên về phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của các bên và của những người khác tham gia hòa giải tại khoản 4 Điều 13; nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất UBND cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch theo đề nghị của các bên tại khoản 6 Điều 13; bổ sung nghĩa vụ của Tổ trưởng tổ hòa giải trong việc thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho người được mời trực tiếp tham gia hòa giải tại khoản 7 Điều 18…

    Xác định rõ chính sách phát triển hoạt động xuất bản

    Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua luật và nghị quyết. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản đã được Quốc hội thông qua với 472/475 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động xuất bản; quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm.

    Đối với chính sách của Nhà nước về phát triển hoạt động xuất bản, Luật quy định: Miễn, giảm thuế, tiền thuê đất, thuê bất động sản là tài sản công đối với nhà xuất bản theo quy định của pháp luật; Xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm. Cùng với đó là đầu tư xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước, chuyển đổi số và phát triển thị trường xuất bản; đầu tư phát triển xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan; ưu tiên, bố trí quỹ đất cho hoạt động xuất bản…

    Theo Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày, một số ý kiến đề nghị hoàn thiện chính sách tại Điều 7 theo hướng rõ đối tượng, nguồn lực và cơ chế thực hiện; ưu tiên phát triển văn hóa đọc, xuất bản phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm yếu thế; làm rõ chính sách đối với cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, tập đoàn xuất bản, truyền thông; đồng thời tăng cường chính sách phát triển nguồn nhân lực, tác giả, tác phẩm có giá trị, công nghiệp xuất bản, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và ưu đãi về thuế, đất đai.

    Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý Điều 7 dự thảo Luật theo hướng xác định rõ các chính sách phát triển hoạt động xuất bản. Theo đó, quy định chính sách xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm; đầu tư hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phát triển xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu đối với xuất bản phẩm phục vụ các nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn ưu tiên; ưu đãi đối với hoạt động in, phát hành; hỗ trợ bản quyền, dịch thuật, quảng bá; phát triển nguồn nhân lực, văn hóa đọc và thu hút nguồn lực xã hội.

    Các quy định này là chính sách phát triển; việc xây dựng và phát triển các cơ quan xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm sẽ được triển khai thông qua các đề án, phù hợp với chiến lược phát triển và được cấp có thẩm quyển phê duyệt; đồng thời áp dụng theo loại hình tổ chức của nhà xuất bản tại Điều 12, gồm đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

    Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc

    Trong phiên họp sáng 24/8, với 467/470 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Theo Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý Điều 11 về yêu cầu đối với kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn và Điều 12 về thiết kế kiến trúc theo hướng quy định kiến trúc tại đô thị, nông thôn phải kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, đồng thời phát triển phong cách kiến trúc hiện đại, tiên tiến, hài hòa với không gian kiến trúc, cảnh quan của khu vực xây dựng công trình.

    Đối với các ý kiến đề nghị bổ sung quy định về kiến trúc xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, vật liệu thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, pháp luật về kiến trúc đã quy định tại Điều 6 về chính sách của Nhà nước trong hoạt động kiến trúc, bao gồm xây dựng định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam; xây dựng cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về kiến trúc và mẫu thiết kế kiến trúc đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Về các ý kiến đề nghị quy định cụ thể đối với quản lý hình thái kiến trúc, kiến trúc khu vực ven sông, ven biển, hải đảo; bảo tồn công trình có giá trị; bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật, người cao tuổi và các nhóm yếu thế; xác định trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc, Chính phủ nhận thấy đây là những nội dung thuộc yêu cầu quản lý kiến trúc đối với từng khu vực, từng loại công trình hoặc thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành có liên quan. Vì vậy, dự thảo Luật quy định theo nguyên tắc, đồng thời giao cụ thể hóa trong quy chế quản lý kiến trúc, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từng loại công trình.

    Việc xây dựng tiêu chí nhận diện bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc cần được nghiên cứu trên cơ sở khoa học, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền, địa phương và yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn; do đó, không quy định cứng trong Luật mà sẽ được nghiên cứu, cụ thể hóa trong Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

    Luật sửa đổi 4 luật trong lĩnh vực khoa học công nghệ có hiệu lực từ ngày 1/3/2027

    Cũng tại phiên họp sáng 24/8, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ đã được Quốc hội thông qua với 477/477 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

    Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật nêu rõ, về cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện: Dự thảo Luật đã được rà soát, chỉnh lý để cắt giảm thủ tục hành chính, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tạo thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

    Đối với Luật Tần số vô tuyến điện, việc phân định lại thẩm quyền quản lý hoạt động đào tạo, cấp chứng chỉ cho người khai thác thiết bị vô tuyến điện thuộc nghiệp vụ di động hàng hải từ Bộ Khoa học và Công nghệ sang Bộ Xây dựng đã tạo cơ sở để bãi bỏ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện “Đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện viên” tại Luật Đầu tư.

    Đối với Luật Viễn thông, việc cắt giảm điều kiện hoạt động đối với tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đăng ký, duy trì tên miền được thực hiện đồng thời với việc thiết lập cơ chế quản lý theo hướng hậu kiểm nhằm bảo đảm việc cắt giảm điều kiện kinh doanh không tạo khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước. Theo đó, công tác quản lý được thực hiện trên cơ sở ứng dụng công nghệ, dữ liệu số kết hợp cơ chế báo cáo, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

    Đối với Luật Giao dịch điện tử, việc cắt giảm thủ tục hành chính gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy, thay đổi nội dung giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm chi phí tuân thủ khi bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn cần thiết. Việc cắt giảm các thủ tục này được triển khai trên cơ sở sử dụng tối đa dữ liệu có sẵn trong cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông.

    Về yêu cầu ban hành kịp thời, đồng bộ văn bản quy định chi tiết, không phát sinh khoảng trống pháp lý, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trái thẩm quyền, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, xác định cụ thể các nội dung cần quy định chi tiết để khẩn trương xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành, bảo đảm có hiệu lực đồng thời với Luật, không làm gián đoạn việc thực hiện các quy định của Luật sau khi được thông qua.

    Phan Phương/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-cac-co-quan-xuat-ban-truyen-thong-chu-luc-quoc-gia-c55899824.epi

  • Thông qua cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn cho các dự án, công trình phục vụ APEC 2027

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo giải trình các ý kiến góp ý về Quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang – Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

    Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình, hạng mục công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang đã được tổ chức triển khai, đã được thi công xây dựng từ tháng 3 năm 2025 đến trước ngày 18 tháng 5 năm 2026, trước khi hoàn thiện thủ tục theo quy định của pháp luật, thuộc một trong các trường hợp:Dự án thuộc danh mục các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027 ban hành kèm theo Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện và thực hiện một số biện pháp để triển khai nhanh các dự án phục vụ Hội nghị APEC 2027 tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

    Công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đối ứng thực hiện trên quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án Trung tâm tổ chức Hội nghị APEC áp dụng loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (Dự án BT).

    Hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ chất thải, tiếp nhận chất thải từ hoạt động xây dựng để phục vụ các dự án, công trình, hạng mục công trình quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

    Nghị quyết này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các dự án, công trình, hạng mục công trình quy định tại khoản 1 Điều này và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Về nguyên tắc thực hiện, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu: Bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Nghị quyết này; phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể có liên quan theo quy định của pháp luật; chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không làm phát sinh tranh chấp, khiếu kiện.

    Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm có tính chất vụ lợi (nếu có), không để phát sinh sai phạm mới, không loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm vì mục đích vụ lợi (nếu có); kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, tiêu cực, làm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

    Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của các dự án, công trình, hạng mục công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027; bảo đảm lợi ích chung, tổng thể của quốc gia, địa phương, không làm ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh, hoạt động đối ngoại.

    Bảo đảm các dự án, công trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chất lượng công trình, hoàn thành đúng tiến độ để nghiệm thu, bàn giao, đưa vào khai thác, sử dụng, vận hành an toàn, hiệu quả.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026./.

    Hải Liên

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-co-che-chinh-sach-dac-thu-thao-go-kho-khan-cho-cac-du-an-cong-trinh-phuc-vu-apec-2027-c55899981.epi

  • Lâm Đồng tính phương án triển khai cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Đồng chí Nguyễn Hồng Hải, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng chủ trì buổi làm việc

    Theo báo cáo Sở Tài chính, tuyến cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa là dự án trọng điểm phấn đấu triển khai trong nhiệm kỳ 2025 – 2030, góp phần tăng cường kết nối liên vùng, mở rộng không gian phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ và thu hút đầu tư.

    Theo đề xuất sơ bộ, tuyến cao tốc có chiều dài khoảng 143,81 km, gồm: 124,16 km phần đường; 12,75 km cầu cạn; 9 cầu và 6,9 km qua 7 hầm; 9 nút giao liên thông. Dự án được đề xuất quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh, nền đường rộng 24,75 m, tốc độ thiết kế 80 – 120 km/giờ.

    Ông Dương Minh Châu, Phó Giám đốc Sở Tài chính báo cáo phương án triển khai dự án Đường bộ cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Nhu cầu sử dụng đất khoảng 1.295 ha, trong đó khoảng 424 ha đất rừng, 131 ha đất thuộc vùng quy hoạch, dự trữ khoáng sản bô xít và 740 ha đất khác. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 54.897 tỷ đồng, gồm: 37.866 tỷ đồng chi phí xây dựng và 7.865 tỷ đồng chi phí giải phóng mặt bằng.

    Với nhu cầu vốn gần 55.000 tỷ đồng, Sở Tài chính đánh giá phương án đầu tư toàn bộ bằng vốn công không khả thi. Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 dự kiến ngân sách tỉnh đáp ứng khoảng 7.500 tỷ đồng, Trung ương hỗ trợ khoảng 17.500 tỷ đồng, còn thiếu khoảng 25.000 tỷ đồng. Vì vậy, phương thức đối tác công tư (PPP) được xem là hướng phù hợp để huy động thêm nguồn lực xã hội.

    Ông Nguyễn Thanh Chương, Phó Giám đốc Sở Xây dựng phát biểu tại buổi làm việc

    Theo Sở Tài chính, hiện có 2 nhà đầu tư quan tâm dự án là Liên danh Trung Nam – INDEL CORP – Trung Nam E&C và Công ty TNHH Tập đoàn Xây dựng Tô Thương. Tuy nhiên, đến nay mới có Liên danh Trung Nam – INDEL CORP – Trung Nam E&C đề xuất được giao lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

    Sở Tài chính cho rằng hồ sơ của Liên danh còn nhiều nội dung cần làm rõ, nhất là tỷ lệ vốn nhà nước tham gia, khả năng huy động vốn chủ sở hữu, vốn vay và năng lực, kinh nghiệm của từng thành viên. Do chưa có đầy đủ thông tin chứng minh, hiện chưa đủ cơ sở đánh giá sơ bộ năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư.

    Ông Nguyễn Ngọc Nam, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh phát biểu tại buổi làm việc

    Việc Liên danh đề xuất lập hồ sơ không đồng nghĩa đã được lựa chọn làm nhà đầu tư. Trường hợp được chấp thuận lập hồ sơ, Liên danh phải tự chịu kinh phí và mọi rủi ro; việc này không tạo ưu tiên hay cam kết chỉ định nhà đầu tư. Sau khi chủ trương đầu tư được phê duyệt, việc lựa chọn nhà đầu tư sẽ thực hiện công khai, minh bạch theo quy định.

    Mặt khác, dự án dự kiến ảnh hưởng khoảng 424 ha đất rừng và 131 ha vùng quy hoạch, dự trữ khoáng sản bô xít. Đây là những vấn đề pháp lý lớn cần được nghiên cứu, xử lý theo quy định về lâm nghiệp, khoáng sản và thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng, đất khoáng sản. Hồ sơ hiện chưa đưa ra đầy đủ giải pháp xử lý khu vực chồng lấn quy hoạch bô xít và bù hoàn rừng.

    Đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị tham dự buổi làm việc

    Sở Tài chính cũng đề xuất phương án Nhà nước chủ động chuẩn bị hồ sơ PPP; theo đó, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng số 2 chuẩn bị dự án Phan Thiết – Bảo Lộc, Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng số 3 chuẩn bị dự án Gia Nghĩa – Bảo Lộc.

    Trường hợp Liên danh được chấp thuận lập hồ sơ đề xuất, nhà đầu tư phải xây dựng phương án tài chính chi tiết, xác định rõ vốn nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn vay; đồng thời làm rõ giải pháp xử lý đất rừng và khoáng sản. Hồ sơ đề xuất dự án, nếu được chấp thuận, dự kiến hoàn thành và nộp về Sở Tài chính trước ngày 4/11/2027.

    Đồng chí Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan tập trung rà soát phương án đầu tư, triển khai dự án Đường bộ cao tốc Phan Thiết – Bảo Lộc – Gia Nghĩa

    Tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hồng Hải yêu cầu các cơ quan liên quan tập trung rà soát phương án đầu tư, nguồn lực thực hiện, năng lực nhà đầu tư quan tâm và những vấn đề về đất rừng, khoáng sản; bảo đảm việc chuẩn bị dự án chặt chẽ, đúng quy định, có tính khả thi và đáp ứng yêu cầu tiến độ.

    Đại diện lãnh đạo các sở, ngành tham dự buổi làm việc

    Hoàng Sa

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-tinh-phuong-an-trien-khai-cao-toc-phan-thiet-bao-loc-gia-nghia-c55899904.epi

  • ‘Chốt’ đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô dài 349 km, tổng vốn hơn 288 nghìn tỷ đồng

    Sáng 24/8, với đa số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Theo đó, dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô có chiều dài khoảng 349 km, thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ.

    Dự án được đầu tư bằng hình thức đầu tư công, chia thành các dự án thành phần; áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả.

    Dự án đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô có chiều dài khoảng 349 km.

    Nghị quyết vừa được thông qua nêu rõ tổng nhu cầu sử dụng đất cho dự án khoảng 4.011ha, tổng mức đầu tư sơ bộ 288.268 tỷ đồng.

    Trong đó, khoảng 61.394 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2026 – 2030 được dự kiến bố trí để đầu tư tuyến chính cao tốc dài 116 km, thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Về tiến độ, dự án sẽ được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, thực hiện dự án từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Đáng chú ý, đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được áp dụng nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Ví dụ, dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp tỉnh có dự án đi qua được chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư. Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác cũng được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của dự án.

    Vốn đầu tư tương đồng với dự án Vành đai 4

    Trước đó, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu, Chính phủ cho biết đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát sơ bộ tổng mức đầu tư để bảo đảm được tính đúng, tính đủ, hạn chế tăng tổng mức đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện.

    Tổng mức đầu tư của dự án được xác định trên cơ sở khối lượng của phương án thiết kế sơ bộ và hệ thống định mức, đơn giá, suất vốn đầu tư do cơ quan có thẩm quyền công bố, tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh báo cáo tiếp thu, giải trình. (Ảnh: Như Y)

    Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo so sánh sơ bộ tổng mức đầu tư với một số tuyến cao tốc đang triển khai trong khu vực với quy mô, tính chất và điều kiện xây dựng tương tự (đường Vành đai 4, cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng).

    Kết quả cho thấy suất đầu tư và cơ cấu chi phí của dự án cơ bản tương đồng với các dự án trên, bảo đảm tính hợp lý của phương án xác định sơ bộ tổng mức đầu tư.

    Giải trình về cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, Chính phủ lý giải do chưa thể cân đối đủ vốn để đầu tư toàn tuyến, Chính phủ đề xuất Quốc hội cơ chế này để thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo.

    Cơ chế đặc thù này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực.

    Yêu cầu đặt ra khi thực hiện cơ chế này là đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả và được Quốc hội giám sát, quản lý chặt chẽ của Quốc hội, không phát sinh lãng phí, tiêu cực trong triển khai.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/chot-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-dai-349-km-tong-von-hon-288-nghin-ty-dong-c55899996.epi

  • Quốc hội chốt chi hơn 288 nghìn tỷ đồng làm đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội

    Các đại biểu Quốc hội dự phiên họp ở hội trường sáng 24/8. (Ảnh: DUY LINH)

    Sáng 24/8, với 463/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (bằng 92,60% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Việc đầu tư dự án nhằm hình thành tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong Vùng nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; tạo tiền đề phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; phân luồng giao thông từ xa, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết của Đảng.

    Dự án có chiều dài khoảng 349km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ; đầu tư theo hình thức đầu tư công; chia thành các dự án thành phần.

    Dự án áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện hình thức thu phí điện tử không dừng trong khai thác, vận hành.

    Nhu cầu sử dụng đất dự kiến của dự án khoảng 4.011ha, gồm đất trồng lúa khoảng 1.776 ha (trong đó đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên khoảng 1.590ha); đất lâm nghiệp khoảng 210ha; các loại đất khác theo quy định của pháp luật về đất đai khoảng 2.025ha.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và nguồn vốn hợp pháp khác. Trong đó, dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026-2030 để đầu tư tuyến chính cao tốc, dự kiến khoảng 116km thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua. (Ảnh: DUY LINH)

    Về tiến độ thực hiện, chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035. Đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026-2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031. Đối với các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Quốc hội cũng quyết nghị cho phép dự án được áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Theo đó, trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ các trường hợp: tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho dự án do địa phương xem xét, quyết định.

    Dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư tổ chức thực hiện tiểu dự án hoặc các tiểu dự án di dời công trình điện có điện áp từ 110kV trở lên.

    Cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng trong Hồ sơ khảo sát dự án và bàn giao mặt bằng cho nhà thầu để đổ chất thải xây dựng của dự án; tổ chức quản lý bãi đổ chất thải xây dựng của dự án theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của dự án. Cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án; trình tự, thủ tục chỉ định thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

    Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch. Sau khi dự án được phê duyệt, các quy hoạch có liên quan phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh, cập nhật và công bố.

    Nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng chung quanh tuyến đường sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực phát triển khu đô thị, khu chức năng hai bên tuyến đường Vành đai 5 và chi phí khác có liên quan theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách trung ương. Giao Chính phủ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Quốc hội cũng giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; tổng hợp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    VĂN TOẢN

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-chot-chi-hon-288-nghin-ty-dong-lam-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-ha-noi-c55899896.epi

  • Phá dỡ hai tòa chung cư hơn 50 năm tuổi ở Nghệ An

    Máy móc được huy động để phá dỡ hai tòa chung cư C5, C6 thuộc khu chung cư Quang Trung, khép lại hành trình hơn 50 năm tồn tại của hai công trình đã xuống cấp nghiêm trọng.

    Khu chung cư Quang Trung được Chính phủ Đức viện trợ xây dựng năm 1974 và đưa vào sử dụng từ năm 1976. Toàn khu gồm 22 tòa nhà cao 5 tầng, từng là nơi sinh sống của nhiều thế hệ cán bộ, công nhân, viên chức và người dân trên địa bàn.

    Phá dỡ hai tòa chung cư hơn 50 năm tuổi ở Nghệ An.

    Sau gần 50 năm sử dụng, nhiều hạng mục tại khu chung cư đã xuống cấp. Phần lớn cư dân hiện nay là cán bộ hưu trí, công nhân, viên chức và các hộ có thu nhập trung bình, thấp. Do hạn chế về điều kiện tài chính, nhiều gia đình vẫn phải gắn bó với những căn hộ cũ kỹ, xuống cấp.

    Đáng chú ý, hai tòa C5 và C6 đã được kiểm định ở cấp D – mức nguy hiểm cao nhất đối với nhà chung cư theo quy định. Sau hơn nửa thế kỷ sử dụng, công trình xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người dân.

    Ông Nguyễn Sỹ Diệu, Chủ tịch UBND phường Thành Vinh, cho biết thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, địa phương đã tập trung triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tổ chức di dời 140 hộ dân tại hai tòa C5, C6 để phục vụ việc phá dỡ và xây dựng lại.

    Việc hoàn thành di dời người dân và phá dỡ hai tòa nhà có ý nghĩa quan trọng, tạo mặt bằng sạch để chủ đầu tư triển khai dự án cải tạo, xây dựng lại khu C chung cư Quang Trung. Đây cũng là bước cụ thể hóa chủ trương chỉnh trang đô thị, từng bước thay thế các công trình chung cư cũ, xuống cấp bằng hệ thống nhà ở mới đồng bộ, hiện đại và an toàn hơn.

    Sau hơn nửa thế kỷ sử dụng, công trình xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người dân.

    Để hỗ trợ người dân trong quá trình di dời, phường Thành Vinh hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ chi phí di chuyển. Các hộ dân còn được hỗ trợ tiền thuê nhà tạm cư 5 triệu đồng/tháng trong thời gian 6 tháng, góp phần giúp người dân ổn định cuộc sống trong thời gian chờ nhận căn hộ tái định cư.

    Theo dự án cải tạo, xây dựng lại khu C chung cư Quang Trung, Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội số 30 là chủ đầu tư. Hai tòa nhà CT3A và CT3B được xây dựng để bố trí tái định cư cho các hộ dân thuộc các tòa C2, C3, C4, C5 và C6.

    Máy móc được huy động để phá dỡ hai tòa chung cư C5, C6 thuộc khu chung cư Quang Trung.

    Trong đó, tòa CT3A dành để bố trí tái định cư cho các hộ dân tại C5 và C6. Công trình cơ bản hoàn thành phần xây dựng, hiện đang triển khai các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện hệ thống điện, nước, phòng cháy, chữa cháy và các hạng mục phụ trợ. Theo kế hoạch, CT3A sẽ được bàn giao, đưa vào sử dụng trước ngày 30/8.

    Sau khi hoàn thành di dời người dân tại C5, C6, phường Thành Vinh tiếp tục triển khai di dời tại ba tòa C2, C3 và C4 với tổng số 240 hộ dân.

    Theo Quyết định số 2452/QĐ-UBND ngày 17/8/2026, các hộ gia đình, cá nhân là chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp căn hộ tại ba tòa nhà phải di chuyển người và toàn bộ tài sản ra khỏi nhà chung cư trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

    Hiện phường Thành Vinh đang huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, tăng cường tuyên truyền, vận động người dân, đồng thời phối hợp với chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình tái định cư.

    Tòa CT3B – nơi bố trí tái định cư cho các hộ dân tại C2, C3 và C4 – đang được chủ đầu tư tập trung nhân lực, máy móc thi công. Công trình hiện đã hoàn thiện đến tầng 14, phấn đấu hoàn thành phần thô trước ngày 30/9, nghiệm thu trong tháng 11 và bàn giao căn hộ cho người dân trước ngày 31/12/2026.

    Việc từng bước phá dỡ các tòa chung cư cũ, di dời người dân và xây dựng các công trình tái định cư mới được kỳ vọng sẽ góp phần thay đổi diện mạo khu chung cư Quang Trung, đồng thời bảo đảm an toàn và cải thiện điều kiện sống cho hàng trăm hộ dân sau nhiều năm sinh sống trong những công trình đã xuống cấp.

    Trần Tú

    Nguồn https://baomoi.com/pha-do-hai-toa-chung-cu-hon-50-nam-tuoi-o-nghe-an-c55899851.epi

  • Tuyến cao tốc 55 km và những cơ hội mới khi Quảng Ninh nối với Vành đai 5

    Thêm một mắt nối cho mạng lưới giao thông

    Quảng Ninh đang có một trong những mạng lưới giao thông kết nối đa dạng nhất cả nước, với cao tốc, cảng biển, sân bay và cửa khẩu cùng hiện diện trong một không gian kinh tế. Tuy nhiên, khi các trung tâm sản xuất và đô thị phía Bắc ngày càng liên kết chặt chẽ, yêu cầu đặt ra không chỉ là có thêm tuyến đường, mà là hoàn thiện những mắt nối còn thiếu trong toàn mạng lưới.

    Cuối tháng 7/2026, UBND tỉnh Quảng Ninh có văn bản số 3316/UBND-XDMT đề nghị bổ sung tuyến cao tốc nối từ cao tốc Hải Phòng – Hạ Long đến Vành đai 5 – Vùng Thủ đô và tuyến cao tốc Hải Phòng – Gia Bình vào Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Theo phương án đề xuất, tuyến dài khoảng 55 km, điểm đầu tại nút giao Hạ Long Xanh trên cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái, điểm cuối kết nối với Vành đai 5 trên địa bàn Hải Phòng; tuyến được nghiên cứu theo tiêu chuẩn cao tốc 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120 km/giờ.

    Khi kết nối được tăng cường, lợi thế về cảng biển, cửa khẩu, công nghiệp, du lịch và dịch vụ của Quảng Ninh sẽ có thêm điều kiện phát triển (Ảnh minh hoạ).

    Nếu được bổ sung và đầu tư, đây sẽ là một hướng kết nối mới từ Quảng Ninh vào mạng lưới giao thông phía Tây. Ý nghĩa của tuyến đường vì thế không nằm đơn thuần ở 55 km cao tốc, mà ở khả năng kết nối những tuyến đã hình thành thành một mạng lưới có phạm vi phục vụ rộng hơn.

    Với vận tải hàng hóa, thêm một hướng kết nối đồng nghĩa thêm phương án tổ chức hành trình. Hàng hóa từ Quảng Ninh có thể tiếp cận các trung tâm sản xuất, phân phối và tiêu thụ phía trong thuận lợi hơn; theo chiều ngược lại, hàng từ các tỉnh, thành trong vùng có thêm hướng tiếp cận hệ thống cảng biển, khu kinh tế và cửa khẩu của Quảng Ninh.

    Từ lợi thế giao thông đến lợi thế vị trí

    Quảng Ninh đã có quá trình khá rõ trong việc biến hạ tầng giao thông thành lợi thế phát triển. Các tuyến cao tốc kết nối Hải Phòng, Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái; Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn; hệ thống cảng biển và cửa khẩu quốc tế đã từng bước mở rộng khả năng tiếp cận của tỉnh với các trung tâm kinh tế trong nước và thị trường quốc tế.

    Tuyến 55 km được đề xuất có thể tạo thêm một lớp kết nối theo hướng khác: đưa Quảng Ninh tham gia sâu hơn vào mạng lưới kinh tế phía Tây, thay vì chỉ được nhìn như điểm cuối của các tuyến giao thông hướng Đông Bắc.

    Đây là thay đổi đáng chú ý về vị trí kinh tế. Trong một mạng lưới liên kết vùng, lợi thế không chỉ thuộc về nơi có nhà máy, cảng biển hay thị trường lớn, mà còn thuộc về nơi có khả năng kết nối nhanh giữa các trung tâm đó.

    Quảng Ninh có biển, cảng, cửa khẩu và du lịch; Hải Phòng có hệ thống cảng biển và công nghiệp; các tỉnh, thành phía trong có các trung tâm sản xuất, đô thị và thị trường. Kết nối tốt hơn cho phép những lợi thế này bổ trợ cho nhau thay vì phát triển theo những không gian tương đối tách biệt.

    Đáng chú ý, tuyến cao tốc đề xuất được tính toán song hành với tuyến đường ven sông Quảng Ninh đang đầu tư, tạo thêm một hành lang giao thông ở khu vực phía Tây. Đây cũng là khu vực đang được nghiên cứu mở rộng không gian cho công nghiệp, logistics, đô thị và các hoạt động kinh tế khác. Khi hạ tầng được đặt trước một bước, giá trị của quỹ đất cũng có thể được tính lại trên cơ sở khả năng tiếp cận mới.

    Tuy nhiên, hạ tầng giao thông chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong tổng thể quy hoạch và tổ chức không gian phát triển. Việc đầu tư tuyến cao tốc cần được gắn với quy hoạch sử dụng đất, phát triển khu công nghiệp, logistics, đô thị, dịch vụ và hệ thống giao thông kết nối, qua đó nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng.

    Ở góc độ này, ý nghĩa của đề xuất tuyến dài khoảng 55 km không chỉ nằm ở việc bổ sung một tuyến giao thông mới, mà còn ở khả năng hoàn thiện kết nối giữa hệ thống giao thông của Quảng Ninh với mạng lưới giao thông và không gian kinh tế đang mở rộng của khu vực phía Bắc.

    Khi kết nối được tăng cường, lợi thế về cảng biển, cửa khẩu, công nghiệp, du lịch và dịch vụ của Quảng Ninh sẽ có thêm điều kiện tiếp cận các trung tâm sản xuất, thị trường trong nước và quốc tế; đồng thời mở thêm hướng kết nối từ các khu vực sản xuất phía trong ra hệ thống cảng biển và các tuyến giao thông đối ngoại.

    Hoàng Hà

    Nguồn https://baomoi.com/tuyen-cao-toc-55-km-va-nhung-co-hoi-moi-khi-quang-ninh-noi-voi-vanh-dai-5-c55899853.epi

  • Đầu tư hơn 288.000 tỷ đồng xây 349km đường vành đai 5 đi qua 7 tỉnh, thành

    Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 24/8, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết trước khi Quốc hội biểu quyết.

    Theo Nghị quyết vừa được thông qua, đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội dài khoảng 349km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ và được đầu tư bằng hình thức đầu tư công, chia thành các dự án thành phần.

    Dự án áp dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm yêu cầu về an toàn, đồng bộ, chất lượng và hiệu quả. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thực hiện hình thức thu phí điện tử không dừng trong khai thác, vận hành.

    Sơ bộ tổng nhu cầu sử dụng đất khoảng 4.011 ha, gồm đất trồng lúa khoảng 1.776 ha (trong đó đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên khoảng 1.590 ha); đất lâm nghiệp khoảng 210 ha; các loại đất khác theo quy định của pháp luật về đất đai khoảng 2.025 ha.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 61.400 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương giai đoạn 2026-2030 được dự kiến bố trí đầu tư tuyến chính cao tốc dài 116km, thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Quốc hội quyết nghị chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Trong đó, đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026-2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031. Đối với các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Đường vành đai 5 – vùng Thủ đô Hà Nội được áp dụng nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt. Ví dụ trong thời gian Quốc hội không họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ủy quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ một số trường hợp (tăng phần vốn ngân sách Trung ương bố trí cho dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho dự án do địa phương xem xét, quyết định).

    Dự án cũng không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công.

    Về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp tỉnh có dự án đi qua được chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư. Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác cũng được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của Dự án.

    Quốc hội đồng thời cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án. Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch.

    Theo Nghị quyết, nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng xung quanh tuyến đường (sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư), chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách Trung ương. Chính phủ sẽ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Quốc hội giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; tổng hợp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/dau-tu-hon-288-000-ty-dong-xay-349km-duong-vanh-dai-5-di-qua-7-tinh-thanh-c55899907.epi

  • Quốc hội đồng ý di chuyển 2 di tích ở Bắc Ninh làm đường nối sân bay Gia Bình

    Với đại đa số đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, sáng 24/8, Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội.

    Quang cảnh phiên họp sáng 24/8.

    Theo đó, Quốc hội quyết nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa.

    Hai di tích gồm đình Đông Côi (phường Thuận Thành, Bắc Ninh) và đình Tam Sơn (xã Lương Tài, Bắc Ninh), nằm trong phạm vi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua Bắc Ninh.

    Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9/2026.

    Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Chính phủ cho biết có ý kiến đề nghị xác định rõ phạm vi chỉ 2 di tích này trong phạm vi dự án tuyến đường kết nối Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội; không được dùng cơ chế hướng dẫn để mở rộng thêm đối tượng.

    Về vấn đề này, Chính phủ đã rà soát, quy định dự thảo nghị quyết theo hướng chỉ áp dụng Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội đối với 2 di tích cụ thể: đình Đông Côi và đình Tam Sơn.

    Với đền Tân Trăn (xã Lâm Thao), Chính phủ sẽ rà soát kỹ lưỡng thực trạng và những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa đưa vào dự thảo nghị quyết này.

    Có ý kiến đề nghị UBND tỉnh Bắc Ninh chịu trách nhiệm về hồ sơ khoa học, phạm vi, ranh giới, phương án di chuyển và kết quả bảo tồn các di tích.

    Chính phủ nhìn nhận ý kiến đại biểu là xác đáng. Quy định này đã được xác định rõ tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025 của Quốc hội. Trong quá trình di chuyển các di tích, UBND tỉnh Bắc Ninh phải bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-dong-y-di-chuyen-2-di-tich-o-bac-ninh-lam-duong-noi-san-bay-gia-binh-c55899758.epi

  • Khi di tích buộc phải di chuyển

    Có lẽ đây là lần đầu tiên việc di chuyển di tích đến một địa điểm mới được đưa ra thảo luận tại diễn đàn Quốc hội, nó cho thấy tính chất và ý nghĩa đặc biệt của sự việc.

    Đình cả Đông Côi ở phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Gia Khiêm/Danviet

    Trong quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng, không ít công trình giao thông, chỉnh trang đô thị hay các dự án công cộng phải đi qua những không gian có giá trị lịch sử, văn hóa. Khi ấy, một câu hỏi khó đặt ra: Có nên di chuyển di tích để phục vụ phát triển, hay phải điều chỉnh dự án để bảo vệ di tích bằng mọi giá? Đây không đơn thuần là bài toán giữa “phát triển” và “bảo tồn”.

    Đằng sau một ngôi đình, mái chùa, nhà cổ hay một công trình kiến trúc có tuổi đời hàng trăm năm là ký ức của cộng đồng, dấu tích của lịch sử và những giá trị không thể dễ dàng quy đổi.

    Tuy nhiên, bảo tồn không đồng nghĩa với việc phủ nhận nhu cầu phát triển. Một xã hội hiện đại cần những tuyến đường mới, hệ thống giao thông đồng bộ, không gian đô thị phù hợp và các công trình hạ tầng thiết yếu.

    Vì vậy, trong những trường hợp thật sự không thể tránh khỏi xung đột, di chuyển di tích có thể là một giải pháp nhưng phải được xem là phương án cuối cùng, sau khi đã nghiên cứu nghiêm túc các khả năng bảo tồn tại chỗ.

    Đúng như Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh đã nhấn mạnh, “chỉ thực hiện khi thật sự cần thiết, và không còn biện pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ”.

    Thế nhưng điều đáng lo ngại nhất không phải là di tích được di chuyển, mà là việc di chuyển được thực hiện một cách cơ học, coi di tích như một “vật thể” có thể tháo dỡ, đánh số rồi lắp đặt ở nơi khác.

    Giá trị của di tích không chỉ nằm trong từng viên gạch, cấu kiện hay mái ngói. Nó còn nằm ở vị trí, cảnh quan, mối liên hệ với cộng đồng và lớp trầm tích lịch sử đã hình thành qua thời gian. Nếu chỉ giữ lại phần “vỏ” mà đánh mất không gian văn hóa vốn có, việc bảo tồn sẽ trở nên hình thức.

    Tuy nhiện sự lo lắng này đã được Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh giải đáp, theo đó, “khi cộng đồng dân cư di chuyển, các đình cũng sẽ di chuyển theo cộng đồng dân cư của làng đó. Đây là điều phù hợp”. Nói cách khác, chủ thể của di sản văn hóa là cộng đồng dân cư vẫn có thể nuôi dưỡng nơi chốn tâm linh của làng xã mình.

    Bởi vậy, mọi quyết định di chuyển di tích cần dựa trên đánh giá khoa học, minh bạch và có sự tham gia của các chuyên gia, cơ quan quản lý văn hóa, đặc biệt là ý kiến đồng thuận của cộng đồng địa phương. Cần xác định rõ giá trị của di tích, mức độ tác động của dự án, phương án kỹ thuật, trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ chế giám sát độc lập.

    Đặc biệt, phải công khai thông tin để người dân không có cảm giác rằng di sản của chính mình đang bị quyết định sau những cánh cửa đóng kín. Di tích có thể phải di chuyển trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng nếu buộc phải dịch chuyển một công trình, điều cần được giữ nguyên không chỉ là hình hài vật chất, mà còn phải là tinh thần, ký ức và giá trị lịch sử của nó.

    Mà để làm nên những điều đó thì chính cộng đồng dân cư giữ vai trò hết sức quan trọng khi họ được tham gia từ việc nhỏ nhất của việc di chuyển di tích cho đến xác quyết, quyết định địa điểm, hướng đình… Sự đồng thuận của người dân trong việc di chuyển này cần được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu. 

    LÂM SƠN

    Nguồn https://baomoi.com/khi-di-tich-buoc-phai-di-chuyen-c55899816.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!