Author: bachdn

  • Thống nhất di dời 2 di tích tại Bắc Ninh để làm đường kết nối sân bay Gia Bình

    Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu. Ảnh: Media Quốc hội.

    Sáng ngày 24/8, với 427/453 đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua dự thảo nghị quyết về việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa trong phạm vi thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.

    Quốc hội quyết nghị cho phép áp dụng cơ chế, chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa.

    Hai di tích gồm: đình Đông Côi, phường Thuận Thành và đình Tam Sơn, xã Lương Tài, Bắc Ninh nằm trong phạm vi thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9.

    Phát biểu tiếp thu, giải trình trước đó, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết có ý kiến đề nghị cần xem xét sự cần thiết trên cơ sở hài hòa giữa yêu cầu phát triển hạ tầng chiến lược, bảo đảm thực hiện các dự án để bảo đảm giữ gìn các giá trị cốt lõi của di tích và đời sống văn hóa gắn với di tích.

    Tiếp thu ý kiến đại biểu, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, bảo đảm việc di chuyển di tích chỉ thực hiện khi thực sự cần thiết, không còn biện pháp thay thế để bảo tồn tại chỗ; bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân.

    Đối với đền Tân Trăn (xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh), theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, Chính phủ sẽ rà soát kỹ lưỡng thực trạng và những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa đưa vào dự thảo nghị quyết này.

    Có ý kiến đề nghị UBND TP Bắc Ninh (sau khi Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố có hiệu lực) chịu trách nhiệm về hồ sơ khoa học, phạm vi, ranh giới, phương án di chuyển và kết quả bảo tồn các di tích.

    Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định ý kiến đại biểu là xác đáng. Quy định này đã được xác định rõ tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội. Trong quá trình di chuyển các di tích, UBND tỉnh Bắc Ninh phải bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân.

    Về ý kiến đề nghị những nguyên tắc, giải pháp Chính phủ cần lưu ý trong quá trình di chuyển di tích, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho hay Chính phủ tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, bảo đảm tối đa tính nguyên gốc, tính toàn vẹn và các yếu tố cấu thành giá trị của di tích.

    Cùng với đó, không làm mai một, biến dạng hoặc mất đi bản sắc, đặc trưng văn hóa, lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng vốn có của từng di tích, đồng thời quan tâm đầy đủ đến yếu tố văn hóa, tín ngưỡng và sinh kế của cộng đồng có liên quan; bảo đảm có sự tham gia và đồng thuận của người dân trong quá trình thực hiện, theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh.

    Kiều Chinh

    Nguồn https://baomoi.com/thong-nhat-di-doi-2-di-tich-tai-bac-ninh-de-lam-duong-ket-noi-san-bay-gia-binh-c55900101.epi

  • Gỡ những ‘nút thắt’ trên công trường APEC 2027

    Nghị quyết này của Quốc hội được kỳ vọng tạo thêm cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai các công trình có yêu cầu tiến độ đặc biệt cấp bách. Nghị quyết được xây dựng trên cơ sở Tờ trình của Chính phủ, sau quá trình thẩm tra, thảo luận và tiếp thu, giải trình ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Các cơ chế được thiết kế theo hướng tập trung xử lý những “nút thắt” đặc thù của các dự án APEC, đồng thời xác định rõ phạm vi, trách nhiệm và yêu cầu kiểm soát để bảo đảm tiến độ nhưng không buông lỏng quản lý.

    Gỡ vướng cho những công trình đã triển khai

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Ảnh: Doãn Tấn /TTXVN

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện về phạm vi điều chỉnh đối tượng áp dụng của Nghị quyết theo hướng xác định cụ thể những công trình dự án đã được tổ chức triển khai, đang thi công xây dựng trong thời gian từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026.

    Quy định trên nhằm đảm bảo xác định cụ thể và đầy đủ danh mục các dự án công trình được áp dụng cơ chế chính sách đặc thù xử lý vướng mắc theo ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Trên cơ sở dự án, công trình thuộc danh mục này, Chính phủ, các bộ ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang sẽ thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra trong quá trình triển khai nghị quyết, đảm bảo áp dụng nghị quyết đúng đối tượng với các dự án công trình thuộc phạm vi đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương.

    Đặc biệt, tuyệt đối không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ trong việc xử lý các trường hợp tương tự, phù hợp với chủ trương phân cấp, phân quyền, đảm bảo tính linh hoạt, phát huy tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.

    Một trong những vấn đề cấp thiết nhất được Nghị quyết tập trung xử lý là các dự án, công trình phục vụ APEC 2027 đã phải triển khai thi công trong thời gian rất ngắn, trong khi một số thủ tục về đầu tư, xây dựng, đất đai, nghiệm thu, bàn giao, thanh toán, quyết toán chưa hoàn thiện.

    Đây là tình huống xuất phát từ yêu cầu đặc biệt về tiến độ của các công trình phục vụ một sự kiện quốc tế lớn. Trên cơ sở chủ trương của cấp có thẩm quyền, cơ chế đặc thù được Quốc hội thông qua nhằm tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục hoàn thiện thủ tục và xử lý các công việc đã được triển khai trong giai đoạn trước khi hoàn thiện đầy đủ hồ sơ theo quy định.

    Tuy nhiên, Nghị quyết không mở rộng cơ chế đặc thù một cách đại trà. Phạm vi áp dụng được xác định đối với các dự án thuộc danh mục đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 948/QĐ-TTg ngày 17/5/2025; các công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đối ứng thực hiện trên quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư dự án Trung tâm tổ chức Hội nghị APEC theo hình thức BT; cùng một số hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ và tiếp nhận chất thải phục vụ các công trình thuộc phạm vi Nghị quyết.

    Các công trình được áp dụng cơ chế cũng phải đáp ứng điều kiện về thời điểm triển khai, trong đó tập trung vào những công trình đã được tổ chức triển khai, thi công từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026.

    Việc xác định rõ đối tượng, phạm vi và thời điểm áp dụng có ý nghĩa quan trọng: vừa xử lý đúng những vướng mắc thực tế của các dự án APEC, vừa bảo đảm không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ cho những trường hợp khác.

    Gỡ nút thắt về khoáng sản, chất thải và môi trường

    Cùng với thủ tục đầu tư, xây dựng và đất đai, khai thác, thu hồi khoáng sản và xử lý chất thải xây dựng là những vấn đề đặc thù phát sinh trong quá trình triển khai các công trình tại Phú Quốc.

    Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý hoàn thiện quy định về vấn đề theo hướng bổ sung cơ chế kiểm soát có sự phối hợp giữa tỉnh An Giang và các bộ ngành để xử lý vấn đề về đổ thải tiếp nhận chất thải phát sinh trong quá trình xây dựng; xử lý vấn đề thu hồi khai thác khoáng sản; tổ chức thẩm định, nghiệm thu công trình dự án nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn về môi trường, phòng cháy chữa cháy, an toàn lao động và lợi ích của Nhà nước.

    Việc áp dụng cơ chế đặc thù để miễn giảm một số thủ tục thực chất là nhằm chuyển từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm, hoàn toàn không bỏ qua hay buông lỏng quản lý. Cơ chế này được áp dụng khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện, tiêu chí chặt chẽ, không nhằm mục đích thay đổi hoặc miễn nhiệm vụ của chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu theo quy định của pháp luật hiện hành.

    Đối với khoáng sản, Nghị quyết làm rõ căn cứ để xác định nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu thông qua hợp đồng, hóa đơn, chứng từ thanh toán hoặc hồ sơ, tài liệu chứng minh khoáng sản đã được khai thác, thu hồi để phục vụ thi công. Các chủ thể cung cấp hồ sơ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của tài liệu.

    Cơ chế này góp phần xử lý khó khăn thực tế trong việc xác định khối lượng khoáng sản đã khai thác, thu hồi, đồng thời đặt yêu cầu kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh thất thoát tài nguyên và tài sản của Nhà nước.

    Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Đối với chất thải từ hoạt động xây dựng, Nghị quyết cho phép xử lý theo cơ chế đặc thù trong phạm vi các dự án, công trình đáp ứng đúng điều kiện quy định. Những dự án, công trình thi công sau ngày 18/5/2026 phải thực hiện theo pháp luật hiện hành.

    Việc tháo gỡ cũng đi kèm với trách nhiệm bảo vệ môi trường. Trường hợp vị trí tiếp nhận chất thải phải di dời, UBND tỉnh An Giang có trách nhiệm tổ chức phương án xử lý; chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu có trách nhiệm hoàn trả mặt bằng theo quy hoạch. Nếu phát sinh sự cố hoặc tác động tiêu cực đến môi trường, trách nhiệm xử lý, khắc phục và bồi thường vẫn phải thực hiện theo quy định pháp luật.

    Như vậy, tinh thần của Nghị quyết là gỡ vướng về cơ chế, nhưng không gỡ bỏ trách nhiệm.

    Giảm áp lực, tạo điều kiện tăng tốc

    Một “nút thắt” lớn khác được nhận diện từ thực tiễn triển khai là sự thiếu hụt nguồn lực phục vụ thi công trong bối cảnh hàng loạt dự án lớn được triển khai đồng thời trên địa bàn Phú Quốc.

    Theo báo cáo của UBND tỉnh An Giang, 21 dự án lớn phục vụ APEC 2027 được triển khai trong thời gian ngắn đã làm nhu cầu lao động trên toàn đảo tăng khoảng 50%. Riêng dự án sân bay duy trì khoảng 4.000 lao động nhưng vẫn thiếu khoảng 2.000 người. Nhiều gói thầu chỉ đáp ứng được 30-40% nhu cầu nhân lực theo tiến độ yêu cầu.

    Phú Quốc là địa bàn hải đảo, nguồn cung tại chỗ còn hạn chế. Nhiều loại nhân công, vật liệu, máy móc, thiết bị phải huy động từ đất liền, kéo theo chi phí vận chuyển, tập kết và tổ chức thi công tăng cao. Giá nhiên liệu biến động làm tăng chi phí ca máy; trong khi giá nguyên liệu, vật tư thực tế được phản ánh cao hơn đáng kể so với đơn giá công bố. Điều kiện thời tiết theo mùa cũng ảnh hưởng đến năng suất và chi phí thi công.

    Những yếu tố đặc thù này đặt ra yêu cầu phải đánh giá đúng chi phí thực tế khi triển khai các công trình APEC. Việc không ghi nhận đầy đủ giá trị khối lượng đã thi công có thể tác động đến khả năng huy động vốn của nhà đầu tư, nhà thầu, tiến độ giải ngân và việc xác định giá trị công trình khi hoàn thiện hồ sơ.

    Đối với vướng mắc về định mức, giá xây dựng mới phát sinh, Nghị quyết chưa bổ sung ngay một cơ chế riêng do cần tiếp tục rà soát, đánh giá đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn. UBND tỉnh An Giang và các nhà đầu tư có trách nhiệm tiếp tục làm rõ hạng mục, khối lượng, giá trị đã thi công, chênh lệch giữa đơn giá theo quy định và chi phí thực tế để báo cáo Chính phủ, xin ý kiến cấp có thẩm quyền về phương án xử lý.

    Cách làm này cho thấy tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là tháo gỡ đúng điểm nghẽn, xử lý đúng thẩm quyền và bảo đảm kiểm soát chặt chẽ.

    Sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết, một hành lang pháp lý đặc thù đã được thiết lập để các cơ quan, địa phương, chủ đầu tư, nhà đầu tư và nhà thầu có cơ sở tiếp tục hoàn thiện thủ tục, xử lý những vấn đề phát sinh và đẩy nhanh tiến độ các dự án phục vụ APEC 2027.

    Trong chặng đường nước rút hướng tới Hội nghị cấp cao APEC 2027, việc Nghị quyết đi vào cuộc sống sẽ là bước chuyển quan trọng từ tháo gỡ về cơ chế sang tăng tốc trên công trường. Cùng với việc tổ chức thực hiện quyết liệt, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và chủ thể liên quan sẽ là yếu tố quyết định để các “nút thắt” được tháo gỡ thực chất, các công trình bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn và hiệu quả, góp phần chuẩn bị tốt nhất các điều kiện cho sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước.

    Thu Hằng – Bích Hồng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/go-nhung-nut-that-tren-cong-truong-apec-2027-c55900146.epi

  • Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư 2 dự án giao thông trăm nghìn tỷ đồng

    Quốc hội biểu quyết thông qua các luật, nghị quyết trong sáng 24/8. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

    Sáng ngày 24/8, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chủ trương, điều chỉnh đầu tư đối với 2 siêu dự án giao thông.

    Ưu tiên bố trí vốn cho dự án

    Cụ thể, với 463/470 đại biểu Quốc hội tán thành (chiếm tỷ lệ 92,6%), Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội.

    Trước đó, tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết tổng mức đầu tư dự án là 288.268 tỷ đồng, trong đó khoảng 215.192 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đầu tư xây dựng phần tuyến chính cao tốc (tương đương khoảng 74,65% sơ bộ tổng mức đầu tư), khoảng 73.076 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đầu tư xây dựng đường song hành và các hạng mục theo quy hoạch của địa phương (tương đương khoảng 23,35% sơ bộ tổng mức đầu tư và được tính toán cho từng địa phương).

    “Dự thảo nghị quyết đã phân chia cụ thể các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách địa phương, mức vốn ngân sách địa phương bố trí cho các dự án thành phần làm cơ sở để các địa phương chủ động cân đối bố trí vốn để đầu tư đường Vành đai 5,” Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh.

    Đối với vốn ngân sách Trung ương, theo Bộ trưởng, Chính phủ sẽ chỉ đạo Bộ Xây dựng và các địa phương triển khai đầu tư phần tuyến chính cao tốc trong phạm vi, khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách Trung ương bố trí cho dự án, phát huy hiệu quả đầu tư, không gây nợ đọng. Trong quá trình điều hành kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, Chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương để tiếp tục đầu tư các đoạn còn lại.

    Đồng thời, phương án này được người đứng đầu Bộ Xây dựng cho rằng sẽ đẩy nhanh được công tác chuẩn bị đầu tư các dự án thành phần, quản lý quỹ đất và triển khai được ngay khi huy động vốn.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Về trách nhiệm của các địa phương, Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết để tổ chức thực hiện triển khai, trong đó quy định cơ chế điều phối giữa các dự án thành phần và mô hình quản lý toàn tuyến; chỉ đạo kiểm điểm tiến độ định kỳ, xử lý kịp thời khó khăn, vướng mắc bảo đảm tiến độ dự án và không để xảy ra tình trạng một đoạn tuyến chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ chung dự án.

    Về cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, Chính phủ đề xuất Quốc hội cơ chế thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo. Cơ chế chính sách đặc thù, đặc biệt này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực.

    Để tạo tính linh hoạt, chủ động trong việc triển khai, Chính phủ kiến nghị Quốc hội cho phép hoàn thiện dự thảo nghị quyết theo hướng ban hành cơ chế đặc biệt như đề xuất.

    Quy mô đặc biệt lớn, công nghệ kỹ thuật phức tạp

    Với 460/473 đại biểu Quốc hội tán thành (chiếm tỷ lệ 92%), Quốc hội cũng đã thông qua nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng.

    Trước đó, báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, sơ bộ tổng mức đầu tư lần này đã được tính toán theo tổng mức đầu tư của báo cáo nghiên cứu khả thi dự án, bảo đảm chi tiết, đầy đủ và hạn chế tối đa việc tiếp tục phải điều chỉnh tổng mức đầu tư trong quá trình thực hiện dự án.

    Chính phủ sẽ chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ các loại chi phí, hạn chế tối đa việc tiếp tục phải điều chỉnh tổng mức đầu tư trong quá trình thực hiện dự án.

    Về phương án nguồn vốn, khả năng cân đối, sơ bộ tổng mức đầu tư dự án khoảng 289.339 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đã dự kiến nhu cầu vốn cho từng năm, trong đó giai đoạn 2021-2025 đã bố trí 711 tỷ đồng; giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 224.586 tỷ đồng, giai đoạn 2031-2035 cần khoảng 64.042 tỷ đồng.

    Đến nay, dự án đã được bố trí 148.478 tỷ đồng, số vốn còn thiếu trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 cần cân đối bổ sung cho dự án là 76.108 tỷ đồng, Chính phủ sẽ cân đối từ nguồn vốn dự phòng chưa phân bổ (gồm 27.000 tỷ đồng từ nguồn vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 chưa phân bổ chi tiết và 380.000 tỷ đồng từ nguồn dự phòng chung) và nguồn vốn hợp pháp khác.

    Trong trường hợp huy động vốn không đạt kế hoạch, Chính phủ sẽ phát hành trái phiếu, huy động vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài, sử dụng nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Trung ương hằng năm (nếu có) và các nguồn vốn hợp pháp khác cho dự án.

    Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng. (Ảnh: Media Quốc hội.)

    Về kiểm soát công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật bảo đảm tiên tiến, đồng bộ, an toàn, khả năng kết nối và chủ động trong vận hành, bảo trì, theo Bộ trưởng, quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Xây dựng yêu cầu chủ đầu tư tiếp tục phân tích, đánh giá, làm rõ công nghệ áp dụng cho dự án, bảo đảm tương thích đối với tuyến đường sắt liên vận quốc tế, sử dụng công nghệ hiện đại, tránh công nghệ cũ, lạc hậu sau khi hoàn thành.

    Ngoài ra, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Xây dựng đánh giá các hệ thống tiêu chuẩn trên thế giới để lựa chọn, phê duyệt danh mục tiêu chuẩn áp dụng cho dự án và bổ sung các thiết bị cần thiết bảo đảm khả năng kết nối liên vận quốc tế đồng bộ, hiện đại, an toàn, đồng thời trong tổng mức đầu tư của dự án đã tính toán chi phí đào tạo nguồn nhân lực để chủ động trong vận hành, bảo trì.

    Tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã bổ sung quy định Chính phủ chịu trách nhiệm kiểm soát về công nghệ, kỹ thuật, bảo đảm tiên tiến, đồng bộ, an toàn, kết nối thuận lợi và chủ động trong vận hành, bảo trì.

    Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết Dự án đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng có quy mô đặc biệt lớn, công nghệ kỹ thuật phức tạp, lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam. Trong thời gian qua xuất hiện nhiều yếu tố mới, chủ trương mới cần tập trung để bảo đảm mục tiêu được Đảng, Nhà nước đã định hướng./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-chu-truong-dau-tu-2-du-an-giao-thong-tram-nghin-ty-dong-c55900189.epi

  • Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng: Vì Thủ đô xanh – Hành trình tái sinh nguồn lực

    Chuyển từ “xử lý rác” sang “hoàn trả tài nguyên đất”

    Tháng 4/2026, Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội tổ chức Lễ động thổ Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Nam Sơn (xã Trung Giã, Hà Nội).

    Theo Quyết định số 775/QĐ-UBND ngày 13/2/2026 của UBND TP Hà Nội, dự án được điều chỉnh theo hướng đầu tư hai giai đoạn, trong đó giai đoạn 2 (mở rộng) tập trung xử lý khối lượng rác thải đã chôn lấp nhiều năm của Thủ đô. Đây là nội dung cốt lõi, xuyên suốt của việc mở rộng dự án, nhằm từng bước xử lý dứt điểm lượng rác tồn lưu quy mô lớn nhiều năm qua; không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mang ý nghĩa quy hoạch, khi từng phần diện tích đất sau xử lý sẽ được cải tạo, phục hồi và có thể tái sử dụng cho các công trình công cộng, hạ tầng xã hội hoặc không gian phát triển đô thị trong tương lai.

    Đại diện chủ đầu tư bày tỏ, với tầm nhìn dài hạn, đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “xử lý rác” sang “hoàn trả tài nguyên đất”, góp phần giải quyết đồng thời bài toán môi trường và bài toán quỹ đất – một trong những áp lực lớn nhất của các đô thị đặc biệt như Hà Nội.

    Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng giai đoạn 2 với mục tiêu xử lý lượng rác chôn lấp nhiều năm qua

    Thông điệp “Vì Thủ đô xanh – Hành trình tái sinh nguồn lực” vì vậy không chỉ mang ý nghĩa truyền thông, mà phản ánh một định hướng phát triển nhất quán: Nơi rác thải không còn là điểm kết thúc, mà trở thành điểm khởi đầu của một vòng tuần hoàn giá trị mới, đó là chuyển hóa áp lực môi trường thành nguồn lực mới cho tăng trưởng.

    Giải quyết 4 bài toán lớn của đô thị

    Theo Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội, điểm nổi bật của dự án là cách tiếp cận tích hợp, giải quyết đồng thời bốn bài toán lớn của đô thị.

    Cụ thể, về môi trường, việc xử lý rác chôn lấp lâu năm giúp giảm thiểu ô nhiễm từ nước rỉ rác và khí phát thải, cải thiện chất lượng môi trường khu vực Nam Sơn.

    Về đất đai, quá trình xử lý sẽ từng bước giải phóng các khu vực chôn lấp, tạo điều kiện hoàn trả lại quỹ đất sạch cho thành phố.

    Khu liên hiệp xử lý Sóc Sơn hiện đang chôn lấp khoảng 10 triệu tấn rác

    Về tài nguyên, dự án bảo vệ nguồn nước, không khí và đất thông qua kiểm soát triệt để các yếu tố gây ô nhiễm và điểm thứ tư về kinh tế tuần hoàn, rác thải được chuyển hóa thành năng lượng và vật liệu, góp phần hình thành chuỗi giá trị mới từ chất thải.

    Đối với Hà Nội, xử lý rác thải không còn là nhiệm vụ kỹ thuật đơn lẻ mà trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị xanh, văn minh, hiện đại. Đối với nhà đầu tư, đây là hành trình dài hạn, gắn kết giữa công nghệ, tài chính và trách nhiệm xã hội, nhằm góp phần tái cấu trúc hệ thống quản lý chất thải theo hướng bền vững.

    Công ty CP Năng lượng Môi trường Thiên Ý Hà Nội cam kết huy động đầy đủ nguồn lực, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn; đồng thời tuân thủ nghiêm các quy định về môi trường, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong suốt quá trình triển khai.

    Trước đó, giai đoạn 1 của nhà máy đã vận hành với công suất khoảng 5.000 tấn rác/ngày đêm, phát điện 90MW. Ở giai đoạn 2, dự án dự kiến xử lý khoảng 1.600 tấn rác chôn lấp/ngày đêm, nâng tổng công suất phát điện toàn nhà máy lên 135MW, đồng thời hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, đưa toàn bộ nhà máy vào vận hành trong quý IV/2027.

    Tổng mức đầu tư dự án khoảng 12.999 tỷ đồng (tương đương hơn 539 triệu USD), trong đó phần mở rộng khoảng 5.830 tỷ đồng. Nhà máy điện rác Sóc Sơn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hệ thống xử lý chất thải của Hà Nội.

    Toàn bộ diện tích khu chôn lấp rác thải sẽ được cải tạo thành công viên cây xanh

    Phát biểu tại buổi lễ khởi công Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng vào tháng 4 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu bày tỏ, sự vận hành thành công của Nhà máy điện rác Sóc Sơn đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong công tác xử lý môi trường của thành phố. Từ khi đi vào vận hành đến nay, Nhà máy đã góp phần xử lý gần 5 triệu tấn rác thải sinh hoạt cho TP Hà Nội, phát điện gần 2 tỉ kwh.

    Hiện tại, trung bình mỗi ngày Nhà máy tiếp nhận và xử lý đến 5000 tấn rác/ ngày đêm, chiếm gần 70% lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hằng ngày của thành phố. Nhà máy hoạt động hiệu quả, ổn định và liên tục đã góp phần giảm thiểu phần lớn lượng rác thải phải chôn lấp, giúp tiết kiệm diện tích đất và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường do hoạt động chôn lấp gây ra. Không chỉ vậy, Nhà máy còn đóng góp nguồn điện cho hệ thống điện quốc gia. Đây là bước tiến quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh của thành phố.

    Theo Phó Chủ tịch Hà Nội, việc triển khai Dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn mở rộng, với công suất xử lý khoảng 1.600 tấn/ngày đêm, tập trung vào rác thải đã chôn lấp, thể hiện quyết tâm cao của thành phố trong xử lý triệt để vấn đề môi trường, phù hợp với định hướng phát triển bền vững. Đây không chỉ là dự án xử lý chất thải mà còn là dự án cải tạo môi trường, phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân.

    Nơi chôn lấp rác thành công viên, cây xanh chuyên đề

    Thông tin liên quan đến dự án này, ông Lê Hữu Mạnh, Bí thư Đảng ủy xã Trung Giã chia sẻ: Bãi rác Nam Sơn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và mở rộng để đáp ứng nhu cầu xử lý rác của thành phố. Sau giai đoạn mở rộng năm 2015 với tổng diện tích khoảng 160 ha, áp lực lên bãi rác vẫn cực kỳ lớn khi khối lượng chôn lấp trung bình đạt khoảng 5.500 tấn mỗi ngày đêm.

    Sau khi nhà máy điện rác được xây dựng, đi vào vận hành, giúp lượng rác chôn lấp giảm mạnh từ 5.500 tấn xuống chỉ còn khoảng 100 đến 500 tấn mỗi ngày đêm.

    Để tạo sự đồng thuận và bù đắp những ảnh hưởng môi trường, thành phố đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực cho cư dân xung quanh bãi rác như di dời dân cư khỏi bán kính 500m quanh bãi rác từ năm 2019. Người dân được miễn toàn bộ tiền thu gom rác và nước sinh hoạt, cùng với đó là hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh cho người dân tại các bệnh viện khi có xác nhận vùng ảnh hưởng…

    Ngoài ra, thành phố đã có chủ trương đào xúc lượng rác đã chôn lấp để tiêu hủy. Ước tính có khoảng 10 triệu tấn rác đang tồn đọng trong các ô chôn lấp cũ. Đặc biệt, thay vì thực hiện dự án mới theo phương thức PPP vốn đòi hỏi thủ tục phức tạp và tốn kém, TP Hà Nội đã giao cho Nhà máy điện rác Thiên Ý triển khai dự án mở rộng với thêm 2 lò đốt, nâng công suất thêm khoảng 1.600 đến 2.000 tấn/ngày đêm.

    Theo phương án này, rác cũ sẽ được đào lên, sàng lọc để kết hợp đốt cùng rác mới; phần không đốt được sẽ được chuyển hóa thành phân bón hoặc vật liệu xây dựng. “Dự án vừa khởi công vào tháng 4 năm 2026, với mục tiêu trong vòng 10 năm sẽ xử lý dứt điểm toàn bộ 10 triệu tấn rác tồn đọng đang chôn lấp, giúp giải phóng quỹ đất và triệt tiêu nguồn gây ô nhiễm nước rỉ rác bền vững”, ông Mạnh khẳng định.

    Ngân Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/nha-may-dien-rac-soc-son-mo-rong-vi-thu-do-xanh-hanh-trinh-tai-sinh-nguon-luc-c55900041.epi

  • Thông qua chủ trương đầu tư Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù

    Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Quy mô đầu tư Dự án khoảng 349 km đi qua địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ. Tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án từ năm 2026, thực hiện từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Để tạo tính linh hoạt, chủ động trong việc triển khai, Nghị quyết cho phép Dự án được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án. Trừ các trường hợp sau: tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho Dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho Dự án do địa phương xem xét, quyết định.

    Các cơ chế, chính sách đặc thù khác như: không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công; cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc Dự án; giao Chính phủ xem xét quyết định chuyển đổi hình thức đầu tư các dự án thành phần mà không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư…

    Liên quan đến các cơ chế đặc thù này, báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, liên quan các cơ chế, chính sách đặc thù cho Dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, Chính phủ đã rà soát bảo đảm chỉ áp dụng đối với các nội dung thật sự cần thiết, nhằm bảo đảm tính cạnh tranh, minh bạch và phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quá trình thực hiện.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn là một trong những cơ chế quan trọng. Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai Dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn để đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực.

    “Chính sách này tương tự với chính sách đã được Quốc hội chấp thuận đối với các dự án: Vành đai 4 – Thành phố Hồ Chí Minh; đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam; đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Quy Nhơn – Pleiku; Vinh – Thanh Thủy và đến nay đã cơ bản phát huy hiệu quả, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án này”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết thêm.

    Với cơ chế, chính sách đặc thù cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc Dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho hay, chính sách này được đề xuất theo hướng “cho phép” được áp dụng nhằm tạo thêm cơ chế lựa chọn cho chủ đầu tư. Trong quá trình triển khai, căn cứ tính chất, yêu cầu kỹ thuật, tiến độ và điều kiện cụ thể của từng gói thầu, chủ đầu tư có trách nhiệm xem xét, đánh giá và quyết định việc áp dụng hình thức chỉ định thầu theo thẩm quyền. Trường hợp áp dụng, việc lựa chọn nhà thầu phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và không làm giảm yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng công trình, an toàn lao động và an toàn giao thông.

    Chính sách này tương tự với chính sách đã được Quốc hội chấp thuận đối với các dự án: cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025; Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột; Biên Hòa – Vũng Tàu; Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng; đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; Quy Nhơn – Pleiku; Vinh – Thanh Thủy.

    Kết quả triển khai thực hiện việc áp dụng cơ chế đặc biệt về chỉ định thầu trong 2 năm 2022 và 2023 tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội đối với các Dự án cao tốc quan trọng quốc gia đã triển khai trong thời gian vừa qua (cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025, Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột, Biên Hòa – Vũng Tàu, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng) cũng cho thấy, việc áp dụng cơ chế chỉ định thầu đã giảm thủ tục, thời gian, chi phí của chủ đầu tư cũng như các nhà thầu trong việc thực hiện lựa chọn nhà thầu. 

    Đồng thời, việc sớm khởi công xây dựng, giải ngân vốn đầu tư các dự án góp phần bảo đảm thực hiện hiệu quả, thành công các mục tiêu đã đề ra của Chương trình, khơi thông nguồn lực, tăng khả năng hấp thụ vốn vào nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm cho người lao động, ổn định xã hội…

    Ngoài các cơ chế, chính sách đặc thù trên, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội có các cơ chế, chính sách đặc thù khác như: về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư tổ chức thực hiện tiểu dự án hoặc các tiểu dự án di dời công trình điện có điện áp từ 110 kV trở lên. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có Dự án đi qua chủ động bố trí, xây dựng khu tái định cư cho Dự án trên cơ sở hồ sơ thiết kế sơ bộ trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

    Nghị quyết cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng trong Hồ sơ khảo sát Dự án và bàn giao mặt bằng cho nhà thầu để đổ chất thải xây dựng của Dự án; tổ chức quản lý bãi đổ chất thải xây dựng của Dự án theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện trong bước nghiên cứu khả thi của Dự án. Hồ sơ đề xuất chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác là thành phần hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án. Quyết định phê duyệt Dự án đồng thời là Quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.

    Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt Dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì Dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch. Sau khi Dự án được phê duyệt, các quy hoạch có liên quan phải được kịp thời rà soát, điều chỉnh, cập nhật và công bố.

    Nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng xung quanh tuyến đường sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực phát triển khu đô thị, khu chức năng hai bên tuyến đường Vành đai 5 và chi phí khác có liên quan theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỷ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách trung ương. Giao Chính phủ quy định cụ thể về tỷ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng nhấn mạnh, tiếp thu những ý kiến thảo luận tại tổ, tại hội trường, đặc biệt là kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đồng thời thực hiện chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Xây dựng đã khẩn trương tổ chức nghiên cứu tổng thể về việc đầu tư toàn tuyến với mục tiêu đây không phải là một tuyến đường đơn lẻ mà là một trục kết nối liên vùng, là công trình chiến lược để mở rộng không gian phát triển mới của vùng Thủ đô Hà Nội.

    “Cơ quan soạn thảo đã cân nhắc rất nhiều phương án phân kỳ đầu tư để có lộ trình phù hợp với khả năng cân đối vốn. Đồng thời, xem xét trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, tạo cơ sở pháp lý để Bộ Xây dựng và các địa phương triển khai trong thời gian tới, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, không cắt khúc, không chắp vá. Đây là cách làm mà chúng tôi tin là thận trọng nhưng không chần chừ, khả thi nhưng vẫn giữ được tầm nhìn dài hạn”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói. 

    Với các cơ chế, chính sách đặc thù đã được Quốc hội thông qua, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được kỳ vọng sớm hình thành, tạo tuyến đường bộ cao tốc kết nối Thủ đô Hà Nội với các địa phương trong vùng, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải bền vững, tạo động lực lan tỏa, mở ra không gian phát triển kinh tế mới; tạo tiền đề phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; phân luồng giao thông từ xa, góp phần giảm ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện đồng bộ hệ thống đường vành đai Thủ đô Hà Nội và thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và các Nghị quyết của Đảng.

    Diệp Anh  (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-chu-truong-dau-tu-vanh-dai-5-vung-thu-do-ha-noi-voi-nhieu-co-che-chinh-sach-dac-thu-c55900150.epi

  • Hà Nội dự kiến hỗ trợ tối đa 6 triệu đồng cho mỗi hộ lắp điện mặt trời

    HĐND TP Hà Nội vừa có dự thảo nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ cho hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện trên địa bàn thành phố Hà Nội

    Nguồn kinh phí hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ điện tại nhà ở riêng lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội được bố trí từ nguồn ngân sách Thành phố bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp xã.

    Hộ gia đình đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định được hỗ trợ kinh phí lắp đặt hệ thống điện mặt trời hộ gia đình như sau:

    Ảnh minh họa

    Trường hợp điện mặt trời hộ gia đình không lắp đặt hệ thống lưu trữ điện: Mức hỗ trợ kinh phí lắp đặt là 1.000.000 đồng cho 1 kWp tổng công suất định mức của các tấm quang điện lắp đặt trong hệ thống, nhưng không vượt quá 3.000.000 đồng.

    Trường hợp hệ thống lưu trữ điện được lắp đặt đồng bộ với điện mặt trời hộ gia đình: Ngoài khoản hỗ trợ theo quy định trên, được hỗ trợ thêm 1.000.000 đồng cho 1 kWh tổng dung lượng của hệ thống lưu trữ điện, nhưng không vượt quá 3.000.000 đồng.

    Mức hỗ trợ được xác định theo công suất, dung lượng ghi trên tài liệu kỹ thuật của thiết bị và không vượt quá chi phí thực tế hợp pháp mà hộ gia đình đã thanh toán sau khi trừ khoản hỗ trợ khác của Nhà nước cho cùng nội dung đầu tư, nếu có.

    Đồng thời, các hộ lắp đặt phải có cam kết khai thác, sử dụng hệ thống điện mặt trời hộ gia đình đúng mục đích trong thời gian tối thiểu 3 năm kể từ ngày nhận kinh phí hỗ trợ; cam kết chịu trách nhiệm về an toàn điện, phòng cháy, chữa cháy, an toàn chịu lực công trình, bảo vệ môi trường và việc quản lý, xử lý thiết bị sau sử dụng theo quy định của pháp luật.

    Theo dự thảo, hồ sơ đề nghị hỗ trợ được nộp tại UBND cấp xã nơi hộ gia đình lắp đặt hệ thống. Chủ tịch UBND cấp xã là người có thẩm quyền quyết định phê duyệt và thu hồi kinh phí hỗ trợ.

    Trần Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-du-kien-ho-tro-toi-da-6-trieu-dong-cho-moi-ho-lap-dien-mat-troi-c55900006.epi

  • Quốc hội thông qua cơ chế đặc thù APEC Phú Quốc: Gỡ vướng, không hợp thức hóa sai phạm

    Không loại trừ trách nhiệm khi có sai phạm

    Nghị quyết tập trung xử lý những dự án, công trình đã được triển khai, thi công xây dựng trong thời gian từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026 trong khi một số thủ tục theo quy định pháp luật chưa được hoàn thiện.

    Trong đó, phạm vi áp dụng có công trình, hạng mục công trình thuộc dự án đối ứng thực hiện trên quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án Trung tâm tổ chức Hội nghị APEC theo hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT).

    Các hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ chất thải, tiếp nhận chất thải từ hoạt động xây dựng để phục vụ những dự án, công trình thuộc diện nêu trên cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh.

    Các đại biểu Quốc hội tại phiên họp sáng 24/8. Ảnh: Như Ý

    Nghị quyết đồng thời quy định rõ đối tượng áp dụng gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án, công trình và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Việc xác định phạm vi được đặt ra nhằm tránh tình trạng cơ chế đặc thù bị mở rộng sang những dự án không thuộc diện được cấp có thẩm quyền cho chủ trương.

    Một trong những nguyên tắc đáng chú ý của Nghị quyết là việc xử lý các vướng mắc phải bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm có tính chất vụ lợi (nếu có); không để phát sinh sai phạm mới và không loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm vì mục đích vụ lợi.

    Cùng với đó, các cơ quan có trách nhiệm phải kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết để tham nhũng, tiêu cực, làm thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

    Bỏ quy định về thời hạn cho thuê đất 70 năm

    Trước khi được Quốc hội thông qua, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ về các ý kiến liên quan đến vấn đề này.

    Cụ thể, trong quá trình xây dựng Nghị quyết, vấn đề phạm vi và đối tượng áp dụng nhận được sự quan tâm của cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Như Ý

    Có ý kiến đề nghị phải có danh mục cụ thể các dự án, công trình được hưởng cơ chế đặc thù, nhằm bảo đảm chỉ áp dụng đối với những dự án đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương, tránh mở rộng phạm vi hoặc tạo tiền lệ.

    Theo giải trình của Chính phủ, dù Điều 1 đã quy định cụ thể phạm vi áp dụng, Chính phủ vẫn chỉ đạo rà soát, xây dựng danh mục dự án, công trình kèm theo thuyết minh căn cứ đề xuất áp dụng Nghị quyết đối với từng công trình.

    Chính phủ, các bộ, ngành và UBND tỉnh An Giang được giao trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện, bảo đảm Nghị quyết chỉ được áp dụng đúng đối tượng và không bị lợi dụng để mở rộng sang những trường hợp khác.

    Đáng chú ý, trong quá trình tiếp thu ý kiến, quy định về thời hạn cho thuê đất 70 năm cũng được điều chỉnh. Chính phủ cho biết dự thảo Nghị quyết đã lược bỏ quy định đặc thù này để áp dụng thống nhất theo pháp luật đất đai, với thời hạn tối đa theo quy định hiện hành.

    Việc Quốc hội ban hành cơ chế đặc thù được đặt trong bối cảnh tiến độ chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Phú Quốc rất cấp bách. Nghị quyết hướng tới giải quyết những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, đặc biệt đối với các công trình đã triển khai trước khi hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-co-che-dac-thu-apec-phu-quoc-go-vuong-khong-hop-thuc-hoa-sai-pham-c55899997.epi

  • Địa phương được phân cấp quản lý, bắt buộc ứng dụng BIM trong thiết kế kiến trúc

    Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc. Ảnh: Quochoi.vn

    Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 bổ sung nhiều quy định về bảo tồn bản sắc văn hóa trong kiến trúc, ứng dụng công nghệ số và mô hình BIM; đồng thời tăng cường phân cấp cho chính quyền cấp xã trong lập, thẩm định, ban hành quy chế quản lý kiến trúc.

    Cụ thể, bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc được xác định là những đặc trưng về tổ chức không gian, hình thức kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, cảnh quan, phản ánh tri thức văn hóa, lịch sử, tập quán sinh hoạt và điều kiện tự nhiên của cộng đồng dân cư, được hình thành trong xã hội và một khu vực xác định. Việc xác định bản sắc văn hóa phải dựa trên cơ sở khoa học, điều tra, khảo sát thực tế, có sự tham gia của chuyên gia và cộng đồng.

    Các yếu tố nhận diện gồm khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình kiến trúc có giá trị cần bảo tồn, kế thừa; các đặc trưng về hình thái không gian, chiều cao, mật độ xây dựng, vật liệu, màu sắc, hình thức kiến trúc tổng thể và tại từng khu vực. Đồng thời, việc quản lý phải xác định yêu cầu kế thừa, phát huy giá trị kiến trúc truyền thống phù hợp với quá trình phát triển đô thị và nông thôn.

    Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp tại hội trường sáng 24-8. Ảnh: Quochoi.vn

    Dự thảo Luật vừa được thông qua quy định UBND có thẩm quyền lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc chịu trách nhiệm xác định và cụ thể hóa bản sắc văn hóa dân tộc về kiến trúc của địa phương trong quy chế. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị này.

    Một điểm mới đáng chú ý là yêu cầu thiết kế kiến trúc phải xác định giải pháp tổ chức không gian, hình thức kiến trúc phù hợp với quy hoạch, đáp ứng yêu cầu về công năng, kỹ thuật, mỹ thuật và bảo đảm thể hiện bản sắc văn hóa trong kiến trúc.

    Thiết kế cũng phải xem xét toàn diện các yêu cầu về kinh tế – xã hội, công năng, kỹ thuật, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bản sắc văn hóa dân tộc và các yêu cầu khác đối với công trình.

    Đáng chú ý, dự thảo Luật vừa được thông qua bổ sung quy định: “Khi thiết kế kiến trúc, lập hồ sơ thiết kế kiến trúc phải ứng dụng công nghệ số, áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) theo quy định của pháp luật về xây dựng.”

    Quy định này được kỳ vọng thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động thiết kế, quản lý và triển khai các dự án xây dựng, đồng thời nâng cao khả năng phối hợp, kiểm soát thông tin công trình trong suốt quá trình đầu tư.

    Đối với khu vực nông thôn, Luật nhấn mạnh yêu cầu kế thừa giá trị kiến trúc truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại; ưu tiên sử dụng vật liệu xây dựng địa phương và giải pháp kỹ thuật tiên tiến. Kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng và tạo lập các giá trị đặc trưng của nông thôn cũng được khuyến khích.

    Tại các khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng của thiên tai, Luật khuyến khích áp dụng mẫu thiết kế kiến trúc đối với công trình công cộng, nhà ở nông thôn, đồng thời bảo đảm yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai.

    Luật cũng điều chỉnh đáng kể việc lập quy chế quản lý kiến trúc đô thị và nông thôn. Theo đó, quy chế quản lý kiến trúc đô thị được lập cho đô thị, đô thị mới và xã, đặc khu được định hướng là đô thị. Quy chế quản lý kiến trúc nông thôn được lập cho xã và đặc khu, trừ trường hợp được định hướng là đô thị.

    UBND cấp tỉnh quyết định việc lập và ban hành riêng quy chế quản lý kiến trúc nông thôn hoặc tích hợp nội dung này trong quy hoạch chung xã và ban hành đồng thời với việc phê duyệt quy hoạch chung xã. Đối với những khu vực đô thị, xã, đặc khu có yêu cầu riêng về quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan, UBND cấp tỉnh quyết định việc lập quy chế quản lý kiến trúc riêng cho khu vực đó.

    Đặc biệt, UBND cấp tỉnh có thể phân cấp hoặc ủy quyền cho UBND cấp xã tổ chức lập, thẩm định và ban hành quy chế quản lý kiến trúc có phạm vi hoàn toàn thuộc địa giới đơn vị hành chính cấp xã, nếu đáp ứng đủ điều kiện về tổ chức bộ máy, cán bộ và năng lực chuyên môn.

    UBND cấp tỉnh đồng thời phải chuyển giao dữ liệu, bố trí nguồn lực, hướng dẫn chuyên môn, hỗ trợ kỹ thuật và kiểm tra việc thực hiện phân cấp; quyết định phạm vi, thời gian khi thực hiện ủy quyền cho cấp xã. Quy định này tạo cơ sở để chính quyền cơ sở chủ động hơn trong quản lý không gian, kiến trúc và cảnh quan trên địa bàn, phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.

    Luật quy định UBND cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, đánh giá quá trình thực hiện quy chế quản lý kiến trúc định kỳ 5 năm hoặc đột xuất để xem xét điều chỉnh. Quy chế cũng có thể được điều chỉnh khi có thay đổi về quy hoạch hoặc địa giới đơn vị hành chính làm ảnh hưởng đến tính chất, chức năng, quy mô khu vực lập quy chế.

    UBND cấp tỉnh có thể quyết định điều chỉnh một số nội dung quy chế khi cần thiết, trên cơ sở đề xuất của cơ quan lập quy chế hoặc UBND cấp xã và kết quả rà soát, đánh giá. Trường hợp cấp xã được cấp tỉnh phân cấp hoặc ủy quyền, UBND cấp xã có thể quyết định điều chỉnh quy chế theo thẩm quyền được giao.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo tiếp thu giải trình. Ảnh: Quochoi.vn

    Trước khi biểu quyết, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết về nhóm đề nghị tăng cường cơ chế kiểm soát chuyên môn của cơ quan cấp tỉnh khi phân cấp cho xã trong lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc: Chính phủ đề nghị giữ nguyên như phương án của dự thảo luật. Việc phân cấp, ủy quyền và cơ chế kiểm soát chuyên môn đã được pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương quy định. Khi thực hiện phân cấp, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ quy định cụ thể yêu cầu, cơ chế để bảo đảm chất lượng chuyên môn phù hợp với từng trường hợp.

    Về vấn đề quy định thời gian thẩm định quy hoạch phù hợp với từng cấp độ của đồ án, bảo đảm chất lượng thẩm định: Chính phủ đề nghị giữ nguyên quy định về thời hạn tối đa là 20 ngày. Việc rút ngắn thời gian nhằm cải cách thủ tục hành chính, không làm thay đổi yêu cầu về nội dung, chất lượng thẩm định và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Chính phủ xin tiếp thu về đề nghị đối với công tác quản lý, hành nghề (việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với cơ chế kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu). Dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, phát triển nghề nghiệp liên tục, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề, bảo đảm cải cách thủ tục hành chính đi đôi với hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

    Đình Hiệp

    Nguồn https://baomoi.com/dia-phuong-duoc-phan-cap-quan-ly-bat-buoc-ung-dung-bim-trong-thiet-ke-kien-truc-c55900062.epi

  • Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Vành đai 5 Vùng Thủ đô gần 290.000 tỷ đồng

    Hôm nay, Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 Vùng Thủ đô Hà Nội. Tuyến đường dài khoảng 349km, đi qua 7 tỉnh, thành gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ. 

    Hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035

    Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác, chia thành nhiều dự án thành phần.

    Mục tiêu của dự án là hình thành tuyến cao tốc kết nối Hà Nội với các địa phương trong vùng, đáp ứng nhu cầu vận tải, mở ra không gian phát triển kinh tế mới và tạo động lực lan tỏa.

    Tuyến đường giúp phân luồng giao thông từ xa, giảm ùn tắc, ô nhiễm môi trường; hoàn thiện hệ thống đường vành đai Thủ đô.

    Dự án áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm an toàn, đồng bộ và hiệu quả; khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong khảo sát, thiết kế, thi công và thích ứng với biến đổi khí hậu. Khi đi vào khai thác, tuyến đường sẽ thu phí điện tử không dừng.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư dự án là 288.268 tỷ đồng, từ ngân sách nhà nước được bố trí trong các kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn và các nguồn vốn hợp pháp khác.

    Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu giải trình trước khi Quốc hội thông qua

    Trong giai đoạn 2026-2030, ngân sách trung ương dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng để đầu tư khoảng 116km tuyến cao tốc chính qua Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng và Bắc Ninh.

    Dự án được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, triển khai xây dựng từ năm 2027 và phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Toàn dự án cần khoảng 4.011ha đất, trong đó có khoảng 1.776ha đất trồng lúa, gồm 1.590ha đất chuyên trồng lúa nước từ hai vụ trở lên; khoảng 210ha đất lâm nghiệp và 2.025ha đất khác.

    Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính theo khối lượng giải phóng mặt bằng

    Trước khi Quốc hội biểu quyết, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội và kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát tổng mức đầu tư, bảo đảm tính đúng, tính đủ và hạn chế phát sinh trong quá trình thực hiện.

    Chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính theo khối lượng giải phóng mặt bằng trên bản đồ giải thửa, quy hoạch sử dụng đất; đơn giá bồi thường đất, tài sản trên đất, hệ số giá đất và mức hỗ trợ do UBND các tỉnh, thành phố áp dụng tại thời điểm chuẩn bị đầu tư năm 2026.

    Do khả năng cân đối ngân sách trung ương trong giai đoạn 2026-2030 còn hạn chế, Chính phủ lựa chọn phương án trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư toàn tuyến với quy mô 6 làn xe, thực hiện bằng hình thức đầu tư công và giãn tiến độ hoàn thành sang giai đoạn 2031-2035.

    Nguyên tắc được đặt ra là đầu tư hoàn chỉnh từng đoạn trong phạm vi nguồn vốn được bố trí, bảo đảm hoàn thành và đưa vào khai thác ngay, không triển khai dàn trải hoặc để công trình dở dang.

    Trước mắt, đoạn tuyến phía Đông dài khoảng 116km, từ cầu Thái Hà đến nút giao cao tốc Bắc Giang – Lạng Sơn, được ưu tiên đầu tư. Theo Chính phủ, đây là đoạn có nhu cầu vận tải cao, có thể khai thác độc lập và có tiềm năng phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ.

    Các đoạn còn lại để khép kín Vành đai 5 sẽ được triển khai ngay công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quỹ đất và huy động nguồn lực. Khi cân đối được vốn, các dự án này có thể triển khai theo chủ trương đã được Quốc hội thông qua.

    Thành Huế

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-chu-truong-dau-tu-vanh-dai-5-vung-thu-do-gan-290-000-ty-dong-c55899922.epi

  • Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

    Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải báo cáo giải trình trước Quốc hội về những vấn đề liên quan đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

    Tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, ngày 5/8/2026 và ngày 10/8/2026, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ và Hội trường về dự án Luật; đã có 70 lượt ý kiến của các đại biểu Quốc hội cho ý kiến đối với Dự án Luật (trong đó có 53 ý kiến phát biểu tại Tổ, 17 ý kiến phát biểu tại Hội trường, 02 ý kiến bằng văn bản của đại biểu và 06 ý kiến bằng văn bản của các đoàn Đại biểu Quốc hội).

    Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo luật, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, về việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm các quy định rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, tiếp thu ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý dự thảo Luật bảo đảm các quy định rõ ràng, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống phát luật; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và thực tiễn, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp và phù hợp với đặc thù trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

    Về việc tập trung rà soát những nội dung đã tiếp thu, những vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm và các quy định có liên quan trực tiếp đến tổ chức thi hành; kịp thời xử lý những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất hoặc có thể phát sinh vướng mắc, khoảng trống pháp lý trong quá trình thực hiện, Bộ trưởng nêu rõ, trên cơ sở các ý kiến tập trung tại phiên thảo luận của các đại biểu Quốc hội tại Tổ và Hội trường, Chính phủ đã rà soát các điều khoản có tác động trực tiếp đến tổ chức thi hành và chỉnh lý theo hướng xác định rõ chủ thể, thẩm quyền và quy định chuyển tiếp để không tạo khoảng trống pháp lý trong quá trình thực hiện.

    Cụ thể, dự thảo Luật đã quy định về thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài với thời hạn không quá 180 ngày kể từ ngày người lao động trúng tuyển; trường hợp doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về thời gian chờ xuất cảnh thì phải bồi thường theo thỏa thuận và hoàn trả tiền dịch vụ thu từ người lao động, các khoản thu khác người lao động đã nộp. Dự thảo đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định thời hạn bồi thường, hoàn trả tiền cho người lao động.

    Về thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký hợp đồng nhận lao động thực tập, dự thảo Luật đã điều chỉnh thẩm quyền giải quyết thủ tục này là cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo thống nhất với quy định hiện hành phù hợp với chủ trương về phân quyền, phân cấp.

    Về việc tiếp tục rà soát các dự thảo nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, bảo đảm các nội dung được Luật giao được quy định đầy đủ, cụ thể, đồng bộ và có thể triển khai thực hiện ngay khi Luật có hiệu lực, tiếp thu ý kiến, Chính phủ đã rà soát để đồng bộ các dự thảo văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; trong đó quy định các nội dung liên quan đến cơ sở dữ liệu, phân tách thông tin, kết nối dữ liệu sẽ được quy định cụ thể tại Thông tư do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành; các nội dung được Luật giao sẽ được quy định đầy đủ, đúng thẩm quyền và đảm bảo tiến độ ban hành để các văn bản có hiệu lực ngay khi Luật có hiệu lực thi hành.

    Về việc tiếp tục hoàn thiện ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật lập pháp, bảo đảm chính xác, chặt chẽ tiếp thu ý kiến, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện cả về nội dung, kỹ thuật lập pháp của dự thảo Luật theo quy định, bảo đảm chính xác, chặt chẽ.

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.

    Hải Liên

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-nguoi-lao-dong-viet-nam-di-lam-viec-o-nuoc-ngoai-c55899854.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!