Author: bachdn

  • Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô hơn 288 nghìn tỷ đồng

    Sáng 24/8, với đa số đại biểu tán thành Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về dự án đường vành đai 5 – Vùng Thủ đô.

    Theo Nghị quyết được Quốc hội thông qua, dự án được đầu tư khoảng 349 km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ.

    Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Quang Vinh

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng; trong đó, dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026-2030 để đầu tư tuyến chính cao tốc dự kiến khoảng 116 km thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Về tiến độ thực hiện, từ năm 2026 sẽ thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư dự án; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Trong đó, đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026-2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031; các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh báo cáo tiếp thu, giải trình trước khi Quốc hội thông qua toàn văn Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án đường vành đai 5 – Vùng Thủ đô. Ảnh: Quang Vinh

    Trước đó, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát sơ bộ tổng mức đầu tư để bảo đảm được tính đúng, tính đủ, hạn chế tăng tổng mức đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện.

    Tổng mức đầu tư của dự án được xác định trên cơ sở khối lượng của phương án thiết kế sơ bộ và hệ thống định mức, đơn giá, suất vốn đầu tư do cơ quan có thẩm quyền công bố, tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.

    Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo so sánh sơ bộ tổng mức đầu tư với một số tuyến cao tốc đang triển khai trong khu vực với quy mô, tính chất và điều kiện xây dựng tương tự (đường Vành đai 4, cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng).

    Kết quả cho thấy suất đầu tư và cơ cấu chi phí của dự án cơ bản tương đồng với các dự án trên, bảo đảm tính hợp lý của phương án xác định sơ bộ tổng mức đầu tư.

    Giải trình rõ hơn cơ chế không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết do chưa thể cân đối đủ vốn để đầu tư toàn tuyến, Chính phủ đề xuất Quốc hội cơ chế này để thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo.

    Cơ chế đặc thù này có ưu điểm tạo điều kiện cho Chính phủ chủ động triển khai Dự án theo khả năng cân đối, bố trí vốn đẩy nhanh tiến độ đầu tư, sớm khép kín đường Vành đai 5, quản lý quỹ đất, huy động nguồn lực. Yêu cầu đặt ra khi thực hiện cơ chế này là đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả và được Quốc hội giám sát, quản lý chặt chẽ, không phát sinh lãng phí, tiêu cực trong triển khai.

    Anh Vũ – Việt Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-chu-truong-dau-tu-duong-vanh-dai-5-vung-thu-do-hon-288-nghin-ty-dong-c55900364.epi

  • Rà soát phương án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030

    Toàn cảnh cuộc làm việc

    Sáng 24/8, Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh làm việc với Sở Tài chính về Tờ trình, dự thảo Nghị quyết dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 – 2030, chuẩn bị trình Kỳ họp thứ 7 (kỳ họp chuyên đề) HĐND tỉnh khóa XIX. Tham dự có các Phó Chủ tịch HĐND tỉnh: Dương Tất Thắng, Nguyễn Thị Việt Hà.

    Theo dự kiến của UBND tỉnh, tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 – 2030 là 34.079,138 tỷ đồng; trong đó vốn ngân sách Trung ương 7.007,81 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương 27.071,328 tỷ đồng.

    Với nguồn vốn ngân sách Trung ương, dự kiến bố trí cho 2 dự án chuyển tiếp, 1 nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư và 3 dự án khởi công mới. Trong đó có các dự án đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía Tây và tuyến nối đường Ngô Quyền kéo dài – Hàm Nghi; tuyến kết nối nút giao cao tốc tại Km527+580 đến QL15B và hệ thống tiêu thoát lũ, phòng chống ngập úng Khu kinh tế Vũng Áng. Nguồn vốn nước ngoài dự kiến bố trí cho 4 dự án chuyển tiếp và Dự án Hạ tầng ưu tiên và phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh.

    Quyền Giám đốc Sở Tài chính Hồ Đức Đàn trình bày, làm rõ Tờ trình, dự thảo Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030.

    Đối với ngân sách địa phương, dự kiến phân cấp cho cấp xã 9.581,011 tỷ đồng; bố trí 17.490,317 tỷ đồng cho các nhiệm vụ, dự án cấp tỉnh, gồm các dự án chuyển tiếp, nhiệm vụ cần thiết và dự án khởi công mới. Đáng chú ý, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 dự kiến bố trí vốn cho 176 dự án, giảm 57,5% so với giai đoạn 2021 – 2025; trong đó có 10 dự án sử dụng vốn ngân sách Trung ương và 166 dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương.

    Tại cuộc làm việc, các đại biểu tập trung rà soát cơ sở pháp lý, khả năng cân đối nguồn lực, nguyên tắc phân bổ, danh mục và mức vốn dự kiến bố trí; đồng thời đề nghị làm rõ tính cần thiết, hiệu quả đầu tư, tiến độ thực hiện, khả năng giải ngân và sự phù hợp quy hoạch của từng dự án, nhất là các dự án khởi công mới và phương án phân cấp nguồn vốn cho cấp xã.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Tất Thắng phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc.

    Phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Tất Thắng đề nghị cơ quan tham mưu tiếp tục rà soát kỹ phương án kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhất là danh mục, thứ tự ưu tiên và khả năng cân đối nguồn vốn. Các dự án đưa vào kế hoạch phải thực sự cần thiết, có đầy đủ cơ sở pháp lý, phù hợp quy hoạch và có khả năng triển khai, giải ngân trong giai đoạn 2026 – 2030. Việc phân bổ nguồn lực cần bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những công trình tạo động lực, có tính kết nối, lan tỏa và tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội; hạn chế tối đa tình trạng đầu tư dàn trải.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh cũng đề nghị làm rõ cơ sở xác định mức vốn đối với từng nhóm dự án, nhất là các dự án khởi công mới, dự án chuyển tiếp và nguồn vốn phân cấp cho cấp xã, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và đúng quy định. Các sở, ngành liên quan cần tiếp thu đầy đủ ý kiến tại cuộc làm việc, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, tài liệu, bảo đảm chất lượng để trình HĐND tỉnh xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7.

    Trưởng ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Nguyễn Thị Thúy Nga kết luận cuộc làm việc.

    Kết luận cuộc làm việc, Trưởng ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Nguyễn Thị Thúy Nga đề nghị Sở Tài chính tiếp tục phối hợp với các sở, ngành, đơn vị liên quan rà soát kỹ, toàn diện dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030; cập nhật đầy đủ các căn cứ pháp lý, khả năng cân đối nguồn lực và tình hình thực hiện các dự án.

    Làm rõ tính cần thiết, hiệu quả đầu tư, tiến độ thực hiện và khả năng giải ngân của từng dự án, nhất là các dự án khởi công mới; rà soát kỹ sự phù hợp với quy hoạch, khả năng bố trí vốn và tổ chức thực hiện, bảo đảm mỗi dự án được đưa vào kế hoạch đều có cơ sở, thực sự cần thiết, khả thi, tránh đầu tư dàn trải, kéo dài.

    Xuân Hoa

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-phuong-an-dau-tu-cong-trung-han-giai-doan-2026-2030-c55900158.epi

  • Nâng mức đầu tư đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng lên 289.339 tỷ đồng

    Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN.

    Trước đó, Dự án đầu tư xây dựng đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 187/2025/QH15 ngày 19/2/2025, có tổng mức đầu tư toàn tuyến 203.200 tỷ đồng. Với mức điều chỉnh lần này, tổng mức đầu tư của Dự án tăng 86.139 tỷ đồng. 

    Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng có quy mô đặc biệt lớn, công nghệ kỹ thuật phức tạp, lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam. Trong thời gian qua, xuất hiện nhiều yếu tố mới, chủ trương mới cần tập trung để bảo đảm mục tiêu được Đảng, Nhà nước đã định hướng. Vì vậy, Chính phủ đề nghị Quốc hội chấp thuận biểu quyết thông qua nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

    Giải trình về cơ sở xác định sơ bộ tổng mức đầu tư của Dự án, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho hay, sơ bộ tổng mức đầu tư được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 187/2025/QH15 được xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng và được đề cập trong hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư điều chỉnh lần này đã được tính toán cụ thể, chi tiết hơn; giá trị sơ bộ tổng mức đầu tư được tính theo giá trị tổng mức đầu tư của bước Báo cáo nghiên cứu khả thi. Trong đó, tổng mức đầu tư được xác định trên cơ sở: danh mục các tiêu chuẩn kỹ thuật được Bộ Xây dựng phê duyệt, định mức được Bộ Xây dựng chuyển đổi; khối lượng được lấy theo hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi; đơn giá các loại vật tư, vật liệu trong nước đã sản xuất được lấy theo báo giá trong nước, các vật tư, vật liệu nhập khẩu tham khảo đơn giá nước ngoài; đơn giá và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cập nhật đến năm 2026.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng cũng thuyết minh cụ thể từng khoản bổ sung, điều chỉnh chi phí. Theo đó, chi phí xây lắp và thiết bị tăng 51.210 tỷ đồng; chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tăng 34.849 tỷ đồng; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác cập nhật phù hợp với tình hình triển khai dự án tăng khoảng 163 tỷ đồng; chi phí dự phòng cập lại giảm 114 tỷ đồng.

    Bên cạnh nội dung điều chỉnh sơ bộ tổng mức đầu tư, Nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng còn sửa đổi một số nội dung khác, như tiến độ thực hiện: lập báo cáo nghiên cứu khả thi từ năm 2025, phấn đấu hoàn thành cơ bản Dự án chậm nhất vào năm 2030. Đầu tư đoạn tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn đồng bộ với tiến độ đầu tư khu bến Nam Đồ Sơn.

    Về công nghệ, tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng áp dụng công nghệ đường sắt chạy trên ray; sử dụng sức kéo điện cho tuyến chính và đoạn tuyến nhánh nối từ ga Yên Viên đến ga Gia Lâm; sử dụng sức kéo diesel và sẽ chuyển đổi đầu máy sử dụng năng lượng sạch trong tương lai cho các tuyến nhánh kết nối cảng biển.

    Đối với phạm vi và quy mô Dự án, Nghị quyết điều chỉnh phạm vi điểm đầu tại vị trí nối ray qua biên giới (tỉnh Lào Cai), điểm cuối tại ga Nam Hải Phòng (thành phố Hải Phòng); chiều dài tuyến chính khoảng 363 km; chiều dài các tuyến nhánh khoảng 63 km; đi qua địa phận 6 tỉnh, thành phố gồm: Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng. Về quy mô, Dự án đầu tư mới đường đôi đoạn từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng và đoạn từ ga Yên Viên đến ga Gia Lâm, đường đơn đối với các đoạn tuyến còn lại; khổ 1.435 mm; vận chuyển chung hành khách, hàng hóa; tốc độ thiết kế 160 km/h đối với đoạn từ ga Lào Cai đến ga Nam Hải Phòng, tốc độ thiết kế 120 km/h đối với đoạn qua khu vực đầu mối thành phố Hà Nội; tốc độ thiết kế 80 km/h đối với các đoạn tuyến còn lại.

    Ngoài ra, Nghị quyết cũng sửa đổi nội dung liên quan đến phạm vi thu hồi đất, sơ bộ tổng nhu cầu sử dụng đất và số dân tái định cư; đồng thời sửa đổi nội dung: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng chịu trách nhiệm về huy động vốn và hiệu quả đầu tư đoạn tuyến nhánh nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn, khu bến Nam Đồ Sơn bảo đảm khai thác đồng bộ các công trình này, không gây thất thoát, lãng phí. Bộ Xây dựng có trách nhiệm hỗ trợ Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng trong quản lý thực hiện đầu tư đoạn tuyến nhánh này.

    Tại Nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng cũng ghi nhận nhiều nội dung được tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong đó đã bổ sung điều khoản: “Chính phủ chịu trách nhiệm về các nội dung, thông tin, số liệu trong Hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án; xác định sơ bộ tổng mức đầu tư của Dự án đúng yêu cầu, tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật; kiểm soát về công nghệ, kỹ thuật, bảo đảm tiên tiến, đồng bộ, an toàn, kết nối thuận lợi và chủ động trong vận hành, bảo trì.

    Trước đó, về việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, theo tổng hợp tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI có 62 ý kiến của các đại biểu Quốc hội, trong đó có 56 ý kiến tại tổ, 6 ý kiến tại hội trường. Các ý kiến góp ý tập trung vào 5 nhóm nội dung chính: thứ nhất là làm rõ về cơ sở điều chỉnh dự án. Thứ hai là làm rõ về các nội dung điều chỉnh và hiệu quả đạt được sau khi điều chỉnh dự án. Thứ ba là ý kiến đóng góp để Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm hoàn thành dự án đúng tiến độ, hiệu quả, không thất thoát, lãng phí. Thứ tư là yêu cầu về kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch, bảo đảm an toàn triệt để. Thứ năm là đề nghị đánh giá về khả thi nguồn vốn, rồi khả năng cân đối nguồn vốn của dự án.

    Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu tối đa, giải trình đầy đủ và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng trình Quốc hội trước khi thông qua.

    Diệp Anh (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/nang-muc-dau-tu-duong-sat-lao-cai-ha-noi-hai-phong-len-289-339-ty-dong-c55900302.epi

  • Hà Nội: Xử lý dứt điểm tình trạng chậm cấp ‘sổ hồng’ tại các dự án chung cư

    12 năm nay, người dân HH Linh Đàm mong chờ được cấp sổ hồng. Ảnh TA

    Thường trực Thành ủy Hà Nội vừa có chỉ đạo về việc tập trung rà soát, giải quyết vướng mắc trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (“sổ hồng”) tại các dự án chung cư trên địa bàn thành phố.

    Theo đánh giá của Thành ủy Hà Nội, thời gian qua, công tác cấp “sổ hồng” cho các tổ chức, cá nhân tại các dự án chung cư thương mại, nhà ở xã hội trên địa bàn đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, qua theo dõi, nắm bắt thông tin dư luận và phản ánh của báo chí, tình trạng nợ đọng, chậm cấp “sổ hồng” tại nhiều dự án chung cư vẫn diễn biến phức tạp, kéo dài.

    Đáng chú ý, có dự án chậm cấp “sổ hồng” từ 5 đến 10 năm, làm phát sinh tình trạng khiếu kiện đông người, giăng băng rôn kéo dài, ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

    Để giải quyết tình trạng trên, đồng thời chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ phát sinh “điểm nóng” về an ninh trật tự, Thường trực Thành ủy yêu cầu Đảng ủy UBND thành phố lãnh đạo UBND thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ.

    Trước hết, thành phố phải tổng rà soát toàn diện kết quả công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại các dự án chung cư trên địa bàn.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, Thành ủy yêu cầu có giải pháp giải quyết dứt điểm tình trạng nợ đọng, đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận đối với các dự án đã đủ điều kiện.

    Đối với những dự án còn vướng mắc, các cơ quan chức năng phải tập trung giải quyết, xây dựng phương án cụ thể đối với từng dự án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, trước hết là quyền lợi của người dân.

    Thường trực Thành ủy yêu cầu kết quả thực hiện các nhiệm vụ trên phải được báo cáo trong tháng 9-2026.

    Bảo Hân

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-xu-ly-dut-diem-tinh-trang-cham-cap-so-hong-tai-cac-du-an-chung-cu-c55900484.epi

  • Nhiều khách sạn ‘không có tầng 13’ vì lý do này

    Tờ USA Today cho biết, sự thiếu vắng số 13 trong các khách sạn hay trong thang máy xuất phát từ “triskaidekaphobia”, hội chứng sợ số 13. Nhiều người tin rằng con số 13 luôn gắn với các điềm xấu.

    Giống như những người bị căng thẳng về một vấn đề nào đó, người mắc triskaidekaphobia sẽ có các triệu chứng như buồn nôn, nôn, hoảng sợ, nhịp tim đập nhanh và khó thở khi trông thấy số 13.

    Theo một cuộc thăm dò của Gallup được tiến hành vào năm 2007, 13% số người được hỏi cho biết rằng họ cảm thấy không thoải mái khi ở tầng 13 của một khách sạn.

    Thấu hiểu điều này, nhiều khách sạn đã quyết định loại bỏ số 13 trên bảng tên số phòng, bảng điều khiển thang máy và cả cầu thang bộ. Otis Elevators, nhà sản xuất thang máy, thang cuốn, ước tính khoảng 85% số thang máy trên thế giới đổi tên tầng thứ 13.

    Nhiều khách sạn không có tầng 13 vì nhiều người cho rằng đây là con số không may mắn. Ảnh: Otis Elevators

    Theo khảo sát của CityRealty về 629 tòa chung cư có từ 13 tầng trở lên, chỉ 55 tòa vẫn gọi tầng thứ 13 là “tầng 13”. Như vậy, khoảng 91% số tòa nhà trong khảo sát sử dụng cách gọi khác.

    Trong những tòa nhà không sử dụng số 13 khi đánh số tầng, tầng thứ 13 về mặt kết cấu vẫn tồn tại nhưng mang tên hoặc ký hiệu khác. Một số tòa nhà tại New York (Mỹ) sử dụng những ký hiệu như “12B” hoặc “14A”.

    Việc tránh sử dụng số 13 không chỉ xuất hiện ở khách sạn hay chung cư. Một số bệnh viện không sử dụng phòng mang số 13, trong khi một số hãng hàng không cũng được ghi nhận không bố trí hàng ghế mang số này.

    Tuy nhiên, việc kiêng số 13 không phải thông lệ chung trên toàn thế giới. Mỗi nơi có cách nhìn khác nhau về những con số được cho là không may mắn.

    Ở một số quốc gia và khu vực châu Á, số 4 được xem là không may mắn và thường bị bỏ qua khi đánh số tầng.

    Minh Hoa (t/h)

    Nguồn https://baomoi.com/nhieu-khach-san-khong-co-tang-13-vi-ly-do-nay-c55900193.epi

  • Gia Lai tập trung giải ngân vốn đầu tư công chặng nước rút

    Đến hết tháng 8/2026, Gia Lai giải ngân ước khoảng 8.253,876 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 55,46% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và 42,74% tổng kế hoạch vốn được giao trong năm. Ảnh: Hoài Nam – TTXVN

    Trong chặng nước rút của năm 2026, Gia Lai đang chịu áp lực giải ngân vốn đầu tư công rất lớn khi mới đạt 55,46% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Tỉnh Gia Lai đang tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thủ tục, giải phóng mặt bằng và tiến độ thi công, đồng thời gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân, quyết tâm biến nguồn vốn được bố trí thành khối lượng đầu tư thực tế.

    Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, đến hết tháng 8/2026, Gia Lai giải ngân ước khoảng 8.253,876 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 55,46% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và 42,74% tổng kế hoạch vốn được giao trong năm, bao gồm cả vốn kéo dài. Với lượng vốn còn lại rất lớn, tỉnh đang đứng trước yêu cầu phải tăng tốc mạnh mẽ trong quý III và những tháng cuối năm, đồng thời xử lý dứt điểm những “điểm nghẽn” đang kéo chậm tiến độ.

    Trước yêu cầu gấp rút giải ngân vốn đầu tư công, tỉnh Gia Lai đã tăng cường chỉ đạo, điều hành, thường xuyên rà soát tiến độ từng dự án, từng nguồn vốn; đồng thời xác định rõ nguyên nhân chậm giải ngân và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, chủ đầu tư, nhà thầu liên quan để kịp thời xử lý. Trọng tâm trong thời gian tới là đẩy nhanh hoàn thiện thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu và tổ chức thi công; tập trung tháo gỡ các vướng mắc về bồi thường, giải phóng mặt bằng; bảo đảm nguồn vốn và đẩy nhanh thanh toán khối lượng hoàn thành. 

    Đối với những dự án giải ngân thấp hoặc không có khả năng giải ngân, tỉnh sẽ điều chỉnh vốn, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tỷ lệ giải ngân chung trong quý III và các tháng tiếp theo của năm 2026.

    Với lượng vốn chưa giải ngân còn lớn, yêu cầu đặt ra đối với Gia Lai không chỉ là đẩy nhanh tiến độ giải ngân về mặt tỷ lệ, mà quan trọng hơn là phải biến nguồn vốn đã được bố trí thành khối lượng đầu tư thực tế, bảo đảm tiến độ và hiệu quả các dự án. Việc nhận diện rõ từng điểm nghẽn, gắn trách nhiệm với từng cơ quan, đơn vị và chủ đầu tư, đồng thời chủ động điều chuyển vốn khỏi những dự án không có khả năng giải ngân sẽ là những giải pháp then chốt để tỉnh tạo chuyển biến rõ nét trong chặng nước rút của năm 2026.

    Trong năm 2026, tổng kế hoạch vốn đầu tư công của tỉnh Gia Lai được giao là 19.912,390 tỷ đồng, chưa bao gồm 9.100 tỷ đồng nguồn tăng thu ngân sách Trung ương năm 2025 và 1.834,647 tỷ đồng nguồn hỗ trợ năm 2026 để khắc phục hậu quả, phòng chống thiên tai; trong đó, vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài thời hạn giải ngân là 1.456,211 tỷ đồng; kế hoạch vốn năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ giao là 14.882,717 tỷ đồng.

    Đến cuối tháng 8, vốn kế hoạch năm trước được phép kéo dài đã giải ngân 887,626 tỷ đồng, đạt 60,95% kế hoạch; vốn kế hoạch năm 2026 do HĐND tỉnh giao giải ngân 7.366,250 tỷ đồng, đạt 41,25%. Những con số này cho thấy áp lực giải ngân trong thời gian còn lại của năm là rất lớn.

    Theo đánh giá của UBND tỉnh, công tác giải ngân đã được các cấp, ngành và chủ đầu tư quan tâm triển khai ngay từ đầu năm; việc phân bổ, giao kế hoạch vốn cơ bản kịp thời, tạo điều kiện để các chủ đầu tư tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, kết quả giải ngân vẫn thấp so với yêu cầu đề ra, chưa phản ánh đầy đủ năng lực triển khai và khả năng giải ngân của tỉnh.

    Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân là nguồn thu tiền sử dụng đất của tỉnh có quy mô lớn nhưng phụ thuộc trực tiếp vào tiến độ thu thực tế phát sinh trong năm. Đây là nguyên nhân khách quan tác động một phần đến tỷ lệ giải ngân chung.

    Đáng chú ý, một số dự án trọng điểm được bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương lớn nhưng tiến độ thực hiện chưa đạt yêu cầu. Trong số đó, đáng chú ý là dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp TH&THCS tại 7 xã biên giới; Dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; Dự án tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Chăm Dương Long.

    Việc kế hoạch vốn năm 2026 được điều chỉnh, bổ sung tăng cao so với thời điểm đầu năm cũng tạo thêm áp lực. Khi nguồn vốn được bổ sung, điều chỉnh trong năm, các đơn vị cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục, phân bổ chi tiết, tổ chức thực hiện và giải ngân. 

    Đối với các Chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn mới được cấp có thẩm quyền phân bổ, khiến các chủ đầu tư và địa phương đang phải khẩn trương hoàn tất thủ tục đầu tư, hồ sơ triển khai theo quy định.

    Ước đến hết tháng 8, giải ngân vốn đầu tư công thuộc các chương trình này đạt 143,953 tỷ đồng, tương đương 24,49% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó, vốn năm trước chuyển sang đã giải ngân 84,259 tỷ đồng, còn vốn kế hoạch năm mới đạt 59,694 tỷ đồng, tương đương 10,16% kế hoạch. 

    Bên cạnh những yếu tố khách quan, báo cáo của UBND tỉnh cũng thẳng thắn chỉ ra các nguyên nhân chủ quan. Cụ thể như công tác chuẩn bị đầu tư ở một số nơi chưa thật sự chủ động; tổ chức thi công, nghiệm thu và lập hồ sơ thanh toán còn chậm.

    Việc rà soát, đánh giá khả năng giải ngân của từng dự án để đề xuất điều chỉnh, điều chuyển kế hoạch vốn chưa kịp thời. Đặc biệt, những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai dự án chưa được tháo gỡ hoặc chủ động báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời.

    Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, xác định nguồn gốc đất, giá đất, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư còn mất nhiều thời gian, trở thành một trong những khâu ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án.

    Quang Thái/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-tap-trung-giai-ngan-von-dau-tu-cong-chang-nuoc-rut-c55900153.epi

  • UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo lập dự án đầu tư xây dựng bảo đảm thoát lũ

    Theo đó, Điều 8 Luậtsửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 26 của Luật Đê điều quy định, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo lập dự án đầu tư xây dựng có nội dung đảm bảo thoát lũ, an toàn đê điều theo quy định; Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt nội dung đảm bảo thoát lũ, an toàn đê điều của dự án đầu tư xây dựng theo quy định.

    Luật quy định,giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có thời hạn 5 năm, giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật không có thời hạn.

    Luật sửa đổi, bổ sung Điều 33 vềcông bố, thay đổi thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi như sau: Trừ sản phẩm thức ăn chăn nuôi quy định tại Điều 36 của Luật này, sản phẩm thức ăn chăn nuôi do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tự công bố, tự thay đổi thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tự chịu trách nhiệm về chất lượng và an toàn của sản phẩm thức ăn chăn nuôi đã công bố.

    Đại biểu tham dự phiên làm việc sáng 24-8. Ảnh: media.quochoi.vn

    Về cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn, Luật quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi.

    Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi bị thu hồi khi bị tẩy, xóa, sửa chữa nội dung; cơ sở chăn nuôi trang trại không còn đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này; cơ sở chăn nuôi trang trại có hành vi vi phạm khác mà pháp luật quy định phải thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi; cơ sở chăn nuôi trang trại không thực hiện yêu cầu về giám sát duy trì điều kiện chăn nuôi của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi…

    Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thú y, trong đó Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện kiểm dịch và cấp giấy chứng nhận kiểm dịch đối với động vật trên cạn đã nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật; sản phẩm động vật trên cạn đã nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm theo quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc của chủ hàng.

    Luật cũng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, trong đó, trường hợp cần thăm dò, khai thác khoáng sản tại khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, bao gồm cả khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản của Bộ trưởng Bộ được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản quy định tại khoản 1 Điều 108 của Luật này thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, chấp thuận trước khi lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thăm dò khoáng sản, giấy phép khai thác khoáng sản.

    Quang cảnh phiên làm việc sáng 24-8. Ảnh: media.quochoi.vn

    Trường hợp khu vực đề nghị chấp thuận thăm dò, khai thác khoáng sản tại khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản thuộc khu vực biển nằm ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển của các tỉnh, thành phố; khu vực biển chưa xác định ranh giới quản lý hành chính trên biển của các tỉnh, thành phố thì thẩm quyền giải quyết thực hiện theo quy định của Chính phủ…

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2027. Trường hợp văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận là kết quả giải quyết thủ tục hành chính đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo thời hạn ghi trên văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận đó, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này.

    Trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận thì gửi văn bản đề nghị đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định tại Luật này để giải quyết.

    Vân Hà

    Nguồn https://baomoi.com/ubnd-cap-tinh-co-trach-nhiem-chi-dao-lap-du-an-dau-tu-xay-dung-bao-dam-thoat-lu-c55900065.epi

  • Thông qua Luật Phát triển đô thị, tạo cơ chế đột phá phát triển khu đô thị lấn biển

    Trước khi đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua dự thảo Luật Phát triển đô thị, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật.

    Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại phiên họp sáng 24/8 Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI. Ảnh: Media Quốc hội.

    Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, về quy hoạch, dự thảo luật bổ sung thẩm quyền HĐND thành phố trong việc điều chỉnh cục bộ quy hoạch tổng thể thành phố, bảo đảm yêu cầu thống nhất quản lý Nhà nước về quy hoạch, sự kết nối giữa quy hoạch của thành phố với quy hoạch của khu kinh tế đặc biệt trong trường hợp khu kinh tế đặc biệt nằm trên địa bàn thành phố.

    Về khu thương mại tự do, khu logistic tích hợp, dự thảo luật bổ sung thẩm quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN quy định điều kiện cụ thể phòng giao dịch của chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong khu thương mại tự do nhằm kiểm soát chặt chẽ, hạn chế rủi ro về quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền cũng như tránh tạo ra sự chênh lệch cạnh tranh lớn đối với các ngân hàng trong nước.

    Đồng thời, bổ sung thẩm quyền của Chính phủ trong việc quy định trình tự thủ tục công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ việc áp dụng chế độ ưu tiên hải quan đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp tạo cơ sở để hoàn thiện các cơ chế pháp lý cụ thể cho tổ chức thực hiện.

    Về khu đô thị lấn biển, tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, được sự thống nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã bổ sung về cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt để quy định cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển khu đô thị lấn biển, bảo đảm phù hợp với mục tiêu của chính sách và cấu trúc của dự thảo luật.

    Trong đó quy định nguyên tắc đầu tư xây dựng phát triển khu đô thị lấn biển, điều kiện đối nhà đầu tư chiến lược, ưu đãi hỗ trợ, nghĩa vụ nhà đầu tư, thẩm quyền quyết định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất và cơ chế khai thác khoáng sản phục vụ dự án.

    Cụ thể, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển được áp dụng cơ chế, chính sách khai thác khoáng sản theo quy định pháp luật về địa chất và khoáng sản như đối với công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia; việc khai thác cát biển phục vụ dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển phải thực hiện việc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    Chủ tịch UBND thành phố quyết định giao khu vực biển để thực hiện khai thác khoáng sản phục vụ cho dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển đối với các mỏ khoáng sản có phạm vi khai thác nằm trong ranh giới quản lý hành chính của địa phương và trong vùng lãnh hải sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, lấy ý kiến của Bộ quản lý chuyên ngành về khoáng sản.

    Ủy ban nhân dân thành phố được quyết định các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch tại khu đô thị lấn biển khi chưa có quy định hoặc yêu cầu cao hơn so với quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch đô thị và nông thôn nhưng phải bảo đảm đáp ứng về hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hệ thống công trình hạ tầng xã hội.

    Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng. Ảnh: Media Quốc hội.

    Về phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý tên gọi của điều này thành cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; điều chỉnh thẩm quyền quyết định điều kiện trình tự thủ tục cấp phép thành lập ngân hàng, hoạt động ngân hàng đầu tư tại trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, phát hành sản phẩm tài chính quốc tế thông qua trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam từ cơ quan điều hành trung tâm tài chính quốc tế tại thành phố sang HĐND thành phố và bổ sung điều kiện phải có ý kiến của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Đồng thời, bổ sung quy định thành viên trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ khác tại trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức trong nước để giao dịch thu hút vốn quốc tế trên cơ sở tuân thủ đúng và đầy đủ quy định về quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và quản lý nợ công.

    Yến Chi

    Nguồn https://baomoi.com/thong-qua-luat-phat-trien-do-thi-tao-co-che-dot-pha-phat-trien-khu-do-thi-lan-bien-c55900045.epi

  • Quốc hội cho phép loạt cơ chế đặc thù với các dự án phục vụ APEC 2027

    Đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: media.quochoi.vn

    Nghị quyết quy định xử lý vướng mắc đối với các dự án, công trình, hạng mục công trình đã thi công xây dựng khi chưa phù hợp với quy hoạch, chưa đồng bộ giữa các quy hoạch, chưa thi tuyển phương án kiến trúc; quy định cụ thể việc xử lý vướng mắc đối với việc khai thác, thu hồi khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng và khoáng sản nhóm IV khi chưa được cấp giấy phép khai thác khoáng sản, giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản.

    Nghị quyết xử lý vướng mắc đối với các dự án, công trình, hạng mục công trình thi công xây dựng khi chưa hoàn thiện thủ tục về đầu tư công; xử lý vướng mắc đối với dự án, công trình, hạng mục công trình thi công xây dựng khi chưa hoàn thiện thủ tục về đầu tư; xử lý vướng mắc đối với dự án, công trình, hạng mục công trình thi công xây dựng khi chưa hoàn thiện thủ tục về xây dựng; xử lý vướng mắc trong việc thi công xây dựng trên quỹ đất chưa hoàn thiện thủ tục về đất đai; xử lý vướng mắc về nghiệm thu, bàn giao, thanh toán, quyết toán dự án, công trình, hạng mục công trình.

    Quốc hội giao HĐND tỉnh An Giang giám sát UBND tỉnh An Giang và các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết này, bảo đảm công khai, minh bạch, chất lượng, tiến độ, hiệu quả của các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027; tuyệt đối không để trục lợi chính sách, không làm phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thất thoát; tăng cường công tác quản lý tài sản công; không để lấn chiếm đất đai trái phép.

    UBND tỉnh An Giang có trách nhiệm chỉ đạo theo thẩm quyền việc tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện quy định tại Nghị quyết này, bảo đảm các dự án, công trình, hạng mục công trình đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng công trình, hạng mục công trình hoàn thành đúng tiến độ để bàn giao, đưa vào khai thác, sử dụng, vận hành an toàn, hiệu quả.

    Đáng chú ý, Nghị quyết quy định người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người tham gia xây dựng, thẩm định, thẩm tra Nghị quyết này, tham gia triển khai thực hiện Nghị quyết này được loại trừ, miễn trách nhiệm nếu không vụ lợi nhưng vẫn xảy ra thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

    Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện các thủ tục triển khai các dự án, công trình thi công trước để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà chưa thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật được miễn trừ trách nhiệm và không phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nếu không vụ lợi, tham nhũng trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Các tổ chức, cá nhân là doanh nghiệp, ngân hàng, chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu tham gia triển khai các dự án, công trình thi công trước để phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết này vì mục đích kinh doanh, thu hồi vốn và lợi nhuận hợp pháp, chính đáng thì được miễn trừ trách nhiệm, không phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Mai Hữu

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-cho-phep-loat-co-che-dac-thu-voi-cac-du-an-phuc-vu-apec-2027-c55900097.epi

  • Tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh các dự án phục vụ APEC 2027 tại Phú Quốc

    Trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết trước khi Quốc hội thông qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị quyết theo hướng xác định cụ thể phạm vi, đối tượng áp dụng; bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và làm rõ trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và tỉnh An Giang trong quá trình triển khai.

     Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Media Quốc hội.

    Về phạm vi, đối tượng áp dụng, dự thảo được hoàn thiện theo hướng xác định cụ thể các công trình, dự án đã được tổ chức triển khai, thi công xây dựng trong thời gian từ tháng 3/2025 đến trước ngày 18/5/2026, gồm các dự án thuộc danh mục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 918; công trình, hạng mục thuộc dự án đối ứng thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT Trung tâm Hội nghị APEC; hoạt động khai thác, thu hồi khoáng sản, đổ, tiếp nhận chất thải phục vụ các công trình, dự án.

    Trên cơ sở ý kiến đại biểu Quốc hội, Chính phủ cũng đã rà soát, hoàn thiện đầy đủ danh mục các dự án, công trình áp dụng nghị quyết để báo cáo Quốc hội tại Văn bản số 622. 

    Đồng thời, Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang sẽ thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra trong quá trình triển khai, bảo đảm nghị quyết được áp dụng đúng đối tượng, không mở rộng phạm vi áp dụng hoặc tạo tiền lệ trong xử lý các trường hợp tương tự.

    Quốc hội thông qua Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại Đặc khu Phú Quốc. Ảnh: Media Quốc hội.

    Một nội dung được chỉnh lý đáng chú ý là cơ chế kiểm tra, giám sát, hậu kiểm. Dự thảo bổ sung cơ chế kiểm soát có sự phối hợp giữa tỉnh An Giang và các bộ, ngành trong xử lý vấn đề đổ thải, tiếp nhận chất thải phát sinh trong quá trình xây dựng; thu hồi, khai thác khoáng sản; tổ chức thẩm định, nghiệm thu công trình, dự án, qua đó bảo đảm an toàn về môi trường, phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động và lợi ích của Nhà nước.

    Việc miễn, giảm một số thủ tục theo cơ chế đặc thù được xác định theo hướng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, không đồng nghĩa với việc bỏ qua hoặc buông lỏng quản lý. Cơ chế này chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chí chặt chẽ và không làm thay đổi hoặc miễn nghĩa vụ của chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu theo quy định pháp luật hiện hành.

    Dự thảo cũng được chỉnh lý để làm rõ trách nhiệm thi hành nghị quyết của Chính phủ, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. 

    Đồng thời, làm rõ vai trò của Chính phủ, các cơ quan Chính phủ trong việc đồng hành, phối hợp với tỉnh An Giang tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027.

    Đối với các vướng mắc mới phát sinh liên quan đến định mức, đơn giá xây dựng của các dự án, công trình phục vụ Hội nghị cấp cao APEC, Chính phủ cho biết hiện chưa có đủ cơ sở để đánh giá toàn diện và báo cáo cấp có thẩm quyền cho chủ trương xử lý. 

    Sau khi nghị quyết được ban hành, căn cứ khoản 3 Điều 11, Chính phủ sẽ chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan đánh giá đầy đủ những vướng mắc, đề xuất giải pháp phù hợp để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương xử lý.

    Dương Thy

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-vuong-mac-day-nhanh-cac-du-an-phuc-vu-apec-2027-tai-phu-quoc-c55900200.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!