Author: bachdn

  • Quốc hội chốt di dời 2 di tích ở Bắc Ninh để làm đường nối sân bay Gia Bình với Hà Nội

    Sáng 24/8, với 427/453 (chiếm 85,4%) đại biểu có mặt tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hóa trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Theo Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, cho phép áp dụng cơ chế, chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đối với việc di chuyển 2 di tích lịch sử – văn hoá. 

    Hai di tích gồm Đình Đông Côi, phường Thuận Thành và Đình Tam Sơn, xã Lương Tài, thành phố Bắc Ninh trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn thành phố Bắc Ninh. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 20/9/2026.

    Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh (Ảnh: Hữu Thắng).

    Trước khi biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, ngày 22/8, Quốc hội đã cho ý kiến tại Hội trường đối với hồ sơ dự án Nghị quyết của Quốc hội về di chuyển các di tích trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội và Dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Sau phiên thảo luận tại Hội trường, Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và các cơ quan có liên quan để nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến và đã có báo cáo tiếp thu giải trình gửi tới các đại biểu Quốc hội.

    Dự thảo Nghị quyết sau khi tiếp thu, chỉnh lý đã đạt được sự thống nhất cao giữa Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Các mục tiêu đặt ra trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết đã đạt được, đó là: áp dụng cơ chế, chính sách di chuyển đối với 2 di tích (Đình Đông Côi và Đình Tam Sơn) trong phạm vi thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn thành phố Bắc Ninh theo Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 của Quốc hội.

    Đối với di tích Đền Tân Trăn, Chính phủ sẽ rà soát kỹ lưỡng thực trạng và các vấn đề liên quan đến Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và chưa đưa vào Nghị quyết này.

    “Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội”, Bộ trưởng cho biết.

    Hoàng Bích – Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-chot-di-doi-2-di-tich-o-bac-ninh-de-lam-duong-noi-san-bay-gia-binh-voi-ha-noi-c55899865.epi

  • Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc

    Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc – Nguồn: Quốc hội

    Phân cấp gắn với trách nhiệm và kiểm soát chuyên môn

    Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật , Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày trình bày báo cáo giải trình, làm rõ ý kiến các đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Luật.

    Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, quá trình thảo luận dự án luật đã nhận được 146 ý kiến đóng góp của đại biểu Quốc hội, trong đó có 85 ý kiến tại phiên thảo luận tổ, 12 ý kiến tại hội trường và 49 ý kiến bằng văn bản. Bộ trưởng cho biết: Trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, ý kiến của Cơ quan thẩm tra, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với tinh thần trách nhiệm, cầu thị của Cơ quan chủ trì soạn thảo, Chính phủ đã tiếp thu tối đa các ý kiến của các đại biểu Quốc hội, ý kiến của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội – Cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và hoàn thiện dự án Luật bảo đảm chất lượng để trình Quốc hội xem xét thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất.

    Giải trình về vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là việc phân cấp mạnh mẽ cho cấp xã ban hành quy chế quản lý kiến trúc, Báo cáo của Chính phủ nêu rõ việc không quy định bắt buộc cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thẩm định hoặc có ý kiến thống nhất trước khi Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành không đồng nghĩa với việc cấp tỉnh buông lỏng quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức kiểm tra khi cần thiết; trường hợp quy chế có nội dung ảnh hưởng không gian liên xã, liên vùng hoặc thuộc khu vực có yêu cầu quản lý đặc thù thì không thuộc phạm vi phân cấp cho cấp xã.

    Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung quy định việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc (có phạm vi thuộc hoàn toàn trong địa giới đơn vị hành chính cấp xã), nhằm cụ thể hóa định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội về việc tiếp tục đẩy mạnh phân quyền, phân cấp khi thực hiện tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Đi đôi với quy định phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung quy định bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã. (điểm d khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 Luật Kiến trúc).

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày Báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc – Nguồn: Quốc hội

    Điểm đáng chú ý là trách nhiệm quản lý được đưa xuống gần hơn với địa bàn, trong khi yêu cầu về chất lượng chuyên môn vẫn được đặt trong một cơ chế kiểm soát chung. Điều này giúp hạn chế tình trạng phân cấp nhưng thiếu điều kiện bảo đảm năng lực thực hiện. Về lâu dài, việc phân cấp mạnh hơn có thể góp phần rút ngắn quá trình xử lý công việc, tăng tính chủ động của chính quyền cơ sở và nâng cao hiệu quả quản lý kiến trúc. Đồng thời, cơ chế kiểm soát chuyên môn cũng là yếu tố cần thiết để bảo đảm việc quản lý ở các địa phương không bị phân mảnh, thiếu thống nhất.

    Một nội dung đột phá khác được Bộ trưởng giải trình là quyết định rút ngắn thời gian thẩm định quy hoạch đô thị và nông thôn từ 30 ngày xuống 20 ngày. Theo đó,  20 ngày là thời hạn tối đa tính từ khi cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ, không bao gồm thời gian cơ quan lập quy hoạch hoàn thiện hồ sơ, lấy ý kiến, thực hiện yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước hoặc thời gian chỉnh sửa theo kết luận thẩm định. Việc rút ngắn thời hạn không cắt giảm nội dung thẩm định, thành phần hội đồng, việc mời chuyên gia hoặc trách nhiệm phối hợp của cơ quan quốc phòng, an ninh theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.

    Đối với các ý kiến cần có thời gian phù hợp cho quy hoạch có yêu cầu quốc phòng, an ninh đặc thù, Bộ trưởng nhấn mạnh: Cơ quan lập quy hoạch phải chuẩn bị đầy đủ tài liệu, ý kiến chuyên ngành và tuân thủ chế độ bảo vệ bí mật nhà nước trước khi gửi hồ sơ đầy đủ. Sau khi hồ sơ đầy đủ, việc duy trì một thời hạn xử lý thống nhất là cần thiết để bảo đảm kỷ luật hành chính và không làm kéo dài quá trình đầu tư. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất không quy định thời hạn dài hơn đối với trường hợp này.

    Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý hành nghề

    Một nội dung khác được Chính phủ tiếp thu là đề nghị gắn việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong quản lý hành nghề với cơ chế kiểm soát phù hợp, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu. Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý theo hướng tăng cường hậu kiểm, thúc đẩy phát triển nghề nghiệp liên tục, đồng thời xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề. Theo Chính phủ, việc chuyển mạnh sang hậu kiểm sẽ góp phần cải cách thủ tục hành chính, nhưng phải đi đôi với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực kiến trúc.

    “Dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, phát triển nghề nghiệp liên tục, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết.

    Các đại biểu tham dự tại Hội trường – Nguồn: Quốc hội

    Việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là một trong những thay đổi quan trọng nhất về phương thức quản lý hành nghề kiến trúc. Thay vì đặt trọng tâm vào việc kiểm soát trước khi hoạt động hành nghề diễn ra, phương thức hậu kiểm tập trung vào việc theo dõi, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện để hoạt động hành nghề được thực hiện thuận lợi và linh hoạt hơn.

    Tuy nhiên, giảm tiền kiểm không có nghĩa là giảm trách nhiệm. Khi cơ chế quản lý chuyển sang hậu kiểm, trách nhiệm tuân thủ của người hành nghề và tổ chức hành nghề được nâng lên, đồng thời cơ quan quản lý phải có khả năng kiểm tra, phát hiện và xử lý những trường hợp không bảo đảm yêu cầu.

    Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng nhấn mạnh hậu kiểm muốn thực hiện hiệu quả cần dựa trên thông tin đầy đủ, chính xác và có khả năng cập nhật thường xuyên. Vì vậy, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề là một nội dung quan trọng trong định hướng đổi mới quản lý kiến trúc được cụ thể hóa trong luật lần này. 

    Cơ sở dữ liệu giúp hình thành nguồn thông tin tập trung phục vụ công tác quản lý, theo dõi và kiểm tra hoạt động hành nghề. Thay vì phụ thuộc nhiều vào hồ sơ và các thủ tục hành chính riêng lẻ, cơ quan quản lý có thể sử dụng dữ liệu để nắm bắt tình hình, xác định đối tượng cần kiểm tra và thực hiện hậu kiểm hiệu quả hơn. Đây cũng là điểm kết nối trực tiếp giữa hậu kiểm và chuyển đổi số. Khi dữ liệu hành nghề được xây dựng và vận hành, việc chuyển sang hậu kiểm sẽ có cơ sở thông tin để thực hiện, đồng thời giảm bớt sự phụ thuộc vào các thủ tục tiền kiểm.

    Đối với người hành nghề, cơ sở dữ liệu được vận hành hiệu quả có thể góp phần giảm việc cung cấp lại thông tin, hạn chế giấy tờ và tạo thuận lợi hơn khi thực hiện các thủ tục liên quan. Đối với cơ quan quản lý, dữ liệu giúp tăng khả năng theo dõi và kiểm soát, qua đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhìn tổng thể, 3 định hướng phân cấp, hậu kiểm và chuyển đổi số không tồn tại độc lập mà bổ trợ cho nhau. Phân cấp giúp tăng quyền chủ động ở cơ sở; hậu kiểm giảm sự can thiệp hành chính trước khi hành nghề nhưng tăng trách nhiệm trong quá trình hoạt động; còn cơ sở dữ liệu tạo công cụ để cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm.

    Luật Kiến trúc cũng đồng thời đặt ra định hướng phát triển nghề nghiệp liên tục, qua đó không chỉ kiểm soát điều kiện hành nghề tại một thời điểm mà chú trọng duy trì năng lực chuyên môn trong suốt quá trình hoạt động. Đây là yếu tố quan trọng đối với một lĩnh vực có yêu cầu chuyên môn cao và luôn chịu tác động của sự phát triển về công nghệ, vật liệu, kỹ thuật và yêu cầu thực tiễn.

    Ngay sau phần báo cáo giải trình, Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua dự án Luật. Tổng số đại biểu tham gia biểu quyết là 470 đại biểu, trong đó, số đại biểu tán thành đạt 467 đại biểu, chiếm 93,40% . Quốc hội thông qua toàn văn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027. 

    Nam Sơn

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-thong-qua-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-kien-truc-c55899748.epi

  • Thống nhất đầu tư 290.000 tỷ đồng xây 349km đường Vành đai 5 đi qua 7 tỉnh, thành

    9 cơ chế, chính sách đặc thù

    Theo Nghị quyết, dự án được đầu tư khoảng 349 km thuộc địa phận 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ; hình thức đầu tư công; chia thành các dự án thành phần, quy mô từng dự án thành phần.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 288.268 tỷ đồng; trong đó, dự kiến bố trí khoảng 61.394 tỷ đồng nguồn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026 – 2030 để đầu tư tuyến chính cao tốc dự kiến khoảng 116 km thuộc địa phận 4 tỉnh, thành phố: Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh.

    Về tiến độ thực hiện, từ năm 2026 sẽ thực hiện công tác chuẩn bị đầu tự dự án; thực hiện dự án từ năm 2027; phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.

    Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội (Ảnh: Media Quốc hội).

    Trong đó, đối với các dự án thành phần sử dụng ngân sách trung ương được cân đối vốn giai đoạn 2026 – 2030 cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào vận hành, khai thác năm 2031; các dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách địa phương, các địa phương căn cứ khả năng cân đối vốn, chủ động triển khai thực hiện.

    Theo Nghị quyết được Quốc hội thông qua, dự án được áp dụng 9 cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt.

    Cụ thể, trong thời gian Quốc hội không họp, Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án, trừ 2 trường hợp: tăng phần vốn ngân sách trung ương bố trí cho dự án, trình Quốc hội xem xét, quyết định; tăng phần vốn ngân sách địa phương bố trí cho dự án do địa phương xem xét, quyết định.

    Cùng với đó, cho phép dự án không phải thẩm định, đánh giá nguồn vốn, khả năng cân đối vốn theo quy định của Luật Đầu tư công; được áp dụng cơ chế đặc thù về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Cho phép UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực bãi đổ chất thải xây dựng; Cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với các gói thầu thuộc dự án.

    Trường hợp việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án có nội dung khác với quy hoạch có liên quan thì dự án được phê duyệt mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch.

    Nguồn thu từ việc phát triển các khu đô thị, khu chức năng xung quanh tuyến đường sau khi trừ đi chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khu vực phát triển khu đô thị, khu chức năng hai bên tuyến đường Vành đai 5 và chi phí khác có liên quan theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp tỉnh được giữ lại một phần tỉ lệ để nộp vào ngân sách địa phương và phần còn lại nộp vào ngân sách trung ương. Nghị quyết giao Chính phủ quy định cụ thể về tỉ lệ phân chia và phương thức thực hiện.

    Đầu tư toàn tuyến với tầm nhìn dài hạn

    Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày tiếp thu, giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội, kết luận của Ủỵ ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Nghị quyết.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày báo cáo tiếp thu, giải trình (Ảnh: Media Quốc hội).

    Bộ trưởng cho biết, thực hiện chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Xây dựng đã khẩn trương tổ chức nghiên cứu tổng thể về việc đầu tư toàn tuyến dự án Vành đai 5 – Vùng Thủ đô với mục tiêu đây không chỉ là một tuyến đường đơn lẻ mà là một trục kết nối liên vùng, là công trình chiến lược để mở rộng không gian phát triển mới của vùng thủ đô Hà Nội.

    Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Bộ Xây dựng đã cân nhắc rất nhiều phương án phân kỳ đầu tư để có lộ trình phù hợp với khả năng cân đối vốn, đồng thời đã xem xét trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư một lần cho toàn tuyến, làm cơ sở pháp lý để Bộ Xây dựng và các địa phương triển khai trong thời gian tới, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, không cắt khúc, không chắp vá.

    “Đây là cách làm mà chúng tôi tin là thận trọng nhưng không chần chừ, khả thi nhưng vẫn giữ được tầm nhìn dài hạn”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

    Nguyễn Thu Huyền

    Nguồn https://baomoi.com/thong-nhat-dau-tu-290-000-ty-dong-xay-349km-duong-vanh-dai-5-di-qua-7-tinh-thanh-c55899798.epi

  • Phê duyệt chủ trương đầu tư dự án nâng cấp sân bay Đà Nẵng

    Ảnh minh họa. Nguồn: Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng

    Bộ Xây dựng vừa ban hành quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng.

    Mục tiêu là nâng cấp đường cất hạ cánh và đường lăn tại sân bay nhằm bảo đảm khai thác hiệu quả các chủng loại tàu bay code E (như B747, B787, A350 hoặc tương đương). Dự án kỳ vọng sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không đang gia tăng, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh cho thành phố Đà Nẵng cùng khu vực duyên hải miền Trung.

    Dự án thuộc nhóm B, quy mô bao gồm việc xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh 17R/35L và hệ thống đường lăn, bảo đảm quy mô cấp sân bay 4E theo tiêu chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO). Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.696 tỷ đồng, thời gian thực hiện từ năm 2026 đến 2028.

    Cấp quyết định đầu tư là Bộ Xây dựng; Ban Quản lý dự án Thăng Long làm chủ đầu tư dự án.

    Bộ Xây dựng yêu cầu Cục Hàng không Việt Nam chịu trách nhiệm toàn diện về việc đề xuất chủ trương đầu tư và tính chính xác của các số liệu báo cáo

    Cục Hàng không có nhiệm vụ tiếp thu ý kiến thẩm định từ Vụ Kế hoạch – Tài chính để hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư và bàn giao kết quả nghiên cứu cho Ban Quản lý dự án Thăng Long; phối hợp, hỗ trợ chủ đầu tư lập báo cáo nghiên cứu khả thi, triển khai dự án đúng tiến độ và quyết định việc đưa vào khai thác hoặc ngừng khai thác công trình theo quy định của pháp luật.

    Bộ Xây dựng giao Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM) chủ động nghiên cứu và triển khai các thủ tục đầu tư công trình bảo đảm hoạt động bay trong phạm vi quản lý theo quy hoạch đã được phê duyệt, bảo đảm khả năng khai thác đồng bộ với các công trình được nâng cấp tại sân bay.

    Vũ Miên

    Cục Hàng không Việt Nam

    Nguồn https://baomoi.com/phe-duyet-chu-truong-dau-tu-du-an-nang-cap-san-bay-da-nang-c55899659.epi

  • Bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc

    Kết quả, với 467/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (bằng 93,40% tổng số đại biểu), Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

    Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc

    Điều 5 về bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc quy định: Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc là các đặc trưng về tổ chức không gian, hình thức kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, cảnh quan, phản ánh tri thức văn hóa, lịch sử, tập quán sinh hoạt và điều kiện tự nhiên của cộng đồng dân cư, được hình thành trong xã hội, một khu vực xác định.

    Bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc phải dựa trên cơ sở khoa học, điều tra, khảo sát thực tế có sự tham gia của chuyên gia, cộng đồng và được xác định, nhận diện thông qua các yếu tố: khu vực, tuyến phố, điểm dân cư, công trình kiến trúc có giá trị cần bảo tồn, kế thừa; các đặc trưng chủ yếu về hình thái không gian, chiều cao, mật độ xây dựng, vật liệu, màu sắc, hình thức kiến trúc tổng thể và tại từng khu vực; yêu cầu về kế thừa, phát huy giá trị kiến trúc truyền thống phù hợp với điều kiện phát triển đô thị và nông thôn.

    Theo Điều 5, Ủy ban nhân dân có thẩm quyền lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc chịu trách nhiệm xác định và cụ thể hóa bản sắc văn hóa dân tộc về kiến trúc của địa phương trong quy chế quản lý kiến trúc. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc

    Trước đó, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo một số nội dung chính đã được tiếp thu, giải trình, chỉnh lý và hoàn thiện dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, về nhóm đề nghị tăng cường cơ chế kiểm soát chuyên môn của cơ quan cấp tỉnh khi phân cấp cho xã trong lập, ban hành quy chế quản lý kiến trúc, Chính phủ đề nghị giữ nguyên như phương án của dự thảo luật.

    Việc phân cấp, ủy quyền và cơ chế kiểm soát chuyên môn đã được pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương quy định. Khi thực hiện phân cấp, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ quy định cụ thể yêu cầu, cơ chế để bảo đảm chất lượng chuyên môn phù hợp với từng trường hợp.

    Về vấn đề quy định thời gian thẩm định quy hoạch phù hợp với từng cấp độ của đồ án, bảo đảm chất lượng thẩm định, Chính phủ đề nghị giữ nguyên quy định về thời hạn tối đa là 20 ngày.

    Việc rút ngắn thời gian nhằm cải cách thủ tục hành chính, không làm thay đổi yêu cầu về nội dung, chất lượng thẩm định và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Chính phủ tiếp thu đề nghị về công tác quản lý, hành nghề (việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với cơ chế kiểm soát, đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu).

    Dự thảo luật đã được rà soát, chỉnh lý, hoàn thiện theo hướng tăng cường hậu kiểm, phát triển nghề nghiệp liên tục, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu hành nghề, bảo đảm cải cách thủ tục hành chính đi đôi với hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

    XUÂN TRƯỜNG – THU SÂM; ảnh: TRẦN HUẤN

    Nguồn https://baomoi.com/bao-ve-giu-gin-va-phat-huy-gia-tri-ban-sac-van-hoa-dan-toc-trong-kien-truc-c55900171.epi

  • TPHCM khởi công, khánh thành 16 công trình dịp lễ 2-9

    Ảnh minh họa

    Hoạt động trên nhằm chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19-8-1945) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945). Qua đó cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội của TPHCM.

    Trong số này có 5 dự án khởi công mới ở lĩnh vực giao thông, khi hoàn thành sẽ góp phần hoàn thiện, đồng bộ và hiện đại hóa hạ tầng giao thông, tăng kết nối giao thông vùng giữa TPHCM với các địa phương trong vùng Đông Nam bộ, đặc biệt kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành (TP Đồng Nai).

    Cụ thể, dự án tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành (134.000 tỷ đồng); dự án thành phần 3 nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1, từ đường Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Tây Ninh (6.674 tỷ đồng); dự án thành phần 2 nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 13, từ cầu Bình Triệu đến ranh tỉnh Bình Dương cũ (6.276 tỷ đồng); 2 dự án thành phần xây đường cao tốc thuộc tuyến Vành đai 4 (11.826 tỷ đồng).

    TPHCM tiếp tục thực hiện nhiều dự án về nhà ở, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, giáo dục, y tế, văn hóa, như khởi công dự án cải thiện môi trường nước địa bàn Bình Dương trước đây, với tổng mức đầu tư 7.211 tỷ đồng, trong đó có gói thầu nâng công suất Nhà máy xử lý nước thải Thuận An, tăng thêm 20.000m3/ngày.

    Cùng với đó là 5 dự án nhà ở xã hội (NoXH) gồm: Khu đô thị NoXH xã Bà Điểm (64.053 tỷ đồng), dự án NoXH trong dự án chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo ở phường Bến Thành (16.369 tỷ đồng), chung cư NoXH Đông Thành, phường Tân Đông Hiệp (808 tỷ đồng), dự án NoXH Lê Thành – Tân Tạo 2 (367 tỷ đồng) và cụm NoXH thuộc dự án Khu nhà ở Tiến Phước (307 tỷ đồng).

    Dịp này, công trình cải tạo, chỉnh trang Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TPHCM (68,7 tỷ đồng) và Khu nhà ở chiến sỹ Công an TPHCM tại phường Đông Hưng Thuận (1.168 tỷ đồng) cũng được khánh thành, đưa vào hoạt động.

    Chào đón năm học mới 2026-2027, TPHCM tổ chức khánh thành 3 dự án trường học gồm Trường THPT Võ Trường Toản (phường Tân Thới Hiệp) được xây mới và cải tạo; Trường THPT Trần Văn Giàu (phường Bình Lợi Trung) được nâng cấp; Trường THPT Marie Curie (phường Xuân Hòa) được nâng cấp, cải tạo một số khu nhà học.

    Bình Minh

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-khoi-cong-khanh-thanh-16-cong-trinh-dip-le-2-9-c55899686.epi

  • Tây Ninh đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng nền hành chính số

    Lãnh đạo tỉnh Tây Ninh kiểm tra, đánh giá hoạt động tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tại cơ sở, bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương vận hành thông suốt. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

    Tại Tây Ninh, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong giải quyết thủ tục hành chính sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn cần đồng bộ các giải pháp để tháo gỡ, từng bước nâng cao chất lượng nền hành chính số.

    Tây Ninh hiện có 96 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 14 phường, 82 xã và 19 xã biên giới. Sau sáp nhập tỉnh, quy mô địa bàn, dân số tăng làm khối lượng công việc quản lý nhà nước, nhất là về dân cư, đất đai, xây dựng, an sinh xã hội và giải quyết thủ tục hành chính, ngày càng lớn.

    Toàn tỉnh hiện có 1.851 thủ tục hành chính, trong đó 1.510 thủ tục được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, chiếm 81,6%. Tỉnh đã tiếp nhận hơn 1,5 triệu hồ sơ, đã giải quyết trên 1,46 triệu hồ sơ, trong đó hồ sơ quá hạn là 1.501, chiếm 0,1%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ, cấp kết quả điện tử đạt 99,21%; khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 99,66%; thanh toán trực tuyến đạt 91,12%. Tỷ lệ hài lòng khi giải quyết thủ tục hành chính đạt 99,24%.

    Về số hồ sơ quá hạn, nguyên nhân là do sự phối hợp thẩm định giữa các phòng chuyên môn chưa chặt chẽ, một bộ phận công chức, viên chức mới tiếp cận công việc chưa nắm rõ quy định, quy trình tham mưu, trình ký còn chậm. Một số trường hợp gặp lỗi kỹ thuật, dữ liệu giữa hệ thống của bộ, ngành, tỉnh với Cổng Dịch vụ công quốc gia chưa thống nhất.

    Tây Ninh đặt mục tiêu xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp. (Ảnh: Minh Phú/TTXVN)

    Lĩnh vực đất đai tiếp nhận 67.769 hồ sơ, giải quyết 59.250 hồ sơ, còn 248 hồ sơ quá hạn, chiếm 0,42%. Nguyên nhân chủ yếu do phải xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng, thông tin địa chính; dữ liệu chưa đồng bộ, một số hồ sơ phải bổ sung hoặc chờ xác định nghĩa vụ tài chính.

    Trong khi đó, tư pháp-hộ tịch đã giải quyết 41.973 hồ sơ, tất cả trước hạn hoặc đúng hạn. Liên thông dữ liệu dân cư giúp giảm số lần người dân liên hệ cơ quan nhà nước, song có thời điểm dữ liệu chưa đầy đủ, cập nhật chậm, khiến một số hồ sơ phải xác minh, điều chỉnh.

    Toàn tỉnh có 5.499 cán bộ, công chức, gồm 1.523 người cấp tỉnh và 3.976 người cấp xã; cùng 7.881 viên chức cấp tỉnh và 28.031 viên chức cấp xã. Sau sắp xếp, việc cán bộ kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực tăng, tạo áp lực về khối lượng công việc và phối hợp đa lĩnh vực; năng lực ứng dụng công nghệ chưa đồng đều, cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng. Một bộ phận người dân, doanh nghiệp, nhất là vùng sâu, vùng xa, người cao tuổi, còn khó tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.

    Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh Phạm Tấn Hòa thông tin, việc chuyển đổi số ở tỉnh vẫn còn những điểm nghẽn, nhất là sự chưa đồng bộ giữa các hệ thống. Cán bộ, công chức, viên chức phải vận hành nhiều hệ thống thông tin do các bộ, ngành triển khai với khác biệt về tài khoản, giao diện, quy trình và yêu cầu cập nhật dữ liệu, dẫn đến thao tác trùng lặp, tăng thời gian, nhân lực và nguy cơ sai sót. Để chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính vận hành đồng bộ, cần tháo gỡ từ những vấn đề mang tính nền tảng.

    Trước hết, một số quy định pháp luật, quy trình, thủ tục chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; việc cập nhật địa giới hành chính, tên gọi và thẩm quyền trên các hệ thống còn mất nhiều thời gian. Hạ tầng hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của bộ, ngành và Cổng Dịch vụ công quốc gia có lúc còn chậm; kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa một số hệ thống chưa đồng bộ.

    Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Mỹ Yên, tỉnh Tây Ninh. (Ảnh: Đức Hạnh/TTXVN)

    Từ thực tế này, tỉnh kiến nghị các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục hành chính trên môi trường điện tử theo hướng thống nhất, đồng bộ, dễ thực hiện và lấy dữ liệu làm nền tảng; sớm điều chỉnh các quy định về thẩm quyền, quy trình liên thông, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp phù hợp mô hình mới. Các bên liên quan cần xác định rõ dữ liệu gốc, dữ liệu chủ, đơn vị chủ trì và trách nhiệm của địa phương trong xây dựng cơ sở dữ liệu, tránh tình trạng đầu tư, xây dựng trùng lắp.

    Tỉnh cũng đề nghị sớm hoàn thiện Cổng Dịch vụ công quốc gia, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của các bộ, ngành và cơ sở dữ liệu quốc gia; khắc phục lỗi kỹ thuật, nâng cao tính ổn định, khả năng liên thông, hiệu năng của các hệ thống dùng chung và tăng cường đầu mối hỗ trợ kỹ thuật khi xảy ra sự cố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ.

    Cơ quan chức năng cần có chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu, thống nhất về quản trị dữ liệu, số hóa hồ sơ, khai thác cơ sở dữ liệu, an toàn thông tin và vận hành quy trình điện tử; ban hành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ dùng chung để hạn chế tình trạng cùng một quy định nhưng cách hiểu, cách thực hiện khác nhau giữa các cơ quan, đơn vị.

    Với nền tảng hạ tầng đang được củng cố, 100% xã, phường đã được phủ sóng 5G, tỷ lệ phủ sóng 5G trên dân số đạt 91%, tỷ lệ hộ gia đình kết nối cáp quang đạt 96,25%, cùng tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt trên 99%, Tây Ninh đang có những điều kiện quan trọng để chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu.

    Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tiếp theo không chỉ là có thêm bao nhiêu nền tảng số hay đưa thêm bao nhiêu thủ tục lên môi trường trực tuyến, mà là làm cho các hệ thống “nói chuyện” được với nhau, dữ liệu được dùng lại đúng lúc, cán bộ giảm thao tác thủ công và người dân thực sự giảm thời gian, chi phí khi thực hiện thủ tục.

    Đây cũng là hướng để Tây Ninh tiếp tục lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ số làm công cụ và người dân, doanh nghiệp làm trung tâm trong xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và phục vụ hiệu quả hơn./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/tay-ninh-dong-bo-cac-giai-phap-nang-cao-chat-luong-nen-hanh-chinh-so-c55899711.epi

  • Điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, tổng vốn hơn 289.000 tỷ đồng

    Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Ảnh: Quochoi.vn

    Tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được điều chỉnh một số nội dung quan trọng về phạm vi, quy mô, công nghệ, nhu cầu sử dụng đất, số dân tái định cư và tổng mức đầu tư. Dự án có tổng mức đầu tư sơ bộ 289.339 tỷ đồng, phấn đấu hoàn thành cơ bản chậm nhất vào năm 2030.

    Theo Nghị quyết, phạm vi dự án được xác định với điểm đầu tại vị trí nối ray qua biên giới thuộc tỉnh Lào Cai, điểm cuối tại ga Nam Hải Phòng. Tuyến chính có chiều dài khoảng 363km, các tuyến nhánh khoảng 63km, đi qua địa phận 6 tỉnh, thành phố gồm Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng.

    Về quy mô, dự án đầu tư mới đường đôi đoạn từ ga Bắc Hồng đến ga Nam Hải Phòng và đoạn từ ga Yên Viên đến ga Gia Lâm; các đoạn tuyến còn lại được đầu tư đường đơn.

    Tuyến sử dụng khổ đường 1.435mm, vận chuyển chung hành khách và hàng hóa. Tốc độ thiết kế 160km/giờ đối với đoạn từ ga Lào Cai đến ga Nam Hải Phòng; 120km/giờ đối với đoạn qua khu vực đầu mối thành phố Hà Nội và 80km/giờ đối với các đoạn tuyến còn lại.

    Về công nghệ, dự án áp dụng công nghệ đường sắt chạy trên ray. Sức kéo điện được sử dụng cho tuyến chính và đoạn tuyến nhánh nối từ ga Yên Viên đến ga Gia Lâm. Đối với các tuyến nhánh kết nối cảng biển, trước mắt sử dụng sức kéo diesel và sẽ chuyển đổi sang đầu máy sử dụng năng lượng sạch trong tương lai.

    Một nội dung đáng chú ý được điều chỉnh là phạm vi thu hồi đất và nhu cầu sử dụng đất của dự án. Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy mô quy hoạch, trong đó đường đôi đối với đoạn từ ga Lào Cai đến ga Nam Hải Phòng và đoạn từ ga Yên Viên đến ga Gia Lâm; đường đơn đối với các đoạn tuyến còn lại.

    Sơ bộ tổng nhu cầu sử dụng đất của dự án khoảng 2.075ha. Trong đó, đất trồng lúa khoảng 784ha, gồm khoảng 534ha đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên; đất lâm nghiệp khoảng 897ha và các loại đất khác theo quy định của pháp luật về đất đai khoảng 394ha. Diện tích trên không bao gồm khoảng 1.048ha đất mỏ vật liệu và bãi đổ thải sẽ được bàn giao cho các địa phương sau khi hoàn thành dự án. Sơ bộ số dân tái định cư của dự án khoảng 25.544 người.

    Nghị quyết điều chỉnh sơ bộ tổng mức đầu tư dự án lên 289.339 tỷ đồng. Về tiến độ, dự án thực hiện lập báo cáo nghiên cứu khả thi từ năm 2025, phấn đấu hoàn thành cơ bản chậm nhất vào năm 2030. Đáng chú ý, đoạn tuyến nhánh kết nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn sẽ được đầu tư đồng bộ với tiến độ đầu tư khu bến Nam Đồ Sơn.

    Theo Nghị quyết, UBND thành phố Hải Phòng chịu trách nhiệm huy động vốn và bảo đảm hiệu quả đầu tư đoạn tuyến nhánh nối ga Nam Hải Phòng với ga Nam Đồ Sơn, khu bến Nam Đồ Sơn, bảo đảm khai thác đồng bộ các công trình, không gây thất thoát, lãng phí. Bộ Xây dựng có trách nhiệm hỗ trợ UBND thành phố Hải Phòng trong quản lý thực hiện đầu tư đoạn tuyến nhánh này.

    Quốc hội đồng thời yêu cầu Chính phủ chịu trách nhiệm về các nội dung, thông tin, số liệu trong hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án; xác định sơ bộ tổng mức đầu tư đúng yêu cầu, tiêu chuẩn, định mức theo quy định pháp luật.

    Chính phủ cũng có trách nhiệm kiểm soát về công nghệ, kỹ thuật, bảo đảm dự án tiên tiến, đồng bộ, an toàn, kết nối thuận lợi và chủ động trong vận hành, bảo trì. Nghị quyết cũng quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân đồng thuận với việc điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án và giám sát việc thực hiện.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm giám sát việc thực hiện dự án. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán dự án theo quy định.

    Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh thừa ủy quyền của Chính phủ đã có báo cáo tiếp thu, giải trình. Chính phủ khẳng định việc điều chỉnh chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, trong đó đầu tư đường đôi trên các đoạn tuyến quan trọng, được tính toán trên cơ sở quy hoạch, nhu cầu vận tải, điều kiện kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Nếu đầu tư đường đôi ngay đoạn Hà Nội – Hải Phòng thay vì phân kỳ, có thể tiết kiệm khoảng 12.587 tỷ đồng.

    Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Ảnh: Quochoi.vn

    Trước yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chi phí, Chính phủ cho biết sẽ chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ các loại chi phí, hạn chế tối đa việc tiếp tục phải điều chỉnh tổng mức đầu tư trong quá trình thực hiện dự án. Chủ đầu tư cũng có trách nhiệm gửi hồ sơ tổng mức đầu tư đã hoàn thiện theo báo cáo thẩm định cho Kiểm toán Nhà nước để thực hiện kiểm toán làm cơ sở phê duyệt dự án.

    Giải trình về việc lựa chọn phương án hoàn thiện đường đôi ngay trong giai đoạn 2026-2030, Chính phủ cho rằng phương án này được xem xét trên nhiều yếu tố, gồm quy hoạch, nhu cầu vận tải, điều kiện kỹ thuật và hiệu quả đầu tư.

    Đối với đoạn Yên Viên – Gia Lâm, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và Quy hoạch mạng lưới đường sắt điều chỉnh xác định đoạn tuyến này có quy mô đường đôi, khổ 1.435mm. Ga Gia Lâm được xác định là ga đầu mối hành khách phía Bắc, kết hợp đường sắt đô thị và đường sắt quốc gia, kết nối 5 tuyến đường sắt quốc gia và 3 tuyến đường sắt đô thị.

    Theo dự báo, đến năm 2035, nhu cầu khai thác trên đoạn Yên Viên – Gia Lâm khoảng 46 đôi tàu khách/ngày đêm, vượt năng lực thực tế của đường đơn, khoảng 42 đôi tàu/ngày đêm.

    Chính phủ cũng cho rằng đoạn tuyến nằm sâu trong nội thành Hà Nội, việc giải phóng mặt bằng khó khăn. Nếu chỉ đầu tư đường đơn rồi mở rộng thành đường đôi trong tương lai sẽ gây khó khăn cho tổ chức giao thông và thi công, do có nhiều dự án, công trình chồng lấn hành lang hoặc giao cắt với tuyến.

    Việc đầu tư đường đôi ngay được đánh giá sẽ tăng khả năng kết nối với mạng lưới đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị Hà Nội, tạo điều kiện phát triển đô thị khu vực ga Gia Lâm theo mô hình TOD (mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng). Theo tính toán của tư vấn, phương án này giúp tiết kiệm khoảng 8 phút di chuyển từ khu vực trung tâm Hà Nội, mang lại lợi ích kinh tế khoảng 10,5 tỷ đồng mỗi năm.

    Đình Hiệp

    Nguồn https://baomoi.com/dieu-chinh-chu-truong-dau-tu-tuyen-duong-sat-lao-cai-ha-noi-hai-phong-tong-von-hon-289-000-ty-dong-c55899966.epi

  • Chung cư cũ gần 40 năm tuổi sắp thành cao ốc 21 tầng, cư dân mong chờ

    Nằm ở vị trí đắc địa giữa phố cổ, chung cư 23 Hàng Tre đã trải qua gần 40 năm sử dụng với nhiều dấu hiệu xuống cấp. Những dãy “chuồng cọp” chằng chịt, dây điện đấu nối thiếu đồng bộ, cầu thang ẩm mốc… đang dần trở thành hình ảnh cũ khi nơi đây dự kiến được thay thế bằng tòa nhà 21 tầng. Nhiều cư dân kỳ vọng điều kiện sống được cải thiện và mong được tái định cư tại chỗ.

    Mời quý vị và các bạn xem video dưới đây:

    PV

    Nguồn https://baomoi.com/chung-cu-cu-gan-40-nam-tuoi-sap-thanh-cao-oc-21-tang-cu-dan-mong-cho-c55899592.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!