Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Kiểm tra việc đấu thầu, nhập gạo dự trữ quốc gia

    Không làm ảnh hưởng đến tiến độ mua, nhập gạo dự trữ

    Từ ngày 10/8 đến 10/9/2026, Cục Dự trữ Nhà nước tổ chức kiểm tra việc đấu thầu mua gạo dự trữ quốc gia và nhập 300.000 tấn gạo vào kho dự trữ năm 2026 tại 7 Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực.

    Theo đó, hai Đoàn kiểm tra của Cục Dự trữ Nhà nước sẽ tiến hành kiểm tra tại các Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I, III, IV, VI, VII, VIII và IX. Nội dung kiểm tra tập trung vào công tác đấu thầu mua gạo, tổ chức nhập gạo dự trữ, chất lượng gạo nhập kho và công tác chỉ đạo, điều hành của các đơn vị.

    Bốc xếp gạo tại điểm kho Đông Anh thuộc Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I. Ảnh: Đức Minh

    Theo lãnh đạo Cục Dự trữ Nhà nước, mục tiêu của đợt kiểm tra nhằm đánh giá toàn diện, khách quan việc tổ chức đấu thầu mua gạo dự trữ quốc gia; việc tuân thủ các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và hợp đồng trong quá trình tổ chức nhập gạo tại các đơn vị.

    Việc kiểm tra được yêu cầu thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên hồ sơ, tài liệu và số liệu cụ thể; bảo đảm trung thực, khách quan, đúng quy định pháp luật. Các kết luận, kiến nghị sau kiểm tra phải đúng thẩm quyền, có căn cứ, xác định rõ trách nhiệm và bảo đảm tính khả thi.

    Đáng chú ý, quá trình kiểm tra phải được thực hiện theo hướng không làm gián đoạn hoặc ảnh hưởng đến tiến độ mua, nhập gạo dự trữ của các Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực.

    Lãnh đạo Cục Dự trữ Nhà nước cho biết, thông qua đợt kiểm tra để đánh giá thực chất công tác đấu thầu, mua và nhập gạo dự trữ quốc gia; kịp thời nhận diện những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm việc mua, nhập đủ số lượng, đúng chất lượng và tiến độ, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo đảm an ninh lương thực trong công tác dự trữ quốc gia.

    Đoàn kiểm tra của Cục Dự trữ Nhà nước sẽ rà soát toàn bộ quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, từ việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; xây dựng, thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu điện tử (E-HSMT) đến việc đăng tải, làm rõ, sửa đổi E-HSMT; trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu; hoàn thiện, ký kết và quản lý thực hiện hợp đồng theo quy định của Luật Đấu thầu, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 4/8/2025 của Chính phủ và Thông tư số 79/2025/TT-BTC ngày 4/8/2025 của Bộ Tài chính cùng các văn bản liên quan.

    Một nội dung đáng chú ý trong đợt kiểm tra là việc so sánh hồ sơ mời thầu, tiến độ tổ chức lựa chọn nhà thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu giữa các đơn vị.

    Cụ thể, Đoàn kiểm tra sẽ đối chiếu giữa những đơn vị có kết quả trúng thầu 100% ngay trong lần đầu với các đơn vị phải chào lại giá, gia hạn chào lại giá hoặc không lựa chọn được nhà thầu. Qua đó, làm rõ nguyên nhân của những khác biệt trong kết quả đấu thầu, trong đó xem xét các yếu tố như biến động thị trường, giá kế hoạch, thời điểm tổ chức đấu thầu, điều kiện mùa vụ, khối lượng gói thầu, yêu cầu kỹ thuật và các tiêu chí trong hồ sơ mời thầu.

    Đoàn kiểm tra cũng rà soát sự phù hợp của các mốc thời gian trong quá trình đấu thầu và thực hiện hợp đồng, nhất là thời gian mở thầu, thời gian đánh giá hồ sơ E-HSDT, thời hạn hoàn thiện và ký kết hợp đồng, thời hạn giao hàng và nhập hàng.

    Việc kiểm tra này nhằm đánh giá tính phù hợp của tiến độ thực tế với yêu cầu đặt ra, đồng thời kịp thời nhận diện những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tiến độ mua và nhập gạo dự trữ quốc gia.

    Kiểm soát chặt chất lượng gạo nhập kho

    Song song với công tác đấu thầu, Đoàn kiểm tra sẽ kiểm tra hồ sơ chất lượng đối với gạo nhập kho. Các hồ sơ được rà soát gồm: chứng thư giám định, phiếu kiểm tra chất lượng, phiếu kiểm nghiệm, biên bản lấy mẫu, mẫu lưu, biên bản giao nhận, biên bản nhập đầy lô và các hồ sơ, chứng từ có liên quan.

    Đoàn sẽ kiểm tra việc bố trí kho nhập hàng, máy móc, thiết bị chuyên dụng, công cụ, dụng cụ, nhân lực phục vụ nhập hàng; điều kiện cân, bốc xếp, kê lót, vệ sinh kho, phòng chống ẩm mốc, phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động và các điều kiện bảo đảm nhập hàng đúng tiến độ, đúng chất lượng.

    Đồng thời, kiểm tra việc kê xếp lô gạo, nhập đầy lô, bảo quản lần đầu, ghi chép hồ sơ kho, hồ sơ giao nhận, sổ theo dõi chất lượng, sổ bảo quản. Cùng với đó là việc thực hiện trách nhiệm của thủ kho, kỹ thuật viên, bộ phận kế hoạch, kế toán và hội đồng giao nhận, nhập kho theo phân công của từng Chi cục.

    Ngoài các nội dung trên, Đoàn kiểm tra sẽ rà soát công tác kiểm soát nhập hàng của các Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực; việc phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, điểm kho, thủ kho, kỹ thuật viên và công chức được giao nhiệm vụ; việc theo dõi, đôn đốc tiến độ giao hàng, nhập kho. Qua đó, đánh giá khả năng tổ chức thực hiện của từng đơn vị và việc chủ động xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình nhập gạo.

    Cục Dự trữ Nhà nước yêu cầu, các chi cục dự trữ nhà nước khu vực thuộc diện kiểm tra chuẩn bị báo cáo khi Đoàn triển khai kiểm tra và các văn bản khác có liên quan tới nội dung kiểm tra.

    Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I: Kịp thời nhập, xuất cấp hàng dự trữ quốc gia

    Năm 2026, Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I được giao tổ chức mua, nhập kho 25.800 tấn gạo tại các điểm kho trực thuộc. Triển khai nhiệm vụ được giao, lãnh đạo Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I đã chỉ đạo các phòng chuyên môn và các điểm kho dự trữ chủ động rà soát, chuẩn bị đầy đủ kho tàng, trang thiết bị, vật tư, nhân lực và các điều kiện cần thiết phục vụ công tác tiếp nhận, kiểm tra, nhập kho và bảo quản gạo dự trữ quốc gia.

    Chi cục đã xây dựng kế hoạch triển khai khoa học, phân công rõ trách nhiệm cho từng phòng chuyên môn, điểm kho dự trữ và cá nhân có liên quan. Công tác lựa chọn nhà thầu được đơn vị thực hiện công khai, minh bạch trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và quy định của pháp luật.

    Mặc dù khối lượng công việc lớn, thời gian thực hiện tập trung, quá trình giao nhận chịu tác động của thời tiết, nguồn cung và phương tiện vận chuyển, nhưng đơn vị đã nỗ lực vượt qua khó khăn. Đến hết ngày 29/7/2026, Chi cục đã hoàn thành nhập kho 25.800 tấn gạo, đạt 100% kế hoạch, bảo đảm yêu cầu về số lượng, chất lượng, tiến độ và an toàn hàng dự trữ quốc gia.

    Bên cạnh hoàn thành nhập hàng dự trữ, Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I đã xuất cấp kịp thời các mặt hàng dự trữ quốc gia. Trong nửa đầu năm 2026, đơn vị đã hoàn thành xuất cấp vật tư, thiết bị dự trữ quốc gia và lương thực. Cụ thể, về xuất vật tư, thiết bị, Chi cục đã thực hiện xuất cấp 3 bộ máy phát điện loại 150 KVA cho Bộ Y tế. Về xuất bán lương thực, đơn vị đã hoàn thành việc xuất bán hơn 2.364 tấn gạo nhập kho dự trữ năm 2024. Về xuất hỗ trợ, cứu trợ, viện trợ, đơn vị đã hoàn thành xuất hơn 9.857 tấn gạo.

    Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực I cũng tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng hàng nhập, xuất kho dự trữ, đảm bảo chất lượng hàng dự trữ khi xuất cấp hỗ trợ, cứu trợ.

    Nguyễn Ngân

    Nguồn https://baomoi.com/kiem-tra-viec-dau-thau-nhap-gao-du-tru-quoc-gia-c55888371.epi

  • Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Lữ Thanh Hải khảo sát các khu đất thực hiện dự án điện gió

    Sáng 22-8, đồng chí Lữ Thanh Hải – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Khánh Hòa dẫn đầu đoàn công tác khảo sát thực tế các khu đất dự kiến đưa vào danh mục đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh.

    Đồng chí Lữ Thanh Hải khảo sát thực tế tại Dự án Nhà máy điện gió Nexif Energy Khánh Hòa 1.

    Đoàn đã khảo sát 3 khu vực dự kiến triển khai các dự án điện gió tại các xã: Nam Cam Ranh, Công Hải, Cam Lâm, Cam An, Đông Khánh Sơn và phường Ba Ngòi. Theo hồ sơ UBND tỉnh trình HĐND tỉnh, 3 dự án được khảo sát gồm: Nhà máy điện gió EEC Khánh Hòa, Nhà máy điện gió TDX Khánh Hòa 1 và Nhà máy điện gió Nexif Energy Khánh Hòa 1. Đây là 3 trong số 8 dự án năng lượng UBND tỉnh đề nghị bổ sung vào danh mục khu đất thực hiện đấu thầu dự án có sử dụng đất.

    Đồng chí Lữ Thanh Hải phát biểu tại buổi làm việc với các sở, ngành, địa phương liên quan đến các dự án.

    Trong đó, Nhà máy điện gió EEC Khánh Hòa dự kiến thực hiện tại xã Nam Cam Ranh và xã Công Hải, công suất 100MW, diện tích sử dụng đất có thời hạn khoảng 34,95ha. Hiện trạng khu vực dự án gồm đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ và các loại đất nông nghiệp khác. Dự án có trong Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và phù hợp với điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Nhà máy điện gió TDX Khánh Hòa 1 dự kiến triển khai tại xã Cam Lâm, công suất 100MW, diện tích sử dụng đất có thời hạn khoảng 6,614ha. Dự án chủ yếu nằm trên biển, nơi dự kiến bố trí các tua-bin; phần diện tích trên đất liền gồm trạm biến áp và tuyến đường dây đấu nối.

    Lãnh đạo Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh báo cáo tại buổi làm việc.

    Nhà máy điện gió Nexif Energy Khánh Hòa 1 dự kiến thực hiện tại phường Ba Ngòi và các xã Đông Khánh Sơn, Cam An, công suất 102MW, diện tích sử dụng đất có thời hạn khoảng 35,6ha. Hiện trạng khu vực có đất rừng phòng hộ, rừng sản xuất và một phần diện tích là rừng trồng. Dự án đã được xác định trong phương án phát triển nguồn điện và mạng lưới cấp điện thuộc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh.

    Lãnh đạo Sở Công Thương báo cáo tại buổi làm việc.

    Tại các điểm khảo sát, đoàn công tác nghe lãnh đạo các sở, ngành, địa phương báo cáo hiện trạng sử dụng đất, phạm vi dự kiến triển khai dự án và những vấn đề liên quan đến quy hoạch, đất đai, lâm nghiệp cùng các thủ tục pháp lý có liên quan.

    Lãnh đạo xã Đông Khánh Sơn báo cáo tại buổi làm việc.

    Sau khi khảo sát thực tế và nghe ý kiến của các cơ quan, đơn vị, đồng chí Lữ Thanh Hải yêu cầu UBND tỉnh tiếp tục rà soát kỹ cơ sở pháp lý triển khai các dự án, bảo đảm đầy đủ, chặt chẽ và đúng quy định. Sau khi hoàn thiện các thủ tục có liên quan, UBND tỉnh xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chủ trương triển khai các dự án trước khi trình HĐND tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

    MẠNH HÙNG

    Nguồn https://baomoi.com/pho-chu-tich-thuong-truc-hdnd-tinh-lu-thanh-hai-khao-sat-cac-khu-dat-thuc-hien-du-an-dien-gio-c55888369.epi

  • Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kiểm tra tiến độ Dự án Khu công nghiệp Võ Lao

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Dự án có diện tích quy hoạch 482,6 ha, tổng vốn đăng ký hơn 5.171 tỷ đồng. Theo kế hoạch, dự án được triển khai làm 2 giai đoạn; trong đó, giai đoạn 1 có quy mô 200 ha, dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trong quý III/2029; giai đoạn 2 có quy mô 282,6 ha, dự kiến hoàn thành trong quý IV/2032.

    Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền xã Võ Lao đã thành lập Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc và các tổ kiểm tra chuyên đề phục vụ công tác giải phóng mặt bằng; tổ chức tuyên truyền, vận động, gặp gỡ các hộ dân trong vùng dự án.

    Lãnh đạo xã Võ Lao báo cáo tình hình triển khai dự án.

    Đến ngày 21/8, địa phương đã xác lập biên bản thực địa đối với 99/99 hộ dân; kiểm tra tình hình sử dụng đất, xây dựng đối với 39/99 hộ.
    Đối với công tác giải phóng mặt bằng, xã Võ Lao đang phối hợp với chủ đầu tư hoàn thiện tiến độ dự án làm cơ sở xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí giải phóng mặt bằng.

    Tuy nhiên, tiến độ đo đạc, trích đo địa chính còn chậm; đến ngày 21/8, xã mới tiếp nhận 1.900/11.000 bản trích đo địa chính. Bên cạnh đó, địa phương còn gặp khó khăn về nhân lực thực hiện giải phóng mặt bằng và triển khai khu tái định cư.

    Lãnh đạo Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh trả lời một số kiến nghị của địa phương.

    Tại buổi làm việc, đại diện các sở, ngành đã trao đổi, làm rõ những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của địa phương trong quá trình triển khai dự án.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh kết luận buổi làm việc.

    Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh đánh giá cao sự chủ động của cấp ủy, chính quyền địa phương; đồng thời chỉ đạo xã Võ Lao tiếp tục làm tốt công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục để ban hành thông báo thu hồi đất.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các sở, ngành tăng cường phối hợp, hỗ trợ địa phương tháo gỡ từng khó khăn, vướng mắc; nhà đầu tư phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, bám sát kế hoạch triển khai các khu công nghiệp của tỉnh, tăng cường nhân lực, chủ động nguồn lực tài chính và các điều kiện hạ tầng để đẩy nhanh tiến độ dự án.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách của Nhà nước. Quá trình giải phóng mặt bằng phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, không để người dân bị thiệt thòi; đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp lợi dụng chính sách để trục lợi, gây mất an ninh, trật tự.

    Trước đó, đồng chí Nguyễn Thành Sinh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã khảo sát khu vực giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. (Ảnh trên)

    Mạnh Dũng – Nông Văn Quý

    Nguồn https://baomoi.com/pho-chu-tich-ubnd-tinh-nguyen-thanh-sinh-kiem-tra-tien-do-du-an-khu-cong-nghiep-vo-lao-c55888414.epi

  • ‘Mặc áo mới’ cho trụ sở dôi dư

    Nếu các địa phương, đơn vị không sớm đưa tài sản công trên vào sử dụng, sẽ gây hư hại tài sản và đáng nói hơn là lãng phí nguồn lực của nhà nước. Trước thực tế này, tỉnh Hưng Yên đã và đang thực hiện lộ trình “mặc áo mới” cho trụ sở dôi dư với tinh thần nâng cao hiệu quả sử dụng, tăng nguồn thu cho ngân sách, chống lãng phí, trục lợi.

    Xã Hoàn Long (Hưng Yên) đã chuyển đổi toàn bộ trụ sở UBND xã Đồng Than cũ với diện tích khoảng 3.000m² thành 9 phòng học cho Trường Tiểu học Đồng Than. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

    Khẩn trương triển khai để tránh lãng phí

    Sau khi sắp đơn vị hành chính, tỉnh Hưng Yên dôi dư trụ sở của Sở Tài nguyên và Môi trường cũ tại địa chỉ 437 đường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến (Hưng Yên). Đây vốn là tòa nhà 5 tầng, được xây dựng kiên cố với hàng vài chục phòng làm việc. Để công trình không bị xuống câp cũng như phát huy được giá trị sử dụng, tỉnh Hưng Yên đã thống nhất và khẩn trương bàn giao trụ sở trên cho Chi cục Hải quan khu vực IV, ngay sau khi tỉnh Hưng Yên mới được thành lập 1/7/2025.

    Ngay sau khi tiếp quản trụ sở, Chi cục Hải quan khu vực IV đã tiến hành khảo sát, thuê đơn vị tư vấn, lập thiết kế, bố trí lại công năng các phòng làm việc và triển khai các bước sửa chữa, nâng cấp tòa nhà.

    Từ những mảng tường cũ, có phần xuống cấp, tòa nhà đã khoác lên mình “áo mới” với màu sơn xanh dịu nhẹ, xen lẫn là đường phào chỉ sơn trắng. Cùng với chỉnh sửa kiến trúc, công năng tòa nhà, đơn vị tiếp nhận cũng thực hiện chỉnh trang khuôn viên sân vườn, tiểu cảnh, tạo điểm nhấn kiến trúc cho tuyến đường Nguyễn Văn Linh. Dự kiến, tòa nhà sẽ được Chi cục Hải quan số 4 đưa vào sử dụng từ tháng 10 năm nay – là nơi làm việc của khoảng 100 cán bộ, nhân viên.

    Xã Hoàn Long (Hưng Yên) được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 xã: Đồng Than, Hoàn Long (huyện Yên Mỹ cũ) và xã Đông Tảo (huyện Khoái Châu cũ). Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, xã Hoàn Long cũng đứng trước những băn khoăn về việc thừa – thiếu trụ sở. Tức là thừa nơi làm việc của công chức nhưng thiếu trường, lớp học cho học sinh. Sau khi, nhận thấy sự bất cập này, xã Hoàn Long đã chủ động tìm cách tháo gỡ, theo hướng, chuyển công năng trụ sở thành trường học.

    Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Hưng Yên cũ đang được sửa chữa để bàn giao cho đơn vị mới sử dụng. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

    Chia sẻ về việc làm kịp thời, mang lại lợi ích to lớn cho lĩnh vực giáo dục xã nhà, ông Đặng Xuân Lương, Bí thư Đảng ủy xã Hoàn Long cho biết, ban đầu sau khi xã được thành lập, trụ sở UBND xã Đồng Than (cũ) được xã sắp xếp thành nơi làm việc của các ban Đảng và Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã. Tuy nhiên, trước yêu cầu về trường, lớp học cho học sinh trong năm học mới, xã quyết định chuyển nơi làm việc của các khối trên về xã Đông Tảo (cũ), để biến công năng trụ sở thành trường tiểu học. Sau khi ý tưởng được hình thành, xã đã tiến hành các bước để cải tạo sửa chữa với thời gian thủ tục được thực hiện theo hướng “thần tốc” nhằm kịp đón học sinh trong năm học mới 2026-2027.

    Từ trụ sở khoảng 3.000m2 đến nay đã thành khu học tập của Trường Tiểu học Đồng Than, với phòng 9 phòng học khang trang, hiện đại, thơm mùi sơn mới. Bí thư Đảng ủy xã Hoàn Long nhấn mạnh: Không chỉ biến chức năng trụ sở thành trường học thông thường mà xã đã có tư duy và tầm nhìn lâu dài để sau khi cải tạo, các phòng học không bị lỗi thời. Ngoài phòng học có diện tích theo tiêu chuẩn, thì tại mỗi tầng, xã bố trí xây dựng thêm 1 nhà vệ sinh tiêu chuẩn cao nhất của đô thị hiện nay để phục vụ học sinh.

    Trong “cái khó ló cái khôn”, việc làm trên, tưởng chừng chỉ là việc giải quyết tình thế nhưng không phải địa phương nào cũng có thể quyết định là triển khai nhanh chóng như vậy. Điều này thể hiện rõ tinh thần cơ sở làm, cơ sở chịu trách nhiệm; giải quyết căn bản tình trạng thiếu phòng học, tạo không gian học tập liền mạch, thuận lợi cho công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục.

    Cô giáo Chu Thị Nhung, có 2 năm giảng dạy tại điểm trường của trường Tiểu học Đồng Than, không giấu được niềm phấn khởi khi nhìn ngắm những phòng học khang trang, sẵn sàng đón học sinh trong năm học mới. Cô Nhung chia sẻ: “Có thêm phòng học đồng nghĩa giáo viên sẽ thuận lợi hơn trong tổ chức dạy học, học sinh cũng được học tập trong điều kiện tốt hơn, không còn cảnh phải học nhờ hay lớp học quá đông như trước”.

    Cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý

    Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương về sắp xếp, xử lý trụ sở, nhà đất dôi dư, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều văn bản chỉ đạo các sở ngành, địa phương rà soát, quản lý, sắp xếp. Đáng chú ý, ngày 22/5/2026, Tỉnh ủy Hưng Yên có Kế hoạch số 76-KH/TU về việc chỉ đạo hoàn thành việc rà soát, xử lý bố trí cơ sở nhà đất dôi dư. Tỉnh ủy Hưng Yên yêu cầu tăng cường vai trò của các cấp ngành, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát, tháo gỡ vướng mắc khó khăn, sớm đưa vào khai thác, sử dụng các cơ sở nhà đất dôi dư, chống thất thoát lãng phí, khơi thông nguồn lực đất đai, tài chính để phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

    Trụ sở tòa tháp đôi của Sở Tài chính và Sở Công thương (tỉnh Thái Bình cũ) được sửa chữa, cải tạo trở thành cơ sở 2 của Trường Đại học Thái Bình. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

    Tại phường Vũ Phúc (Hưng Yên) ghi nhận có 10 cơ sở nhà, đất dôi dư. Căn cứ vào các chỉ đạo của tỉnh, địa phương đã trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý 100%, cơ sở nhà, đất dôi dư. Trong đó, trụ sở Đảng ủy, UBND, HĐND phường Phú Khánh cũ được được chuyển cho Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường Vũ Phúc. Trụ sở Đảng ủy, HÐND, UBND xã Trung An (cũ), được bàn giao cho Công an phường Vũ Phúc quản lý, sử dụng. Còn lại, số nhà, đất dôi dư đang được địa phương thực hiện phương án xử lý đấu giá quyền sử dụng đất, gắn liền với việc thanh lý tài sản trên đất.

    Với xã Vũ Thư (Hưng Yên) cũng đang thực hiện lộ trình chuyển công năng sử dụng một số nhà đất dôi dư sang cơ sở giáo dục. Cụ thể, chuyển trụ sở UBND xã Tân Lập sang thành trường THCS Tân Lập.

    Còn phường Trần Hưng Đạo (Hưng Yên), có Trụ sở tòa tháp đôi Sở Tài chính và Sở Công Thương nằm trên tuyến phố Lê Lợi, sau gần 1 năm tạm dừng hoạt động do sắp xếp đơn vị hành chính, thì nay, tòa nhà được “mặc áo mới” khi trở thành cơ sở 2 thuộc quản lý của Trường Đại học Thái Bình. Hiện nhà trường đang hoàn thiện các thủ tục, đề nghị tỉnh bố trí kinh phí sửa chữa, cải tạo công năng để phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế.

    Theo Phó Giám đốc Sở Tài chính Hưng Yên Vũ Huy Hoàng, tính đến ngày 21/8, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư trên địa bàn tỉnh 974 cơ sở. Số cơ sở nhà, đất dôi dư đã được cấp thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý là 974/974 cơ sở. Trong đó, đã hoàn thành phương án xử lý 385 cơ sở; còn phải thực hiện 589 cơ sở. Kết quả trên cho thấy, các sở, ngành tỉnh Hưng Yên đã vào cuộc tích cực, khẩn trương, bước đầu mang lại hiệu quả nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí tài sản của nhà nước.

    Mặc dù vậy, quá trình thực hiện, một số địa phương cũng gặp không ít khó khăn vướng mắc. Từ thực tế triển khai tại địa phương, ông Nguyễn Quốc Huy, Chủ tịch UBND xã Tân Thuận đề xuất, các sở ngành liên quan cần hướng dẫn cấp xã về các tiêu chuẩn định mức bố trí sắp xếp tài sản công cho các đơn vị tiếp nhận. Cùng với đó, hỗ trợ địa phương trong công tác quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất trên địa bàn nhằm tránh lãng phí.

    Trụ sở của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên cũ đang được cải tạo, sửa chữa để bàn giao cho Chi cục Hải quan khu vực IV quản lý, sử dụng. Ảnh: Thế Duyệt/TTXVN

    Phó Chủ tịch UBND phường Vũ Phúc Vũ Tuấn Long cũng nêu rõ nguyên nhân của khó khăn vướng mắc mà địa phương đang gặp phải là tài sản công, đất đai được hình thành qua nhiều thời kỳ, trong khi hồ sơ pháp lý chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ. Ngoài ra, một số quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công hiện nay còn có nội dung cần tiếp tục hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tiễn sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhất là đối với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

    Từ những thực tiễn ở cơ sở, đòi hòi tỉnh Hưng Yên cần tiếp tục có những giải pháp tích cực và đồng bộ, cơ chế rõ ràng hơn để công tác quản lý, sử dụng nhà đất, trụ sở dôi dư được thực hiện hiệu quả, tránh lãng phí, hoang hóa, gây thất thu ngân sách; đảm bảo yêu cầu tiến độ của trung ương.

    Mạnh Khánh (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/mac-ao-moi-cho-tru-so-doi-du-c55888446.epi

  • Thủ tướng yêu cầu xử lý dứt điểm 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc

    Tại Công điện số 58 về việc khẩn trương cập nhật, rà soát, tổng hợp phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu xử lý dứt điểm hàng nghìn dự án, đất đai, gặp khó khăn, vướng mắc nhằm giải phóng nguồn lực cho mục tiêu phát triển, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.

    Thủ tướng Lê Minh Hưng.

    Tính đến ngày 31/7, có 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc; trong đó 3.984 dự án đã được các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện rà soát, phân loại thành 6 nhóm dự án; 635 dự án chưa được rà soát, phân loại.

    Nhằm giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, Thủ tướng yêu cầu yêu cầu các bí thư tỉnh ủy, thành ủy và bộ trưởng, trưởng ngành chịu trách nhiệm chỉ đạo rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn đọng.

    Người đứng đầu Chính phủ quán triệt những vấn đề thuộc thẩm quyền thì phải quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo rõ vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo đúng Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV.

    Nhấn mạnh tinh thần không để xảy ra trường hợp còn có dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài nhưng không được tổng hợp, Thủ tướng chỉ đạo hoàn thành xem xét xử lý, tháo gỡ các dự án có vướng mắc trước ngày 15/9.

    Lãnh đạo các địa phương chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng về việc không tổng hợp, thống kê đầy đủ danh mục dự án và việc chậm trễ triển khai ảnh hưởng tới tiến độ xử lý, tháo gỡ chung cho các dự án.

    Trên cơ sở thông tin và đề xuất của các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài được Bộ Tài chính tổng hợp và các địa phương gửi đến, Thủ tướng yêu cầu rà soát về sự cần thiết tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ cho các dự án do các địa phương, cơ quan đề xuất.

    Trường hợp các kiến nghị, đề xuất đã có quy định, các bộ, cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị khẩn trương có văn bản hướng dẫn để các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương (cơ quan giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án) tổ chức thực hiện ngay, sớm đưa dự án vào hoạt động.

    Trường hợp kiến nghị của cơ quan đề xuất dự án chưa có cơ sở pháp lý để tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng, yêu cầu cần báo cáo Chính phủ và Quốc hội, Thủ tướng yêu cầu cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị chủ động nghiên cứu giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phù hợp.

    Các bộ ngành được yêu cầu tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hoặc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để giải quyết khó khăn, vướng mắc theo chức năng quản lý Nhà nước của cơ quan.

    Trường hợp xác định thuộc phạm vi quản lý, trách nhiệm của bộ, cơ quan Trung ương khác, cơ quan được phân công chủ trì xử lý kiến nghị có văn bản đề nghị bộ, cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực để chủ trì xử lý.

    Thủ tướng giao Bộ Tài chính định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất tổng hợp, báo cáo Thủ tướng; kịp thời tham mưu, đề xuất việc biểu dương các đơn vị thực hiện tốt, cũng như xử lý trách nhiệm đối với các đơn vị, địa phương chậm trễ, không thực hiện nghiêm túc việc cập nhật số liệu và xử lý vướng mắc dự án.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/thu-tuong-yeu-cau-xu-ly-dut-diem-4-619-du-an-dat-dai-gap-kho-khan-vuong-mac-c55888490.epi

  • Trách nhiệm của cựu Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu Dương Thành Trung trong vụ bồi thường sai hơn 5,5 tỷ đồng

    Thu hồi hơn 41.000m² đất trước thời hạn

    Theo hồ sơ vụ án, tháng 6/2013, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau), đại diện UBND tỉnh ký hợp đồng cho Công ty TNHH MTV Thương mại – Dịch vụ Quốc Lâm (Công ty Quốc Lâm) thuê hơn 41.064m² đất, thời hạn thuê 50 năm (tới tháng 8/2062).

    Khu đất được Công ty Quốc Lâm thuê để xây dựng Công viên Văn hóa Trần Huỳnh, khu vui chơi, hồ bơi, sân khấu ngoài trời, khu triển lãm, hội chợ, khu giải khát và trưng bày sinh hoạt cảnh. Tiền thuê đất được xác định hơn 938 triệu đồng/năm, trả tiền hàng năm. Tới tháng 12/2017, tỉnh Bạc Liêu bổ sung khu trung tâm thương mại dịch vụ và nhà ở shophouse với diện tích hơn 43.856m².

    Tháng 1/2018, ông Dương Thành Trung – Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu khi đó, ký quyết định thành lập Tổ công tác 135 để kiểm tra việc đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng công viên Văn hóa Trần Huỳnh. Qua kiểm tra, Tổ công tác xác định dự án chậm tiến độ 37 tháng. Một số hạng mục xây dựng không phù hợp quy hoạch, không có giấy phép hoặc sai giấy phép xây dựng; khả năng đầu tư của Công ty Quốc Lâm còn hạn chế, số tiền còn nợ hơn 7,3 tỷ đồng.

    Doanh nghiệp sau đó thống nhất giao lại đất thuê trước thời hạn nếu Nhà nước có nhu cầu thu hồi để phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, với điều kiện được hỗ trợ phù hợp. Do đó, tháng 10/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ký quyết định thu hồi hơn 41.000m² đất của Công ty Quốc Lâm, giao Trung tâm Phát triển quỹ nhà và đất tỉnh quản lý.

    Sau khi có quyết định thu hồi đất, bị can Lê Quang Phục – Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm phát triển quỹ nhà và đất tỉnh Bạc Liêu ký quyết định thành lập tổ thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thuộc dự án trên. Đồng thời, bị can Hoàng Trung Cảnh – Trưởng Phòng Phát triển quỹ đất được giao làm Tổ trưởng.

    Qua hai đợt kiểm đếm vào tháng 10 và tháng 11/2018, các cơ quan chức năng lập biên bản xác định khối lượng, chất lượng đất và tài sản trên đất. Tuy nhiên, trong các biên bản này không có thiết bị của sân patin, phòng game, phòng game online và phòng chiếu phim 5D.

    Công viên văn hóa Trần Huỳnh trước khi thu hồi đất của Công ty Quốc Lâm để giao cho nhà đầu tư mới.

    Ngày 25/10/2018, Trung tâm Phát triển quỹ nhà và đất lập phương án bồi thường lần đầu với tổng kinh phí gần 49,7 tỷ đồng. Phương án được bị can Phạm Quốc Nam – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu trực tiếp chỉ đạo, chủ trì, phối hợp các sở, ngành liên quan thẩm định; bị can Nguyễn Ngọc Hạnh – Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý đất đai được phân công giúp việc cho bị can Nam.

    Sau khi các cơ quan liên quan góp ý, phương án tiếp tục được điều chỉnh, phương án lần 2 được lập ngày 25/12/2018, với tổng kinh phí hơn 43,3 tỷ đồng, nhưng vẫn được yêu cầu tiếp tục chỉnh sửa vì còn nhiều nội dung chưa đảm bảo quy định.

    Ngày 8/1/2019, Tổ công tác 135 họp và thống nhất một số nội dung liên quan đến phương án bồi thường, hỗ trợ. Sau đó, ngày 22/1/2019, Trung tâm Phát triển quỹ nhà và đất lập phương án lần 3, với tổng kinh phí hơn 28,7 tỷ đồng, trong đó tiền bồi thường, hỗ trợ trực tiếp hơn 28,43 tỷ đồng.

    Phê duyệt dù còn nội dung chưa được kiểm chứng

    Ngày 29/1/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Dương Thành Trung tổ chức họp về tiến độ các dự án trên địa bàn, trong đó có việc thu hồi đất công viên Văn hóa Trần Huỳnh.

    Tại cuộc họp, ông Phạm Quốc Nam – Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo kết quả thẩm định phương án. Nội dung báo cáo thể hiện chi phí san lấp mặt bằng chưa có số liệu thực tế, được tính toán trên cơ sở hồ sơ dự toán do Công ty Quốc Lâm cung cấp.

    Theo cơ quan điều tra, dù nội dung này được nêu trong hồ sơ, ông Trung không chỉ đạo kiểm tra, đánh giá lại mà thống nhất kết quả thẩm định và chỉ đạo Văn phòng UBND tỉnh soạn thảo quyết định phê duyệt.

    Cùng ngày, ông Trung ký quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty Quốc Lâm với tổng kinh phí hơn 28,7 tỷ đồng.

    Theo kết quả điều tra, phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt có nhiều nội dung không đúng quy định của pháp luật đất đai, vi phạm quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tổng thiệt hại được xác định hơn 5,5 tỷ đồng.

    Trong đó, khoản lớn nhất là hơn 2,99 tỷ đồng tiền bồi thường thiết bị của sân patin, phòng game, phòng game online và phòng chiếu phim 5D. Đây là các tài sản không gắn liền với đất, không có trong biên bản kiểm định nên không thuộc trường hợp được bồi thường.

    Khoản thứ hai hơn 1,24 tỷ đồng tiền bồi thường 10% chi phí dự phòng của 3 hạng mục gồm khu vui chơi giải trí trong nhà và ngoài trời, sân khấu nghệ thuật và san lấp mặt bằng. Theo cơ quan điều tra, khoản này không có hóa đơn, chứng từ chứng minh phát sinh sử dụng và không thuộc trường hợp được bồi thường.

    Ngoài ra, hơn 1,31 tỷ đồng được xác định là tiền bồi thường đối với các công trình, hạng mục không phép, không phù hợp quy hoạch, không thuộc trường hợp được bồi thường.

    Mãi cho đến ngày 29/8/2022, UBND tỉnh Bạc Liêu có văn bản yêu cầu thu hồi số tiền hơn 28,7 tỷ đồng đã chi bồi thường, hỗ trợ cho Công ty Quốc Lâm.

    Trước đó, như Tiền Phong thông tin, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Cà Mau đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng của vụ án đến Viện KSND tỉnh này, đề nghị truy tố 5 bị can có liên quan, gồm: Dương Thành Trung – cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu; Phạm Quốc Nam – cựu Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bạc Liêu và 3 đồng phạm cùng về tội danh “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất”.

    Tân Lộc

    Nguồn https://baomoi.com/trach-nhiem-cua-cuu-chu-tich-tinh-bac-lieu-duong-thanh-trung-trong-vu-boi-thuong-sai-hon-5-5-ty-dong-c55888302.epi

  • Dự án lấn biển phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tiếp thu giải trình. Ảnh: QUANG PHÚC

    Các đại biểu tán thành việc luật hóa cơ chế phát triển dự án đô thị lấn biển nhằm mở rộng không gian phát triển và thu hút nguồn lực ngoài nhà nước, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khung pháp lý minh bạch, ổn định, có tính áp dụng lâu dài.

    Đại biểu Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) đề nghị làm rõ thẩm quyền quyết định, mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các hình thức lấn biển, bảo đảm an ninh, quốc phòng và môi trường; đồng thời siết tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, nhất là năng lực tài chính và kinh nghiệm thực hiện các dự án quy mô lớn.

    Theo dự thảo, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu là 15% đối với dự án từ 100 tỷ đồng đến 200.000 tỷ đồng và 10% đối với dự án trên 200.000 tỷ đồng.

    Theo đại biểu Dương Khắc Mai với các dự án trên 200.000 tỷ đồng, nếu giữ tỷ lệ 10% thì cần gắn thêm các tiêu chí về năng lực tài chính, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự và khả năng bảo đảm nguồn vốn theo tiến độ.

    Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang và các đại biểu dự phiên họp tại Hội trường Diên Hồng. Ảnh: QUANG PHÚC

    Ủng hộ chủ trương khai thác không gian biển để phát triển đất nước, song nhiều ĐB cũng nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa những rủi ro pháp lý, môi trường và bảo đảm lợi ích công cộng.

    Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) nhận định: “Cơ chế càng đặc biệt, quy mô càng lớn thì giới hạn độc quyền và cơ chế kiểm soát càng phải quy định chặt chẽ trong luật”.

    Ông đề nghị nâng chuẩn kiểm soát an ninh, quốc phòng; bổ sung trách nhiệm tài chính như ký quỹ môi trường trong suốt vòng đời dự án và xác định rõ địa giới hành chính quản lý phần đất mới hình thành.

    ĐB Vũ Văn Tiến (Hải Phòng) phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: QUANG PHÚC

    Đại biểu Vũ Văn Tiến (Hải Phòng) nhìn nhận lấn biển là can thiệp trực tiếp vào tự nhiên, vì vậy diện tích lấn biển cần được xem là một tiêu chí quan trọng để phân loại dự án, thay vì chỉ căn cứ quy mô vốn. Đồng thời, cần đánh giá kỹ tác động đến đường bờ, hệ sinh thái và không gian phát triển của toàn vùng.

    Dưới góc nhìn quản trị rủi ro công trình và tài chính, Đại biểu Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) lưu ý dự án lấn biển có đặc thù khác biệt so với dự án trên đất liền. Khi xảy ra sự cố, hậu quả có thể liên quan trực tiếp đến đê kè, dòng chảy, xói lở và an toàn của toàn bộ không gian đã được tạo lập.

    Do đó, ông đề nghị luật thiết kế “lối thoát pháp lý an toàn” khi dự án không thể tiếp tục, bảo đảm rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp không chuyển thành nghĩa vụ của ngân sách nhà nước. Các công cụ như ký quỹ, bảo lãnh hoặc bảo hiểm trách nhiệm môi trường cần được áp dụng để bảo đảm nguồn lực xử lý khi có sự cố.

    ĐB Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: QUANG PHÚC

    Phát biểu cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo đã thiết kế các nguyên tắc bắt buộc đối với hoạt động lấn biển, gồm: phù hợp quy hoạch; bảo đảm an ninh, quốc phòng, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở an toàn hàng hải; đánh giá đầy đủ điều kiện tự nhiên, hải văn, sinh thái và tác động vùng ven bờ; thích ứng biến đổi khí hậu và nước biển dâng; xây dựng hạ tầng hiện đại, xanh, thông minh; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân.

    “Dự án bảo đảm không hình thành đơn vị hành chính mới và tuân thủ đầy đủ pháp luật Việt Nam cũng như Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nêu rõ.

    Bộ trưởng cũng cho biết quy định về điều kiện, tiêu chí của nhà đầu tư chiến lược đã được chỉnh sửa và giao Thủ tướng Chính phủ quyết định. Dự thảo đồng thời quy định điều kiện chuyển nhượng dự án nhằm gắn trách nhiệm của nhà đầu tư và bảo đảm quá trình triển khai.

    ANH PHƯƠNG

    Nguồn https://baomoi.com/du-an-lan-bien-phai-tuan-thu-phap-luat-viet-nam-va-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-c55888198.epi

  • TP. Hồ Chí Minh xây dựng đô thị thông minh từ quản trị dữ liệu và quy hoạch

    TP.Hồ Chí Minh đang chuyển trọng tâm xây dựng đô thị thông minh từ ứng dụng công nghệ riêng lẻ sang quản trị dựa trên dữ liệu. Ảnh:TTXVN.

    Tại hội thảo “Giải pháp xây dựng và phát triển Đô thị thông minh trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” mới đây, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố đã ban hành Quyết định số 4714/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    ĐỀ ÁN 9 NGUYÊN TẮC: DỮ LIỆU ĐI TRƯỚC CÔNG NGHỆ

    Đề án xác định 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, 6 giải pháp và lộ trình triển khai gồm 3 giai đoạn, dựa trên 9 nguyên tắc cốt lõi gồm: Tuân thủ pháp luật và thống nhất quản lý; Lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; Lấy dữ liệu làm nền tảng; Liên thông, tích hợp và dùng chung; Bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư; Đảm bảo vai trò, trách nhiệm người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị; Đảm bảo an toàn, triển khai có kiểm soát; Triển khai theo lộ trình, phù hợp nguồn lực; Mở – linh hoạt – tránh khóa công nghệ.

    Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh: “Thành phố đã ban hành Quyết định số 4714/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Ảnh: Nguyệt Hà.

    Trong số 9 nguyên tắc này, đáng chú ý nhất là thứ tự ưu tiên: lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy dữ liệu làm nền tảng; liên thông, tích hợp và dùng chung; bảo đảm an toàn thông tin, quyền riêng tư; triển khai theo lộ trình phù hợp nguồn lực; và duy trì nguyên tắc mở, linh hoạt, tránh khóa công nghệ. Tư duy này đặt dữ liệu và năng lực quản trị lên trước công nghệ, một cách tiếp cận khác biệt so với nhiều đề án đô thị thông minh trước đây thường bắt đầu từ câu hỏi mua nền tảng nào, hệ thống nào.

    Đồng tình với cách tiếp cận này, ông Trần Quốc Thái, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng, cho rằng TP. Hồ Chí Minh cần sớm lựa chọn một danh mục ngắn các bài toán đô thị ưu tiên có tác động lớn. Với mỗi bài toán, phải xác định rõ chỉ số nền, mục tiêu định lượng, đối tượng thụ hưởng, dữ liệu đầu vào, cơ quan chủ trì, chi phí vòng đời và cơ chế vận hành sau đầu tư. Những lĩnh vực có thể ưu tiên gồm giao thông, logistics; ngập, thoát nước và môi trường; quy hoạch, xây dựng, quản lý tài sản đô thị; y tế, an sinh xã hội và an toàn đô thị.

    “Chỉ lựa chọn hoặc thiết kế giải pháp công nghệ sau khi đã xác định rõ bài toán cần giải quyết, thay vì có một sản phẩm công nghệ rồi mới tìm vấn đề để áp dụng.”

    Ông Trần Quốc Thái

    Đại diện Bộ Xây dựng cũng gợi ý TP. Hồ Chí Minh thiết lập cơ chế thử nghiệm trước khi nhân rộng, những mô hình hiệu quả có thể được áp dụng cho các địa phương khác. Đặc biệt sau hợp nhất, quy mô diện tích Thành phố lớn hơn trước nhiều lần trong khi môi trường đô thị, hạ tầng kỹ thuật, dân cư, sản xuất và dịch vụ ngày càng đa dạng. Yêu cầu nền tảng dữ liệu đô thị thống nhất vì vậy trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

    Trong tham luận “Tương lai đô thị thông minh TP. Hồ Chí Minh”, bà Dương Thảo Hiền, Phó Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố xác định cần hình thành ba năng lực cốt lõi.

    Thứ nhất: “Cảm nhận đúng” là có dữ liệu đủ tin cậy về không gian đô thị, hạ tầng, dân cư, doanh nghiệp và năng lực cộng đồng.

    Thứ hai: “Hiểu đúng” là kết nối dữ liệu để phân tích, mô phỏng và dự báo.

    Thứ ba: “Hành động đúng” là biến kết quả phân tích thành quyết định và hành động phối hợp, có người chịu trách nhiệm và có chỉ số đo lường kết quả.

    Để vận hành ba năng lực đó, Sở Quy hoạch – Kiến trúc xác định 4 trụ cột, gồm: Quản trị số thống nhất; Nền tảng dữ liệu đô thị trung tâm; Quản trị dữ liệu như một công việc thường xuyên; Triển khai theo các kịch bản tập trung vào vấn đề có tác động cao. Nguyên tắc được đặt ra là “nhập dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần và có kiểm tra”, mỗi tập dữ liệu phải có chủ quản, tiêu chuẩn chất lượng, lịch cập nhật, quyền truy cập và cơ chế bảo vệ.

    XÂY DỰNG BẢN ĐỒ DÙNG CHUNG, TÍCH HỢP QUY HOẠCH KHÔNG GIAN, HẠ TẦNG

    Một trong những thay đổi quan trọng trong tư duy của TP. Hồ Chí Minh là đưa quy hoạch vào vị trí trung tâm của hệ thống dữ liệu đô thị. Khi giao thông, xây dựng, đất đai, môi trường, y tế, an sinh xã hội, văn hóa, bất động sản và dịch vụ đô thị được thể hiện trên cùng một nền tảng bản đồ, cơ quan quản lý có thể nhìn thấy mối quan hệ giữa các lĩnh vực thay vì xử lý từng vấn đề riêng lẻ. Quy hoạch cung cấp khung không gian; các ngành bổ sung dữ liệu; công nghệ hỗ trợ phân tích.

    Bà Dương Thảo Hiền, Phó Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh trình bày tham luận tại hội thảo. Ảnh: Nguyệt Hà.

    Theo bà Dương Thảo Hiền, Thành phố sẽ xây dựng bản đồ đô thị dùng chung, tích hợp quy hoạch sử dụng đất, công trình, hạ tầng và các chương trình, dự án. Mỗi sở, ngành chịu trách nhiệm về chất lượng và cập nhật dữ liệu chuyên ngành của mình.

    Cùng với bản đồ là các công cụ trực quan để đánh giá tác động phương án phát triển: khi một tuyến giao thông thay đổi, hệ thống có thể hỗ trợ đánh giá khu vực nào được hưởng lợi về hạ tầng xã hội, nhu cầu hạ tầng đáp ứng hay chưa và tác động tới môi trường, sử dụng đất.

    Đồng thời, cách triển khai theo từng bài toán cụ thể được đặt ra như một nguyên tắc vận hành: ví dụ một khu vực phát triển gắn với hạ tầng giao thông, tích hợp dữ liệu về giao thông, dân số, nhà ở, dịch vụ và quỹ đất; hoặc khu vực chịu áp lực ngập, nơi dữ liệu địa hình, thoát nước, sông rạch và bãi sông được kết nối để hỗ trợ phân tích. Cách làm theo từng bài toán giúp Thành phố kiểm chứng hiệu quả trước khi đầu tư và nhân rộng, hạn chế nguy cơ triển khai những hệ thống công nghệ lớn nhưng không giải quyết được nhu cầu thực tế.

    Trong Đề án đô thị thông minh của TP. Hồ Chí Minh, ngành quy hoạch được giao chủ trì 3 nhóm nhiệm vụ, trong đó có lồng ghép giải pháp đô thị thông minh ở các cấp độ quy hoạch và xây dựng nền tảng hỗ trợ lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý và giám sát thực hiện quy hoạch.

    Mục tiêu là hoàn thành nền tảng trong năm 2026. Đến năm 2030: 100% đồ án quy hoạch được thẩm định, quản lý trên nền tảng số; ít nhất 80% quy trình thẩm định được số hóa; số hóa ít nhất 90% hồ sơ hiện có và tích hợp toàn bộ dữ liệu quy hoạch để khai thác.

    Bà Dương Thảo Hiền cũng cho biết các mốc triển khai cụ thể trong năm nay: cập nhật khoảng 2.000 công trình theo cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch trong tháng 11/2026; hoàn thành chuyển đổi số toàn bộ hồ sơ trong 3 năm gần nhất vào tháng 9/2026; và làm sạch, hoàn thiện cơ sở dữ liệu vào tháng 11/2026.

    Bước phát triển tiếp theo là triển khai Digital Twin (Bản sao số) trong quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật và môi trường. Giai đoạn 2026–2027 sẽ thử nghiệm tích hợp dữ liệu BIM (Mô hình thông tin công trình) để phục vụ dự báo, mô phỏng và quản lý không gian, trước khi mở rộng trên toàn Thành phố trong giai đoạn 2028–2030.

    Một yêu cầu khác được đặt ra là mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu đô thị cho nhiều đối tượng. Theo đề xuất của Sở Quy hoạch – Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, Thành phố cần xây dựng một cửa tiếp nhận thông tin đô thị trên nền tảng số: người dân tiếp cận thông tin quy hoạch, hạ tầng và cơ hội đầu tư; cơ quan quản lý theo dõi dự án; chuyên gia tham gia phân tích dữ liệu và đưa ra đề xuất. Về lâu dài, nền tảng này có thể phát triển thành một cổng thông tin đô thị tích hợp, kết hợp các công cụ phân tích, đánh giá và hỗ trợ ra quyết định đa ngành.

    “Đô thị thông minh không bắt đầu từ câu hỏi Thành phố sẽ mua công nghệ gì, mà bắt đầu từ câu hỏi Thành phố muốn ra quyết định tốt hơn như thế nào và phục vụ người dân ra sao?”.

    Bà Dương Thảo Hiền 

    Khi quản lý số, nền tảng dữ liệu và quản trị dữ liệu được thiết kế đồng bộ, ngành quy hoạch – kiến trúc sẽ không chỉ cung cấp dữ liệu không gian mà còn trở thành nền tảng kết nối các lĩnh vực.

    Theo đó, TP.Hồ Chí Minh có thể chuyển từ số hóa thông tin sang năng lực điều hành tích hợp, dự báo và thích ứng, đây cũng là mục tiêu mà Bộ Xây dựng kỳ vọng Thành phố có thể đạt được: không chỉ triển khai các dự án đô thị thông minh cho riêng mình, mà trở thành nơi thử nghiệm các mô hình quản trị mới, hình thành những giải pháp có khả năng nhân rộng trên phạm vi cả nước.

    Nguyệt Hà

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-xay-dung-do-thi-thong-minh-tu-quan-tri-du-lieu-va-quy-hoach-c55888199.epi

  • Thiết kế 7 nguyên tắc đối với khu đô thị lấn biển

    Cho ý kiến tại hội trường, đa số đại biểu Quốc hội bày tỏ tán thành việc luật hóa cơ chế, chính sách đối với dự án khu đô thị lấn biển.

    Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, qua hơn 50 ý kiến phát biểu tại tổ và 11 lượt phát biểu tại hội trường, các ý kiến tập trung vào hai vấn đề lớn.

     Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Media Quốc hội.

    Thứ nhất, các đại biểu cơ bản thống nhất cần có cơ chế để triển khai hoạt động lấn biển xây dựng đô thị, qua đó hình thành những cực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030.

    Thứ hai, nhiều đại biểu đặc biệt quan tâm đến yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển, cũng như quyền và lợi ích của người dân.

    Trong quá trình hoàn thiện dự thảo, trên cơ sở ý kiến của các cơ quan thẩm tra, Bộ Tư pháp, các cơ quan liên quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, cơ quan soạn thảo đã phối hợp với các cơ quan của Quốc hội rà soát, thiết kế lại quy định để đáp ứng đồng thời hai yêu cầu này.

    Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan soạn thảo đã thiết kế một điều luật riêng về dự án lấn biển xây dựng khu đô thị để tích hợp vào Luật Phát triển đô thị. Theo Bộ trưởng, điểm đặc thù đầu tiên của loại dự án này là hình thành một khu vực lấn biển chưa tồn tại trên thực tế để phát triển đô thị.

    “Đây không chỉ đơn thuần là lấn biển để tạo quỹ đất mà hướng tới hình thành một khu đô thị mới trên biển, xanh, hiện đại, thông minh, mang tầm quốc gia, tạo ra một cực tăng trưởng mới, đủ sức hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

    Đặc thù thứ hai là các dự án có quy mô rất lớn, thời gian thực hiện dài và nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ san lấp, xây dựng cũng rất lớn. Vì vậy, cơ chế áp dụng không thể hoàn toàn giống với các dự án đô thị thông thường.

    Để đáp ứng các yêu cầu mà đại biểu Quốc hội đặt ra, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo đã thiết kế 7 nguyên tắc áp dụng đối với khu đô thị lấn biển.

    Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở hoạt động hàng hải. Việc quyết định dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động đến khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

    Các khu đô thị lấn biển phải được phát triển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh; kết nối đồng bộ hạ tầng với đất liền; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân; triển khai theo từng giai đoạn và gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư. Bộ trưởng cũng cho biết, khu đô thị lấn biển không hình thành đơn vị hành chính mới và phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam cũng như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

    Liên quan đến nhà đầu tư chiến lược, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến đại biểu theo hướng quy định các điều kiện, tiêu chí và giao Thủ tướng Chính phủ quyết định để bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn giải trình, làm rõ một số vấn đề về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị. Ảnh: Media Quốc hội.

    Dự thảo đồng thời quy định chặt chẽ việc chuyển nhượng dự án. Theo đó, nhà đầu tư được chuyển nhượng không quá 50% phần dự án đã có đầy đủ hạ tầng. Quy định này vừa nhằm gắn trách nhiệm của nhà đầu tư với dự án, vừa tạo điều kiện để huy động nguồn lực, bảo đảm dự án được triển khai thông suốt.

    Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết các dự án được thiết kế cơ chế áp dụng có quy mô rất lớn, từ 100.000 tỷ đồng đến 200.000 tỷ đồng và trên 200.000 tỷ đồng, tương đương mức đầu tư tối thiểu khoảng 4 tỷ USD. “Việc huy động vốn cho những dự án như vậy rất khó khăn, nên chúng ta phải có cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư có tiềm lực, vừa có vốn, vừa có kinh nghiệm quản lý, đủ năng lực từ xây dựng đến tổ chức vận hành, quản lý dự án”, Bộ trưởng nói.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục nghiêm túc tiếp thu các ý kiến của đại biểu Quốc hội, bảo đảm quy định sau khi được tích hợp vào luật có tính khả thi, đồng thời đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường biển, quyền lợi của người dân và hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư.

    Dương Thy

    Linh Đan

    Nguồn https://baomoi.com/thiet-ke-7-nguyen-tac-doi-voi-khu-do-thi-lan-bien-c55888203.epi

  • Cà Mau đầu tư hơn 17,5 tỷ đồng xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch

    Dự án nhằm hình thành hệ thống dữ liệu du lịch tập trung, thống nhất, phục vụ công tác quản lý và phát triển các sản phẩm du lịch thông minh.

    Cà Mau có hệ thống rừng ngập mặn phong phú, tiềm năng phát triển du lịch. (Nguồn: Báo Văn Hóa)

    Dự án do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau làm chủ đầu tư, được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh. Mục tiêu là xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu ngành du lịch tập trung, thống nhất, đồng thời hình thành kho tài nguyên dữ liệu số dùng chung, có khả năng liên thông cao.

    Theo kế hoạch, dự án tập trung vào hai nhóm nhiệm vụ chính gồm xây dựng nền tảng hạ tầng dữ liệu số và làm giàu nội dung thông qua số hóa tài nguyên du lịch.

    Việc số hóa được kỳ vọng tạo nền tảng để hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch, dựa trên dữ liệu thực tế và khả năng khai thác, phân tích thông tin.

    Khi hoàn thiện, hệ thống sẽ góp phần hỗ trợ xây dựng các sản phẩm, dịch vụ du lịch thông minh, nâng cao hiệu quả quảng bá điểm đến, đồng thời tăng khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị liên quan.

    UBND tỉnh Cà Mau giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm về thông tin, số liệu trong báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ, thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư. Quá trình triển khai phải bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả và tránh lãng phí.

    Cùng với đó, chủ đầu tư được yêu cầu nghiên cứu, tính toán, phân tích để lựa chọn phương án tối ưu, phù hợp điều kiện thực tế của địa phương, bảo đảm các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật và hiệu quả đầu tư.

    Đẩy mạnh phát triển du lịch theo hướng xanh, bền vững

    Việc đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch được triển khai trong bối cảnh Cà Mau đang đẩy mạnh khai thác tiềm năng du lịch theo hướng bền vững, chuyên nghiệp và hiện đại.

    Trước đó, UBND tỉnh đã ban hành Chương trình phát triển du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh gắn với phục dựng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử giai đoạn 2026-2030. Chương trình hướng tới khai thác hiệu quả lợi thế của địa phương, từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng.

    Mục tiêu chung là phát triển du lịch gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa và phát huy giá trị hệ thống di tích lịch sử. Đến năm 2030, Cà Mau phấn đấu đón trên 11,5 triệu lượt khách, tổng thu từ du lịch đạt khoảng 14.200 tỷ đồng, đồng thời hình thành những sản phẩm đặc trưng, có sức cạnh tranh.

    Cà Mau có lợi thế nằm ở cực Nam Tổ quốc, với ba mặt giáp biển, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng và không gian văn hóa đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ. Địa phương cũng sở hữu Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, cùng 112 di tích được xếp hạng, nhiều lễ hội truyền thống và các giá trị văn hóa, ẩm thực đặc sắc.

    Việc xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch được kỳ vọng góp phần số hóa những nguồn tài nguyên này, tạo nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý, quảng bá và khai thác điểm đến hiệu quả hơn.

    Qua đó, Cà Mau hướng tới nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, thúc đẩy tăng trưởng du lịch gắn với bảo tồn tài nguyên và phát triển kinh tế bền vững.

    P.V

    Nguồn https://baomoi.com/ca-mau-dau-tu-hon-17-5-ty-dong-xay-dung-co-so-du-lieu-du-lich-c55888223.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!