Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Hưng Yên chuẩn hóa dữ liệu 3,2 triệu thửa đất để nâng cao hiệu quả quản trị

    Rà soát cơ sở dữ liệu đất đai tại phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Nguyễn Công Hải/TTXVN)

    Trong công cuộc chuyển đổi số, dữ liệu đất đai luôn là một trong những cơ sở dữ liệu cốt lõi, tác động trực tiếp và sâu rộng nhất tới quản lý nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp cũng như đời sống của người dân. Việc xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu đất đai chính là chìa khóa nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản trị.

    Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên Bùi Xuân Hậu khẳng định, làm sạch dữ liệu đất đai là điều kiện tiên quyết để mọi quyết định quản lý đất đai có giá trị pháp lý và thực tiễn.

    Giai đoạn 2025-2026, tỉnh Hưng Yên nói chung, ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh nói riêng không chỉ triển khai thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy chính quyền theo định hướng của Trung ương mà còn bảo đảm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị về quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

    Ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do diễn biến thời tiết ngày càng cực đoan, bất thường, chịu ảnh hưởng liên tiếp của các cơn bão, tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.

    Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp quan trọng, tạo động lực đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, nhất là đối với lĩnh vực đất đai, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, xây dựng phần mềm hay số hóa hồ sơ, mà quan trọng hơn là phải hình thành được một hệ thống dữ liệu đất đai đầy đủ, chính xác, đồng bộ, được cập nhật thường xuyên và có khả năng khai thác, chia sẻ, kết nối với các cơ sở dữ liệu khác.

    Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên Bùi Xuân Hậu cho biết, thời gian qua, với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên đã quyết liệt triển khai thực hiện Chỉ thị số 05 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công an tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; kế hoạch của Ủy ban Nhân dân tỉnh về hoàn thiện xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên đã tập trung chỉ đạo, thường xuyên kiểm đếm tiến độ, xác định rõ khối lượng, trách nhiệm và thời hạn hoàn thành, kịp thời báo cáo, tham mưu xử lý các trường hợp chậm tiến độ, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra.

    Đến nay, tỉnh Hưng Yên có khoảng 3,2 triệu thửa đất phải xây dựng cơ sở dữ liệu đăng ký đất đai; trong đó, tỉnh Hưng Yên đã hoàn thành được khoảng 900.000 thửa đất trong cơ sở dữ liệu đất đai đã đảm bảo việc đúng, đủ, sạch, sống và có thể sử dụng chung, kết nối chung với các nguồn dữ liệu khác; còn khoảng trên 400.000 thửa đất có trong cơ sở dữ liệu đất đai nhưng cần phải bổ sung để đảm bảo cho đầy đủ cơ sở dữ liệu đất đai. Tỉnh có khoảng 1,9 triệu thửa đất chưa có trong cơ sở dữ liệu đất đai, sẽ phải hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trong giai đoạn 2026-2027.

    Người dân phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên làm thủ tục rà soát cơ sở dữ liệu đất đai. (Ảnh: Nguyễn Công Hải/TTXVN)

    Trong quá trình triển khai thực hiện, do khối lượng công việc cần thực hiện rất lớn, thời gian thực hiện ngắn, nhân lực cấp xã còn hạn chế; hồ sơ đất đai qua nhiều thời kỳ, lưu trữ chưa đồng bộ, việc bàn giao hồ sơ sau sắp xếp đơn vị hành chính còn gặp khó khăn.

    Tại một số địa phương của tỉnh, công tác chỉ đạo, đôn đốc chưa quyết liệt nên triển khai, tiến độ kê khai, đăng ký đất đai còn chậm, chưa đồng đều. Khối lượng thửa đất cần tiếp tục bổ sung, chuẩn hóa để đạt tiêu chí “đúng-đủ-sạch-sống” của tỉnh còn lớn.

    Từ thực tiễn triển khai làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ thực hiện trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên đề xuất, dữ liệu đất đai phải được hình thành trên cơ sở hồ sơ, tài liệu có căn cứ pháp lý; trong đó, Ủy ban Nhân dân các xã, phường chịu trách nhiệm xác minh tại cơ sở. Văn phòng Đăng ký đất đai đối soát hồ sơ, cấp Giấy chứng nhận. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh hướng dẫn, kiểm tra và hoàn thiện dữ liệu, bảo đảm đúng hồ sơ, đúng thực tế, đúng pháp lý.

    Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân xã, phường là cấp gần dân, sát địa bàn, nắm rõ quá trình quản lý, sử dụng đất và có điều kiện xác minh những thông tin mà hồ sơ cũ hoặc cơ sở dữ liệu đất đai chưa phản ánh đầy đủ. Vì vậy, muốn xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chính xác, đầy đủ, Ủy ban Nhân dân các xã, phường cần xác định kê khai, đăng ký đất đai là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, tập trung hoàn thành theo thời hạn Ủy ban Nhân dân tỉnh giao, nhất là đối với các thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng còn tài liệu đo đạc có giá trị sử dụng. Đồng thời, xây dựng kế hoạch, tiến độ thực hiện cụ thể theo tuần, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả; thường xuyên cập nhật tiến độ, chủ động tháo gỡ khó khăn phát sinh và chịu trách nhiệm về chất lượng dữ liệu được xác lập, cập nhật trên địa bàn.

    Việc chỉ tập trung làm sạch dữ liệu tại một thời điểm mà không duy trì việc cập nhật, chỉnh lý thường xuyên, dữ liệu sẽ nhanh chóng phát sinh sai lệch. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “chiến dịch làm sạch dữ liệu” sang tư duy “quản trị dữ liệu thường xuyên”, bảo đảm dữ liệu đất đai luôn được cập nhật, chính xác, đầy đủ và có giá trị phục vụ công tác quản lý nhà nước.

    Với vai trò là cơ quan chủ trì, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên tiếp tục chủ động phối hợp, đồng hành cùng Ủy ban Nhân dân các xã, phường và tập trung hướng dẫn, kiểm tra, đối soát, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu, đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thửa đất lên cơ sở dữ liệu đất đai. Đồng thời, chỉ đạo Văn phòng Đăng ký đất đai khai thác, đối soát hồ sơ, Giấy chứng nhận, dữ liệu đo đạc và các nguồn thông tin liên quan; thường xuyên theo dõi tiến độ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo các trường hợp chậm tiến độ, bảo đảm dữ liệu đất đai đúng, đủ, sạch, sống./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/hung-yen-chuan-hoa-du-lieu-3-2-trieu-thua-dat-de-nang-cao-hieu-qua-quan-tri-c56257147.epi

  • Hải Phòng chấp thuận thêm 10 dự án ‘thí điểm’ phát triển nhà ở thương mại

    Khu đất số 64-66 Trần Khánh Dư (phường Ngô Quyền) là một trong ba dự án nhà ở thương mại thí điểm đợt 1. Ảnh: ĐH.

    HĐND TP. Hải Phòng đã thông qua danh mục 10 khu đất dự kiến thực hiện dự án thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất (đợt 2) theo Nghị quyết số 171/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội. Tổng diện tích 10 khu đất thí điểm đợt 2 là hơn 61ha, tổng mức đầu tư dự kiến 11.346 tỷ đồng.

    Trong số các doanh nghiệp đăng ký thực hiện dự án, Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Thủy sản Đồ Sơn có 3 dự án, tổng diện tích hơn 49,16ha, với tổng mức đầu tư dự kiến 8.100 tỷ đồng. Trong đó, dự án khu đô thị phức hợp trên đường Phạm Văn Đồng (phường Đồ Sơn) có diện tích 412.645m2, vốn đầu tư dự kiến 5.700 tỷ đồng. Dự án nhà ở thương mại trên đường Nguyễn Hữu Cầu có diện tích 75.454,1m2, vốn đầu tư 900 tỷ đồng. Dự án tổ hợp chung cư cao cấp và thương mại, dịch vụ tại số 262 Nguyễn Hữu Cầu có diện tích 3.559,9m2, vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng.

    Công ty TNHH Thương mại Vượng Tiến đăng ký 2 dự án tại đường Lê Hồng Phong (phường Gia Viên) gồm tổ hợp chung cư tại thửa 02/B1 16 26BC và tòa nhà chung cư cao cấp tại thửa 02A/B1 16 26BC, mỗi dự án có diện tích 940m2 vốn đầu tư dự kiến 250 tỷ đồng.

    Công ty TNHH Motor N.A Việt Nam cũng có 2 dự án tại đường Lê Hồng Phong, gồm tòa nhà chung cư cao tầng tại thửa 03/B1 16 26BC và tòa nhà hỗn hợp thương mại, dịch vụ và căn hộ tại thửa 03A/B1 16 26BC, mỗi dự án có diện tích 940m2, vốn đầu tư dự kiến 250 tỷ đồng.

    Các dự án còn lại gồm chung cư cao cấp Hoàng Gia của Công ty TNHH Hoàng Gia Hải Phòng tại số 275 Lạch Tray (phường Gia Viên) diện tích 5.355,3m2, vốn đầu tư dự kiến 1.260 tỷ đồng. Dự án khu nhà ở thương mại của Công ty Cổ phần Đầu tư MEGASTAR tại tổ dân phố Tất Xứng (phường Hồng An) diện tích 103.264,7m2, vốn đầu tư 893,5 tỷ đồng. Dự án phát triển nhà ở thương mại của Công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại Phương Mai tại lô HH 33-11, phường Hải An, diện tích 6.969,09m2, vốn đầu tư dự kiến 92,5 tỷ đồng.

    Trong số 10 dự án trên, dự án tổ hợp chung cư tại thửa 02/B1 16 26BC, đường Lê Hồng Phong, phường Gia Viên do Công ty TNHH Thương mại Vượng Tiến đăng ký thực hiện là dự án duy nhất thực hiện theo hình thức nhà đầu tư nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án. Còn lại 9 dự án đều thực hiện theo hình thức nhà đầu tư đang có quyền sử dụng đất.

    Theo tiến độ triển khai, các dự án (7 dự án) của 3 doanh nghiệp là Công ty Cổ phần Du lịch Dịch vụ Thuỷ sản Đồ Sơn, Công ty TNHH Thương mại Vượng Tiến và Công ty TNHH Motor N.A Việt Nam dự kiến hoàn thành trong quý 4/2032. Dự án chung cư cao cấp Hoàng Gia thực hiện trong giai đoạn 2026- 2029. Dự án khu nhà ở thương mại MEGASTAR dự kiến hoàn thành trong quý 3/2034. Dự án của Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Phương Mai hoàn thành sau 30 tháng kể từ khi có được chấp thuận đầu tư.

    Trước đó, tại Nghị quyết số 15/NQ-HĐND ngày 20/4/2026, HĐND TP. Hải Phòng đã thông qua danh mục 3 khu đất thực hiện dự án thí điểm nhà ở thương mại (đợt 1), tổng diện tích hơn 6,2ha, tổng mức đầu tư dự kiến hơn 1.286 tỷ đồng. Đó là dự án tại số 64–66 Trần Khánh Dư, phường Ngô Quyền, diện tích 5.440 m2, vốn đầu tư dự kiến hơn 75 tỷ đồng. Dự án tại số 746 Nguyễn Văn Linh, phường An Biên, diện tích 26.108 m2, vốn đầu tư 1.075 tỷ đồng. Dự án tại phường Chu Văn An, diện tích 30.648,6 m2, vốn đầu tư 136 tỷ đồng.

    Nam Khánh

    Nguồn https://baomoi.com/hai-phong-chap-thuan-them-10-du-an-thi-diem-phat-trien-nha-o-thuong-mai-c56257250.epi

  • Nhiều dự án nhà ở xã hội ở Gia Lai tiếp tục mở bán

    Theo Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai, Công ty TNHH HTV Licogi13 Thuận Phước vừa thông báo tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội tại Dự án Nhà ở xã hội Long Vân (đợt 6). Thời gian tiếp nhận hồ sơ từ ngày 1-10 đến ngày 1-11-2026.

    Dự án được triển khai tại Khu đô thị Long Vân (phường Quy Nhơn Bắc), quy mô 798 căn hộ. Trong đợt này, chủ đầu tư tiếp nhận hồ sơ mua 391 căn (47-64,5 m²/căn), giá bán bình quân 15,747 triệu đồng/m². Giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 5%, chưa bao gồm kinh phí bảo trì phần sở hữu chung 2%.

    Cũng tại phường Quy Nhơn Bắc, Công ty TNHH Solcenter Nhơn Phú đang tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội tại Dự án Nhà ở xã hội Nhơn Phú 1 (đợt 1), từ ngày 1-10 đến hết ngày 30-11-2026.

    Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 1.958 tỷ đồng, quy mô gồm nhiều tòa nhà; thời gian hoàn thành, bàn giao dự kiến tháng 2-2031. Trong đợt đầu, chủ đầu tư đưa ra 78 căn hộ tại tòa CT6 cao 18 tầng, diện tích từ 36,8-88,2 m². Giá bán bình quân khoảng 16,5 triệu đồng/m², chưa gồm thuế giá trị gia tăng 5% và kinh phí bảo trì 2%.

    Trước đó, Công ty TNHH Solrise Nhơn Phú cũng tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội tại Dự án Nhà ở xã hội Nhơn Phú 2 (đợt 21), thời gian từ ngày 16-9 đến hết ngày 31-10-2026.

    Dự án nhà ở xã hội Long Vân (đợt 6) thông báo tiếp nhận hồ sơ đăng ký mua nhà ở xã hội tại Block A. Ảnh: Sở Xây dựng Gia Lai

    Dự án có tổng vốn đầu tư 726 tỷ đồng, quy mô 714 căn hộ, dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Đợt này có 133 căn được đưa ra đăng ký mua, diện tích từ 35-68 m², thuộc 3 loại căn hộ. Giá bán bình quân 14,5 triệu đồng/m², chưa gồm thuế giá trị gia tăng 5% và kinh phí bảo trì 2%.

    Đáng chú ý, trong khi giá bán tại các dự án trên dao động 14,5-16,5 triệu đồng/m², Dự án Nhà ở xã hội Hàng Hải Bình Định (MARINA HOME) có giá bán bình quân cao hơn.

    Theo thông tin Sở Xây dựng công khai ngày 5-10, giá bán bình quân căn hộ tại dự án này là 22,772 triệu đồng/m², với 518 căn hộ để bán. Giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 5%, nhưng chưa bao gồm kinh phí bảo trì phần sở hữu chung của nhà chung cư.

    Theo UBND tỉnh Gia Lai, đến cuối tháng 8-2026, toàn tỉnh có 8 dự án và một phần của 3 dự án khác hoàn thành 5.045 căn nhà ở xã hội; 7 dự án và một phần của 3 dự án đang thi công 5.596 căn. Ngoài ra, 7 dự án với 6.072 căn đã lựa chọn chủ đầu tư và đang hoàn tất thủ tục chuẩn bị khởi công.

    Trong tháng 9-2026, tỉnh tiếp tục chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà ở xã hội tại đường Nguyễn Văn Linh (phường Hội Phú), quy mô 546 căn hộ, tổng vốn đầu tư hơn 740 tỷ đồng.

    TRỌNG LỢI

    Nguồn https://baomoi.com/nhieu-du-an-nha-o-xa-hoi-o-gia-lai-tiep-tuc-mo-ban-c56257097.epi

  • Các tiêu chí đánh giá tác động của thủ tục hành chính

     Chính phủ ban hành Nghị định 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính. Trong đó, Điều 11 và Điều 12 đã quy định nội dung liên quan đến trình tự lấy ý kiến với quy định về thủ tục hành chính; đánh giá tác động của thủ tục hành chính.

    Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm lấy ý kiến về thủ tục hành chính trong đề xuất chính sách

    Điều 11. Lấy ý kiến trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính

    1. Việc lấy ý kiến về thủ tục hành chính trong đề xuất chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện cùng với việc lấy ý kiến đối với đề xuất chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. 

    Cơ quan đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính, đối tượng chịu sự tác động, cơ quan, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học đối với các quy định về thủ tục hành chính trong đề xuất chính sách và dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

    Quy trình lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát với quy định về thủ tục hành chính 

    2. Việc lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính đối với quy định về thủ tục hành chính được thực hiện như sau:

    a) Bộ Tư pháp có ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong đề xuất chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

    b) Đơn vị được giao nhiệm vụ tham mưu về công tác kiểm soát thủ tục hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ có ý kiến về thủ tục hành chính quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; tham gia ý kiến đối với đề xuất chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định thủ tục hành chính khi nhận được đề nghị;

    c) Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có ý kiến về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

    d) Đơn vị có chức năng thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này có ý kiến về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã.

    3. Hồ sơ dự thảo văn bản gửi lấy ý kiến và thời hạn để cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính tham gia ý kiến thực hiện theo quy định về lấy ý kiến của pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    4. Việc cho ý kiến về quy định thủ tục hành chính theo các nội dung quy định tại các Điều 6, 7, 8, 9, 12, 13 của Nghị định này.

    5. Cơ quan đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến góp ý của cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính và các cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật.

    Các tiêu chí đánh giá tác động của thủ tục hành chính

    Điều 12. Đánh giá tác động thủ tục hành chính

    1. Việc quy định thủ tục hành chính trong đề xuất chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm nguyên tắc hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

    2. Nội dung đánh giá tác động được thực hiện theo các tiêu chí sau đây:

    a) Sự cần thiết của thủ tục hành chính;

    b) Tính hợp lý của thủ tục hành chính;

    c) Tính hợp hiến, hợp pháp của thủ tục hành chính;

    d) Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

    3. Trách nhiệm đánh giá tác động của cơ quan đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo:

    a) Tại giai đoạn đề xuất chính sách, cơ quan đề xuất chính sách có trách nhiệm đánh giá sự cần thiết của thủ tục hành chính;

    b) Tại giai đoạn soạn thảo, đối với văn bản thực hiện quy trình chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá theo các nội dung quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 Điều này. Đối với văn bản không thực hiện quy trình chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo đánh giá theo các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 2 Điều này.

    Thủ tục hành chính phải đánh giá tác động trên cả môi trường điện tử

    4. Khi thực hiện việc đánh giá tác động thủ tục hành chính quy định tại khoản 2 Điều này phải bao gồm đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng thực hiện trên môi trường điện tử. Thủ tục hành chính quy định tại Điều 13 Nghị định này phải đánh giá tác động về quản lý rủi ro và bảo đảm cạnh tranh.

    5. Thủ tục hành chính chỉ được quy định sau khi đã đánh giá tác động và không thể thay thế bằng một trong các biện pháp sau đây:

    a) Cơ chế hậu kiểm, quản lý trên cơ sở rủi ro, tự công bố hoặc biện pháp quản lý hành chính khác có hiệu quả tương đương và chi phí tuân thủ thấp hơn;

    b) Cá nhân, tổ chức tự thực hiện và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật;

    c) Xã hội hoá cho các tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoặc tổ chức có đủ điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật;

    d) Khai thác, sử dụng dữ liệu.

    6. Đối với thủ tục hành chính nội bộ, thực hiện việc đánh giá tác động theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều này.

    7. Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động thủ tục hành chính./.

    Nguồn https://baomoi.com/cac-tieu-chi-danh-gia-tac-dong-cua-thu-tuc-hanh-chinh-c56257162.epi

  • Doanh nghiệp Thái Lan đầu tư thêm khu công nghiệp tại Đà Nẵng

    Theo Quyết định số 4602/QĐ-UBND ngày 8/10/2026, nhà đầu tư của Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp WHA Đà Nẵng là Công ty WHA Industrial Development International (SG) Pte. Ltd.

    Khu công nghiệp WHA Đà Nẵng có quy mô 400ha, địa điểm thực hiện tại xã Thăng Bình và xã Đồng Dương. Tổng vốn đầu tư 2,709 tỷ đồng, tương đương 105 triệu USD. Trong đó, vốn góp của nhà đầu tư hơn 459 tỷ đồng, chiếm 17% tổng vốn đầu tư; còn lại là vốn huy động gần 2,250 tỷ đồng.

    WHA hiện đang phát triển và vận hành nhiều dự án khu công nghiệp tại Nghệ An, Thanh Hóa (ảnh: WHA)

    Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày được Nhà nước quyết định cho thuê đất, quyết định chuyển mục đích sử dụng đất. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư kéo dài đến quý 4/2027; Công tác giải phóng và bàn giao mặt bằng dự kiến từ quý 4/2026 đến quý 1/2031.

    Dự án được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 rộng 200ha thực hiện từ quý 4/2027 đến quý 4/2030; Giai đoạn 2 từ quý 1/2031 đến quý 1/2034. Tiến độ huy động vốn từ quý 3/2028 đến quý 3/2030.

    Thời gian xây dựng cơ bản, đưa công trình vào hoạt động hoặc khai thác, vận hành là 72 tháng kể từ ngày được Nhà nước bàn giao đất.

    Theo định hướng cử UBND Tp. Đà Nẵng, khu công nghiệp này được phát triển theo mô hình đa ngành, ưu tiên thu hút các lĩnh vực như công nghiệp ô tô, cơ khí, điện, điện tử, viễn thông, y tế, công nghiệp công nghệ cao, logistics và các ngành nghề thân thiện với môi trường.

    UBND thành phố giao Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) cùng các cơ quan liên quan thực hiện quản lý Nhà nước, kiểm tra và giám sát quá trình triển khai, bảo đảm tuân thủ nội dung chấp thuận, quy hoạch được duyệt và quy định pháp luật.

    Được biết, WHA Industrial Development International (SG) Pte. Ltd là doanh nghiệp thuộc WHA Corporation PCL (WHA Group) – tập đoàn đa ngành thành lập năm 2003, hoạt động trong các lĩnh vực gồm logistics, phát triển khu công nghiệp, tiện ích và năng lượng, nền tảng kỹ thuật số ở Thái Lan.

    WHA Group đang vận hành và phát triển 17 khu công nghiệp tại Thái Lan và Việt Nam, với tổng diện tích 14,224 ha và 855,700 m² nhà xưởng xây sẵn và diện tích phục vụ hoạt động logistics. Tổng vốn đầu tư tại hai thị trường được doanh nghiệp ước tính khoảng 48 tỷ USD.

    Tại Việt Nam, tập đoàn này đang đầu tư và vận hành khu công nghiệp WHA Industrial Zones – Nghệ An (diện tích 2,100ha) và khu công nghiệp WHA Smart Technology 1 – Thanh Hóa (diện tích 540ha) và sẽ mở rộng thêm tại Hưng Yên và mới đây là Đà Nẵng.

    Minh Hằng

    Nguồn https://baomoi.com/doanh-nghiep-thai-lan-dau-tu-them-khu-cong-nghiep-tai-da-nang-c56257071.epi

  • Gia Lai gắn tiến độ dự án ngoài ngân sách với đánh giá KPI lãnh đạo

    Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn vừa ký ban hành Công văn số 12543/UBND-PVHCC yêu cầu tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư ngoài ngân sách, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số.

    Theo đó, các cơ quan, đơn vị phải chuyển mạnh từ theo dõi thủ tục sang đánh giá kết quả thực tế. Với từng dự án, phải xác định rõ vướng mắc, cơ quan, người chịu trách nhiệm xử lý, thời hạn hoàn thành và mốc khởi công, tạo khối lượng hoặc đưa vào hoạt động.

    Các thủ tục về đất đai, giải phóng mặt bằng, quy hoạch, xây dựng, hạ tầng kết nối phải được chủ động chuẩn bị. Những phần việc pháp luật cho phép thực hiện đồng thời cần triển khai song song để rút ngắn thời gian.

     Gia Lai đang đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư ngoài ngân sách nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Hoàng Hà

    Lãnh đạo tỉnh trực tiếp theo dõi, tháo gỡ vướng mắc dự án

    Các Phó Chủ tịch UBND tỉnh được phân công trực tiếp theo dõi, chỉ đạo, đôn đốc các nhóm dự án quy mô lớn, dự án quan trọng.

    Lãnh đạo tỉnh trực tiếp làm việc với nhà đầu tư, sở, ngành và địa phương để tháo gỡ khó khăn. Đối với dự án chậm tiến độ hoặc còn vướng mắc lớn, việc tổ chức làm việc, kiểm tra, xử lý có thể thực hiện cả ngày thứ Bảy, Chủ nhật khi cần thiết.

    Đáng chú ý, kết quả theo dõi, tháo gỡ vướng mắc và tiến độ các dự án được phân công sẽ là một trong những căn cứ đánh giá KPI đối với từng Phó Chủ tịch UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương liên quan.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu kịp thời chấn chỉnh trường hợp cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, xử lý công việc máy móc, thiếu chủ động hoặc làm chậm tiến độ dự án do nguyên nhân chủ quan. Trường hợp cần thiết, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét điều động, bố trí, thay thế.

    Đối với các dự án có tổng vốn đầu tư trên 50 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng, Tổ công tác của Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp theo dõi, xử lý, đôn đốc; Sở Tài chính là đầu mối chung. Các dự án từ 50 tỷ đồng trở xuống do Chủ tịch UBND xã, phường nơi có dự án trực tiếp theo dõi, giải quyết những khó khăn thuộc thẩm quyền.

    Rút ngắn thời gian xử lý, theo dõi tiến độ hằng tuần

    Nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, các cơ quan, đơn vị được lấy ý kiến về những nội dung liên quan đến xử lý dự án phải có ý kiến trong thời hạn một ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản. Quá thời hạn không có ý kiến được xem là thống nhất với nội dung lấy ý kiến và phải chịu trách nhiệm về nội dung đó.

    Các sở, ngành tập trung rà soát, tháo gỡ vướng mắc đối với những dự án năng lượng, nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, chăn nuôi, khu kinh tế và khu công nghiệp, nhất là những dự án có khả năng khởi công, tạo khối lượng hoặc đưa vào hoạt động trong năm 2026.

    Sở Tài chính được giao phối hợp với Thống kê tỉnh và các sở, ngành liên quan lượng hóa khối lượng thực hiện, năng lực sản xuất tăng thêm và đóng góp dự kiến của từng dự án vào tăng trưởng quý IV và cả năm 2026, đồng thời phục vụ xây dựng kịch bản tăng trưởng năm 2027.

    Các sở, ngành, địa phương phải cập nhật tiến độ và kết quả tháo gỡ vướng mắc đối với từng dự án. Sở Tài chính và Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Chủ tịch và các Phó Chủ tịch UBND tỉnh hằng tuần.

    Những vấn đề cấp bách hoặc vượt thẩm quyền phải được báo cáo ngay để kịp thời xem xét, giải quyết, không chờ đến kỳ báo cáo định kỳ.

    Bình An 

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-gan-tien-do-du-an-ngoai-ngan-sach-voi-danh-gia-kpi-lanh-dao-c56257181.epi

  • Gia Lai đầu tư gần 15 tỷ đồng xây ô chôn lấp rác tạm tại Long Mỹ

    Khởi động Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ.

    Nhằm bảo đảm xử lý rác sinh hoạt trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Nhà máy đốt rác phát điện Long Mỹ đi vào vận hành, tỉnh Gia Lai đã có chủ trương đầu tư dự án xây dựng ô chôn lấp tạm tại khu vực sân ủ lên men thuộc Khu xử lý chất thải rắn Long Mỹ, phường Quy Nhơn Tây với tổng vốn gần 14,93 tỷ đồng. Công trình có dung tích tiếp nhận khoảng 238.990 m³ rác, tương đương hơn 155.000 tấn, thời gian sử dụng dự kiến khoảng 10,2 tháng.

    Theo Quyết định số 4218/QĐ-UBND ngày 6/10/2026 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai, dự án được triển khai trên diện tích khoảng 2,9 ha, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý.

    Thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn 2026-2027, chủ đầu tư là Sở Xây dựng tỉnh Gia Lai; Ban Quản lý dịch vụ công Quy Nhơn được giao tổ chức triển khai.

    Dự án là được triển khai nhằm bảo đảm khả năng tiếp nhận, chôn lấp hợp vệ sinh chất thải rắn sinh hoạt khi ô chôn lấp A4 đã đầy, trong thời gian chờ nhà máy đốt rác phát điện vận hành.

    Việc đầu tư ô chôn lấp tạm nhằm duy trì hoạt động tiếp nhận, xử lý rác, đồng thời tận dụng quỹ đất và đất đào tại chỗ để hạn chế chi phí đầu tư, đáp ứng yêu cầu an toàn và bảo vệ môi trường.

    Theo thiết kế sơ bộ, ô chôn lấp được đào sâu khoảng 5m, đắp bờ bao cao khoảng 5 m, tổng chiều cao từ đáy đến đỉnh bờ khoảng 10 m. Đáy ô và mái ta luy phía trong được lót màng chống thấm HDPE dày 2 mm; đáy ô có lớp cát đệm dày 30 cm. Hệ thống thu gom nước rỉ rác sử dụng đường ống HDPE đường kính 315 mm, dẫn về hố thu rồi bơm đến trạm xử lý.

    Dự án đồng thời đầu tư hệ thống thoát nước mưa, đường vào và đường xuống đổ rác, bãi quay đầu xe, điện chiếu sáng, mương thoát nước và hoàn trả các tuyến đường bị ảnh hưởng; bố trí cây xanh cách ly nhằm phục vụ vận hành và bảo đảm yêu cầu môi trường.

    Dự án có tổng mức đầu tư dự án là 14,927 tỷ đồng; trong đó, chi phí xây dựng hơn 12,18 tỷ đồng, chi phí quản lý dự án khoảng 347,7 triệu đồng, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng hơn 856,3 triệu đồng, chi phí khác hơn 183,2 triệu đồng và chi phí dự phòng hơn 1,35 tỷ đồng.

    Trước đó, vào tháng 6/2026, Công ty cổ phần Năng lượng Xanh ADG Bình Định đã khởi công xây dựng Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện.

    Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ được triển khai trên diện tích khoảng 10 ha, với tổng mức đầu tư gần 1.600 tỷ đồng, công suất xử lý khoảng 800 tấn rác mỗi ngày đêm, đồng thời phát điện với công suất 15 MW./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-dau-tu-gan-15-ty-dong-xay-o-chon-lap-rac-tam-tai-long-my-c56256906.epi

  • Lâm Đồng bảo đảm nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm

    Nhu cầu đất đắp các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng luôn ở mức cao

    Nhu cầu vật liệu tăng cao

    Lâm Đồng đã và đang triển khai nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn như cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc, Bảo Lộc – Liên Khương, dự án thành phần 2 thuộc tuyến cao tốc Gia Nghĩa – Chơn Thành, Cảng hàng không Phan Thiết và các khu tái định cư phục vụ dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam. Cùng với đó là hàng trăm công trình giao thông, dân sinh trên địa bàn tỉnh.

    Theo Sở Xây dựng tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2026 – 2030, tổng nhu cầu vật liệu xây dựng thông thường của các công trình, dự án dự kiến hơn 11,3 triệu m³ đá, hơn 3 triệu m³ cát và trên 36,8 triệu m³ vật liệu san lấp. Riêng các công trình trọng điểm cần hơn 4,2 triệu m³ đá, hơn 1 triệu m³ cát và trên 20 triệu m³ vật liệu san lấp.

    Một trong nhiều điểm khai thác cát dọc sông Krông Nô, địa bàn xã Quảng Phú, tỉnh Lâm Đồng

    Nhu cầu vật liệu tăng cao khiến nhiều nhà thầu gặp khó khăn trong việc tìm nguồn cung. Ông Tưởng Duy Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Nhà Tây Đà Lạt (khu vực Đà Lạt) cho biết, thời gian qua, doanh nghiệp của ông và nhiều đơn vị thi công cầu, đường thiếu nguồn đá, cát xây dựng, ảnh hưởng đến tổ chức thi công và làm tăng chi phí đầu tư.

    Theo ông Hưng, nguồn cung đá, cát từ các mỏ ở khu vực Đà Lạt và vùng phụ cận chưa đáp ứng đủ nhu cầu, buộc doanh nghiệp phải tìm mua vật liệu từ khu vực Ninh Thuận (Khánh Hòa), cách công trường gần 100 km.

    Chi phí vận chuyển khiến giá vật liệu đến công trường tăng đáng kể. Đáng chú ý, giá cát, đá hiện nay giao tại công trường lên gần 800.000 đồng/m³ nhưng chưa có hóa đơn, gây thêm khó khăn cho doanh nghiệp trong việc kiểm soát chi phí và triển khai thi công.

    Dự án đường bộ cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc đoạn đi qua địa bàn xã Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đang cần huy động lượng lớn đất đắp, vật liệu xây dựng cát, đá

    Theo đánh giá của Sở Xây dựng, tổng công suất các mỏ đá hiện có cơ bản đáp ứng nhu cầu chung. Tuy nhiên, khả năng cung ứng đá, cát chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu theo từng năm, trong khi vật liệu san lấp thiếu hụt lớn so với nhu cầu dự kiến.

    Nguyên nhân là một số mỏ đã khai thác hết công suất trong năm, nhiều mỏ khác chưa thể hoạt động do vướng thủ tục đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và các điều kiện pháp lý. Biến động giá nhiên liệu cũng làm tăng chi phí khai thác, sản xuất và vận chuyển vật liệu.

    Từng bước khơi thông nguồn cung

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, toàn tỉnh hiện có 204 giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng và vật liệu san lấp còn hiệu lực.

    Trong đó, 82 giấy phép khai thác đá xây dựng có tổng công suất hơn 8,1 triệu m³/năm; 56 giấy phép khai thác cát, cuội, sỏi có tổng công suất hơn 1,32 triệu m³/năm và 30 giấy phép khai thác vật liệu san lấp có tổng công suất hơn 1,07 triệu m³/năm.

    Tuy nhiên, công suất được cấp phép chưa phản ánh đầy đủ khả năng cung ứng thực tế. Việc rà soát trữ lượng, điều kiện khai thác và năng lực cung cấp của từng mỏ là cơ sở để xác định nguồn vật liệu có thể đưa ra thị trường, đáp ứng nhu cầu của các dự án.

    Thi công các công trình hạ tầng quy mô lớn đòi hỏi nguồn vật liệu xây dựng ổn định, đáp ứng yêu cầu về tiến độ và chất lượng. Trong ảnh, một mỏ khai thác đá trên địa bàn xã Hiệp Thạnh, Lâm Đồng. (Ảnh: CTV)

    Để bổ sung nguồn cung, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh khoanh định 36 khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, phục vụ 73 công trình, dự án. Các ban quản lý dự án, chủ đầu tư, nhà đầu tư, nhà thầu và địa phương được đôn đốc hoàn thiện hồ sơ, sớm đưa những khu vực đủ điều kiện vào khai thác.

    Trong điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh xác định 1.159 khu vực, điểm mỏ khoáng sản nhóm III, nhóm IV. Trong số này có 163 khu vực, điểm mỏ được bổ sung mới, tạo cơ sở khảo sát, đánh giá tiềm năng và phát triển nguồn cung.

    Đối với các mỏ đã được cấp phép nhưng chưa hoạt động, tỉnh tập trung rà soát nguyên nhân, phối hợp tháo gỡ vướng mắc về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng; đôn đốc chủ mỏ hoàn thiện hồ sơ nâng công suất, gia hạn hoặc cấp phép khai thác theo quy định.

    Các dự án nâng cấp tuyến đường liên tỉnh, liên xã, đặc biệt là các dự án giao thông trọng điểm đang triển khai tại Lâm Đồng làm gia tăng nhu cầu đá, cát và đất san lấp phục vụ thi công

    Ngoài nguồn từ các mỏ, tỉnh cũng rà soát đất đào, đất san nền dôi dư từ các dự án để tận dụng làm vật liệu san lấp khi đáp ứng điều kiện. Việc khai thác hiệu quả các nguồn vật liệu sẵn có góp phần hạn chế lãng phí tài nguyên và giảm áp lực tìm kiếm mỏ mới.

    Chủ động nguồn vật liệu, ổn định thị trường

    Cùng với nguồn cung, kiểm soát giá vật liệu xây dựng là yêu cầu quan trọng nhằm hạn chế chi phí phát sinh tại các công trình.

    Theo Sở Xây dựng, giá vật liệu thường biến động theo mùa vụ; chi phí nhiên liệu tăng cũng tác động trực tiếp đến giá khai thác, sản xuất và vận chuyển, nhất là tại các công trình nằm xa mỏ.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Hồng Hải (thứ 2 từ phải qua) kiểm tra thực địa, đốc thúc tiến độ thi công Dự án cao tốc Bảo Lộc – Liên Khương

    Cơ quan chuyên môn ghi nhận dấu hiệu một số đại lý, chủ mỏ găm hàng, tạo khan hiếm giả hoặc ép giá khi nhu cầu tăng cao. Tình trạng này có thể làm tăng chi phí xây dựng, gây khó khăn cho nhà thầu, nhất là đối với các hợp đồng đã xác lập đơn giá từ trước.

    UBND tỉnh giao Sở Xây dựng theo dõi diễn biến thị trường, nâng cao chất lượng công bố giá vật liệu và kịp thời đề xuất giải pháp bình ổn. Chủ đầu tư, nhà thầu cùng các đơn vị sản xuất, kinh doanh vật liệu được yêu cầu cung cấp thông tin về giá trúng thầu, giá thanh toán và giá niêm yết, làm cơ sở cập nhật dữ liệu sát với thực tế.

    Lâm Đồng triển khai đồng bộ các giải pháp điều tiết nguồn cung, kiểm soát giá vật liệu, góp phần bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm. Trong ảnh, cao tốc Vĩnh Hảo – Phan Thiết (Lâm Đồng) dài 100,8 km đi vào vận hành, khai thác từ năm 2023

    Trước đó, từ cuối năm 2025 tới nay, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười đã ký nhiều văn bản yêu cầu các sở, ngành phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư, nhà thầu, các địa phương tháo gỡ khó khăn về nguồn cung, đẩy nhanh giải quyết thủ tục khai thác và vận chuyển vật liệu.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Công an tỉnh, Thanh tra tỉnh, Thuế tỉnh, Chi cục Quản lý thị trường tăng cường thanh tra, kiểm tra việc xuất hóa đơn, chứng từ mua bán vật liệu khoáng sản của các chủ mỏ, bảo đảm phù hợp thực tế giá bán và quy định hiện hành, đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

    Việc chủ động nguồn cung gắn với kiểm soát giá và quản lý chặt hoạt động khai thác, kinh doanh vật liệu của cơ quan chức năng sẽ góp phần hạn chế gián đoạn thi công, nâng cao hiệu quả đầu tư và bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm của tỉnh.

    Chính Thành

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-bao-dam-nguon-vat-lieu-cho-cac-cong-trinh-trong-diem-c56257054.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!