Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Gần 1.700 tỷ đồng đầu tư xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng

    Sân bay quốc tế Đà Nẵng. Ảnh: THÀNH LÂN

    Theo quyết định được phê duyệt, Bộ Xây dựng là cấp quyết định đầu tư, Ban Quản lý dự án Thăng Long được giao làm chủ đầu tư. Dự án dự kiến được triển khai trong giai đoạn từ năm 2026 đến 2028.

    Dự án nhằm xây dựng và cải tạo đường cất hạ cánh, đường lăn tại Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, bảo đảm khai thác an toàn, hiệu quả các dòng tàu bay Code E như B747, B787, A350 hoặc tương đương.

    Qua đó, góp phần đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không ngày càng tăng, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh của thành phố Đà Nẵng cùng khu vực duyên hải miền Trung.

    Đây là dự án nhóm B với quy mô xây dựng, cải tạo đường cất hạ cánh 17R/35L và hệ thống đường lăn của Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, đáp ứng tiêu chuẩn cấp sân bay 4E của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO).

    Cục Hàng không Việt Nam chịu trách nhiệm đề xuất chủ trương đầu tư và bảo đảm tính chính xác của các thông tin, số liệu trong hồ sơ. Đồng thời nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Vụ Kế hoạch – Tài chính để hoàn thiện hồ sơ báo cáo, chuyển giao kết quả nghiên cứu cho Ban Quản lý dự án Thăng Long; phối hợp, hỗ trợ chủ đầu tư trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi và triển khai dự án bảo đảm tiến độ.

    THÀNH LÂN

    Nguồn https://baomoi.com/gan-1-700-ty-dong-dau-tu-xay-dung-cai-tao-duong-cat-ha-canh-cang-hang-khong-quoc-te-da-nang-c55902644.epi

  • Hà Nội đề xuất hỗ trợ người dân lắp điện mặt trời mái nhà, tối đa 6 triệu đồng/hộ

    Theo dự thảo Nghị quyết, đối tượng được hưởng chính sách là các hộ gia đình sở hữu nhà ở riêng lẻ trên địa bàn thành phố và đáp ứng đủ các điều kiện quy định.

    Hà Nội đề xuất hỗ trợ người dân lắp điện mặt trời mái nhà, tối đa 6 triệu đồng/hộ. Ảnh: PVN

    Về mức hỗ trợ kinh phí cụ thể, nếu người dân chỉ lắp đặt hệ thống điện mặt trời không kèm bộ lưu trữ, mức hỗ trợ là 1 triệu đồng/1 kWp tổng công suất định mức, tối đa không quá 3 triệu đồng/hộ.

    Trường hợp hộ gia đình lắp đặt đồng bộ cùng hệ thống lưu trữ điện, thành phố sẽ hỗ trợ thêm 1 triệu đồng/1 kWh dung lượng lưu trữ (tối đa thêm 3 triệu đồng). Như vậy, tổng mức kinh phí hỗ trợ cao nhất mà một hộ gia đình có thể nhận là 6 triệu đồng.

    Để được xét duyệt, hệ thống điện mặt trời của người dân phải đảm bảo công suất từ 1 kWp trở lên; nếu có hệ thống lưu trữ điện lắp đặt đồng bộ thì dung lượng phải từ 2 kWh trở lên. Người dân cần đáp ứng các quy định pháp luật hiện hành về phát triển nguồn điện và phải cam kết duy trì sử dụng hệ thống đúng mục đích trong tối thiểu 3 năm kể từ ngày nhận kinh phí.

    Mức hỗ trợ sẽ được tính toán dựa trên các thông số (công suất, dung lượng) ghi trên tài liệu kỹ thuật thiết bị, đồng thời không được vượt quá số tiền thực tế hợp pháp mà người dân đã thanh toán sau khi trừ đi các khoản hỗ trợ khác của Nhà nước (nếu có). Mỗi nhà ở riêng lẻ chỉ được nhận hỗ trợ một lần duy nhất trong suốt thời gian Nghị quyết có hiệu lực.

    Về quy trình thủ tục, người dân có thể linh hoạt nộp hồ sơ bằng hình thức trực tiếp, qua đường bưu điện hoặc nộp trực tuyến tại UBND cấp xã, phường nơi lắp đặt hệ thống.

    Kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tổng thời gian tiếp nhận, giải quyết và chuyển tiền hỗ trợ sẽ không quá 15 ngày làm việc. Trong đó, thời hạn để Chủ tịch UBND cấp xã phê duyệt là không quá 10 ngày làm việc và thời gian chuyển kinh phí không quá 5 ngày làm việc tiếp theo.

    Dự thảo cũng phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý. Theo đó, UBND cấp xã, phường sẽ trực tiếp hướng dẫn hộ gia đình về thiết kế, an toàn chịu lực của công trình và các quy định phòng cháy, chữa cháy. Chủ tịch UBND cấp xã cũng là người có thẩm quyền phê duyệt cũng như thu hồi kinh phí. Đồng thời, các đơn vị điện lực quản lý lưới điện khu vực có trách nhiệm hướng dẫn người dân về kỹ thuật lắp đặt, đấu nối để đảm bảo an toàn điện.

    Cơ quan quản lý nhấn mạnh, hộ gia đình sẽ bị thu hồi toàn bộ số tiền hỗ trợ nếu vi phạm một trong các lỗi: tự ý tháo dỡ hệ thống trước thời hạn cam kết 3 năm, sử dụng hệ thống sai mục đích, cung cấp hồ sơ giả mạo để trục lợi, hoặc vi phạm các quy định an toàn đến mức buộc phải thu hồi.

    Minh Chí

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-de-xuat-ho-tro-nguoi-dan-lap-dien-mat-troi-mai-nha-toi-da-6-trieu-dong-ho-c55902841.epi

  • Lâm Đồng có 421 cơ sở nhà, đất dôi dư, 280 cơ sở đang bỏ trống

    Theo Thông báo kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tỉnh Lâm Đồng có 421 cơ sở nhà, đất dôi dư cần xử lý. Trong số này, 326 cơ sở thuộc địa phương và 95 cơ sở do các bộ, ngành Trung ương bàn giao về địa phương tiếp nhận.

    Tổng diện tích đất của 421 cơ sở lên tới 991.232,24 m², cùng 286.788,24 m² diện tích nhà. Tuy nhiên, phần lớn số tài sản này chưa được đưa vào khai thác, sử dụng do còn vướng mắc về bàn giao, hồ sơ pháp lý, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Thanh tra Chính phủ đánh giá nếu được đưa vào khai thác, sử dụng, giá trị nguồn lực đất đai được khơi thông là rất lớn.

    Hàng trăm cơ sở bỏ trống

    Một trong những vấn đề nổi bật được chỉ ra là tình trạng nhà, đất dôi dư bị bỏ trống trong thời gian dài.

    Cụ thể, có 280 cơ sở nhà, đất với tổng diện tích đất 641.837,95 m² đang bỏ trống, không sử dụng. Trong đó, 115 cơ sở đã bỏ trống, không sử dụng trên 12 tháng, với tổng diện tích đất 268.051,25 m²; 165 cơ sở bỏ trống dưới 12 tháng, với tổng diện tích 373.786,7 m².

    Thanh tra Chính phủ cũng phát hiện 6 cơ sở tạm giao sử dụng với tổng diện tích đất 8.302,1 m², không đúng hình thức xử lý khi sắp xếp cơ sở nhà, đất. Bên cạnh đó, 142 cơ sở có diện tích đất 289.185,2 m² nhưng trong hồ sơ bàn giao không có hồ sơ về tài sản công đối với cơ quan, tổ chức được giao quản lý.

    Đáng chú ý, có tới 388 cơ sở trong hồ sơ không có biên bản kiểm tra hiện trạng. 219 cơ sở với diện tích đất 437.938,05 m² khi bàn giao chưa xác định giá trị quyền sử dụng đất. Thanh tra Chính phủ cũng phát hiện 17 cơ sở chưa thực hiện đúng nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản công trong quá trình quản lý, kê khai.

    Qua thanh tra trực tiếp 10 cơ sở nhà, đất, cơ quan thanh tra nhận thấy một số cơ sở đã bỏ trống, không sử dụng trong nhiều năm nhưng chưa thực hiện các thủ tục sắp xếp, xử lý theo quy định, khiến tài sản xuống cấp, hư hỏng và gây lãng phí nguồn lực Nhà nước.

    158 cơ sở có thể khai thác ngay

    Theo Thanh tra Chính phủ, trong tổng số 421 cơ sở nhà, đất dôi dư, hiện có 158 cơ sở với tổng diện tích đất 357.719 m² và diện tích nhà 104.437 m² đã được chuyển giao về Trung tâm Phát triển quỹ đất và Trung tâm Quản lý nhà tỉnh Lâm Đồng, có thể đưa vào khai thác, sử dụng.

    Thanh tra Chính phủ cho rằng Trung tâm Quản lý nhà cần tập trung tổ chức đấu giá, cho thuê đối với các nhóm nhà có lợi thế thương mại, nhà có diện tích lớn và các nhóm nhà có diện tích nhỏ nhằm sớm khai thác giá trị. Trong khi đó, Trung tâm Phát triển quỹ đất được yêu cầu ưu tiên tiếp nhận, quản lý, bảo toàn quỹ đất sạch và tổ chức đấu giá thương mại để nhanh chóng chuyển hóa giá trị nhà, đất dôi dư thành nguồn lực tài chính.

    Thanh tra Chính phủ đồng thời chỉ ra nhiều bất cập trong quá trình xử lý tài sản. Có 204 cơ sở nhà, đất được điều chỉnh phương án xử lý nhưng không kiểm tra hiện trạng trước khi ban hành quyết định. Ngoài ra, Trung tâm Quản lý nhà, Trung tâm Phát triển quỹ đất và UBND 18 xã, phường chưa hoàn thành việc tiếp nhận 29 cơ sở nhà, đất do các bộ, cơ quan Trung ương chuyển giao. 21 xã, phường chậm lập hồ sơ thực hiện phương án xử lý tài sản, dẫn tới chậm phê duyệt phương án xử lý nhà, đất dôi dư sau sáp nhập.

    Thanh tra Chính phủ kiến nghị UBND tỉnh Lâm Đồng rà soát, điều chỉnh các phương án đã phê duyệt nhưng không còn phù hợp thực tế; chấm dứt tình trạng xử lý tài sản theo hình thức “tạm giao” và chuyển sang các hình thức xử lý đúng quy định.

    Đồng thời, tỉnh được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý, cập nhật đầy đủ dữ liệu nhà, đất vào cơ sở dữ liệu và phần mềm quản lý tài sản công; đẩy nhanh việc tiếp nhận, bàn giao và lập, trình duyệt phương án xử lý đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp.

    Thanh tra Chính phủ cũng yêu cầu thực hiện dứt điểm các phương án xử lý đã được phê duyệt, đặc biệt với các cơ sở đang bỏ trống, không sử dụng; ưu tiên bố trí, điều chuyển tài sản đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức và kiểm tra những cơ sở đã có phương án nhưng chậm đưa vào sử dụng để tránh kéo dài tình trạng lãng phí nguồn lực nhà nước.

    Châu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-co-421-co-so-nha-dat-doi-du-280-co-so-dang-bo-trong-c55902677.epi

  • Đề xuất di dời di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Bắc Ninh

    Mục tiêu đầu tư Cảng hàng không quốc tế Gia Bình theo các chuẩn mực quốc tế là đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, phục vụ khai thác lưỡng dụng, bảo đảm hoạt động an ninh, quốc phòng và các sự kiện đối ngoại quan trọng, trong đó có Hội nghị Cấp cao APEC năm 2027; đạt tiêu chuẩn dịch vụ cảng hàng không quốc tế 5 sao… và trở thành cảng hàng không trung chuyển hành khách, hàng hóa và cơ sở bảo dưỡng, sửa chữa, đại tu máy bay của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

    Việc hoàn thành đồng bộ Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và tuyến đường kết nối, kịp thời phục vụ Hội nghị Cấp cao APEC 2027 là nhiệm vụ chính trị, ngoại giao quan trọng hàng đầu, bắt buộc phải thực hiện. Các dự án nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh.

    Trong quá trình nghiên cứu phương án hướng tuyến của Dự án đường kết nối, UBND tỉnh Bắc Ninh, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan đã đề xuất nhiều giải pháp khác nhau, xác định “khu vực dự án có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh (Đình Cả Đông Côi và Đình Tam Sơn) không có phương án khả thi giữ nguyên hiện trạng trong quá trình tổ chức triển khai giải phóng mặt bằng, thi công đầu tư xây dựng tuyến đường này”. Trên cơ sở đó, lãnh đạo Chính phủ đã thống nhất về chủ trương di dời 2 di tích này thực hiện theo quy định của pháp luật và do Quốc hội quyết định, cần phải thực hiện thủ tục báo cáo Quốc hội theo quy định.

    Pháp luật về di sản văn hóa không quy định về việc di dời, chuyển di tích và phải phù hợp với các quy định khác của pháp luật có liên quan, trong đó có khoản 5 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 ngày 19/02/2025: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.

    Tại Hiến chương Venice – Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ năm 1964, Điều 7 quy định: “Một di tích là không thể tách rời khỏi lịch sử mà nó là chứng nhân, không thể tách rời khỏi khung cảnh mà nó toạ lạc. Vì vậy, việc di chuyển toàn bộ hoặc bộ phận di tích là không được phép làm, trừ phi do đòi hỏi của việc bảo vệ di tích đó hoặc do những lý do xác thực vì lợi ích quốc gia hoặc quốc tế hết sức quan trọng”.

    Đồng thời, trong thực tiễn, để giải quyết nhiệm vụ cấp bách về giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 256/2025/QH15 về chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình. Nội dung Điều 2 Nghị quyết số 256/2025/QH15 quy định: “UBND tỉnh Bắc Ninh được phép di chuyển các di tích lịch sử – văn hóa (các cấp) trong quá trình triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện đầu tư Dự án. Việc di chuyển được thực hiện trên cơ sở phương án do UBND tỉnh Bắc Ninh quyết định, bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, Chính phủ hướng dẫn thực hiện”.

    Trên cơ sở đó, Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp báo cáo và đề xuất, kiến nghị về cơ chế, chính sách cho phép áp dụng di dời 2 di tích nêu trên; giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh Bắc Ninh, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hồ sơ và thực hiện trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật khác có liên quan.

    Căn cứ sự cần thiết phải thực hiện, mục đích, vai trò của các dự án nêu trên; căn cứ tình hình thực tiễn và áp dụng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thông lệ quốc tế có liên quan, Chính phủ đã nghiên cứu, trình Quốc hội dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách áp dụng cho việc di chuyển di tích trong phạm vi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tinh thần của Nghị quyết thể hiện 4 trụ cột chính:

    Thứ nhất, xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng (chỉ cho phép trong phạm vi thực hiện dự án án tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội).

    Thứ hai, việc di chuyển phải được đặt trong cơ chế đặc thù được Quốc hội quyết định tại Điều 2 Nghị quyết 256; đồng thời, phải có phương án cụ thể do cơ quan có thẩm quyền quyết định, bảo đảm bảo tồn tối đa các yếu tố cấu thành di tích, phát huy giá trị di tích sau di chuyển.

    Thứ ba, công khai, minh bạch và tham vấn cộng đồng phải là yêu cầu bắt buộc. Người dân phải được biết di tích sẽ chuyển đến đâu và phải được tham gia vào quá trình xây dựng phương án bảo tồn, phục hồi tại địa điểm mới, gắn với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng sau khi đã tái định cư, bảo đảm “Dân ở đâu di tích ở đó”.

    Thứ tư, trách nhiệm phải đi cùng thẩm quyền. UBND tỉnh Bắc Ninh (TP Bắc Ninh tính từ ngày 20/9/2026) phải chịu trách nhiệm về hồ sơ khoa học, phạm vi, ranh giới, phương án di chuyển và kết quả bảo tồn, phục hồi, phát huy giá trị di tích.

    Hiện nay, vị trí di chuyển và phương án di chuyển đã được tham vấn cộng đồng, đại diện cộng đồng địa phương nơi có di tích đồng thuận, ủng hộ; khu đất lắp dựng đình vẫn gắn với cộng đồng cũ, rộng rãi hơn và tiếp tục bảo đảm cảnh quan văn hóa của di tích và không gian văn hóa liên quan đến cộng đồng chủ thể, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân. Theo phương án của UBND tỉnh Bắc Ninh, đình cũ xây dựng bằng bê tông sẽ được Nhà nước đầu tư xây dựng lại bằng kết cấu gỗ truyền thống, được đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở phục vụ nhu cầu của Nhân dân.

    Dự kiến phương án triển khai di chuyển di tích của UBND tỉnh Bắc Ninh như sau:

    Đình Đông Côi:

    Thuộc phường Thuận Thành, được xếp hạng di tích cấp tỉnh (tại Quyết định số 1048/QĐ-UBND ngày 17/9/2015). Theo thông tin địa phương cung cấp, di tích nằm trên thửa đất có diện tích 2.657m2. Hiện trạng di tích gồm 3 hạng mục chính (Đại đình, Nhà bia, Nghi môn). Trong đó, Đại đình (Đại bái, Hậu cung) có diện tích 444,6m2, mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm Đại bái 5 gian, 2 chái, Hậu cung 3 gian, bộ khung vì được làm bằng chất liệu bê tông cốt thép; Nhà bia có diện tích khoảng 60m2, kiến trúc kiểu chồng diêm 02 tầng mái, toàn bộ hệ khung vì được làm bằng bê tông cốt thép; Nghi môn kiểu tứ trụ, được làm bằng đá xanh.

    Phương án di chuyển được đề xuất: Địa phương đề nghị hoàn trả di tích về vị trí khu Nghè Nhất (có diện tích 3.084m2), nằm giáp khu dân cư hiện hữu; Phương án, cách thức di chuyển đến địa điểm mới: Tu bổ (phục hồi) tòa Đại đình, Hậu cung tại vị trí mới với khung chịu lực bằng vật liệu gỗ lim; tháo dỡ di chuyển cổng đình bằng đá hiện trạng, lắp dựng lại tại vị trí mới; tôn tạo (xây dựng mới) các hạng mục: Tiền tế, Tả vu, Hữu vu, nhà bia, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, tường rào, hạ tầng kỹ thuật…; tài liệu, hiện vật: Bảo quản, di chuyển, lắp đặt, bài trí nguyên trạng hệ thống tài liệu hiện vật thuộc di tích sau khi hoàn thành việc di chuyển tòa Đại đình, Hậu cung về địa điểm mới.

    Đình Tam Sơn:

    Thuộc xã Lương Tài, được xếp hạng di tích cấp tỉnh (tại Quyết định số 225/QĐ-CT, ngày 10/3/2003); nằm trên thửa đất có diện tích 915m2. Hiện trạng di tích bao gồm 2 hạng mục chính (Đại bái và Hậu cung), với quy mô diện tích 105m2, mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm: Đại bái 3 gian, 2 chái, kiến trúc 4 mái đao cong; Hậu cung 2 gian. Toàn bộ công trình có bộ khung chịu lực bằng gỗ lim. Về diện tích hoàn trả: Địa phương đề nghị bổ sung diện tích giếng đình, ao đình để có cơ sở tính toán, khi hoàn trả diện tích đất đình tại địa điểm mới (tổng diện tích đất hiện nay bao gồm đất đình, giếng đình và ao đình là khoảng trên 3.000m2).

    Phương án di chuyển di tích được đề xuất: Di chuyển đến địa điểm mới; tu bổ (phục hồi) toà Đại đình trên cơ sở di chuyển nguyên trạng hạng mục Đại bái, Hậu cung hiện nay đến địa điểm mới lắp dựng lại, kết hợp việc tu bổ, thay thế các cấu kiện gỗ bị hư hỏng; tôn tạo (xây mới) các hạng mục: Tả vu, Hữu vu, cổng đình, giếng đình, ao đình, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, tường rào, hạ tầng kỹ thuật, mộ Thành hoàng làng (nếu có),…; đối với tài liệu, hiện vật: Bảo quản, di chuyển, lắp đặt, bài trí nguyên trạng hệ thống tài liệu hiện vật thuộc di tích sau khi hoàn thành việc di chuyển tòa Đại đình, Hậu cung về địa điểm mới; sau khi hạ giải công trình tòa Đại bái, Hậu cung để di chuyển về địa điểm mới, đề nghị cho phép khai quật khẩn cấp toàn bộ diện tích công trình đình làng để tìm dấu tích ngôi mộ Thành hoàng làng (Theo Thần tích, đình được xây dựng trên phần mộ của Thành hoàng làng là Tướng quân Phạm Hồng).

    Theo thuyết minh của UBND tỉnh Bắc Ninh (Tại các Tờ trình: số 66/TTr-UBND ngày 28/3/2026, số 151/TTr-UBND ngày 22/5/2026, số 180/TTr-UBND ngày 08/6/2026, số 239/TTr-UBND ngày 01/7/2027 và Công văn số 8091/UBND-KTN ngày 26/7/2026) đều đề xuất di chuyển 3 di tích lịch sử – văn hóa, gồm đền Tân Trăn (xã Lâm Thao), đình Đông Côi (phường Thuận Thành) và đình Tam Sơn (xã Lương Tài), với lý do các di tích này nằm trong khu vực phải thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội (đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh) và Dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân.

    Theo đó, UBND tỉnh Bắc Ninh đã xác định: Đề xuất di chuyển 3 di tích này thể hiện rõ việc là phương án đề xuất khi không có biện pháp nào khác có thể thực hiện: “Qua quá trình nghiên cứu, rà soát các phương án kỹ thuật và quy hoạch, việc điều chỉnh hướng tuyến hoặc thay đổi phương án đầu tư nhằm tránh hoàn toàn các di tích nêu trên không bảo đảm tính khả thi, đồng thời ảnh hưởng đến yêu cầu về quốc phòng, an ninh, hiệu quả đầu tư và tiến độ thực hiện dự án”. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện di dời các di tích bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành giá trị di tích và đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án là yêu cầu thực tiễn cấp thiết hiện nay” .

    Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về di sản văn hóa của Việt Nam chỉ quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, không quy định vấn đề di chuyển di tích. Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa mà Việt Nam là thành viên (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO) không quy định vấn đề di chuyển di tích. Điều 4 Công ước quy định: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này tự nhận trách nhiệm đảm bảo việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hóa và thiên nhiên… nằm trên lãnh thổ của mình”.

    Do đó, việc xây dựng và ban hành chính sách này không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết của quốc gia thành viên tham gia Công ước 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO. Tại Điều 7 Hiến chương Venice xác định: “Một di tích là không thể tách rời khỏi lịch sử mà nó là chứng nhân, không thể tách rời khỏi khung cảnh mà nó toạ lạc. Vì vậy, việc di chuyển toàn bộ hoặc bộ phận di tích là không được phép làm, trừ phi do đòi hỏi của việc bảo vệ di tích đó hoặc vì những lý do xác thực vì lợi ích quốc gia hoặc quốc tế hết sức quan trọng”.

    Thực tiễn, trong tiền lệ, liên quan đến việc di chuyển di tích, Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quội hội về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Gia Bình đã cho phép Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh được phép di chuyển các di tích lịch sử – văn hóa (các cấp) trong quá trình triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện đầu tư Dự án.

    Việc di chuyển được thực hiện trên cơ sở phương án do Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh quyết định, bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, Chính phủ hướng dẫn thực hiện (Điều 2 Nghị quyết). Tuy nhiên, Nghị quyết này chỉ cho phép di chuyển các di tích lịch sử văn hóa trong phạm vi của Dự án cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

    HP/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-di-doi-di-tich-lich-su-van-hoa-tai-tinh-bac-ninh-c55902702.epi

  • Tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành 3 dự án độc lập

    Kết quả biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập. Ảnh: VPQH

    Theo đó, Quốc hội quyết nghị tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành 3 dự án độc lập.

    Đó là dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 (bao gồm: Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và các dự án thành phần khác).

    Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2 (bao gồm: Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và các dự án thành phần khác).

    Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2.

    Theo Nghị quyết, việc lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, tổ chức triển khai thực hiện Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2 được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành, tương ứng với hình thức đầu tư, nguồn vốn phù hợp của từng dự án.

    Khi cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt hiệu lực của Nghị quyết số 41/2009/QH12 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

    Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 tiếp tục triển khai theo các nội dung đã được phê duyệt.

    Trong đó, giao UBND tỉnh Khánh Hòa làm cơ quan chủ quản Dự án. Trong thời gian chờ bố trí tái định cư, UBND tỉnh được phép bố trí nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở cho người có đất ở bị thu hồi để phục vụ Dự án.

    Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được áp dụng hình thức chỉ định thầu theo quy trình rút gọn đối với các gói thầu tư vấn, phi tư vấn theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

    Việc lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định thu hồi đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Nguồn vốn thực hiện Dự án là nguồn vốn ngân sách trung ương, nguồn tăng thu, tiết kiệm chi, nguồn dự phòng ngân sách trung ương hằng năm và các nguồn vốn hợp pháp khác. Kế hoạch vốn đã giao, số vốn đã bố trí, đã giải ngân trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực tiếp tục được thực hiện, thanh toán, quyết toán theo quy định.

    Trường hợp phát sinh nội dung chưa được quy định tại Nghị quyết này hoặc có khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, Chính phủ xem xét, quyết định theo thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trong thời gian giữa hai kỳ họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Đáng chú ý, Nghị quyết quy định rõ sẽ tiếp tục áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt đã được ban hành theo Nghị quyết số 189/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 121/2026/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho 3 dự án độc lập được tách ra từ Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

    Trường hợp cần thiết, Chính phủ báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc biệt trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, tổ chức triển khai thực hiện từng dự án sau khi báo cáo và được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.

    Đ. KHOA

    Nguồn https://baomoi.com/tach-du-an-dien-hat-nhan-ninh-thuan-thanh-3-du-an-doc-lap-c55902921.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!