Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Vì sao quy hoạch trăm năm cần nhiều thang thời gian?

    Cả Hà Nội và TP.HCM đều công bố hoặc thảo luận những bản quy hoạch với tầm nhìn kéo dài tới một thế kỷ. Đây là một bước tiến so với chu kỳ quy hoạch 10 năm, tầm nhìn 20 – 30 năm quen thuộc (Luật Quy hoạch 2025) và “tư duy nhiệm kỳ” vốn phổ biến.

    Nhưng chính vì thời hạn quá dài, câu hỏi cần được trả lời: Quy hoạch trăm năm thực sự là gì, có phải là bản đồ mô tả chính xác thành phố năm 2125, hay chỉ là một khung định hướng cho những gì cần gìn giữ và những gì có thể thay đổi? Câu hỏi này quan trọng bởi một thành phố không biến đổi như một khối thống nhất. Trong cùng một không gian có những thứ thay đổi trong vài ngày, vài năm; có những thứ cần nhiều thế hệ và có những thứ được hình thành qua hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm.

    Nói cách khác, một thành phố không chỉ có nhiều lớp không gian mà còn có nhiều nhịp thời gian.

    Hãy nhìn một cây cầu, một ngôi làng và một dòng sông. Cả ba cùng xuất hiện trên một tấm bản đồ quy hoạch nhưng không “sống” theo cùng một “chiếc đồng hồ”. Ảnh: Nguyễn Hải

    Cây cầu, ngôi làng, dòng sông

    Người Việt nói “bãi bể nương dâu”, người Trung Hoa bảo “tang điền thương hải” (ruộng dâu hóa biển xanh, biển xanh rồi có thể lại thành ruộng dâu). Triết gia Hy Lạp Heraclitus viết “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Ba cách diễn đạt từ ba nền văn hóa khác nhau nhưng cùng một nhận thức: thời gian làm thay đổi mọi sự vật, có khi trong từng khoảnh khắc, có khi qua bao thế hệ. Nếu vậy, một thành phố sau một thế kỷ càng không thể được hình dung như một bức tranh đẹp bất động treo tường.

    Điều quy hoạch tầm nhìn trăm năm cần xác lập không phải là hình dạng cuối cùng của thành phố, mà là những nguyên tắc đủ bền vững để thành phố thích nghi với những biến đổi tất yếu, bởi trong một thế kỷ các sự vật không hình thành và biến đổi theo cùng một nhịp.

    Hà Nội đang bước vào giai đoạn chỉnh trang và tái thiết đô thị với quy mô lớn. Kinh nghiệm từ nhiều thành phố trên thế giới cho thấy, mỗi quyết định quy hoạch không chỉ tác động đến hạ tầng và kinh tế mà còn ảnh hưởng lâu dài tới cộng đồng cư trú, sinh kế và bản sắc đô thị. Ảnh: CTV

    Hình ảnh giải phóng mặt bằng Dự án nạo vét, xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường bờ bắc kênh Đôi (TP.HCM). Ảnh: Trung Dũng

    Hãy nhìn một cây cầu, một ngôi làng và một dòng sông. Cả ba cùng xuất hiện trên một tấm bản đồ quy hoạch nhưng không “sống” theo cùng một “chiếc đồng hồ”. Cây cầu có thể được thiết kế và xây dựng trong vài năm. Một ngôi làng cần nhiều thế hệ để hình thành đủ cộng đồng cư trú, sinh kế, quan hệ xã hội và ký ức. Một dòng sông và hệ sinh thái của nó có thể được kiến tạo qua hàng nghìn năm.

    Tốc độ phá hủy và phục hồi của chúng cũng khác xa nhau. Một cây cầu có thể sập trong vài phút vì bão lũ và được xây lại trong vài năm. Một ngôi làng có thể bị giải tỏa trong vài tháng để lấy đất làm hạ tầng nhưng để cộng đồng hình thành lại ký ức, tập quán, mạng lưới họ hàng, quan hệ láng giềng và sinh kế như trước có thể cần nhiều thế hệ – nếu còn có thể. Một dòng sông có thể bị nắn dòng, san lấp hay ô nhiễm chỉ trong vài chục năm nhưng để phục hồi lòng sông, bãi bồi và hệ sinh thái có khi mất nhiều trăm năm, thậm chí không còn khả năng cứu vãn.

    Nhưng trên bản quy hoạch “tầm nhìn trăm năm”, cây cầu, ngôi làng và dòng sông vẫn nằm cùng một tấm bản đồ như thể chúng cùng vận động theo một nhịp thời gian. Nghịch lý ấy cho thấy bản đồ thể hiện rõ không gian nhưng lại che khuất thời gian; trong khi quy hoạch dài hạn không chỉ tổ chức không gian mà còn phải nhận diện những khác biệt về thời gian của các thành phần tạo nên đô thị.

    Ngày 11.5.2026, HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, quy mô  hơn 11.400 ha với khoảng 50.000 hộ dân (khoảng 200.000 người) chịu ảnh hưởng. Trong ảnh: Hiện trạng (trên) và Phối cảnh dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đoạn qua khu vực nội đô Hà Nội. Ảnh: Đức Nguyễn

    Ba ví dụ trên không ngẫu nhiên. Chúng thuộc ba hệ thống nền tảng của cách tiếp cận SETS (Social – Ecological – Technological Systems): xã hội (làng), sinh thái (sông), công nghệ (cầu). Ba hệ thống ấy không chỉ khác nhau về chức năng mà còn khác nhau về nhịp thời gian. Đây mới là điều đáng suy nghĩ nhất trong tư duy quy hoạch dài hạn. Bởi khi một thành phố có nhiều chiếc đồng hồ cùng chạy, rủi ro lớn xuất hiện khi chiếc đồng hồ nhanh can thiệp vào chiếc đồng hồ chậm. Một bãi bồi ven sông có thể bị san lấp trong vài tuần để làm đường, trong vài năm để xây nhà. Nhưng hành lang thoát lũ mà nó đảm nhiệm nếu bị phá vỡ có thể cần hàng trăm năm để phục hồi, thậm chí không thể. Vậy không thể dùng tốc độ của cái nhanh để quyết định số phận của cái chậm.

    Một quy hoạch trăm năm không thất bại chỉ vì dự báo sai vài con số về dân số, công nghệ hay phương thức vận tải (những dự báo ấy vốn luôn có khả năng sai). Nó thất bại khi không phân biệt được đâu là phần sai vẫn có thể sửa và đâu là phần nếu sai vĩnh viễn không thể phục hồi, hoặc phải mất rất nhiều thời gian, của cải mới có thể khôi phục.

    Bão Yagi năm 2024 là một lời nhắc về chiếc đồng hồ xã hội. Cơn bão chỉ đi qua trong vài ngày nhưng phá hủy những gì con người xây dựng trong nhiều năm. Sau bão, một khu dân cư gượng đứng dậy được không chỉ nhờ con đường đã sửa chữa mà còn nhờ mạng lưới họ hàng, láng giềng – những thứ hình thành chậm nhưng lại trở thành chỗ dựa cho con người trong cơn khủng hoảng.

    Đại dịch Covid-19 cũng cho thấy điều tương tự. Khi các chuỗi cung ứng chính thức bị đứt gãy trong những đợt phong tỏa thì chính những mạng lưới nhỏ của cộng đồng, với những hình thức trao đổi và mua bán không chính thức, đã giúp cư dân đô thị duy trì cuộc sống, trong khi các hệ thống lớn và chính thức tạm thời tê liệt.

    Trong những ngày thành phố bị phong tỏa vì Covid-19, những mạng lưới mua bán nhỏ vẫn giúp đời sống đô thị vận hành, trong khi các hệ thống lớn bị gián đoạn. Ảnh: Trần Trung Chính

    Điều này dẫn đến một nghịch lý: những thứ có thể xây dựng lại nhanh thường không phải là những thứ quyết định khả năng phục hồi của đô thị. Một tuyến đường hay một cây cầu có thể được sửa chữa, xây lại trong thời gian ngắn. Nhưng một cộng đồng bị phân tán, một hệ sinh thái bị phá vỡ hay một mạng lưới xã hội bị đứt gãy cần nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ, để hình thành lại.

    Vì vậy chậm không đồng nghĩa với lạc hậu. Nhiều khi chính cái chậm là bộ nhớ và sức chống chịu của thành phố. Nên điều cần được bảo vệ không chỉ là hình dạng đô thị mà là các khả năng (điều kiện đất đai, sinh kế, mạng lưới xã hội…) để mỗi thế hệ tiếp tục kiến tạo và tái tạo không gian sống phù hợp với thời đại của mình.

    Phối cảnh trước và sau khi tái thiết ngoài đê phường Hồng Hà (khu vực gần cầu Nhật Tân). Ảnh: HUPI

    Tầm nhìn không phải là quy hoạch và chuyện nhanh – chậm

    Cũng cần phân biệt rõ hai khái niệm đang đặt cạnh nhau: tầm nhìn và quy hoạch. Quy hoạch theo nghĩa chặt chẽ là công cụ tổ chức không gian và sử dụng đất. Nó phải trả lời những câu hỏi tương đối cụ thể: Ở đâu (đất)? Bố trí cái gì (công trình)? Với mục đích nào (cho việc gì)?

    Tầm nhìn trăm năm lại trả lời câu hỏi khác: Thành phố muốn trở thành gì và muốn giữ lại điều gì trong quá trình trở thành nó?

    Một bên cần cụ thể, một bên phải đủ khái quát. Vì vậy tầm nhìn không nên bị hiểu như một bản tiên đoán về tương lai. Nó nên là một tập hợp những nguyên tắc đủ bền vững để dẫn dắt nhiều thế hệ quy hoạch khác nhau. Nói gọn: tầm nhìn xác định hướng đi của tương lai xa, quy hoạch xác định cách tổ chức không gian cho mục tiêu gần. Hai khái niệm bổ sung cho nhau nhưng không nên đồng nhất. Một quy hoạch tốt không phải là quy hoạch dự báo đúng mọi thứ sẽ xảy ra mà cho phép xã hội sửa sai nhưng không phải trả giá bằng những tổn thất vô cùng lớn.

    100 năm: Những thứ không được phép mất: rừng, sông, hành lang thoát lũ, hệ sinh thái, cấu trúc định cư, mạng lưới xã hội.

    Nếu thành phố vận hành theo nhiều nhịp thời gian, nhiệm vụ của quy hoạch tầm nhìn trăm năm không thể là cố định một bức tranh về thành phố năm 2125 – không nhà quy hoạch nào có thể dự báo chính xác điều đó. Điều cần quản lý trước hết là sự khác biệt về tốc độ biến đổi và khả năng phục hồi. 

    Những gì thuộc nhịp nhanh: công nghệ, mô hình kinh doanh, phương thức vận tải, nhu cầu sử dụng không gian – cần được để mở, đủ linh hoạt để thay đổi.

    Những gì thuộc nhịp chậm: hành lang thoát lũ, hệ sinh thái nền tảng, cấu trúc cảnh quan, quỹ đất của các khu định cư lâu đời, những mạng lưới xã hội có giá trị – cần những giới hạn bảo vệ đủ bền vững để vượt qua nhiều nhiệm kỳ và nhiều thế hệ. Tầm nhìn dài hạn phải bảo vệ không chỉ hình thái mà cả chức năng, quan hệ và năng lực tái sinh của những cấu trúc hình thành chậm.

    Tri thức về hệ thống đê điều cũng giúp một nguyên tắc quan trọng. Một công trình phòng chống lũ không thể chỉ được thiết kế theo những gì xảy ra thường xuyên qua vài chục năm trước mắt. Nó phải tính đến những sự kiện hiếm gặp nhưng có hậu quả lớn trong nhiều trăm năm, bởi hậu quả của việc đánh giá thấp rủi ro có thể kéo dài vượt xa dăm nhiệm kỳ của thể chế.

    Những đợt nước lớn nhắc lại vai trò nguyên thủy của sông Hồng như một hành lang thoát lũ của toàn vùng châu thổ. Ảnh: Vietnam+

    Sụt lún diễn ra trên diện rộng, từ trung tâm đến ngoại thành TP.HCM. Có nơi tốc độ lún lên tới 8cm/năm. Trong ảnh: Sạt lở bờ kênh Thanh Đa thuộc phường Thạnh Mỹ Tây (trước là phường 25, quận Bình Thạnh) khiến nhiều nhà dân có nguy cơ đổ sập. Ảnh: Trung Dũng

    Vậy nếu một con đê được tính toán với tầm nhìn rủi ro hàng trăm năm thì việc bảo vệ hành lang thoát lũ, dòng sông, hệ sinh thái nền tảng hay những cấu trúc định cư có giá trị lâu dài cũng cần phải được nhìn bằng một thang thời gian tương tự. Từ quan điểm này có thể hình dung một cơ chế phù hợp hơn cho quy hoạch dài hạn với hai lớp thời gian cùng tồn tại trong một hệ thống quy hoạch.

    Lớp thứ nhất là ngưỡng bảo vệ dài hạn. Lớp này áp dụng cho những gì nếu mất đi sẽ rất khó hoặc không thể phục hồi: hành lang thoát lũ, hệ sinh thái nền tảng, các cấu trúc cảnh quan quan trọng, những khu định cư có giá trị lịch sử và những mạng lưới xã hội đặc biệt. Các giới hạn này phải đủ bền vững để không dễ dàng bị thay đổi chỉ bởi một chu kỳ đầu tư, một nhiệm kỳ hay một biến động ngắn hạn.

    Lớp thứ hai là quy hoạch không gian thích ứng. Đây là phần được rà soát định kỳ, chẳng hạn theo chu kỳ 10 hoặc 20 năm, dành cho phần còn lại của đô thị – nơi công nghệ, kinh tế, dân số, phương thức vận tải và lối sống có thể thay đổi nhanh hơn nhiều.

    Hai lớp ấy có thể cùng nằm trong một hệ thống quy hoạch nhưng không nhất thiết phải có cùng một chu kỳ hiệu lực. Đây có thể là cách để quy hoạch tầm nhìn trăm năm không trở thành một bản đồ cứng nhắc, rằng phần cần bảo vệ thì phải có thời gian dài; phần có thể thay đổi thì phải có không gian để thay đổi.

    Bản đồ quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật – Quy hoạch thổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.

    Đề xuất 10 vùng quản lý phát triển của TP.HCM theo dự thảo Quy hoạch tổng thể TP.HCM tầm nhìn 100 năm do Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, Bộ Xây dựng phối hợp với Công ty Tư vấn Boston (BCG) thực hiện. Mỗi vùng được xác định theo chức năng chủ đạo, điều kiện đất đai, hạ tầng, môi trường, bản sắc và yêu cầu kiểm soát phát triển. 

    Đọc một bản quy hoạch tầm nhìn trăm năm?

    Từ cách nhìn trên, khi đọc một bản quy hoạch dài hạn, có lẽ chúng ta không nên chỉ hỏi “Dự báo này có đúng không?” mà nên hỏi:

    1. Nó có phân biệt được cái gì thay đổi theo năm, theo thập kỷ và theo thế kỷ?

    2. Nó có xác lập được những ngưỡng bảo vệ đủ bền vững cho những gì cần hàng thế kỷ để hình thành hoặc phục hồi?

    3. Nó có để đủ khoảng trống cho những thế hệ con người chưa ra đời được tự quyết định phần còn lại?

    Bởi nếu quy hoạch chỉ nhìn thấy không gian mà không nhìn thấy thời gian thì cây cầu, ngôi làng và dòng sông sẽ bị đối xử như những đối tượng có cùng khả năng thay đổi. Đó chính là điều cần cảnh giác! Vì bản quy hoạch tầm nhìn trăm năm tốt không cần trả lời hết mọi câu hỏi ngay từ đầu mà cần làm rõ vấn đề nền tảng: đâu là ranh giới không được phép vượt qua và đâu là khoảng trống cần để lại cho mỗi thế hệ tự quyết định phần còn lại?

    Người dân xem sa bàn thể hiện quy hoạch tổng thể của toàn thành phố, nơi cập nhật đầy đủ và chi tiết nhất các nội dung chỉ giới mới của đồ án tầm nhìn 100 năm tại Triển lãm Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm tổ chức tại Bảo tàng Hà Nội hồi tháng 6.2026. Ảnh: Đoan Túc

    Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm đang gây lo lắng giải tỏa diện rộng làng cổ Bắc Biên – vùng đất có lịch sử hơn 1.000 năm gắn liền với buổi đầu định đô Thăng Long, quê hương của danh tướng Lý Thường Kiệt. Ảnh: Phan Anh Tuấn

    “Trải qua một cuộc bể dâu…” (Nguyễn Du) – sau một thế kỷ nữa công nghệ sẽ thay đổi. Những công trình mới sẽ xuất hiện, cảnh quan thành phố sẽ khác. Những ngành nghề hôm nay có thể biến mất và những ngành nghề chúng ta chưa từng biết sẽ ra đời.

    Một trăm năm là đủ dài để những dự báo lạc quan về công nghệ, kiểu viễn cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ giải phóng con người khỏi lao động mưu sinh thành hiện thực. Nghe rất hấp dẫn nhưng công nghệ tiến bộ không có nghĩa nó tự động thay đổi quan hệ sở hữu. Đồng ý AI có thể làm giảm nhu cầu lao động nhưng giá trị do nó tạo ra vẫn tập trung vào nhóm nhỏ người sở hữu nó. Thế nên thành phố trăm năm sau có thể vẫn mang cấu trúc phân tầng giàu/nghèo quen thuộc, chỉ khoác một lớp áo công nghệ mới.

    Và rồi sẽ có nhiều cây cầu xây mới, nhiều tuyến metro mở thêm, thêm nhiều tòa nhà vươn cao hơn lên trời xanh. Nhưng các cánh rừng nguyên sinh bị đốn hạ, nhiều dòng sông bị bó hẹp, các đập ngăn làm cạn kiệt nước, nhiều hệ sinh thái bị phá vỡ, một ngôi làng đã biến mất hay ký ức của một cộng đồng đã đứt gãy… thì không thể phục dựng chỉ bằng các dự án mới.

    Có lẽ giá trị lớn nhất của quy hoạch tầm nhìn trăm năm không nằm ở việc dự báo chính xác thành phố sẽ ra sao vào năm 2125 mà ở chỗ cho biết điều gì có thể thay đổi, điều gì cần được bảo vệ và điều gì không được phép đánh mất – để một thế kỷ sau, các thế hệ con cháu vẫn còn đủ không gian, ký ức và năng lực để lựa chọn tương lai của chính mình.

    Một bản đồ có thể chỉ một. Nhưng thành phố có nhiều chiếc đồng hồ. Có chiếc chạy theo mùa. Có chiếc chạy theo một đời người. Có chiếc chạy theo nhiều thế hệ. Và có những chiếc đồng hồ vận hành hàng thế kỷ. Có thể tầm nhìn trăm năm không phải là học cách nhìn xa hơn mà học cách đọc đúng “những chiếc đồng hồ” đang cùng nhau làm nên thành phố.

    Bởi quy hoạch tầm nhìn trăm năm, xét cho cùng không phải cố định tương lai – là điều bất khả – mà giữ cho tương lai còn khả năng được lựa chọn.

    Trần Trung Chính

    Nguồn https://baomoi.com/vi-sao-quy-hoach-tram-nam-can-nhieu-thang-thoi-gian-c56001703.epi

  • Nâng cao chất lượng cuộc sống từ nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn

    Trước đây, để có nước sử dụng, gia đình anh Tư Văn Trung, xóm Đông Nam, xã Vinh Quý và nhiều gia đình phải tự tìm nguồn, kéo đường ống tạm hoặc tận dụng những vật liệu sẵn có như tre, nứa để dẫn nước về nhà. Nguồn nước không ổn định, việc sử dụng phải tiết kiệm, trong khi điều kiện đầu tư hệ thống cấp nước kiên cố còn hạn chế. Từ khi được tiếp cận nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư công trình nước sinh hoạt, điều kiện sống của gia đình từng bước được cải thiện. Hệ thống dẫn và chứa nước được đầu tư phù hợp giúp gia đình chủ động hơn trong sinh hoạt, tạo thuận lợi cho chăn nuôi, sản xuất. Anh Trung cho biết: Trước đây, gia đình tôi phải lấy cây tre để kéo nước về nhà. Nay Nhà nước có chương trình hỗ trợ nước sạch, gia đình được vay vốn để đầu tư công trình nên điều kiện sinh hoạt thuận tiện hơn rất nhiều. Mong Nhà nước tiếp tục tạo điều kiện để bà con các xóm được tiếp cận nguồn vốn, có thêm điều kiện đầu tư công trình nước sinh hoạt, phục vụ cuộc sống.

    Tại xóm Hồng Tâm, xã Hạ Lang, nguồn vốn tín dụng chính sách giúp những hộ dân gặp khó khăn về nguồn nước từng bước giải quyết nhu cầu sinh hoạt. Là hộ ở cuối nguồn, gia đình anh Lê Chu Như từng gặp bất tiện do lượng nước không ổn định, hệ thống đường ống dẫn nước khó đầu tư. Từ khi tiếp cận chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, gia đình có điều kiện hoàn thiện công trình, chủ động hơn trong sử dụng nước. Anh Như chia sẻ: Trước đây việc sử dụng nước sạch gặp nhiều khó khăn. Sau khi được vay vốn từ chương trình, gia đình có hệ thống nước sạch riêng, việc sử dụng nước thuận tiện hơn, không còn bị ảnh hưởng bởi nguồn nước từ các hộ phía trên.

    Các thôn, xóm, trưởng xóm, các tổ chức chính trị – xã hội nhận ủy thác và Tổ tiết kiệm và vay vốn đóng vai trò cầu nối, tuyên truyền, hướng dẫn người dân nắm bắt chính sách, hoàn thiện hồ sơ và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích. Tại xóm Bắc Vọng, xã Vinh Quý, ngày càng có thêm nhiều hộ dân tiếp cận nguồn vốn để đầu tư các công trình nước sạch. Theo trưởng xóm Bắc Vọng Vương Văn Hưu,  nguồn vốn giúp các gia đình giải quyết tốt hơn nhu cầu về nước sinh hoạt, tạo thuận lợi trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. Mong thời gian tới chương trình tiếp tục có nguồn vốn để người dân có điều kiện tiếp cận và đầu tư các công trình thiết yếu.

    Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Hạ Lang phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn người dân tiếp cận nguồn vốn vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

    Thực hiện chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Hạ Lang phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội nhận ủy thác và Tổ tiết kiệm và vay vốn tuyên truyền, rà soát nhu cầu, hướng dẫn người dân hoàn thiện thủ tục, đưa nguồn vốn đến đúng đối tượng. Hiện chương trình được triển khai tại 4 xã: Hạ Lang, Vinh Quý, Quang Long, Lý Quốc, với 266 khách hàng đang vay vốn, tổng dư nợ 10 tỷ 874 triệu đồng. Từ đầu năm đến ngày 31/7/2026, Phòng Giao dịch giải ngân 4 tỷ 040 triệu đồng cho 85 lượt khách hàng. Nguồn vốn được sử dụng để xây mới, cải tạo, sửa chữa các công trình nước sạch và vệ sinh, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của các hộ gia đình. Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Hạ Lang Đặng Thị Ngọc Lan cho biết: Chương trình ngày càng được người dân quan tâm và mạnh dạn tiếp cận. Nguồn vốn giúp các hộ đầu tư công trình nước sạch, công trình vệ sinh, qua đó bảo đảm nguồn nước sinh hoạt, ổn định đời sống và tạo điều kiện phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo.

    Theo Quyết định số 10/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mức cho vay tối đa đối với chương trình được nâng từ 20 triệu đồng lên 25 triệu đồng đối với mỗi loại công trình, mỗi khách hàng; trường hợp vay cả 2 loại công trình, tổng mức vay tối đa 50 triệu đồng. Việc nâng mức cho vay tạo thêm dư địa để các hộ dân đầu tư những công trình có quy mô phù hợp, nhất là tại các địa bàn nông thôn còn khó khăn về hạ tầng. Khi nhu cầu nước sinh hoạt được bảo đảm, điều kiện vệ sinh được cải thiện, người dân có thêm cơ sở để tổ chức sản xuất, chăn nuôi, ổn định đời sống.

    Với chính sách tín dụng phục vụ nhu cầu thiết yếu, nguồn vốn ưu đãi đang tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống người dân. Mỗi công trình nước sạch, vệ sinh được đưa vào sử dụng góp phần cải thiện môi trường sinh hoạt, tạo nền tảng để các hộ dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số yên tâm phát triển kinh tế, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống.

      Khánh Toàn

    Nguồn https://baomoi.com/nang-cao-chat-luong-cuoc-song-tu-nuoc-sach-ve-sinh-moi-truong-nong-thon-c56001545.epi

  • Rà soát, xử lý nghiêm các mỏ không lắp trạm cân và camera giám sát

    Ảnh minh họa.

    Trước thực tế ghi nhận và phản ánh của phóng viên, một số mỏ đất, đá, cát trên địa bàn Thanh Hóa vẫn chưa lắp trạm cân, hệ thống camera giám sát hoặc lắp rồi nhưng mang tính đối phó, xe chở khoáng sản ra ngoài cố tình né tránh không qua trạm cân. Điều này gây nhiều bất cập. Chính quyền và cơ quan chức năng gặp khó khăn trong quản lý về khối lượng khai thác mỏ, xe quá khổ quá tải lưu thông trên đường… Ngày 31/8/2026, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa Lê Văn Tiến đã có văn bản số 16253/SNNMT trả lời TTXVN về việc báo cáo kết quả kiểm soát việc lắp đặt trạm cân, camera giám sát tại các mỏ khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh.

    Theo văn bản này, hiện tỉnh Thanh Hóa có 256 mỏ đã lắp đặt trạm cân, camera tại vị trí đưa khoáng sản khai thác ra khỏi khu vực mỏ hoặc tại khu vực nhà máy sản xuất; có 27 mỏ do không hoặc chưa đủ điều kiện để lắp đặt trạm cân như: mới được cấp phép chưa hoàn thiện thủ tục thuê đất, chưa đi vào hoạt động; mỏ có đơn vị đang đề nghị trả lại Giấy phép khai thác, mỏ sắp hết hạn; mỏ cát nhỏ lẻ ở các huyện miền núi có quy mô diện tích, trữ lượng nhỏ không có bãi tập kết cát; còn lại 50 mỏ chưa lắp đặt trạm cân, trong đó một số mỏ đơn vị báo cáo do khai trường hẹp không đảm bảo diện tích để lắp đặt và một số mỏ cát chưa lắp đặt do mỏ thuộc lòng sông.

    Về việc xử lý đối với những doanh nghiệp, chủ mỏ chưa thực hiện việc lắp đặt hoặc đã thực hiện nhưng không đáp ứng yêu cầu cho việc kiểm tra, giám sát, đến nay Sở Nông nghiệp và Môi trường đã xử lý vi phạm hành chính về hành vi chưa lắp đặt trạm cân và camera tại khu vực mỏ đối với 15 mỏ của 15 đơn vị.

    Việc chưa xử lý vi phạm đối với các mỏ đến nay chưa lắp đặt trạm cân, camera tại khu vực mỏ là do khu vực mỏ có khai trường hẹp, vị trí để lắp đặt trạm cân không đủ, địa hình nhiều khu vực trũng thấp dễ ngập lụt vào mùa mưa bão nên vị trí lắp đặt khó khăn. Do đó, thực hiện quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động khai thác tại mỏ, các đơn vị sử dụng thiết bị đo đạc và thiết bị cân khác để kiểm soát sản lượng khoáng sản khai thác tại mỏ trước khi đưa vào sản xuất, chế biến đảm bảo theo quy định.

    Văn bản này cũng trích dẫn, tại khoản 5 Điều 59 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và Khoáng sản quy định: “Thiết bị cân, thiết bị đo đạc phục vụ công tác kiểm soát trữ lượng, khối lượng khoáng sản đã khai thác: Thiết bị cân bao gồm trạm cân hoặc thiết bị cân khác được sử dụng đối với tất cả khoáng sản… Thiết bị đo đạc hoặc thiết bị cân đối với: đá ốp lát; cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển; thiết bị cân, thiết bị đo đạc, thiết bị giám sát hành trình phải có khả năng kết nối, phân tích, chia sẻ dữ liệu tự động với hệ thống thông tin, dữ liệu về hoạt động khoáng sản”.

    Vì vậy, hiện nay Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa vẫn tiếp tục làm việc với các đơn vị để kiểm tra, rà soát và đánh giá cụ thể nguyên nhân, lý do đối với từng mỏ. Trường hợp nếu các mỏ không thực hiện theo báo cáo và không đảm bảo theo quy định, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ xem xét xử lý hoặc tham mưu UBND tỉnh xử lý vi phạm (nếu có) đảm bảo theo quy định.

    Tin, ảnh: Việt Hoàng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-xu-ly-nghiem-cac-mo-khong-lap-tram-can-va-camera-giam-sat-c56001641.epi

  • Lào Cai đặt mục tiêu hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trước ngày 20/12/2026

    Cán bộ hướng dẫn người dân cung cấp thông tin, hồ sơ phục vụ cập nhật dữ liệu đất đai. (Ảnh: Đồng Thúy/TTXVN)

    Tỉnh Lào Cai sẽ đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại 27 xã, tập trung hoàn thành khối lượng đo đạc còn lại khoảng 37,7%, phấn đấu hoàn thành công tác đo đạc trong tháng 11/2026.

    Trên cơ sở đó, tỉnh tiếp tục hoàn thiện hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai, hoàn thành trước ngày 20/12/2026.

    Đây là một trong những nội dung chính của Kế hoạch số 420/KH-UBND tiếp tục thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh năm 2026, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai “đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung,” phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và chuyển đổi số.

    Theo Kế hoạch, tỉnh tiếp tục thu thập, rà soát, chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu đất đai theo các quy định, hướng dẫn mới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với khoảng 1,7 triệu thửa đất; bảo đảm dữ liệu đáp ứng các tiêu chí “đúng-đủ-sạch-sống”.

    Đồng thời, tiếp tục đồng bộ, cập nhật dữ liệu đối với các thửa đất đã được xây dựng nhưng có thay đổi, bảo đảm thống nhất với Hệ thống thông tin đất đai quốc gia.

    Đối với những khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc bản đồ địa chính không còn bảo đảm yêu cầu về chất lượng, độ chính xác, tỉnh sẽ rà soát, xác định cụ thể phạm vi, khối lượng để xây dựng kế hoạch đo đạc mới, đo đạc bổ sung, chỉnh lý và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

    Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đồng bộ, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đất đai theo tiêu chí mới với khoảng 3,9 triệu thửa đất. Trong đó, khoảng 1,8 triệu thửa thuộc các nhóm cần tiếp tục bổ sung, chuẩn hóa, nâng cấp; khoảng 0,5 triệu thửa cần bổ sung thông tin dữ liệu thuộc tính, dữ liệu phi cấu trúc hoặc đồng bộ dữ liệu; khoảng 1,6 triệu thửa đã được xây dựng cơ sở dữ liệu nhưng cần cập nhật theo tiêu chí mới. Nhiệm vụ này phấn đấu hoàn thành trước ngày 31/12/2026.

    Tỉnh cũng sẽ hoàn thiện hồ sơ, phương án và tổ chức lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin để thuê phần mềm, hạ tầng kỹ thuật phục vụ quản lý, vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, bảo đảm đáp ứng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, dự kiến hoàn thành trong quý 4/2026.

    Cùng với đó, Lào Cai tăng cường kết nối, chia sẻ và đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai của tỉnh với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác; kết nối, chia sẻ với cơ quan thuế theo quy định. Việc cập nhật biến động đất đai được thực hiện đầy đủ, kịp thời, duy trì đồng bộ, kết nối và chia sẻ dữ liệu thường xuyên, liên tục.

    Ủy ban Nhân dân các xã, phường có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong quá trình triển khai, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân phối hợp điều tra, đo đạc, kê khai, xác định ranh giới thửa đất; xác minh hiện trạng, nguồn gốc sử dụng đất và công khai hồ sơ theo quy định. Đồng thời, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu, hồ sơ địa chính; phối hợp đối soát, xác minh, bổ sung và hoàn thiện thông tin đất đai.

    Đến ngày 31/7/2026, tỉnh Lào Cai đã đồng bộ thành công 3.015.306 thửa đất đạt tiêu chí Nhóm 1 lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, xếp thứ nhất toàn quốc về kết quả đồng bộ dữ liệu theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

    Tỉnh đặt mục tiêu đến ngày 31/12/2026 hoàn thành 3.901.700 thửa đất đủ điều kiện đưa lên Nhóm 1, tương đương 81,9% tổng số thửa đất trên địa bàn./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/lao-cai-dat-muc-tieu-hoan-thanh-co-so-du-lieu-dat-dai-truoc-ngay-20-12-2026-c56001574.epi

  • Chủ tịch TP.HCM yêu cầu thay cán bộ, công chức không phù hợp vị trí

    Nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính, Chủ tịch UBND TP.HCM vừa chỉ đạo thủ trưởng các sở, ban, ngành; chủ tịch UBND phường, xã, đặc khu, tăng cường chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong giải quyết thủ tục hành chính.

    Xử lý hành vi gây phiền hà, sách nhiễu

    Cụ thể, thủ trưởng các sở, ban, ngành; chủ tịch UBND phường, xã, đặc khu rà soát việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người trực tiếp tiếp nhận, hướng dẫn và giải quyết thủ tục hành chính; không tự đặt thêm thành phần hồ sơ, giấy tờ, yêu cầu điều kiện ngoài quy định.

    Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý hành vi thiếu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy công việc, gây phiền hà, sách nhiễu hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch, công bằng trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân được tiếp cận và giải quyết thủ tục hành chính bình đẳng, đúng quy định.

    Công chức TP.HCM hướng dẫn thủ tục hành chính cho người dân. Ảnh: Phan Anh.

    Đáng chú ý, Chủ tịch UBND TP.HCM yêu cầu nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu.

    Theo đó, người đứng đầu các đơn vị chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND TP.HCM nếu để xảy ra tình trạng cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính, gây phiền hà, nhũng nhiễu, kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính hoặc không kịp thời phát hiện, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, chủ động rà soát, xác định các khâu, lĩnh vực và vị trí công tác có nguy cơ phát sinh phiền hà, nhũng nhiễu, gây khó khăn hoặc chậm trễ trong giải quyết thủ tục hành chính; kịp thời chấn chỉnh, xử lý trách nhiệm của tập thể, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của Đảng và pháp luật.

    Đồng thời, thực hiện điều chuyển, thay thế đối với cán bộ, công chức, viên chức có năng lực hạn chế hoặc không đáp ứng yêu cầu hoặc không phù hợp vị trí thường xuyên tiếp xúc, giải quyết công việc cho người dân, doanh nghiệp.

    Xây dựng hệ thống tự động ghi nhận hồ sơ trễ hạn

    Chủ tịch UBND TP.HCM cũng yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành; chủ tịch UBND phường, xã, đặc khu, kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại Trung tâm Phục vụ hành chính công các cấp và các bộ phận trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính.

    Khai thác hiệu quả Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính để theo dõi tiến độ, thời gian xử lý hồ sơ; đảm bảo 100% hồ sơ thủ tục theo thẩm quyền phải được tiếp nhận và trả kết quả trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.

    Chủ tịch UBND TP.HCM giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, thống nhất xây dựng quy trình nội bộ, quy trình điện tử liên thông với cơ quan Thuế trong công tác xác định, thông báo và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, đảm bảo quy định cụ thể thành phần hồ sơ, thời gian cho từng bước xử lý và được cập nhật trạng thái trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính để người dân, doanh nghiệp thuận tiện theo dõi.

    Cùng đó, thiết lập cơ chế kiểm soát và đánh giá tự động; trường hợp hồ sơ giải quyết quá thời hạn quy định tại bước của cơ quan nào thì hệ thống tự động ghi nhận cơ quan đó thực hiện trễ hạn.

    Văn phòng UBND TP.HCM tăng cường kiểm tra việc chấp hành quy định về tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; đặc biệt, kiểm tra đột xuất các cơ quan đơn vị có nhiều hồ sơ tồn đọng, trễ hạn, hồ sơ bị dừng, hủy, hồ sơ yêu cầu bổ sung nhiều lần hoặc phát sinh nhiều phản ánh, kiến nghị; kịp thời báo cáo, kiến nghị Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo, chấn chỉnh.

    Tại phiên họp về tình hình kinh tế – xã hội tháng 8, giải pháp những tháng cuối năm 2026 ngày 4/9, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho biết khi làm việc với Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, khâu xử lý thủ tục hành chính còn nhiều vấn đề.

    Ông cho rằng nếu đã công bố cơ chế “một cửa” hồ sơ vẫn phải qua nhiều sở, ngành, việc xử lý sẽ chậm và cơ chế này không có ý nghĩa. “Chúng ta làm vậy mất nhà đầu tư”, ông Được nhấn mạnh.

    Chủ tịch UBND TP.HCM yêu cầu phân tích, tìm giải pháp để thực hiện cơ chế “một cửa” đúng nghĩa, trong đó có cả việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận đầu tư. Tinh thần là hồ sơ đầy đủ nộp trước 15h phải giải quyết trong ngày, sau 15h chuyển sang hôm sau.

    Phan Anh

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-tp-hcm-yeu-cau-thay-can-bo-cong-chuc-khong-phu-hop-vi-tri-c56001630.epi

  • Quản lý đất đai: Phân cấp linh hoạt, đảm bảo giá đất phải hài hòa lợi ích

    Quản lý đất đai. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

    Nhấn mạnh dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang được xây dựng theo hướng tinh gọn, chỉ quy định những nguyên tắc chung, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, song một số ý kiến chuyên gia, cơ quan quản lý cũng lưu ý rằng cùng với sự linh hoạt về quản lý, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm thống nhất về thủ tục, minh bạch về giá đất và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân có đất bị thu hồi.

    “Linh hoạt nhưng không thể mỗi nơi một cách”

    Nêu ý kiến về dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, ông Nguyễn Quốc Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội các nhà thầu xây dựng Việt Nam, cho rằng dự thảo luật mới nhất ngắn gọn hơn đáng kể so với Luật hiện hành, nhưng vẫn bao quát tương đối đầy đủ các vấn đề trọng tâm theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

    Đối với hai phương án phân cấp quản lý nhà nước về đất đai được nêu tại dự thảo, ông Nguyễn Quốc Hiệp đề nghị cơ quan soạn thảo lựa chọn phương án 1 (giao ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định toàn bộ các nội dung trọng tâm như thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất; sau đó căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương để cấp tỉnh tiếp tục chủ động phân cấp hoặc ủy quyền xuống cho cấp dưới theo quy định).

    Theo ông Hiệp, cách tiếp cận trên sẽ tạo được sự linh hoạt, giúp địa phương căn cứ đặc điểm địa bàn, mức độ phức tạp và năng lực bộ máy để phân cấp, ủy quyền phù hợp, hạn chế tình trạng ách tắc trong thực hiện.

    Trong khi đó, nhìn nhận từ khía cạnh cơ quan soạn thảo, xây dựng luật, quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai, ông Đào Trung Chính – Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, cho rằng mỗi phương án đều có ưu điểm và hạn chế. Thực tiễn triển khai Nghị định 151/NĐ-CP cho thấy việc phân định nhiệm vụ giữa cấp tỉnh và cấp xã gặp khó khăn do năng lực cán bộ không đồng đều. Những xã ở khu vực trung tâm cơ bản có đủ cán bộ thực hiện nhiệm vụ, trong khi một số xã vùng sâu, vùng xa thiếu nhân lực chuyên môn.

    Vì thế, Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ (ban hành đầu năm 2026) đã sửa đổi theo hướng giao ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế của từng xã, phường để tiếp tục phân cấp. “Cách làm này tạo sự linh hoạt cho địa phương nhưng đồng thời phải bảo đảm thống nhất về thủ tục hành chính, bởi các thủ tục phải được công bố công khai để người dân, doanh nghiệp căn cứ thực hiện quyền của mình,” ông Chính nói.

    Cũng theo Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, nếu mỗi địa phương có cách phân cấp, phân quyền khác nhau, việc công bố và thực hiện thủ tục cũng phải được thiết kế phù hợp, tránh gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

    Đất đai. (Nguồn ảnh: TTXVN)

    Bên cạnh đó, dự thảo luật cũng được xây dựng theo hướng tinh gọn. Luật Đất đai năm 2024 có 260 điều, trong khi dự thảo lần này chỉ còn khoảng 110 điều, tập trung vào các nguyên tắc chung; nhiều nội dung cụ thể sẽ được chuyển xuống nghị định của Chính phủ và quy định của các bộ, ngành.

    Giá đất phải hài hòa lợi ích, tái thiết cuộc sống sau thu hồi

    Bàn về vấn đề giá đất, ông Nguyễn Quốc Hiệp đánh giá các nguyên tắc định giá đất tại Điều 75 của dự thảo luật đã tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, đây vẫn là nội dung then chốt bởi giá đất là yếu tố quan trọng cấu thành chi phí đầu vào của doanh nghiệp, đồng thời tác động trực tiếp đến giá bất động sản.

    Chủ tịch Hiệp hội các nhà thầu xây dựng Việt Nam cho rằng các nguyên tắc định giá cơ bản kế thừa Luật Đất đai 2024, đồng thời bổ sung yêu cầu căn cứ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Nhưng để bảo đảm tính khả thi, các phương pháp định giá cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn.

    Theo đó, ông Hiệp đề xuất Điều 75 quy định rõ: “Giá đất do Nhà nước quyết định và quản lý.” Quy định này tạo cơ sở để Nhà nước chủ động điều tiết giá đất phù hợp tình hình thực tế và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Đối với bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất, ông Hiệp đề xuất dự thảo Luật Đất đai sửa đổi cần quy định khung nguyên tắc về thời hạn áp dụng, thời điểm điều chỉnh bảng giá đất; điều kiện, mức độ biến động của thị trường làm căn cứ điều chỉnh hệ số K.

    Từ góc độ cơ quan soạn thảo, ông Đào Trung Chính cho biết Nghị quyết 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu Nhà nước quyết định giá đất thông qua bảng giá đất, hệ số điều chỉnh, đồng thời có tỷ lệ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tỷ lệ bồi thường nhằm bảo đảm giá đất không quá cao, không tạo gánh nặng quá lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo ông Chính, nếu chỉ áp dụng một mức giá cho cả thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì có thể phát sinh bất cập.

    Theo ông Chính, mức giá phù hợp với doanh nghiệp chưa chắc đã bảo đảm quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi. Vì vậy, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu thêm hai tỷ lệ gồm tỷ lệ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tỷ lệ bồi thường, nhằm tạo dư địa để địa phương linh hoạt xử lý phù hợp điều kiện thực tế.

    Cũng theo ông Chính, định hướng bồi thường, tái định cư là chuyển từ tư duy bồi thường thiệt hại về đất sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi, tập trung vào sinh kế, việc làm và thu nhập. Các quy định có thể được thiết kế theo nguyên tắc chung để địa phương căn cứ điều kiện thực tế quyết định mức hỗ trợ phù hợp.

    Đối với trường hợp đất chậm đưa vào sử dụng, ông Chính cho rằng cần nghiên cứu áp dụng tiền lũy tiến, đồng thời cho doanh nghiệp thêm thời gian khắc phục trước khi xem xét thu hồi. Đặc biệt, cần nghiên cứu trường hợp doanh nghiệp chỉ chậm một phần dự án. Nếu thu hồi phần đất này có thể khiến toàn bộ dự án không thể thực hiện, do đó cần có cơ chế xử lý phù hợp.

    Đề cập thêm về cơ chế điều chỉnh giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất, ông Đào Trung Chính cho biết cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp về hệ số, thời gian thực hiện và cách thức điều chỉnh. Tuy nhiên, theo phân công mới, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ chuyển sang Bộ Tài chính. Vì vậy, các cơ quan cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện chính sách, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và ổn định khi triển khai Luật Đất đai trong thực tiễn.

    Về cải cách hành chính và chuyển đổi số, ông Chính cho biết dự thảo luật đã bỏ quy định về công chứng hợp đồng khỏi Luật theo hướng coi đây là nội dung thuộc trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, việc không quy định trong luật không đồng nghĩa với việc bỏ ngay công chứng. Do đó, nội dung này tiếp tục được quy định tại các nghị định và lấy ý kiến trong quá trình hoàn thiện./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quan-ly-dat-dai-phan-cap-linh-hoat-dam-bao-gia-dat-phai-hai-hoa-loi-ich-c56001433.epi

  • Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy họp kỳ thứ 9

    Đồng chí Nguyễn Sỹ Quân, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy chủ trì kỳ họp.

    Tại kỳ họp UBKT Tỉnh ủy xem xét, thảo luận và thống nhất kết luận theo thẩm quyền một số nội dung:

    1. Sau khi nghe Phòng Nghiệp vụ báo cáo, đề xuất Kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập bổ sung năm 2026; căn cứ các quy định hiện hành, UBKT Tỉnh uỷ thống nhất ban hành Quyết định, Kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập bổ sung năm 2026 đối với 15 người thuộc 7 cơ quan, đơn vị theo thẩm quyền, nâng tổng số đảng viên do UBKT Tỉnh ủy xác minh năm 2026 lên 50 người, chiếm 11,8% tổng số người thuộc diện xác minh theo phân cấp; việc xác minh sẽ hoàn thành trong tháng 11/2026.

    2. UBKT Tỉnh ủy nghe Tổ giám sát thường xuyên báo cáo kết quả giám sát thường xuyên việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tiếp nhận bàn giao, quản lý, sử dụng trụ sở khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính đối với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Núa Ngam, UBKT Tỉnh ủy nhận thấy: Ban Thường vụ Đảng ủy xã đã lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phổ biến, quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện tiếp nhận, bàn giao, quản lý, sử dụng trụ sở khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính cơ bản theo quy định.

    Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Đảng ủy xã chưa thường xuyên sát sao, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo dẫn đến còn một số hạn chế, khuyết điểm như: Đơn vị tiếp nhận tài sản chưa công khai việc hình thành tài sản; một số tài sản chậm xác định nguyên giá, giá trị còn lại và ghi tăng tài sản; thực hiện cập nhật biến động tài sản lên phần mềm tổng kiểm kê tài sản công chưa đầy đủ; chậm lãnh đạo, tổ chức thực hiện đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một số thửa đất theo quy định. Chưa chủ động phối hợp với đơn vị liên quan đến tiếp nhận, bàn giao một số dự án sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp…

    Căn cứ quy định của Đảng, UBKT Tỉnh ủy yêu cầu Ban Thường vụ Đảng ủy xã Núa Ngam tổ chức kiểm điểm, nghiêm túc rút kinh nghiệm, làm rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân liên quan đối với một số nội dung hạn chế, khuyết điểm; xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức khắc phục đồng bộ, dứt điểm, báo cáo UBKT Tỉnh ủy kết quả thực hiện trước ngày 30/10/2026.

    3. Sau khi nghe bộ phận tổng hợp báo cáo, UBKT Tỉnh ủy thống nhất đề nghị Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xem xét bổ sung 01 cuộc kiểm tra chuyên đề đối với 1 tổ chức đảng. UBKT Tỉnh ủy kiện toàn Tổ giám sát thường xuyên việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên trên địa bàn toàn tỉnh.

    4. Tại kỳ họp, UBKT Tỉnh ủy tổ chức phổ biến, quán triệt một số văn bản quan trọng của Trung ương, của Tỉnh ủy như Quy định số 212-QĐ/TW, ngày 17/8/2026 của Bộ Chính trị Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm (thay thế Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị khoá XIII về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Quy định số 264-QĐ/TW, ngày 14/2/2025 của Bộ Chính trị về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định số 69-QĐ/TW). Tham gia ý kiến vào Đề án xây dựng Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026). Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của Thường trực UBKT giữa 2 kỳ họp UBKT Tỉnh ủy và một số nội dung khác theo thẩm quyền.

    Vũ Công

    Nguồn https://baomoi.com/uy-ban-kiem-tra-tinh-uy-hop-ky-thu-9-c56001499.epi

  • Mang thủ tục hành chính về thôn

    Người dân thôn Tân Hạ được hướng dẫn các thủ tục hành chính tại hội trường thôn

    Đưa thủ tục hành chính đến gần dân

    Tại thôn Tân Hạ – một trong những thôn đặc biệt khó khăn của xã Tà Năng, buổi làm thủ tục hành chính không diễn ra tại trụ sở UBND xã như thường lệ. Cán bộ trung tâm phục vụ hành chính công mang theo máy tính, hồ sơ, biểu mẫu để trực tiếp hướng dẫn người dân ngay tại thôn.

    Đoàn viên, thanh niên xã Tà Năng hướng dẫn bà Cil Yũ K’Im đổi mật khẩu VNeID

    Với người dân vùng sâu, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, việc được cán bộ hướng dẫn trực tiếp ngay tại nơi sinh sống giúp giảm đáng kể việc đi lại, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong kê khai hồ sơ, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

    Theo ông Nguyễn Văn Tiệc, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tà Năng cho biết, nhu cầu của người dân tập trung nhiều ở nhóm thủ tục liên quan đến đất đai. Đây cũng là lĩnh vực thường có thành phần hồ sơ, giấy tờ tương đối phức tạp, người dân cần được hướng dẫn cụ thể để hoàn thiện ngay từ đầu.

    Sau khi 14 thôn được sắp xếp còn 8 thôn, địa bàn quản lý của mỗi thôn cũng rộng hơn. Bởi vậy, việc đưa dịch vụ hành chính xuống tận cơ sở không chỉ giúp người dân thuận tiện hơn mà còn trở thành một kênh để chính quyền trực tiếp nhận diện những vướng mắc phát sinh từ thực tế.
    Bà Cil K’Hạnh, Trưởng thôn Tân Hạ cùng cán bộ thôn tham gia kết nối, thông tin để người dân biết lịch làm việc, chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và đến điểm hỗ trợ. Sự phối hợp của lực lượng tại thôn giúp hoạt động không dừng ở một buổi “xuống cơ sở”, mà hướng tới giải quyết đúng những nhu cầu người dân đang cần.

    Đất đai là lĩnh vực phát sinh nhiều thủ tục hành chính cần được hỗ trợ nhiều nhất

    Mỗi tháng một thôn

    Ngay từ khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành từ ngày 1/7/2025, xã Tà Năng đã xác định việc giải quyết thủ tục hành chính phải thích ứng với đặc thù địa bàn vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu chỉ chờ người dân đến trung tâm phục vụ hành chính công, khoảng cách địa lý và những hạn chế về kỹ năng số có thể trở thành rào cản. Từ đó, địa phương duy trì cách làm mỗi tháng tổ chức một đợt tại một thôn, lần lượt đưa cán bộ và hoạt động hỗ trợ giải quyết thủ tục đến gần khu dân cư, từ đó hỗ trợ, giải quyết cho 200 lượt người dân mỗi tháng.

    Điểm đáng chú ý của cách làm này không nằm ở việc “làm thay” cho người dân, mà ở việc hướng dẫn để người dân hiểu quy trình, biết chuẩn bị hồ sơ và từng bước tiếp cận phương thức giải quyết thủ tục mới. Qua mỗi đợt về thôn, cán bộ cũng trực tiếp ghi nhận những nhóm thủ tục người dân thường gặp khó khăn để có phương án hướng dẫn phù hợp hơn.

    Theo ông Nguyễn Vũ Linh Sang, Chủ tịch UBND xã Tà Năng, với một địa phương có địa bàn rộng, dân cư phân tán và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, cải cách hành chính phải được đo bằng mức độ thuận tiện thực sự của người dân. Vì vậy, cùng với nâng cao chất lượng hoạt động tại trung tâm phục vụ hành chính công, địa phương lựa chọn cách chủ động đưa cán bộ xuống cơ sở, từng bước thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ hành chính giữa trung tâm xã và các thôn.

    “Với Tà Năng, thay đổi ấy bắt đầu từ những việc rất cụ thể: cán bộ đi thêm một chặng đường để người dân bớt một chặng đường; hồ sơ được kiểm tra từ thôn để người dân giảm những lần phải quay lại”, ông Nguyễn Vũ Linh Sang, Chủ tịch UBND xã Tà Năng chia sẻ.

    Mô hình được địa phương duy trì theo hình thức mỗi tháng đến một thôn

    Từ Tân Hạ, việc “mang thủ tục hành chính về thôn” đang cho thấy một cách tiếp cận phù hợp với địa bàn vùng sâu: không để khoảng cách địa lý trở thành khoảng cách giữa người dân với chính quyền. Khi chính quyền chủ động đi về phía người dân, mục tiêu xây dựng nền hành chính gần dân, sát dân cũng được cụ thể hóa từ những hồ sơ, thủ tục hằng ngày.

    “Không chỉ tiếp nhận nhu cầu của người dân, cán bộ còn trực tiếp kiểm tra thành phần hồ sơ, hướng dẫn kê khai và giải đáp những nội dung mà người dân chưa rõ. Với những trường hợp chưa thể hoàn tất tại chỗ, người dân được hướng dẫn cụ thể phần còn thiếu để hạn chế phải đi lại nhiều lần”, ông Nguyễn Văn Tiệc, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tà Năng cho hay.

    Thu Vi

    Nguồn https://baomoi.com/mang-thu-tuc-hanh-chinh-ve-thon-c56001536.epi

  • Thanh Hóa dẫn đầu cả nước về khơi thông nguồn lực phát triển

    Đồng chí Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh trực tiếp kiểm tra thực địa nhiều dự án tồn đọng, kéo dài, có nguy cơ gây thất thoát, lãng phí trên địa bàn phường Hạc Thành. Ảnh: Minh Hiếu.

    Đồng chí Tô Anh Dũng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trao đổi nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp và các vướng mắc phát sinh cần tháo gỡ Ảnh: Phong Sắc.

    Khai thông điểm nghẽn là mệnh lệnh phát triển

    Thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Thanh Hóa xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”. Để đạt được mục tiêu chiến lược này, bên cạnh việc thu hút dòng vốn mới, việc “hồi sinh” các dự án tồn đọng kéo dài là giải pháp then chốt để tạo ra dư địa tăng trưởng, đồng thời không làm mất đi cơ hội của nhà đầu tư cũng như của tỉnh.

    Dự án đường nối TP Thanh Hóa (cũ) với Cảng Hàng không Thọ Xuân bắt đầu thi công trở lại từ ngày 1/8.

    Tính đến hết tháng 8/2026, tỉnh đã tháo gỡ dứt điểm 287 dự án, đạt tỷ lệ gần 95% tổng số dự án tồn đọng, giải phóng nguồn vốn đầu tư lên tới hơn 236.600 tỷ đồng và gần 2.000 ha đất.

    Trong số 287 dự án đã được tháo gỡ có: 86 dự án “hồi sinh” đưa 105.158 tỷ đồng và hơn 310 ha đất trực tiếp tham gia vào nền kinh tế.

    129 dự án đang khẩn trương thực hiện các bước tiếp theo như: Giải phóng mặt bằng, bố trí vốn, lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện thi công, quyết toán… với số vốn 120.866 tỷ đồng và gần 1.233ha đất.

    Kiên quyết thu hồi 72 dự án với 439 ha đất vi phạm hoặc không đủ điều kiện để sẵn sàng bàn giao cho các nhà đầu tư có năng lực thực sự.

    Đáng chú ý, tại Khu kinh tế Nghi Sơn – trái tim công nghiệp của tỉnh – nơi đóng góp gần 60% tổng thu ngân sách, toàn bộ 31/31 dự án tồn đọng kéo dài đã được tháo gỡ dứt điểm thành công 100%, giải tỏa dòng vốn hàng chục nghìn tỷ đồng.

    Đồng chí Trịnh Huy Triều, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh cho biết: “Hiện tại, các chủ đầu tư đang tích cực triển khai các dự án trở lại với sự hỗ trợ đồng bộ từ chính quyền địa phương, tạo ra không khí đầu tư, sản xuất kinh doanh vô cùng phấn khởi. Tổng giá trị của các dự án tồn đọng được giải tỏa là rất lớn, lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng. Việc tháo gỡ thành công giúp doanh nghiệp tiếp tục giải ngân dòng vốn, tạo thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ mới cho xã hội và đóng góp trực tiếp vào chỉ số tăng trưởng”.

    Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp cũng cho rằng: “Đây là một chủ trương rất đúng đắn từ Trung ương đến cấp tỉnh. Nếu không quyết liệt tháo gỡ, dòng vốn lớn sẽ bị đóng băng, dự án không thể đi vào hoạt động và gây lãng phí nghiêm trọng nguồn lực phát triển”.

    Việc tháo gỡ thành công giúp doanh nghiệp tiếp tục giải ngân dòng vốn, tạo thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ mới cho xã hội và đóng góp trực tiếp vào chỉ số tăng trưởng.

    Trịnh Huy Triều

    Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban quản lý KKT Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa

    Đột phá từ cách làm

    Kết quả ấn tượng trên đến từ một quy trình điều hành khoa học, bài bản, kết hợp giữa quyết tâm chính trị cao độ và ứng dụng công nghệ hiện đại. Cụ thể, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chỉ thị số 08 khẳng định tháo gỡ khó khăn cho các dự án là “nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách” nhằm khơi thông nguồn lực phát triển, củng cố niềm tin trong Nhân dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo chuyên trách do các đồng chí lãnh đạo tỉnh làm Trưởng ban cùng các Tổ công tác đặc biệt trực tiếp đến hiện trường tại các địa bàn trọng điểm như Hạc Thành, Hàm Rồng, Sầm Sơn, Bỉm Sơn, Nghi Sơn… để kiểm tra, chỉ đạo gỡ vướng.

    Cùng với đó, tỉnh đã phân loại các dự án một cách khoa học nhằm tháo gỡ đúng nút thắt và giao đúng thẩm quyền. Trong đó tỉnh xác định: Điểm nghẽn lớn nhất trong xử lý dự án kéo dài là hệ thống pháp luật liên quan đến các lĩnh vực đất đai, đầu tư, quy hoạch. Trong đó có các nhóm dự án áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù của Trung ương gồm: Nghị quyết số 29/2026/QH16, Nghị định số 147/2026/NĐ-CP, Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP; Nhóm dự án thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương liên quan đến vướng mắc trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, quy hoạch, hạ tầng; Nhóm dự án phức tạp vượt thẩm quyền để kịp thời báo cáo Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương hướng dẫn.

    Để thực hiện triệt để nguyên tắc: “Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả”, tỉnh Thanh Hóa đưa vào vận hành phần mềm theo dõi tiến độ giải quyết khó khăn, vướng mắc cho các dự án, theo đó tất cả dữ liệu, nút thắt và hồ sơ được cập nhật liên tục.

    Đồng chí Lê Trọng Thụ, Giám đốc Sở Tài chính chia sẻ: “Trên cơ sở Nghị quyết số 29 của Quốc hội và Nghị quyết số 16 của Chính phủ về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trên địa bàn cả nước nói chung; tỉnh Thanh Hóa đã giao các sở, ngành nghiên cứu cụ thể từng dự án có khó khăn, vướng mắc để áp dụng các cơ chế, chính sách phù hợp. Quan điểm là tháo gỡ toàn diện và tháo gỡ, khơi thông hết các dự án, không để còn vướng mắc. Đây là tinh thần chỉ đạo chung của tỉnh: quyết tâm, quyết liệt và sâu sát đối với các ngành để tập trung, không đùn đẩy, né tránh công việc của sở này đẩy sang cho sở kia. Vì vậy hiệu quả của việc thực hiện công tác tháo gỡ này rất nhanh”.

    Quan điểm là tháo gỡ toàn diện và tháo gỡ, khơi thông hết các dự án, không để còn vướng mắc.

    Lê Trọng Thụ

    Giám đốc Sở Tài chính Thanh Hóa

    Nguồn lực khơi thông, kinh tế bứt phá

    Tỉnh Thanh Hoá nhìn thấy rõ vấn đề là: Các nguồn lực gồm đất đai, vốn, tài sản và niềm tin của nhà đầu tư chỉ tạo ra giá trị khi được chuyển động và đưa vào chuỗi sản xuất. Một dự án chậm tiến độ không đơn thuần là sự chậm trễ của một công trình, mà là hiện tượng “đóng băng” tài nguyên dẫn đến nguồn vốn bị nghẽn, đất đai lãng phí, ngân sách thất thu và niềm tin bị suy giảm.

    Khu thương mại, dịch vụ và dân cư B-TM1 thuộc khu đô thị mới Đông Hương, phường Hạc Thành – một trong những dự án tồn đọng đang được tỉnh tháo gỡ khó khăn để đưa vào vận hành.

    Chính vì vậy, tỉnh Thanh Hoá đã xác định: Tháo gỡ điểm nghẽn chính là hình thức thu hút đầu tư hiệu quả nhất. Việc giải phóng hàng trăm ngàn tỷ đồng và hàng nghìn hécta đất không chỉ giảm thất thoát, lãng phí, mà còn củng cố vững chắc niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân vào năng lực điều hành của chính quyền.

    Đại diện cho tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Thanh Hoá, ông Nguyễn Xuân Hưng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh cho rằng: “Sự quyết liệt của lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành trong tháo gỡ điểm nghẽn đã đem lại niềm tin rất lớn cho cộng đồng doanh nghiệp, và cộng đồng doanh nghiệp chúng tôi thấy rõ được điểm tựa từ phía chính quyền. Đây sẽ là động lực rất lớn để cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, tuân thủ pháp luật, chủ động liên kết và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số”.

    Sự quyết liệt của lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành trong tháo gỡ điểm nghẽn đã đem lại niềm tin rất lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Đây sẽ là động lực rất lớn để cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực quản trị, tuân thủ pháp luật, chủ động liên kết và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.

    Nguyễn Xuân Hưng

    Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh.

    Sẽ còn nhiều khó khăn do nhiều dự án có những vướng mắc kép, phức tạp. Song với tinh thần quản trị chủ động, không né tránh, không sợ sai, không sợ trách nhiệm, tỉnh Thanh Hóa đã và đang tạo nên một khí thế phát triển mới. Đây là tiền đề vững chắc để tỉnh tự tin giải ngân 100% vốn đầu tư công, duy trì đà tăng trưởng “hai con số”, vươn lên khẳng định vị thế một cực tăng trưởng năng động hàng đầu ở Bắc Trung Bộ.

    Minh Tuyết

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-hoa-dan-dau-ca-nuoc-ve-khoi-thong-nguon-luc-phat-trien-c56001414.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!