Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Nâng cấp năng lực cho Cảng Cam Ranh

    Dự án Xây dựng Bến số 2 – Cảng Ba Ngòi (giai đoạn 2) đã được Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) chấp thuận chủ trương đầu tư từ năm 2020 nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai. Mới đây, Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh có văn bản gửi UBND tỉnh kiến nghị sớm tháo gỡ vướng mắc, đầu tư dự án nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay.

    Vướng thủ tục đầu tư

    Dự án Xây dựng Bến số 2 – Cảng Ba Ngòi được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư ngày 9-4-2010 cho Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam với quy mô sử dụng đất khoảng 18ha. Dự án được khởi công ngày 26-5-2010 và đã đầu tư 3 phân đoạn thuộc bước 1 với tổng chiều dài 180m, chiều rộng 30m và được Cục Hàng hải Việt Nam công bố đưa vào khai thác trong năm 2013. Ngày 3-4-2013, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam chuyển giao Dự án Xây dựng Bến số 2 (giai đoạn 1) cho Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh để tiếp tục quản lý, khai thác và đầu tư.

    Tàu hàng cập Cảng Cam Ranh.

    Trong quá trình khai thác, sản lượng hàng hóa và tàu thuyền thông qua cảng ngày càng tăng. Năm 2019, được sự chấp thuận của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh thực hiện các thủ tục xin chủ trương đầu tư Dự án Đầu tư xây dựng nâng cao năng lực khai thác cầu cảng Ba Ngòi, với các hạng mục chính gồm: Xây dựng mới cầu dẫn; nâng cấp bến số 1 để tiếp nhận tàu trọng tải đến 50.000 tấn giảm tải; nâng cấp bến số 2 để tiếp nhận tàu trọng tải đến 70.000 tấn giảm tải và tàu trọng tải đến 7.000 tấn tại tuyến bến phía trong. Dự án này đã được Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) chấp thuận chủ trương đầu tư ngày 20-10-2020.

    Ông Nguyễn Văn Thắng – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh cho biết, qua rà soát hồ sơ, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Dự án Bến số 2 hiện vẫn đứng tên Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, trong khi dự án giai đoạn 1 đã được chuyển giao cho Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh quản lý, khai thác từ năm 2013. Việc điều chỉnh thông tin nhà đầu tư là nội dung cần được hoàn tất để công ty triển khai các bước tiếp theo của dự án theo quy định.

    Sớm triển khai để đáp ứng nhu cầu

    Trong những năm gần đây, sản lượng hàng hóa thông qua Cảng Cam Ranh tăng nhanh. Cụ thể, năm 2020 đạt khoảng 2 triệu tấn; năm 2025 đạt hơn 4,22 triệu tấn; đến hết tháng 8-2026, sản lượng đạt hơn 4,48 triệu tấn và dự kiến tiếp tục tăng trong những tháng cuối năm. Sản lượng tăng nhanh trong khi hệ thống cầu bến hiện hữu còn hạn chế đã tạo áp lực lớn đối với hoạt động khai thác. Hiện bến số 1 và bến số 2 sử dụng chung một cầu dẫn để kết nối với hệ thống kho, bãi phía trong. Cầu dẫn hiện hữu có bề rộng hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức đồng thời các luồng phương tiện, thiết bị và hàng hóa trong điều kiện sản lượng ngày càng tăng.

    Theo ông Thắng, việc sớm đầu tư cầu dẫn mới là cần thiết nhằm tăng năng lực kết nối giữa cầu cảng và khu hậu phương; phân luồng phương tiện; giảm ùn tắc, xung đột giao thông; nâng cao an toàn khai thác; đồng thời tạo điều kiện phát huy hiệu quả năng lực của bến số 1 và bến số 2. Mặt khác, việc 2 bến phụ thuộc vào một cầu dẫn cũng tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn hoạt động khai thác khi cầu dẫn hiện hữu phải sửa chữa, bảo trì hoặc xảy ra sự cố, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác của cả 2 bến. Theo phương án dự kiến, cầu dẫn mới được bố trí tại vị trí phù hợp với quy hoạch tổng thể dự án, có khả năng kết nối với hệ thống giao thông nội bộ và đáp ứng yêu cầu khai thác lâu dài của cảng. Hạng mục cầu dẫn không phải là hạng mục phát sinh ngoài dự án mà thuộc quy mô Dự án Xây dựng Bến số 2 – Cảng Ba Ngòi và Dự án Đầu tư xây dựng nâng cao năng lực khai thác cầu cảng Ba Ngòi đã được các cấp có thẩm quyền xem xét.

    Để sớm tháo gỡ khó khăn, bảo đảm điều kiện triển khai dự án và đáp ứng nhu cầu khai thác ngày càng tăng tại Cảng Cam Ranh, Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính và các cơ quan liên quan xem xét, hướng dẫn và hỗ trợ Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh sớm hoàn thành thủ tục điều chỉnh Dự án Xây dựng Bến số 2 – Cảng Ba Ngòi, trong đó có nội dung điều chỉnh nhà đầu tư từ Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam sang Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh theo quy định. Đồng thời, kiến nghị UBND tỉnh giao các sở, ngành liên quan phối hợp hướng dẫn Công ty Cổ phần Cảng Cam Ranh hoàn thiện các thủ tục về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường, hàng hải và các thủ tục có liên quan để sớm triển khai hạng mục cầu dẫn mới ngay sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

    VĂN KỲ

    Nguồn https://baomoi.com/nang-cap-nang-luc-cho-cang-cam-ranh-c56169358.epi

  • Xây dựng chính quyền số thực chất, an toàn

    Khánh Hòa đang xây dựng Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh, tạo nền tảng thống nhất để kết nối hạ tầng, dữ liệu và các nền tảng số từ tỉnh đến cơ sở, hạn chế đầu tư trùng lặp.

    Đầu tư đồng bộ hạ tầng số dùng chung

    Theo Quyết định số 1425, ngày 29-7-2026 của Thủ tướng Chính phủ, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số được xác định là cơ sở để các địa phương tổ chức, phát triển hệ thống số theo hướng thống nhất, đồng bộ. Thực hiện định hướng này, tỉnh Khánh Hòa đã đầu tư, hình thành khá đồng bộ hạ tầng số dùng chung. Toàn tỉnh có hệ thống điện toán đám mây riêng; mạng truyền số liệu chuyên dùng cấp II và mạng BCAnet kết nối từ trung ương đến xã, phường. Cáp quang băng rộng đã phủ 100% thôn có dân cư; tỷ lệ dân số được tiếp cận mạng 5G có bước phát triển vượt bậc, đạt 97,48%. Hệ thống giám sát an toàn, an ninh mạng (SOC) được triển khai theo mô hình 4 lớp, kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát quốc gia và đủ điều kiện kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

    Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tây Khánh Vĩnh hỗ trợ người dân nộp hồ sơ trực tuyến về thủ tục đất đai.

    Ở lớp dữ liệu và dịch vụ, tỉnh đã vận hành nền tảng LGSP, kho dữ liệu dùng chung và kết nối Hệ thống thông tin kinh tế – xã hội với Hệ thống báo cáo Chính phủ. Tỉnh cũng đã kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cổng Dịch vụ công tỉnh theo Đề án 06; văn bản điện tử liên thông 3 cấp được xử lý trên môi trường mạng đạt 100%. Đặc biệt, tỉnh đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị dữ liệu và danh mục 23 cơ sở dữ liệu chuyên ngành tại 14 cơ quan. Nền tảng số dùng chung cấp xã (nentangxaso.khanhhoa.gov.vn) cũng đang được thí điểm với 8 phân hệ cốt lõi, áp dụng cho 64 xã, phường.

    Xây dựng kiến trúc Chính quyền số

    Xác định xây dựng Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2026, UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương, kinh phí thuê tư vấn và giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh; phấn đấu hoàn thành trong tháng 11-2026, sớm hơn 2 tháng so với thời hạn Chính phủ giao. Cùng với đó, tỉnh sẽ rà soát toàn bộ hệ thống công nghệ thông tin hiện có để xác định những hệ thống cần giữ lại, nâng cấp, hợp nhất hoặc thay thế; ưu tiên kế thừa những nền tảng đã đầu tư, qua đó hạn chế đầu tư trùng lặp, phân tán.

    Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Diên Điền hỗ trợ người dân nộp hồ sơ trực tuyến.

    Tỉnh cũng xác định cấp xã không xây dựng khung kiến trúc riêng mà là một thành phần trong Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh. Theo đó, cấp tỉnh tập trung xây dựng hạ tầng, nền tảng và các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng dùng chung; cấp xã tập trung khai thác, vận hành và phục vụ người dân. 

    Tùy đặc điểm từng địa bàn, các giải pháp cũng được tính toán phù hợp. Các phường đô thị, địa bàn du lịch, công nghiệp có hướng triển khai riêng; các xã miền núi, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số được ưu tiên phát triển truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin – viễn thông và củng cố các Tổ công nghệ số cộng đồng. Đối với đặc khu Trường Sa, tỉnh ưu tiên băng thông rộng chuyên dụng, nhất là lĩnh vực y tế và giáo dục từ xa gắn với yêu cầu bảo đảm chủ quyền biển, đảo.

    Theo ông Đào Xuân Kỳ – Phó Giám đốc phụ trách Sở Khoa học và Công nghệ, việc xây dựng và ban hành Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh trên cơ sở cụ thể hóa Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 theo Quyết định số 1425 là yêu cầu cần thiết nhằm tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ và định hướng cho quá trình chuyển đổi số tại địa phương. Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh xác lập tổng thể các thành phần về thể chế, quản trị, nghiệp vụ, dữ liệu, ứng dụng, nền tảng số, hạ tầng công nghệ và an toàn thông tin. Đồng thời, làm cơ sở để các cơ quan, đơn vị triển khai hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng dùng chung theo hướng liên thông, tích hợp, tránh đầu tư trùng lặp, phân tán và thiếu đồng bộ. Quan trọng hơn, việc xây dựng Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh sẽ đưa chuyển đổi số của tỉnh bước sang giai đoạn phát triển chiều sâu, thực chất và an toàn. Trọng tâm không chỉ nằm ở số lượng nền tảng hay hệ thống được triển khai, mà ở hiệu quả vận hành, khả năng phục vụ người dân, doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động quản lý Nhà nước.

    Với cách tiếp cận tổng thể, lấy dữ liệu, công nghệ và người dùng làm trung tâm, Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng quan trọng giúp tỉnh tổ chức lại các nguồn lực số, nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy chuyển đổi số phát triển bền vững.

    MÃ PHƯƠNG

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-chinh-quyen-so-thuc-chat-an-toan-c56169353.epi

  • TP. Huế tăng tốc tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án

    Ngày 30/9, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP. Huế Lê Trí Thanh chủ trì cuộc họp nghe báo cáo tiến độ và giải quyết vướng mắc đối với các dự án đầu tư công và dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách. Tham dự có Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Mạnh cùng lãnh đạo các sở, ngành, địa phương, ban quản lý dự án và các đơn vị liên quan.

    29 dự án khởi công mới được rà soát tiến độ

    Tại cuộc họp, các sở, ngành, đơn vị liên quan báo cáo tình hình triển khai từng dự án, đồng thời rà soát những khó khăn, vướng mắc phát sinh và đề xuất phương án xử lý nhằm đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư.

    Theo báo cáo, trong số 29 dự án đầu tư công khởi công mới, có 11 dự án đã khởi công; 5 dự án đang thực hiện các thủ tục phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, lựa chọn nhà thầu để chuẩn bị khởi công. Các dự án còn lại đã được phê duyệt chủ trương đầu tư, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026-2030. Ngoài ra, 17 dự án chuyển tiếp đang tiếp tục được triển khai theo kế hoạch.

    Một số khó khăn liên quan đến nguồn vốn từng bước được tháo gỡ, tạo điều kiện để các dự án tiếp tục thực hiện. Một số công trình đã hoàn thành khối lượng xây dựng hoặc đưa vào khai thác; các cơ quan chuyên môn đang hoàn thiện thủ tục để sớm nghiệm thu, quyết toán và phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư.

    Tập trung xử lý điểm nghẽn về mặt bằng, vật liệu

    Bên cạnh kết quả đạt được, tiến độ một số dự án vẫn chịu tác động bởi công tác giải phóng mặt bằng, nguồn cung và giá vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư, thời gian thực hiện dự án và điều kiện thời tiết trong những tháng cuối năm.

    Thành phố đã tổ chức nhiều cuộc họp, ban hành các văn bản chỉ đạo nhằm tháo gỡ khó khăn, bảo đảm nguồn cung vật liệu và thúc đẩy giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, lãnh đạo thành phố yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục rà soát cụ thể từng dự án, xác định rõ nguyên nhân, nội dung vướng mắc, thẩm quyền xử lý và tiến độ thực hiện.

    Chủ tịch UBND TP. Huế Lê Trí Thanh phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp.

    Chủ tịch UBND TP. Huế Lê Trí Thanh yêu cầu các sở, ngành, địa phương, ban quản lý dự án và chủ đầu tư phải chủ động hơn trong giải quyết công việc. Những nội dung thuộc thẩm quyền cần được xử lý kịp thời; trường hợp vượt thẩm quyền phải sớm tổng hợp, báo cáo UBND thành phố xem xét, chỉ đạo.

    Việc tháo gỡ vướng mắc phải gắn với phân công rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và rõ thời hạn xử lý, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị.

    Đối với chủ đầu tư, khi báo cáo khó khăn phải làm rõ từng vấn đề, nhất là về mặt bằng, vật liệu, thủ tục và thời gian thực hiện; đồng thời đề xuất phương án xử lý và xác định rõ cơ quan có thẩm quyền, qua đó rút ngắn thời gian xem xét, giải quyết.

    Tháo gỡ vướng mắc gắn với hiệu quả đầu tư

    Lãnh đạo UBND TP. Huế yêu cầu các cơ quan chuyên môn và chủ đầu tư đánh giá đầy đủ những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tiến độ dự án, từ mặt bằng, vật liệu, nhân lực đến thời tiết và điều kiện thi công, qua đó xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp.

    Đối với các công trình có khả năng hoàn thành trong thời gian tới, cần tập trung nguồn lực, đẩy nhanh thi công, hoàn thiện thủ tục và giải ngân theo kế hoạch, sớm đưa công trình vào sử dụng và phát huy hiệu quả đầu tư.

    Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách, thành phố tiếp tục rà soát các dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, các dự án đang lựa chọn nhà đầu tư và những dự án đủ điều kiện thực hiện các thủ tục tiếp theo.

    Chủ tịch UBND TP. Huế yêu cầu quá trình xem xét, tháo gỡ phải bám sát quy hoạch, quy định pháp luật và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của thành phố; đồng thời chú trọng các yêu cầu về môi trường, an toàn, hiệu quả sử dụng đất và tính khả thi của dự án.

    Đối với những trường hợp có sự chồng lấn về quy hoạch hoặc không gian phát triển, cần rà soát tổng thể để lựa chọn phương án phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển trước mắt và định hướng lâu dài.

    Lãnh đạo thành phố nhấn mạnh, mục tiêu của việc rà soát, tháo gỡ vướng mắc không chỉ là bảo đảm tiến độ và giải ngân kế hoạch vốn mà quan trọng hơn là sớm đưa các công trình, dự án vào hoạt động, phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đời sống Nhân dân.

    Phúc Hải

    Nguồn https://baomoi.com/tp-hue-tang-toc-thao-go-diem-nghen-day-nhanh-tien-do-cac-du-an-c56169345.epi

  • Luật Phát triển đô thị có hiệu lực: Mở thêm không gian cho văn hóa, du lịch

    Một đạo luật mới cho cách phát triển đô thị

    Luật Phát triển đô thị được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24.8.2026 với 465/474 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, tương đương 93% tổng số đại biểu Quốc hội. Luật gồm 5 chương, 66 điều và có hiệu lực từ ngày 1.10.2026; riêng khoản 4 Điều 7 đã có hiệu lực từ ngày 1.9.2026.

    Đây là lần đầu Việt Nam có một đạo luật riêng về phát triển đô thị. Ảnh: Tuấn Đông

    Đây là lần đầu Việt Nam có một đạo luật riêng về phát triển đô thị, thay vì các cơ chế liên quan được quy định phân tán trong nhiều luật và nghị quyết khác nhau.

    Theo Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, luật hướng tới xác lập các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị, đồng thời tăng cường công khai, minh bạch, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện.

    Phạm vi của luật cũng cần được hiểu chính xác. Luật quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phố là đô thị loại đặc biệt, các thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt. TP.HCM và các thành phố khác là đô thị đặc biệt được áp dụng cơ chế, chính sách phát triển đô thị đặc biệt theo luật; Hà Nội thực hiện theo Luật Thủ đô. Các thành phố không thuộc nhóm này được áp dụng một số cơ chế theo phạm vi luật quy định và tùy chủ trương, điều kiện, năng lực thực thi của từng địa phương.

    Điểm mới nằm ở cách tiếp cận: đô thị không chỉ được nhìn như không gian của nhà ở, giao thông và hạ tầng kỹ thuật, mà còn là không gian tạo ra giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và trải nghiệm.

    Trong quá trình Quốc hội thảo luận, các đại biểu đã đặt vấn đề bảo đảm môi trường sống, giao thông đô thị, phát triển văn hóa và giáo dục trong nền tảng chung của phát triển đô thị. Điều này cho thấy yêu cầu về một đô thị đáng sống được đặt song song với mục tiêu tăng trưởng.

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từng nhấn mạnh khi cho ý kiến về dự án luật rằng mục tiêu không phải “hợp thức hóa” các cơ chế đặc thù, mà là kiến tạo khuôn khổ pháp lý đủ tầm để dẫn dắt phát triển đô thị trong nhiều năm tới.

    Với hiệu lực của luật từ ngày 1.10, câu chuyện đáng quan tâm vì thế không chỉ là thêm những cơ chế nào cho đầu tư, mà là những cơ chế đó sẽ làm thay đổi không gian đô thị và đời sống văn hóa, du lịch như thế nào.

    Văn hóa, di sản, kinh tế đêm được đặt vào bài toán phát triển đô thị

    Một điểm đáng chú ý của Luật Phát triển đô thị là dành riêng Mục 4 Chương II cho “Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội”.

    Luật cho phép thành phố quy định cơ chế, chính sách về kinh tế ban đêm. Ảnh: Tuấn Đông

    Tại Điều 26, HĐND thành phố được quy định thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa, sử dụng tài sản công và ngân sách thành phố để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; hỗ trợ tổ chức, cá nhân tôn tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử và công trình kiến trúc có giá trị. Luật cũng đề cập việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số.

    Đây là thay đổi đáng chú ý bởi nguồn lực cho văn hóa, di sản không chỉ được đặt trong câu chuyện bảo tồn, mà được gắn với cơ chế huy động nguồn lực của đô thị.

    Luật đồng thời cho phép thành phố quy định cơ chế, chính sách về kinh tế ban đêm; khu phát triển thương mại, văn hóa, thể thao; trung tâm, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa và các loại hình thiết chế văn hóa, thể thao khác.

    Với du lịch, HĐND thành phố có thể quy định cơ chế hỗ trợ phát triển mô hình dịch vụ du lịch, sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch; đồng thời có thẩm quyền quy định tên gọi, tiêu chí và thủ tục công nhận một số loại cơ sở lưu trú du lịch chưa được quy định trong hệ thống tiêu chuẩn phân loại, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch quốc gia.

    Một nội dung khác có ý nghĩa trực tiếp với bảo tồn là thành phố có thể quyết định danh mục di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc và các công trình có giá trị cần tập trung nguồn lực để bảo vệ, phát huy giá trị.

    Như vậy, nếu trước đây quy hoạch đô thị thường được nhìn chủ yếu từ đất đai, dân số, giao thông và hạ tầng, thì khung pháp lý mới mở rộng cách tiếp cận sang những “tài sản mềm” của đô thị.

    Một khu phố lịch sử, một công trình kiến trúc, một không gian văn hóa, một lễ hội hay một khu vực có bản sắc riêng có thể trở thành một phần của chiến lược phát triển kinh tế ban đêm, công nghiệp sáng tạo hoặc sản phẩm du lịch.

    Điều này cũng phù hợp với định hướng mới của ngành du lịch. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa, di sản, cảnh quan thiên nhiên và ẩm thực là những lợi thế khác biệt của du lịch Việt Nam; đồng thời yêu cầu lấy chất lượng, bản sắc và trải nghiệm khác biệt làm phương thức cạnh tranh chủ đạo.

    Nếu được triển khai đồng bộ, đô thị có thể chuyển từ tư duy “bảo tồn một di sản” sang “tạo lập hệ sinh thái văn hóa – du lịch” xung quanh di sản; từ một không gian chỉ phục vụ cư dân ban ngày sang không gian có hoạt động văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực và dịch vụ vào ban đêm.

    Đây cũng là nơi giao nhau giữa văn hóa và du lịch: di sản không chỉ được giữ lại, mà phải được bảo vệ trong quá trình khai thác để tạo ra giá trị kinh tế và trải nghiệm.

    Từ đô thị ven sông, ven biển đến những cực tăng trưởng du lịch mới

    Luật Phát triển đô thị không chỉ tạo cơ chế cho văn hóa và du lịch trong không gian đô thị hiện hữu, mà còn mở ra những hướng phát triển mới gắn với hành lang sông, ven biển, đảo và các khu kinh tế đặc biệt.

    Luật Phát triển đô thị mở thêm không gian phát triển văn hóa, du lịch gắn với sông, biển, đảo và các khu kinh tế đặc biệt. Ảnh: Tuấn Đông

    Một trong những nội dung mới là cơ chế thúc đẩy phát triển khu đô thị lấn biển. Luật yêu cầu các dự án loại này phải phù hợp với quy hoạch, đồng bộ hạ tầng và đánh giá đầy đủ điều kiện tự nhiên, địa chất, thủy văn, hải văn, hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tác động đến khu vực lân cận. Đồng thời phải bảo đảm không gian công cộng và quyền tiếp cận biển của người dân.

    Đây là điểm đặc biệt đáng chú ý khi nhìn từ góc độ du lịch. Không gian ven biển trong quy hoạch mới không chỉ là quỹ đất để phát triển dự án nghỉ dưỡng, mà còn phải gắn với hạ tầng công cộng, cảnh quan, môi trường và quyền tiếp cận biển.

    Ở chiều ngược lại, luật đưa các dự án có khả năng tạo hệ sinh thái du lịch quy mô lớn vào danh mục ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược. Trong đó có dự án khu phức hợp giải trí nghỉ dưỡng với lưu trú phục vụ khách du lịch đạt chuẩn tối thiểu 5 sao, dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp, kết hợp mua sắm, vui chơi giải trí, y tế chuyên sâu hoặc hạ tầng giao thông kết nối tại hành lang sông, hành lang ven biển, đảo, với quy mô vốn từ 30.000 tỉ đồng trở lên.

    Danh mục này cũng bao gồm công viên văn hóa hoặc công viên chuyên đề có quy mô vốn từ 6.000 tỉ đồng; riêng tại các đặc khu, luật ưu tiên một số dự án như bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt từ 800 tỉ đồng, bến tàu khách, tàu hàng từ 2.000 tỉ đồng và các công trình giao thông kết hợp thương mại, dịch vụ từ 3.000 tỉ đồng.

    Điều này tạo ra khả năng hình thành những tổ hợp mà trước đây thường được quy hoạch tách rời: đô thị – nghỉ dưỡng – văn hóa – giải trí – thương mại – giao thông.

    Tuy nhiên, việc mở không gian đầu tư cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng quy hoạch. Với đô thị ven biển, nếu phát triển chỉ dựa vào bất động sản nghỉ dưỡng mà thiếu không gian công cộng, bảo vệ hệ sinh thái và bản sắc địa phương, lợi thế du lịch có thể bị suy giảm.

    Tương tự, với di sản đô thị, việc đưa di sản vào sản phẩm du lịch cần đi cùng giới hạn khai thác, bảo tồn kiến trúc và sự tham gia của cộng đồng. Mục tiêu cuối cùng không phải biến mọi không gian có giá trị thành điểm tham quan, mà tạo ra một đô thị trong đó văn hóa và cảnh quan trở thành nền tảng của chất lượng sống và sức hấp dẫn du lịch.

    Việc Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1796/QĐ-TTg ngày 17.9.2026 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị cho thấy giai đoạn từ 1.10 sẽ chuyển trọng tâm từ xây dựng pháp luật sang tổ chức thực hiện.

    Đây cũng là giai đoạn quyết định việc những cơ chế mới có thực sự biến thành không gian văn hóa, sản phẩm du lịch, công viên, phố đi bộ, kinh tế đêm, các trung tâm sáng tạo hay chỉ dừng lại ở những quy định trên giấy.

    Với du lịch, giá trị lớn nhất của Luật Phát triển đô thị có thể không nằm ở việc tạo thêm bao nhiêu dự án, mà ở khả năng hình thành một tư duy mới: quy hoạch đô thị phải tính đến văn hóa, di sản, cảnh quan và trải nghiệm như những nguồn lực phát triển.

    Khi đó, một đô thị có thể vừa là nơi để sống, vừa là nơi để khám phá; vừa tạo ra tăng trưởng kinh tế, vừa bảo tồn được ký ức, bản sắc và những giá trị khiến một thành phố trở nên khác biệt.

    TUẤN ĐÔNG

    Nguồn https://baomoi.com/luat-phat-trien-do-thi-co-hieu-luc-mo-them-khong-gian-cho-van-hoa-du-lich-c56169435.epi

  • Người dân dỡ nhà, nhường đất mở rộng nơi yên nghỉ liệt sĩ

    Video người dân tháo dỡ nhà cửa, nhường đất mở rộng Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.

    Những ngày cuối tháng 9, tại thôn Kim Nhan 2 (xã Anh Sơn, Nghệ An), tiếng tháo dỡ nhà cửa hòa cùng tiếng máy móc thi công dự án mở rộng Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào. Những căn nhà từng gắn bó với người dân hàng chục năm lần lượt được tháo dỡ, đồ đạc được thu dọn để bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công dự án.

    Người dân ở thôn Kim Nhan 2 (xã Anh Sơn, Nghệ An) tháo dỡ nhà cửa, di dời tài sản nhường đất để mở rộng Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào.

    Dù đã có gần 40 năm gắn bó với ngôi nhà của mình, nhưng khi nghe địa phương thông báo chủ trương mở rộng nghĩa trang liệt sĩ, gia đình bà Hoàng Thị Huệ không chút do dự, gật đầu đồng thuận tháo dỡ công trình, bàn giao đất. “Đây là công trình tâm linh, là nơi yên nghỉ của những người đã hy sinh vì đất nước. Gia đình tôi đồng thuận vì đây là việc nên làm”, bà Huệ nói.

    Tương tự, căn nhà của ông Nguyễn Văn Sơn nằm sát Nghĩa trang Liệt sĩ Việt – Lào. Khi biết chính quyền địa phương chuẩn bị thực hiện dự án mở rộng nghĩa trang để có nơi yên nghỉ cho liệt sĩ, gia đình ông Sơn hoàn toàn nhất trí với kế hoạch.

    Những căn nhà được khẩn trương tháo dỡ, nhường đất cho dự án.

    Chỉ trong thời gian ngắn, ông Sơn cùng người thân trong gia đình lập tức dọn đồ đạc, bàn giao lại căn nhà cũ để đơn vị thi công tháo dỡ.

    Theo UBND xã Anh Sơn, dự án mở rộng khu A Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào ảnh hưởng đến 27 hộ dân, với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khoảng 58 tỷ đồng. Khi triển khai dự án, các hộ dân đều đồng thuận, chủ động tháo dỡ công trình, bàn giao mặt bằng.

    “Đây không chỉ là một dự án xây dựng, mà còn là công trình có ý nghĩa đặc biệt về lịch sử, tâm linh. Việc mở rộng sẽ tạo thêm không gian để quản lý, chăm sóc, tưởng niệm các liệt sĩ hiện tại và lâu dài. Khi dự án triển khai, các hộ dân rất đồng thuận, bàn giao lại mặt bằng để thi công”, ông Nguyễn Trần Chương – Phó Chủ tịch UBND xã Anh Sơn, nói.

    Dự án ảnh hưởng đến 27 hộ gia đình sống xung quanh nghĩa trang.

    Để đảm bảo việc an cư lạc nghiệp, xã Anh Sơn đã bố trí 1 khu tái định cư cho 27 hộ gia đình đã nhường nhà, đất cho dự án. Trong thời gian chờ khu tái định cư xây dựng hoàn thiện, các hộ dân được hỗ trợ chi phí thuê nhà.

    Được biết, Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào được xây dựng năm 1976, hiện là nơi an nghỉ của 11.180 liệt sĩ là quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trên đất nước Lào.

    Nghĩa trang liệt sĩ Việt – Lào hiện là nơi an nghỉ của 11.180 liệt sĩ.

    Theo kế hoạch, khu A nghĩa trang sẽ được mở rộng thêm 1,06ha, đủ điều kiện an táng khoảng 2.700 phần mộ liệt sĩ. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 163 tỷ đồng. Tỉnh Nghệ An đồng thời triển khai nâng cấp, tu bổ, tôn tạo một số hạng mục hiện hữu với kinh phí khái toán gần 49 tỷ đồng.

    Dự kiến toàn bộ công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ năm 2027.

    Ngọc Tú

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-dan-do-nha-nhuong-dat-mo-rong-noi-yen-nghi-liet-si-c56169431.epi

  • Hà Nội được giao 84.000 căn, TPHCM hơn 181.000 căn nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê trong 5 năm tới

    Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký ban hành Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030.

    Dự án nhà ở xã hội CT3 – Thăng Long Green City tại khu đô thị mới Kim Chung (xã Thiên Lộc, Hà Nội). Ảnh: Tiến Cường

    Đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ

    Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký ban hành Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030.

    Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.

    Theo Nghị quyết, Chính phủ giao tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 cho các địa phương là 899.857 căn; trong đó, chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua là 708.834 căn; chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê là 191.023 căn.

    Đối với từng địa phương, Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026 – 2030 đối với TP Hà Nội là 84.000 căn, TP Hồ Chí Minh 181.257 căn, TP Hải Phòng 32.850 căn, TP Huế 10.600 căn, TP Đà Nẵng 26.279 căn, TP Cần Thơ 13.250 căn, TP Đồng Nai 60.054 căn…

    Chính phủ yêu cầu các địa phương căn cứ chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao, thực hiện hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của cả nước.

    Giảm nhà ở xã hội để bán

    Chính phủ cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao tại Nghị quyết này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm để triển khai thực hiện; rà soát các dự án đã có trong quy hoạch, Chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được giao.

    Đối với các dự án đã khởi công xây dựng, phải đôn đốc các chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực để thực hiện, quyết tâm hoàn thành trong năm 2026.

    Đồng thời, nghiên cứu, chỉ đạo các Chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán; tổ chức lập, phê duyệt danh mục vị trí khu đất đã được xác định để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; bố trí đủ quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê tại các vị trí thuận lợi, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

    Cùng với đó, có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư đã có sẵn quỹ đất sạch phù hợp với quy hoạch, đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, có đủ năng lực tài chính đề xuất dự án để thực hiện giao chủ đầu tư theo quy định.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm “luồng xanh”, “luồng ưu tiên”; thực hiện đồng thời, song song các quy trình về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường; rút ngắn tối đa thời gian thẩm định, phê duyệt dự án, giao đất, cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan đảm bảo cắt giảm tối đa thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12/1/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030.

    Quốc Trần

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-duoc-giao-84-000-can-tphcm-hon-181-000-can-nha-o-xa-hoi-nha-o-cho-thue-trong-5-nam-toi-c56169298.epi

  • Cận cảnh ‘siêu cao ốc’ 38 tầng hoang phế nhiều năm bên bờ vịnh Nha Trang

    Dự án cao 38 tầng nằm bên bờ vịnh Nha Trang đã hoang phế nhiều năm. Video: Xuân Ngọc

    Dự án Trung tâm Bến du thuyền Hoàng Gia (thường gọi là dự án Laluna), do Công ty CP Khách sạn Bến du thuyền làm chủ đầu tư, nằm trên đường Nguyễn Cơ Thạch, phường Bắc Nha Trang. Hai tòa tháp cao 38 tầng của “siêu cao ốc” sở hữu tầm nhìn đắc địa trực diện ra vịnh Nha Trang, đứng trơ trọi.

    Dự án Laluna gồm 4 khu chức năng, phát triển khách sạn, căn hộ cao cấp, công viên, bãi đỗ xe, dịch vụ thương mại và vui chơi giải trí. Tổng vốn đầu tư của dự án gần 5.000 tỷ đồng.

    Cụ thể, khu A có diện tích gần 6.000m2, xây dựng khách sạn và căn hộ du lịch; khu B hơn 3.800m2, cũng dành cho khách sạn và căn hộ du lịch; khu C hơn 18.200m2 để xây dựng khách sạn, căn hộ du lịch và quán cà phê; khu D rộng khoảng 19.000m2 nhằm phát triển khách sạn, căn hộ du lịch, dịch vụ thương mại và vui chơi giải trí.

    Dự án được sử dụng đất đến năm 2064, do Nhà nước giao và có thu tiền sử dụng đất theo quy định.

    Theo giấy chứng nhận đầu tư, chủ đầu tư dự kiến xây dựng khu A, B trong giai đoạn 2016-2018. Còn hai phân khu còn lại là khu C và khu D dự kiến được xây dựng trong giai đoạn 2018-2020, nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành.

    Khu C có diện tích hơn 18.200m2, được quy hoạch để xây dựng khách sạn, căn hộ du lịch và quán cà phê.

    Đối với khu D rộng khoảng 19.000m2, được định hướng phát triển khách sạn, căn hộ du lịch, dịch vụ thương mại và vui chơi giải trí.

    Ghi nhận của PV VietNamNet, dự án sở hữu vị trí đắc địa, hướng ra vịnh Nha Trang, đã hoàn thiện phần lớn kết cấu thô và một số hạng mục cơ điện, nhưng dừng thi công từ cuối năm 2021. Hai siêu cao ốc này trong tình trạng thi công dở dang, hoang phế nhiều năm qua.

    Dự án nghìn tỷ bị “đắp chiếu” kéo dài không chỉ gây mất mỹ quan đô thị mà còn lãng phí đất đai.

    Tại dự án gần như không còn hoạt động thi công. Một số hạng mục đã được hoàn thiện như phần thô, sơn tường, lắp kính và lan can bảo vệ. Tuy nhiên, nhiều vật liệu, thiết bị còn nằm ngổn ngang; một số ô kính tại các tầng đã bị vỡ.

    Một số hạng mục bê tông chưa hoàn thiện, khu vực dự án được quây kín bằng tôn. Bên trong, vật liệu xây dựng ngổn ngang, sắt thép hoen gỉ, cỏ mọc um tùm.

    Bên cạnh đó, dự án này còn lùm xùm giữa chủ đầu tư và khách hàng. Từ năm 2018-2019, công ty đã ký nhiều hợp đồng mua bán căn hộ để huy động vốn. Theo phản ánh, nhiều khách hàng đã thanh toán 95-97% giá trị căn hộ, trong khi thời hạn bàn giao theo hợp đồng đã quá hơn 3 năm.

    Ngoài các vấn đề trên, dự án còn liên quan đến các khoản nợ được ngân hàng đưa ra đấu giá để thu hồi nợ. Năm 2023, Agribank thông báo đấu giá khoản nợ của chủ đầu tư, được bảo đảm bằng quyền sử dụng hơn 3.800m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại khu B, với giá khởi điểm 1.145 tỷ đồng.

    Trước đó, tháng 8/2022, một ngân hàng khác cũng từng rao bán khoản nợ hơn 540 tỷ đồng tại khu A dự án để xử lý, thu hồi nợ vay. Tài sản bảo đảm cho khoản nợ này bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất rộng gần 6.000m2 tại khu A để xây dựng khách sạn, căn hộ du lịch (đất ở tại đô thị không hình thành đơn vị ở), có thời hạn sử dụng đến năm 2064.

    Để giải quyết các dự án chậm tiến độ, trong đó có Trung tâm Bến du thuyền Hoàng Gia, vừa qua, UBND tỉnh Khánh Hòa đã triển khai rà soát, tháo gỡ khó khăn cho 133 dự án vướng mắc kéo dài trên địa bàn, quyết tâm xử lý dứt điểm vào cuối năm 2026.

    Dự án Laluna thuộc nhóm 1, gồm 15 dự án liên quan đất ở không hình thành đơn vị ở đã giao dịch với bên thứ ba. Phần lớn các dự án trong nhóm đã có kết luận thanh tra; một dự án đang trong quá trình thanh tra. Tỉnh dự kiến rà soát quy hoạch, xem xét điều chỉnh mục đích, thời hạn sử dụng đất để tính giá đất.

    Nhóm 2 gồm 94 dự án đã giao đất hoặc cho thuê đất không qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, sẽ tháo gỡ theo hướng dẫn tại các nghị quyết, nghị định của Quốc hội và Chính phủ. Nhóm 3 có 24 dự án chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất, tỉnh sẽ đánh giá để quyết định tiếp tục hay không.

    Theo UBND tỉnh Khánh Hòa, địa phương đặt mục tiêu hoàn thành việc rà soát, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án trong năm 2026.

    Việc xử lý phải căn cứ kết luận thanh tra, kiểm tra và bản án có liên quan; xác định rõ nguyên nhân vi phạm, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình, không hợp pháp hóa sai phạm hoặc làm phát sinh sai phạm mới.

    Xuân Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/can-canh-sieu-cao-oc-38-tang-hoang-phe-nhieu-nam-ben-bo-vinh-nha-trang-c56169281.epi

  • Ai được vay vốn hỗ trợ mua nhà thương mại dưới 70m2, giá dưới 15 triệu đồng/m2?

    Bộ Xây dựng vừa ban hành Văn bản hợp nhất số 86/2026/VBHN-TT-BXD, hợp nhất các thông tư hướng dẫn việc xác định đối tượng được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2013.

    Quy định này làm rõ các nhóm đối tượng và điều kiện để được vay vốn trong nhiều trường hợp, từ mua nhà ở xã hội đến mua nhà ở thương mại giá thấp, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở.

    Theo Văn bản hợp nhất, phạm vi hướng dẫn bao gồm việc xác định đối tượng được vay vốn để thuê, thuê mua và mua nhà ở xã hội.

    Ngoài ra, người thuộc diện được hỗ trợ còn có thể vay để thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích dưới 70m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.

    Một nhóm khác là người vay vốn để mua nhà ở thương mại tại các dự án phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, với tổng giá trị hợp đồng mua bán, đã bao gồm VAT (kể cả nhà, và đất) không vượt quá 1,05 tỷ đồng.

    Chính sách cũng đề cập đến khoản vay để xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở của người vay và khoản vay dành cho đầu tư phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết 02/NQ-CP và Nghị quyết 61/NQ-CP của Chính phủ.

    Đối với người thuộc nhóm đối tượng được quy định, điều kiện để vay vốn thuê, thuê mua hoặc mua nhà ở xã hội là đã có hợp đồng thuê, thuê mua hoặc mua nhà ở xã hội theo quy định.

    Có nhà chật vẫn được vay tiền mua nhà

    Đáng chú ý, nhóm vay vốn để thuê hoặc mua nhà ở thương mại có diện tích dưới 70m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2, cũng như nhóm mua nhà thương mại có tổng giá trị hợp đồng không quá 1,05 tỷ đồng. Người vay và hộ gia đình phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

    Trước hết là điều kiện về thực trạng nhà ở.

    Người vay chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình hoặc đã có nhà nhưng diện tích quá chật chội.

    Cụ thể, nếu đang ở căn hộ chung cư, diện tích nhà ở bình quân của hộ gia đình phải thấp hơn 8m2 sử dụng/người.

    Nếu đang ở nhà riêng lẻ, diện tích nhà ở bình quân cũng phải thấp hơn 8m2 sử dụng/người và diện tích khuôn viên đất của nhà ở đó phải nhỏ hơn diện tích đất được cấp phép xây dựng theo quy định của UBND cấp tỉnh.

    Nhà thương mại dưới 70m2, giá dưới 15 triệu đồng/m2 hoặc tổng giá trị hợp đồng không quá 1,05 tỷ đồng thuộc nhóm được xem xét vay vốn hỗ trợ. Ảnh minh họa: Hồng Khanh

    Trường hợp chưa có nhà ở nhưng có đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất ở phải nhỏ hơn diện tích đất được phép xây dựng theo quy định của UBND cấp tỉnh.

    Ngoài điều kiện về nhà ở, người vay vốn để thuê hoặc mua nhà thương mại thuộc nhóm này phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở.

    Nếu tạm trú, người vay phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 1 năm trở lên, có thể không liên tục, tại tỉnh, thành phố nơi có dự án và phải có giấy xác nhận của cơ quan bảo hiểm.

    Trường hợp người lao động làm việc tại chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở địa phương nơi có dự án, nhưng việc đóng bảo hiểm xã hội được thực hiện tại nơi công ty có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, quy định này cũng được áp dụng nếu có xác nhận của công ty về việc đóng bảo hiểm.

    Bên cạnh đó, người vay phải đã có hợp đồng thuê hoặc mua nhà ở thương mại theo quy định.

    Văn bản hợp nhất cũng quy định mỗi hộ gia đình chỉ được vay một lần hỗ trợ nhà ở theo quy định.

    Tuy nhiên, có trường hợp được xác định là hộ gia đình độc lập.

    Cụ thể, con hoặc cháu của chủ hộ đã lập gia đình, có giấy chứng nhận kết hôn, hoặc trường hợp ở nhờ nhưng có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú cùng với chủ hộ thì được coi là hộ gia đình độc lập và thuộc đối tượng được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo quy định.

    Những ai thuộc diện được vay vốn?

    heo quy định, các nhóm đối tượng được vay vốn vay vốn hỗ trợ nhà ở gồm:

    Thứ nhất, cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp; viên chức đơn vị sự nghiệp công lập; lực lượng vũ trang nhân dân.

    Thứ hai, người thu nhập thấp, gồm người lao động tại các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh nghiệp, hợp tác xã; người đã nghỉ lao động theo chế độ; lao động tự do, kinh doanh cá thể.

    Thứ ba, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động tại đô thị có đất ở phù hợp quy hoạch nhưng khó khăn về nhà ở, chưa được Nhà nước hỗ trợ và có nhu cầu vay vốn để xây dựng, cải tạo hoặc sửa chữa nhà.

    Ngoài ra, chính sách còn áp dụng với hộ gia đình, cá nhân đầu tư xây dựng, cải tạo nhà ở xã hội để cho thuê, cho thuê mua hoặc bán cho các đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách nhà ở xã hội, trong đó có công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao và một số nhóm học sinh, sinh viên.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/ai-duoc-vay-von-ho-tro-mua-nha-thuong-mai-duoi-70m2-gia-duoi-15-trieu-dong-m2-c56169279.epi

  • Khơi thông mặt bằng, mở đường phát triển

    Thi công xây dựng đại lộ Nguyễn Hữu Cảnh trên địa bàn phường Long Hưng.

    Phía sau những con số về diện tích đất đã được bàn giao là tiến độ của từng công trình; đồng thời mở ra không gian phát triển mới cho đô thị, công nghiệp, logistics và dịch vụ.

    Từng bước khơi thông mặt bằng

    Tính đến cuối tháng 8-2026, Đồng Nai có 296 dự án thực hiện GPMB, ảnh hưởng khoảng 46 ngàn hộ dân, với tổng diện tích đất thu hồi hơn 15,5 ngàn hécta. Trong số này có 22 dự án trọng điểm của quốc gia và thành phố.

    Đảm bảo mặt bằng sạch là điều kiện tiên quyết để dự án được triển khai, hoàn thành theo kế hoạch và phát huy hiệu quả. Đối với các dự án hạ tầng giao thông, khi tuyến đường mới hình thành sẽ rút ngắn thời gian đi lại, mở rộng cơ hội giao thương và tạo thêm dư địa phát triển cho những vùng đất dọc tuyến. Tương tự, khi mặt bằng khu công nghiệp được đảm bảo, thành phố sẽ có thêm không gian thu hút nhà đầu tư, tạo việc làm cho người dân.

    Trong số các dự án đang triển khai, nhóm công trình giao thông kết nối Cảng hàng không quốc tế (sân bay) Long Thành được thành phố đặc biệt quan tâm. Năm 2026, Đồng Nai triển khai hàng loạt dự án như: đường vành đai 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, đường 769, đường 770B và đường 773. Khi đưa vào sử dụng, các tuyến đường này sẽ góp phần hoàn thiện mạng lưới kết nối sân bay với cảng biển, các khu công nghiệp và các địa phương trong thành phố; đồng thời tăng khả năng kết nối liên tỉnh, thành, liên vùng.

    Ông Dương Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở Xây dựng cho biết: Đến nay, cả 4 dự án nêu trên đều có tiến triển về GPMB, tăng khoảng 6-20% so với thời điểm báo cáo cuối tháng 8-2026. Trong đó, đường vành đai 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã bàn giao khoảng 78% mặt bằng, đường 769 đạt hơn 52%, đường 770B khoảng 69% và đường 773 khoảng 67%.

    Thời hạn đưa vào khai thác Sân bay Long Thành không còn xa. Do đó, tiến triển trong công tác GPMB không chỉ có ý nghĩa đối với tiến độ từng công trình hạ tầng mà còn mở thêm các hướng tiếp cận sân bay; tạo điều kiện để hàng hóa từ các vùng sản xuất tiếp cận nhanh hơn với đầu mối hàng không; đồng thời hình thành những hành lang thuận lợi hơn cho logistics, thương mại, dịch vụ và sản xuất gắn với sân bay.

    Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Tổng giám đốc KN Holdings, chủ đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp gần Sân bay Long Thành, đẩy nhanh công tác GPMB và tiến độ các dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với thu hút đầu tư. Theo ông Tuấn, khi mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, những khu vực trước đây mất nhiều thời gian để tiếp cận các tuyến giao thông chính sẽ thuận lợi hơn trong thu hút đầu tư. Nhà đầu tư sẽ nhìn thấy rõ hơn những lợi thế về chi phí vận chuyển, thời gian lưu thông hàng hóa và khả năng kết nối nguồn lao động.

    Mở dư địa tăng trưởng

    Bên cạnh yêu cầu đẩy nhanh GPMB, thành phố yêu cầu các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công, tránh tình trạng mặt bằng đã có, vốn đã bố trí, nhà thầu đã sẵn sàng nhưng công trình vẫn chậm.

    Phó Bí thư Thành ủy Võ Tấn Đức tại cuộc họp ngày 23-9 với các sở, ngành, địa phương cho rằng: GPMB và tái định cư vẫn là một trong những khâu quyết định tiến độ của nhiều dự án. Quan điểm của thành phố là “tái định cư phải đi trước một bước”, bảo đảm nơi ở mới và các điều kiện hạ tầng thiết yếu để người dân ổn định cuộc sống.

    Phó Bí thư Thành ủy yêu cầu chính sách bồi thường, hỗ trợ phải được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Đối với những vị trí có thể bàn giao mặt bằng trước thì tổ chức bàn giao ngay, không nhất thiết chờ hoàn thành toàn bộ dự án mới tổ chức thi công.

    Các địa phương phải tăng cường đối thoại trực tiếp với người dân, giải quyết từ cơ sở các vấn đề về nguồn gốc đất, giá đất, chính sách hỗ trợ, bố trí tái định cư. Hồ sơ thuộc thẩm quyền phải xử lý ngay; nội dung vượt thẩm quyền phải báo cáo kèm phương án cụ thể.

    Thực tế tại phường Bình Phước cho thấy, khi công tác vận động, đối thoại được thực hiện sát cơ sở, tiến độ GPMB có thể được đẩy nhanh. Đồng chí Giang Thị Phương Hạnh, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Bình Phước cho hay: Trong quá trình GPMB Dự án Xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa – Chơn Thành, lãnh đạo phường cùng các lực lượng liên quan đến từng nhà vận động người dân. Khi người dân đồng ý, phường tiến hành ký biên bản, nhận tiền bồi thường ngay. Nhờ cách làm này, dự án tại phường Bình Phước đã cơ bản bàn giao mặt bằng 100% đúng thời hạn.

    Thực tế này cho thấy, GPMB ngoài câu chuyện của hồ sơ, thủ tục và diện tích đất, còn là quá trình đối thoại, giải quyết từng trường hợp cụ thể và tạo sự đồng thuận của người dân.

    Chủ tịch UBND xã An Phước Đoàn Minh Trí cho biết: Để chuẩn bị cho dự án thu hồi hơn 700ha đất sắp triển khai, địa phương tổ chức hội nghị phổ biến kế hoạch thu hồi đất. Sau đó, các cơ quan chức năng sẽ tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan như: thông báo thu hồi đất, đo đạc, kiểm đếm và xác minh hồ sơ của từng trường hợp.

    Bên cạnh đó, địa phương bố trí cán bộ tiếp nhận ý kiến của người dân hằng ngày. Những nội dung chưa được giải đáp thỏa đáng sẽ được lãnh đạo UBND xã tiếp công dân vào sáng thứ Tư hằng tuần để ghi nhận, xử lý hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền.

    Theo Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Văn Út, đối với những công trình, dự án, thời gian chính là nguồn lực. Chậm một tháng không chỉ là chậm tiến độ một dự án mà còn làm chậm giải ngân vốn, chậm đưa đất đai và hạ tầng vào khai thác, chậm thu hút đầu tư và ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng chung của thành phố. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là hoàn thành các chỉ tiêu GPMB, giải quyết dứt điểm từng điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ các dự án.

    GPMB chưa trực tiếp tạo ra giá trị, nhưng không có mặt bằng thì dự án không thể triển khai, không gian phát triển cũng khó được mở rộng. Không có mặt bằng cũng đồng nghĩa với thiếu những tuyến đường kết nối, thiếu dư địa cho đô thị, công nghiệp, logistics; qua đó, mục tiêu tăng trưởng cũng khó đạt được. Vì vậy, khơi thông mặt bằng là lời giải cho bài toán tiến độ của từng dự án; đồng thời mở đường cho dòng vốn, hàng hóa, lao động và đầu tư vận động hiệu quả hơn trong không gian phát triển mới của Đồng Nai.

    Khối lượng công việc từ nay đến cuối năm 2026 còn rất lớn, đòi hỏi các đơn vị phải quyết liệt hơn nữa. Tinh thần là không né tránh, không đùn đẩy, không chờ đợi; vướng ở đâu tháo gỡ ở đó; thuộc trách nhiệm của ai thì người đó phải trực tiếp xử lý.

    Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố NGUYỄN VĂN ÚT

    Ban Mai

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-thong-mat-bang-mo-duong-phat-trien-c56169268.epi

  • Chìa khóa vàng cho TPHCM và lời nhắc ‘quyền hạn không tự tạo ra kết quả’ của Bí thư

    Ngày 1/10, Luật Phát triển đô thị chính thức có hiệu lực, mở thêm không gian và thẩm quyền để TPHCM chủ động quyết định nhiều vấn đề phát triển. Với lãnh đạo thành phố và các chuyên gia, điểm quan trọng sau khi có thêm quyền không chỉ là được quyết định nhiều hơn mà là tổ chức thực hiện thế nào để tạo ra kết quả cụ thể.

    Thước đo của quyền hạn là kết quả

    Tại kỳ họp thứ 5 (kỳ họp chuyên đề) HĐND TPHCM khóa 11 diễn ra mới đây, HĐND thành phố đã thông qua 38 nghị quyết quan trọng nhằm cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị và giải quyết các vấn đề cấp bách về kinh tế – xã hội.

    Phát biểu tại kỳ họp, Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang cho rằng quyền hạn không tự tạo ra kết quả. Nếu được trao thêm quyền nhưng triển khai vẫn chậm, nghị quyết khó đi vào cuộc sống, chính sách chưa đến được với người dân và doanh nghiệp thì quyền hạn chưa tạo ra giá trị.

    Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang phát biểu tại kỳ họp thứ 5 (kỳ họp chuyên đề) HĐND TPHCM. Ảnh: Nguyễn Huế

    Ông đặt ra tiêu chí đối với từng nghị quyết, chính sách: phải rõ điểm nghẽn cần tháo gỡ, nguồn lực hoặc động lực được mở ra và cơ quan chịu trách nhiệm về kết quả. Chất lượng và khả năng thực thi của một nghị quyết vì thế được đặt cao hơn số lượng chính sách được ban hành.

    “Không nên chỉ dừng lại ở câu hỏi ‘Quy định cho phép chúng ta làm gì?’ mà phải đặt câu hỏi cao hơn: ‘Trong phạm vi pháp luật cho phép, chúng ta có thể làm gì tốt hơn cho sự phát triển của thành phố?’” – ông Trần Lưu Quang nói.

    Quan điểm của thành phố rất rõ: cán bộ quyết định đúng thẩm quyền, đúng quy định, công khai, minh bạch, không vụ lợi, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung thì phải được bảo vệ và tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ.

    Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang

    Theo Bí thư Thành ủy, yêu cầu này đòi hỏi thành phố sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có. Tài chính và đất đai phải tạo ra giá trị; quy hoạch mở không gian cho đầu tư, phát triển; khoa học – công nghệ tạo ra sản phẩm, năng suất; giáo dục, y tế và nguồn nhân lực gắn với chất lượng sống.

    Ông cũng yêu cầu hiệu quả chính sách phải được lượng hóa: chính sách hỗ trợ có bao nhiêu người được hưởng; cơ chế mới tháo gỡ bao nhiêu điểm nghẽn, giúp triển khai bao nhiêu dự án; cải cách thủ tục giảm bao nhiêu thời gian, chi phí; nguồn lực mới huy động được bao nhiêu vốn xã hội.

    “Cái gì đo được thì phải đo” – Bí thư Trần Lưu Quang nhấn mạnh. Theo ông, kết quả cuối cùng phải thể hiện ở những thay đổi mà người dân và doanh nghiệp có thể nhận thấy.

    Phân quyền phải đi cùng năng lực thực thi

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được thì đặt vấn đề về năng lực thực thi ở từng cấp.

    “Phân cấp đã mạnh mẽ rồi nhưng năng lực thực thi thế nào? Có dám làm hay không? Và làm có hiệu quả hay không? Được những sản phẩm gì? Đó mới là vấn đề quan trọng” – ông Được phát biểu tại hội nghị quán triệt và triển khai thi hành Luật Phát triển đô thị hồi cuối tháng 8.

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được. Ảnh: Nguyễn Huế

    Theo ông, các xã, phường cần chủ động đề xuất những nội dung có thể phân cấp, như tự chủ tài chính, giữ lại nguồn thu. Các đề xuất phải cụ thể, có cơ sở pháp lý, đánh giá tác động và bảo đảm tính khả thi.

    Ông Được cho rằng Quốc hội đã trao cho TPHCM “chìa khóa thể chế” với các cơ chế, chính sách vượt trội, và yêu cầu tiếp theo là tổ chức thực hiện hiệu quả, không để luật có hiệu lực nhưng cơ chế thực hiện vẫn phải chờ hướng dẫn.

    Lãnh đạo UBND TP yêu cầu các sở, ngành, địa phương phải rà soát, tháo gỡ vướng mắc, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả.

    Thời gian qua, các sở ngành đã lấy ý kiến 168 phường xã, đặc khu về dự thảo chính sách, nhưng chỉ khoảng một nửa phản hồi và phần lớn trong số đó thống nhất với dự thảo, khiến việc đánh giá chất lượng góp ý gặp khó khăn. Tôi mong chính quyền cấp xã quan tâm hơn đến việc góp ý, do các chính sách hiện nay đều liên quan trực tiếp đến cấp cơ sở này.

    Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM Nguyễn Thị Hồng Hạnh

    Trong khi đó, Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM Nguyễn Thị Hồng Hạnh cho biết các sở, ngành đã lấy ý kiến của 168 phường, xã, đặc khu về dự thảo chính sách, nhưng chỉ khoảng một nửa phản hồi và phần lớn thống nhất với dự thảo.

    Theo bà Hạnh, trong hơn một tháng, thành phố đã thông qua 25 nghị quyết triển khai tổ chức đô thị, chuẩn bị cho Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 1/10.

    Bà cho rằng đây là luật phân quyền toàn diện cho địa phương nên cách xây dựng chính sách phải thay đổi căn bản: thành phố không còn chỉ “cụ thể hóa” các khung có sẵn từ Trung ương mà phải tự kiến tạo chính sách.

    Lãnh đạo Sở Tư pháp đề nghị các sở, ngành chủ động xin ý kiến bộ chuyên ngành ngay từ đầu; các cơ quan liên quan, nhất là lĩnh vực tài chính, đất đai, phối hợp thực chất hơn; 168 phường, xã, đặc khu cần tham gia góp ý sâu hơn vì đây là nơi trực tiếp triển khai phần lớn chính sách.

    Cơ chế phải đến được với người dân, doanh nghiệp

    Trao đổi với PV VietNamNet, TS Trần Quang Thắng – Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM – cho rằng thành phố cần cơ chế đủ mạnh để phát huy vai trò của một trung tâm kinh tế lớn. Luật được kỳ vọng giúp tăng quyền tự chủ, rút ngắn quá trình ra quyết định, tăng liên kết vùng và thu hút nguồn lực.

    Theo ông Thắng, điều kiện để cơ chế phát huy là bộ máy có năng lực và chất lượng cao. Phân quyền phải gắn với tuân thủ pháp luật; quản lý đô thị dựa trên quy hoạch, pháp quyền và tổ chức thực hiện; hạ tầng bảo đảm tiến độ, hạn chế lãng phí.

    Ông cũng cho rằng các hướng dẫn cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện. Một cơ chế dù được thiết kế mở nhưng nếu người thực hiện khó hiểu, người dân và doanh nghiệp khó tiếp cận thì hiệu quả sẽ bị hạn chế.

    PGS.TS Trần Thị Hồng Liên. Ảnh: Phước Sáng

    PGS.TS Trần Thị Hồng Liên (ĐH Kinh tế – Luật, ĐHQG TPHCM) thì cho rằng với thẩm quyền lớn hơn về phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch, TPHCM cần hướng tới quy hoạch bao trùm.

    “Quy hoạch tốt phải đi cùng thực thi hiệu quả. Chúng ta có nhiều chính sách tốt nhưng chưa thực hiện hiệu quả, nên cần cả hai yếu tố này” – bà Liên chia sẻ với PV VietNamNet.

    Theo bà, TPHCM đang thiếu nhà ở phù hợp với nhu cầu thực tế. Một số nơi có nhà nhưng thiếu người ở, trong khi tốc độ và sự phân bổ nhà ở xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị bao trùm.

    Tình trạng này không chỉ liên quan đến chỗ ở mà còn tác động đến chất lượng sống, nguồn lao động, dịch vụ và phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, quy hoạch đô thị cần gắn với nhu cầu thực tế của người dân, từ nơi ở, nơi làm việc đến khả năng tiếp cận hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu.

    Khi Luật Phát triển đô thị có hiệu lực, thách thức đặt ra với TPHCM không chỉ là sử dụng những thẩm quyền mới mà là biến các cơ chế đó thành chính sách khả thi, công việc cụ thể và những thay đổi mà người dân, doanh nghiệp có thể nhận thấy trong thực tế.

    Luật Phát triển đô thị gồm 5 chương, 66 điều, được Quốc hội thông qua ngày 24/8, tạo khung thể chế mới cho TPHCM và các mô hình đô thị đặc thù.

    Luật thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, khả thi, tạo cơ sở áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện, năng lực thực thi của từng địa phương, qua đó khai thác tiềm năng, mở rộng không gian phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư.

    Thứ nhất là tăng phân quyền cho chính quyền thành phố. HĐND TPHCM được quyết định tăng biên chế tối đa 20% so với Trung ương giao, tự cân đối nguồn chi trả; quyết định tổ chức bộ máy, chính sách thu nhập và thí điểm chính sách khác luật trong thời hạn tối đa 5 năm, trừ một số lĩnh vực. Thành phố cũng được áp dụng mức phạt hành chính cao hơn, tối đa gấp 2 lần mức chung trong một số lĩnh vực và quy định việc cắt điện, nước đối với công trình vi phạm.

    Thứ hai là đổi mới quy hoạch, đất đai. Thành phố lập một quy hoạch tổng thể tích hợp, thay cho quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung. Mô hình TOD được luật hóa, cho phép sử dụng ngân sách địa phương để thu hồi đất quanh nhà ga, depot; chỉ tiêu sử dụng đất tại khu TOD có thể cao hơn quy chuẩn.

    Thứ ba là mở rộng các mô hình phát triển mới. Luật quy định cơ chế cho đô thị lấn biển, khu thương mại tự do và khu kinh tế đặc biệt, trong đó có chính sách riêng đối với dự án casino từ 2 tỷ USD.

    Thứ tư là bảo vệ cán bộ trong quá trình thực thi. Điều 62 quy định miễn trách nhiệm pháp lý đối với người không vụ lợi, thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhưng gây thiệt hại khi xây dựng văn bản thi hành luật hoặc thực hiện thí điểm.

    Phước Sáng

    Nguồn https://baomoi.com/chia-khoa-vang-cho-tphcm-va-loi-nhac-quyen-han-khong-tu-tao-ra-ket-qua-cua-bi-thu-c56169214.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!