Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Xem xét, thông qua nhiều nghị quyết nhằm triển khai Luật Phát triển đô thị

    Quang cảnh cuộc họp. (Ảnh: Thái Long)

    Tại phiên họp, Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố đã rà soát, đánh giá toàn diện tiến độ chuẩn bị các nội dung dự kiến trình tại Kỳ họp thứ sáu.

    Tại kỳ họp này, Hội đồng nhân dân thành phố sẽ tiếp tục thông qua một số nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối, đưa các chính sách pháp luật, nhất là các quy định mới triển khai Luật Phát triển đô thị vào thực tiễn, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của thành phố.

    Dự kiến, tại kỳ họp sẽ có nhiều nội dung mang tính đột phá, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn của thành phố cũng như các vấn đề liên quan thiết thực tới người dân như: thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại các dự án di dời nhà ven kênh rạch; cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; danh mục các dự án đầu tư công trọng điểm; cùng những cơ chế quản lý quảng cáo ngoài trời và phát triển kinh tế ban đêm.

    Phát biểu chỉ đạo tại phiên họp, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Nguyễn Văn Thọ nhấn mạnh, Ủy ban nhân dân thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện nghiêm trình tự, thủ tục xây dựng văn bản. Đối với các chính sách liên quan đến nguồn lực tài chính, phải đánh giá đầy đủ, minh bạch tác động của chính sách và khả năng cân đối ngân sách.

    Nhằm bảo đảm tiến độ, Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố lưu ý, đối với các dự thảo Nghị quyết quy phạm pháp luật, các sở, ngành phải hoàn chỉnh và gửi về Ủy ban nhân dân thành phố chậm nhất vào ngày 11/10/2026. Đối với các dự thảo Nghị quyết cá biệt, hạn chót trình Ủy ban nhân dân thành phố là ngày 18/10/2026.

    Dự kiến, Kỳ họp thứ sáu (kỳ họp chuyên đề) của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI sẽ được tổ chức vào ngày 29/10/2026.

    VƯƠNG LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/xem-xet-thong-qua-nhieu-nghi-quyet-nham-trien-khai-luat-phat-trien-do-thi-c56211376.epi

  • Bộ Công Thương lấy ý kiến về đề xuất 14 giải pháp ngăn cháy nhà dân do chập điện

    Đề xuất siết an toàn điện tại hộ dân

    Ngày 28/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Phiếu chuyển số 3447/PC-VPCP gửi Bộ Công an, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương. Kèm theo phiếu là văn bản ghi ngày 14/9/2026 của ông Bùi Công Nguyên Minh (tỉnh Đồng Nai) gửi Thủ tướng Chính phủ, đề xuất “giải pháp ngăn chặn cháy, nổ nhà dân, truy cứu trách nhiệm”. Căn cứ Quy chế làm việc của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chuyển văn bản này đến ba bộ để xem xét, xử lý theo quy định.

    Tờ trình được gửi tới Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an – Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH), Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Theo người đề xuất, mục đích của tờ trình là giảm thiểu, ngăn ngừa và truy trách nhiệm đối với tình trạng cháy nhà do chập điện gây thương vong cho nhiều người.

    Đề xuất 14 giải pháp ngăn cháy nhà dân do chập điện đang được Bộ Công Thương lấy ý kiến.

    Để làm rõ thực trạng, tờ trình dẫn thống kê của Cục Cảnh sát PCCC và CNCH (Bộ Công an) giai đoạn 2023 – 2025. Năm 2023, toàn quốc xảy ra 3.440 vụ cháy, làm chết 146 người, bị thương 109 người, thiệt hại tài sản 878 tỷ đồng và 236 ha rừng. Trong đó, cháy nhà dân có 1.016 vụ, chiếm 29,5%. Trong 6 tháng đầu năm 2024 xảy ra 2.222 vụ cháy, làm chết 57 người. Riêng cháy nhà dân là 823 vụ, chiếm 37%. Trong 5 tháng đầu năm 2025 xảy ra 1.497 vụ cháy, làm chết 39 người, thiệt hại 138,16 tỷ đồng. Cháy nhà dân có 539 vụ, chiếm 36%.

    Từ thực trạng này, tờ trình nêu 10 nguyên nhân, phần lớn xuất phát từ phía người dân. Họ thiếu hiểu biết về an toàn điện, an toàn cháy nổ, không có phương tiện chữa cháy và không biết cách chữa cháy. Thương vong cũng lớn vì người dân không biết thoát nạn hoặc thoát nạn sai. Bên cạnh đó, theo tờ trình, nhiều căn nhà cũ xây dựng lâu năm không có thiết bị bảo vệ an toàn điện.

    Nhiều giải pháp từ xây dựng đến quản lý

    Trọng tâm của tờ trình là 14 giải pháp phòng ngừa cháy do chập điện và giảm thiểu thương vong.

    Với hộ dân, người đề xuất muốn mỗi hộ bắt buộc phải có bảng quy định an toàn điện, PCCC đặt ngay dưới đồng hồ điện kế, giống như tiêu lệnh PCCC. Chủ hộ đứng tên điện kế phải được hướng dẫn về an toàn điện, an toàn PCCC và kỹ năng thoát nạn theo tiêu chuẩn. Tờ trình cũng đề xuất thiết lập một kênh truyền hình chuyên biệt, mỗi giờ phát từng chương trình về quy định an toàn điện, an toàn cháy nổ, an toàn giao thông và các quy định, luật khác.

    Về thiết bị, tờ trình kiến nghị lập kế hoạch, lộ trình lắp cầu dao tự động (CB) chống chập, cháy nổ cho 100% hộ dân có đăng ký đồng hồ điện. Đơn vị điện lực sẽ định kỳ bảo dưỡng, thay thế các thiết bị chống cháy nổ trong nhà dân theo kế hoạch.

    Nhóm giải pháp về xây dựng chiếm nhiều nội dung nhất. Theo đó, mọi công trình xây mới bắt buộc phải có giấy phép, truy xuất nguồn gốc chất lượng, bảo đảm an toàn điện và an toàn PCCC. Thợ xây, thầu xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề và bị truy cứu trách nhiệm khi công trình xảy ra sự cố, tai nạn. Hồ sơ kỹ thuật của công trình xây mới phải có bản vẽ thiết kế hệ thống an toàn điện, gồm dây dẫn, thiết bị chống cháy nổ, hệ thống cảnh báo cháy và thoát hiểm. Khi phát sinh cháy do lỗi kỹ thuật theo thiết kế, công ty xây dựng và nhà thầu là đơn vị chịu trách nhiệm chính, đồng thời phải lưu hồ sơ theo quy định.

    Ở khâu quản lý, tờ trình đề xuất bổ sung mục “đạt chuẩn PCCC” vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu. Cơ quan quản lý điện lực và cơ quan PCCC sẽ có trách nhiệm triển khai thực thi các hạng mục liên quan, trình ký phương án, kế hoạch và mục tiêu hành động cụ thể.

    Tại Bộ Công Thương, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Cục ATMT) được Lãnh đạo Bộ giao chủ trì xử lý Phiếu chuyển số 3447/PC-VPCP. Ngày 5/10/2026, Cục ATMT có Văn bản số 2135/ATMT-ATĐ do Phó Cục trưởng Trịnh Văn Thuận ký, đề nghị các đơn vị cho ý kiến về tờ trình theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

    Theo đề nghị của Cục ATMT, văn bản ý kiến được gửi về Cục trước ngày 20/10/2026. Đây là cơ sở để Cục tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ Công Thương.

    Xem chi tiết văn bản tại đây.

    Tờ trình kiến nghị thử nghiệm, kiểm thảo, rồi ra quyết định áp dụng các giải pháp trên toàn quốc. Người đề xuất cũng đề nghị được ghi nhận tác giả theo Nghị định 13/2012/NĐ-CP và được trả lời kết quả bằng văn bản.

    Phương Hà

    Nguồn https://baomoi.com/bo-cong-thuong-lay-y-kien-ve-de-xuat-14-giai-phap-ngan-chay-nha-dan-do-chap-dien-c56211373.epi

  • Chính phủ quy định các tiêu chí công nhận khu kinh tế đặc biệt ra sao?

    *Vị trí chiến lược, phù hợp định hướng phát triển

    Một góc đô thị phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai. Ảnh tư liệu

    Theo Điều 3 của nghị định, xã, phường, đặc khu được xem xét công nhận là khu kinh tế đặc biệt khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Phát triển đô thị, được quy định chi tiết tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 3 Nghị định số 378/2026/NĐ-CP.

    Trước hết, khu vực được xem xét công nhận phải đáp ứng tiêu chí có vị trí chiến lược, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh của đất nước.

    Nghị định quy định tiêu chí này được xác định là đáp ứng khi bảo đảm đồng thời các yêu cầu.

    Theo đó, xã, phường, đặc khu phải thuộc tỉnh, thành phố được xác định là cực tăng trưởng, vùng động lực quốc gia, bao gồm cả vùng động lực được xác định từng bước xây dựng, hình thành tại quy hoạch tổng thể quốc gia; hoặc thuộc tỉnh, thành phố được xác định là cực tăng trưởng, khu vực động lực, trung tâm kinh tế của vùng tại quy hoạch vùng.

    Một góc đô thị phường Bình Phước, thành phố Đồng Nai. Ảnh tư liệu

    Bên cạnh đó, địa bàn được xem xét phải được xác định là cực tăng trưởng, hạt nhân của vùng động lực, trung tâm kinh tế hoặc khu kinh tế ven biển của tỉnh, thành phố tại quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng thể thành phố và các quy hoạch khác.

    Một yêu cầu khác là phải bảo đảm vị trí, vai trò trong thế trận quốc phòng – an ninh, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo.

    Như vậy, tiêu chí về vị trí chiến lược không chỉ được xem xét trên phương diện phát triển kinh tế – xã hội mà còn gắn với yêu cầu về quốc phòng – an ninh và bảo vệ chủ quyền. Đồng thời, vị trí của địa bàn phải được xác định trong các cấp độ quy hoạch tương ứng từ quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng đến quy hoạch tỉnh, quy hoạch tổng thể thành phố.

    *Yêu cầu về cảng hàng không, cảng biển và quy mô địa bàn

    Sân bay Long Thành đã chính thức đón chuyến bay chở khách đầu tiên hạ cánh vào ngày 19-12-2025. Ảnh: Phạm Tùng

    Một tiêu chí khác để xem xét công nhận khu kinh tế đặc biệt là phải có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên.

    Theo Nghị định số 378/2026/NĐ-CP, tiêu chí có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên được xác định là đáp ứng khi trên địa giới hành chính của xã, phường, đặc khu có một trong các công trình được quy định.

    Cụ thể, đó là cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển đặc biệt, cảng biển loại I theo danh mục phân loại cảng biển.

    Quy định này xác định trực tiếp yêu cầu về công trình hạ tầng trên địa giới hành chính của đơn vị được xem xét công nhận. Theo đó, địa bàn phải có một trong 2 loại công trình nêu trên để đáp ứng tiêu chí.

    Bên cạnh yêu cầu về hạ tầng hàng không, hàng hải, nghị định quy định tiêu chí về không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát, có quy mô dân số và diện tích tự nhiên lớn.

    Tiêu chí này phải được đáp ứng đồng thời bằng các yêu cầu cụ thể. Thứ nhất, địa bàn phải có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định số 378/2026/NĐ-CP.

    Thứ hai, quy mô dân số phải từ 50.000 người trở lên.

    Thứ ba, diện tích tự nhiên phải từ 500km² trở lên.

    Khác với tiêu chí về vị trí chiến lược và hạ tầng, nhóm tiêu chí này đặt ra các yêu cầu định lượng cụ thể về dân số và diện tích, bên cạnh yêu cầu về đặc điểm không gian.

    Theo quy định, cả 3 yêu cầu phải được bảo đảm đồng thời. Điều đó có nghĩa là việc đáp ứng riêng lẻ yêu cầu về dân số hoặc diện tích chưa đủ để đáp ứng tiêu chí này; địa bàn còn phải có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát theo quy định.

    Các tiêu chí được quy định tại Điều 3 là những căn cứ để xem xét công nhận xã, phường, đặc khu là khu kinh tế đặc biệt. Việc xem xét phải bảo đảm đầy đủ các tiêu chí theo quy định của Luật Phát triển đô thị và được cụ thể hóa tại Nghị định số 378/2026/NĐ-CP.

    *Quy định hồ sơ, trình tự đề nghị công nhận

    Các tuyến giao thông kết nối Sân bay Long Thành đang được thành phố Đồng Nai phối hợp với các đơn vị, địa phương đầu tư xây dựng phục vụ khai thác khi sân bay đi vào hoạt động. Ảnh: Phạm Tùng

    Không chỉ quy định các tiêu chí, Nghị định số 378/2026/NĐ-CP còn quy định trình tự, thủ tục đề nghị công nhận khu kinh tế đặc biệt.

    Theo Điều 5, sau khi có ý kiến của cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Phát triển đô thị, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua đề án công nhận khu kinh tế đặc biệt.

    Hồ sơ trình gồm nhiều tài liệu, trong đó có tờ trình của UBND cấp tỉnh về hồ sơ đề án theo Mẫu số 01 tại Phụ lục I ban hành kèm theo nghị định.

    Hồ sơ cũng bao gồm dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh thông qua đề án công nhận khu kinh tế đặc biệt.

    Cùng với đó là dự thảo nghị quyết của Chính phủ công nhận khu kinh tế đặc biệt theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo nghị định.

    Một thành phần khác của hồ sơ là văn bản đồng ý về chủ trương của cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Phát triển đô thị.

    Đặc biệt, hồ sơ phải có đề án công nhận khu kinh tế đặc biệt gồm: Cơ sở chính trị, căn cứ pháp lý, thực tiễn, sự cần thiết. Khái quát khu vực đề nghị công nhận là khu kinh tế đặc biệt: Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích tự nhiên, quy mô dân số; đánh giá hiện trạng đơn vị hành chính về phát triển kinh tế – xã hội, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tài nguyên, môi trường, quốc phòng – an ninh và tổ chức bộ máy.

    Sự phù hợp của việc công nhận khu kinh tế đặc biệt với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch có liên quan.

    Nội dung đánh giá, đáp ứng từng tiêu chí công nhận khu kinh tế đặc biệt.

    Nội dung đánh giá tác động, định hướng phát triển của đơn vị hành chính sau khi được công nhận là khu kinh tế đặc biệt: Đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, tổ chức bộ máy và tác động đối với các đơn vị hành chính liền kề, toàn tỉnh, thành phố; đánh giá tác động về ngân sách nhà nước, bao gồm: dự báo thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn; các yếu tố làm tăng, giảm, dịch chuyển nguồn thu, trong đó có tác động của việc áp dụng cơ chế, chính sách đối với khu kinh tế đặc biệt theo quy định của Luật Phát triển đô thị; việc bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia và vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước…

    Hải Thanh

    Nguồn https://baomoi.com/chinh-phu-quy-dinh-cac-tieu-chi-cong-nhan-khu-kinh-te-dac-biet-ra-sao-c56211306.epi

  • Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên yêu cầu đẩy nhanh giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm

    Chiều 6/10, Đoàn công tác UBND tỉnh Điện Biên do Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Lương làm Trưởng đoàn kiểm tra tiến độ một số dự án trọng điểm trên địa bàn phường Điện Biên Phủ và xã Thanh Nưa.

    Đoàn kiểm tra công tác giải phóng mặt bằng dự án Khu đô thị, thương mại, du lịch, dịch vụ và sân golf Huổi Phạ và phụ cận; dự án Khu đô thị mới, du lịch nghỉ dưỡng và dịch vụ thể thao phía Tây Bắc phường Điện Biên Phủ (địa phận xã Thanh Nưa) giai đoạn 1; dự án Khu dân cư đô thị Mường Thanh A, phường Điện Biên Phủ.

    Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên Lê Văn Lương kiểm tra dự án Khu đô thị, thương mại, du lịch, dịch vụ và sân golf Huổi Phạ

    Dự án Khu đô thị, thương mại, du lịch, dịch vụ và sân golf Huổi Phạ và phụ cận có tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 1.757 tỷ đồng, quy mô sử dụng đất khoảng 108,83 ha. Công tác giải phóng mặt bằng đang được tập trung triển khai.

    Dự án Khu đô thị mới, du lịch nghỉ dưỡng và dịch vụ thể thao phía Tây Bắc phường Điện Biên Phủ giai đoạn 1 có quy mô thu hồi khoảng 69,5 ha, liên quan 277 trường hợp. Đến nay đã kiểm đếm 274/277 trường hợp, đạt 98,9%; phê duyệt 26 phương án bồi thường cho 120 hộ và 2 tổ chức.

    Dự án Khu dân cư đô thị Mường Thanh A thu hồi gần 5 ha, liên quan 146 trường hợp. Đã đo đạc, kiểm đếm hợp lệ 145/146 trường hợp; nhiều phương án bồi thường đã được niêm yết, phê duyệt. Diện tích mặt bằng đã bàn giao hơn 2 ha.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Lương kiểm tra công tác giải phóng mặt bằng dự án Khu đô thị mới, du lịch nghỉ dưỡng và dịch vụ thể thao phía Tây Bắc phường Điện Biên Phủ (địa phận xã Thanh Nưa)

    Qua kiểm tra, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Lương yêu cầu các sở, ngành, địa phương và đơn vị liên quan xác định rõ trách nhiệm, thời hạn hoàn thành từng nhiệm vụ; tập trung giải quyết từng trường hợp cụ thể, bảo đảm đúng quy định, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

    Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh được yêu cầu đẩy nhanh lập, hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ; phối hợp với các địa phương vận động những trường hợp chưa hoàn thành kiểm đếm, kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh.

    Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu công tác giải phóng mặt bằng được triển khai quyết liệt, đúng trình tự, thủ tục, sớm tạo mặt bằng sạch, góp phần đẩy nhanh tiến độ đầu tư và phát huy hiệu quả các dự án trọng điểm.

    Kỳ Anh

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-ubnd-tinh-dien-bien-yeu-cau-day-nhanh-giai-phong-mat-bang-cac-du-an-trong-diem-c56211219.epi

  • Quảng Ngãi tăng tốc đưa 10 xã về đích nông thôn mới trong năm 2026

    Mô hình kinh tế tổng hợp của người dân tại thôn Hà Mòn 1, xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh: Đinh Hương/TTXVN)

    Thực hiện Quyết định 910/QĐ-UBND ngày 26/9/2026 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về Kế hoạch thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh năm 2026, Quảng Ngãi phấn đấu có 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2026.

    Cụ thể gồm các xã Đăk Hà, Đăk Mar, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh, Bình Sơn, Vạn Tường, Tịnh Khê, Tư Nghĩa, Thọ Phong và An Phú.

    Năm 2026, tổng nguồn vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của 10 xã gần 70 tỷ đồng.

    Tỉnh cũng đề ra mục tiêu đến năm 2030, có trên 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 58/87 xã; khoảng 2% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tương đương 1/87 xã.

    Tại cuộc họp chiều 6/10, ông Đỗ Tâm Hiển, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi yêu cầu 10 xã thực hiện mục tiêu đạt nông thôn mới trong năm 2026 phải xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm. Các văn bản Trung ương, sở, ngành hướng dẫn các địa phương đã cơ bản hoàn thành để tổ chức thực hiện.

    Để giúp các địa phương có thể đạt nông thôn mới trong năm 2026, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường, đơn vị chủ trì theo dõi, tổ chức thực hiện, chậm nhất 15/10 phải hoàn thành bộ hồ sơ hướng dẫn đầy đủ để cung cấp cho 10 xã.

    Cùng với đó, Sở phải thành lập tổ chuyên theo dõi liên quan vấn đề nông thôn mới, có sự tham gia các sở, ngành liên quan. Hàng tháng, Sở Nông nghiệp và Môi trường phải chủ trì, nắm các công việc, tiến độ ở các địa phương, trường hợp vướng, báo cáo lãnh đạo tỉnh. Sở phải có hướng dẫn cụ thể; chốt thời gian nộp hồ sơ để thẩm định tổ chức, đánh giá.

    Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, các xã mới chỉ đạt từ 4-8 tiêu chí của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030. Trong khi đó, để đạt chuẩn, các xã phải hoàn thành toàn bộ 10 tiêu chí.

    Qua rà soát tình hình thực hiện Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030, đối với 10 xã thực hiện mục tiêu trong năm 2026, kết quả thực hiện giữa các xã chưa đồng đều.

    Cụ thể các xã đạt cao là Đăk Hà đạt 9/10, Nghĩa Hành 8/10; thấp nhất là các xã Thọ Phong, Tư Nghĩa, An Phú đạt 3-4/10 tiêu chí…

    Đến nay, 9/10 xã chưa đạt tiêu chí số 1 về quy hoạch. Quy hoạch chung xã đang trong quá trình lập, điều chỉnh hoặc chờ thẩm định, phê duyệt; chưa ban hành Quy chế quản lý kiến trúc; riêng xã Vạn Tường (đạt 7/10 tiêu chí) vướng quy hoạch phân khu do nằm trong Khu kinh tế Dung Quất.

    Phần lớn các địa phương đều đang gặp khó khăn, vướng mắc trong hoàn thành tiêu chí về quy hoạch; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; tiêu chí về phát triển kinh tế nông thôn.

    Nhiều địa phương vẫn còn lúng túng trong triển khai các tiêu chí thành phần về phát triển vùng nguyên liệu tập trung…

    Cùng với đó, nguồn lực thực hiện năm 2026 tại các xã phụ thuộc lớn vào vốn chuyển nguồn từ các năm trước sang. Các xã ở phía Đông chuẩn bị bước vào mùa mưa, thời gian thực hiện còn ít nên việc đầu tư cơ sở hạ tầng gặp khó khăn./.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/quang-ngai-tang-toc-dua-10-xa-ve-dich-nong-thon-moi-trong-nam-2026-c56211183.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!