Author: bachdn

  • TPHCM rà soát 3 dự án điện gió gần bờ, tổng công suất 250MW

    Sáng 19-8, Sở Công thương TPHCM làm việc với Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND các xã Bình Châu, Xuyên Mộc, Hồ Tràm, Trung Nam Group và đơn vị tư vấn VATEC để rà soát danh mục các khu đất đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho 3 dự án điện gió gần bờ trên địa bàn thành phố.

    Buổi làm việc giữa Sở Công thương TPHCM với các đơn vị liên quan. Ảnh: ĐÌNH DƯ

    Cụ thể, Dự án Nhà máy điện gió Công Lý Bà Rịa – Vũng Tàu (giai đoạn 1) đi qua xã Xuyên Mộc và Bình Châu, có diện tích khảo sát khoảng 1.858ha, công suất 103MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg.

    Dự án Nhà máy điện gió Xuyên Mộc (giai đoạn 2) đi qua xã Bình Châu, có diện tích khảo sát khoảng 583ha, công suất 47MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 262/QĐ-TTg và Quyết định số 1682/QĐ-TTg.

    Dự án Nhà máy điện gió Xuyên Mộc (giai đoạn 3) đi qua xã Xuyên Mộc và Hồ Tràm, có diện tích khảo sát khoảng 1.474ha, công suất 100MW, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 768/QĐ-TTg.

    Tại buổi làm việc, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó Giám đốc Sở Công thương TPHCM, yêu cầu các đơn vị liên quan và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ để hoàn thiện hồ sơ.

    “Mục tiêu là sớm hoàn thiện danh mục dự án có sử dụng đất để UBND thành phố trình HĐND thành phố tại kỳ họp tháng 11 tới. Đây là cơ sở pháp lý để triển khai các bước tiếp theo, trong đó có đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư”, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc cho biết.

    ĐÌNH DƯ

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-ra-soat-3-du-an-dien-gio-gan-bo-tong-cong-suat-250mw-c55865151.epi

  • Tháo gỡ những vướng mắc cho Chương trình mục tiêu quốc gia

    Đại biểu Cil Bri (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) phát biểu. Ảnh: Viết Tôn

    Khắc phục những vướng mắc kéo dài

    Đại biểu Cil Bri (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, chủ trương này có ý nghĩa khắc phục những vướng mắc kéo dài trong giai đoạn 2021- 2025, đó là tình trạng nguồn lực manh mún, dàn trải, phân tán qua nhiều đầu mối quản lý, có chương trình liên quan từ 8 đến 20 đầu mối; số lượng văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn trung gian quá lớn, giai đoạn trước lên tới gần 250 văn bản.

    Đồng thời, phương thức phân bổ nguồn lực được chuyển từ căn cứ chủ yếu vào nhu cầu đăng ký sang căn cứ vào năng lực và điều kiện sẵn sàng thực hiện, qua đó tăng quyền chủ động cho chính quyền địa phương.

    Để chủ trương này được triển khai hiệu quả, đại biểu Cil Bri đề nghị quan tâm đến quy định rõ tỷ lệ ngân sách tối thiểu dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Việc thống nhất 4 chương trình thành một chương trình tổng thể mang lại nhiều lợi ích trong quản lý và điều phối nguồn lực. Tuy nhiên, khi địa phương được phân cấp mạnh hơn, có thể phát sinh tình trạng nguồn lực tập trung vào các công trình hạ tầng nông thôn mới dễ thực hiện, dễ giải ngân tại những địa bàn thuận lợi, làm giảm nguồn lực dành cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS.

    Vì vậy, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội quy định bảo đảm một mức phân bổ ngân sách tối thiểu, dự kiến trong khoảng 35% – 40% tổng nguồn vốn ngân sách trung ương của Chương trình, để trực tiếp thực hiện các nội dung, chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi quy định tại Điều 11. Quy định rõ tỷ lệ này là cần thiết để việc thống nhất các chương trình không làm giảm nguồn lực và mức độ ưu tiên dành cho những địa bàn khó khăn nhất.

    Về cơ cấu nguồn vốn, cơ chế điều phối và phân cấp thực hiện; Khoản 2 Điều 1 dự thảo Nghị quyết của Quốc hội và Điều 5 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ định hướng cơ cấu ngân sách gồm 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên; Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì tổng hợp nguồn lực.

    Đại biểu Cil Bri đề nghị Chính phủ làm rõ cơ cấu này là định hướng chung hay được áp dụng thống nhất cho tất cả địa phương. Thực tế, đối với các nội dung về giảm nghèo bền vững và phát triển văn hóa, nhu cầu kinh phí thường xuyên để hỗ trợ sinh kế, đào tạo, tuyên truyền thường cao hơn.

    Cơ cấu 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên phù hợp với yêu cầu phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, y tế cơ sở và bảo tồn văn hóa, nhiều nhiệm vụ phi công trình như đào tạo nghề, bảo tồn văn hóa phi vật thể, trợ giúp pháp lý, duy trì đội ngũ cộng tác viên y tế, dân số và hỗ trợ sinh kế hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn kinh phí thường xuyên.

    Do đó, đại biểu Cil Bri đề nghị Chính phủ làm rõ căn cứ khoa học và thực tiễn của cơ cấu 75%-25%; đồng thời, giao HĐND cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế của địa phương được điều chỉnh linh hoạt cơ cấu giữa vốn đầu tư công và kinh phí thường xuyên trong một biên độ phù hợp.

    Khi các nhóm đối tượng nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được tích hợp vào cùng một chương trình, cũng cần phòng ngừa nguy cơ nguồn lực chủ yếu được phân bổ cho các dự án hạ tầng dễ thực hiện, dễ giải ngân như đường, trường, trạm, trong khi các dự án sinh kế khó triển khai, khó lượng hóa kết quả không được quan tâm đúng mức. Vì vậy, đề nghị dự thảo quy định tỷ lệ tối thiểu bắt buộc dành cho hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế trực tiếp đối với hộ gia đình, bảo đảm mục tiêu an sinh thực chất.

    Về tiến độ thực hiện, tính đến tháng 7/2026, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn năm 2025 được kéo dài sang năm 2026 mới đạt 31% đối với vốn đầu tư công và 19,4% đối với kinh phí thường xuyên. Khi thống nhất thành một chương trình tổng thể, đề nghị làm rõ cơ chế xử lý tình trạng “vốn chờ thủ tục” và chậm ban hành hướng dẫn liên bộ.

    Hiện nay, có nhiều bộ, cơ quan cùng tham gia thực hiện Chương trình. Do đó, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm điều phối chung; phân định cụ thể trách nhiệm của Bộ Tài chính với tư cách cơ quan chủ trì tổng hợp nguồn lực và trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành. Nếu xảy ra chậm trễ, phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Quốc hội.

    Đại biểu Cil Bri đề nghị nghiên cứu quy định trong Nghị quyết của Quốc hội việc thành lập một Ban điều phối chung có đủ thẩm quyền, thay cho việc duy trì các văn phòng điều phối riêng rẽ, nhằm khắc phục tình trạng thẩm quyền phân tán, trách nhiệm chưa rõ ràng. “Tôi đồng tình với chủ trương đẩy mạnh phân cấp theo phương châm ‘địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm’. Tuy nhiên, phân cấp phải gắn với năng lực thực hiện. Tại các tỉnh nghèo, miền núi, năng lực thẩm định và tổ chức triển khai của cấp xã còn hạn chế. Nếu phân cấp trọn gói nhưng không có cẩm nang, quy trình hướng dẫn mẫu và cơ chế bảo vệ cán bộ thì dễ dẫn đến tâm lý sợ sai, không dám làm, tiếp tục gây ách tắc dòng vốn”, đại biểu Cil Bri phát biểu.

    Về phân cấp mạnh hơn trong thực hiện dự án đặc thù và hỗ trợ phát triển sản xuất, Phụ lục III dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định các dự án có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, có sự tham gia của cộng đồng và tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng thì giao cộng đồng tự thực hiện. Tuy nhiên, với mặt bằng giá cả và biến động chi phí vật liệu hiện nay, hạn mức 500 triệu đồng còn tương đối thấp, chưa thực sự khuyến khích tính tự chủ của cộng đồng và cơ sở.

    “Tôi đề nghị nâng hạn mức đối với dự án đặc thù giao cộng đồng tự thực hiện tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS từ dưới 500 triệu đồng lên dưới 1 tỷ đồng”, đại biểu Cil Bri phát biểu.

    Đối với Phụ lục IV về hỗ trợ phát triển sản xuất, đề nghị bổ sung quy định áp dụng hình thức thanh toán khoán theo sản phẩm đầu ra đối với các mô hình sinh kế quy mô hộ gia đình; giảm tối đa yêu cầu về chứng từ chi tiết cấu thành, tránh gây khó khăn, phiền hà cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Về bổ sung chính sách và kinh phí cho công tác tôn giáo gắn với công tác dân tộc, tại các tỉnh Tây Nguyên nói chung và tỉnh Lâm Đồng nói riêng, công tác dân tộc và công tác tôn giáo có mối quan hệ chặt chẽ. Chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo là người DTTS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn an ninh, trật tự và vận động Nhân dân phát triển kinh tế.

    Vì vậy, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung cụm từ “chức sắc, chức việc, nhà tu hành của các tôn giáo” vào nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách hỗ trợ, bồi dưỡng kiến thức, tuyên truyền pháp luật, biểu dương và khen thưởng tại khoản 6 Điều 11 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ.

    Về xem xét lại tiêu chí phân bổ vốn hằng năm căn cứ vào tỷ lệ giải ngân, Phần B Phụ lục I dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định giảm nguồn vốn năm sau đối với địa phương có tỷ lệ giải ngân năm trước thấp. Việc áp dụng tiêu chí này có thể dẫn đến tình trạng địa phương né tránh các dự án khó, nhất là các dự án tại vùng đồng bào DTTS và miền núi, thường gặp vướng mắc về đất rừng, địa hình, thời tiết khắc nghiệt và thủ tục đất đai; từ đó lựa chọn các dự án dễ thực hiện tại khu vực đô thị, đồng bằng để bảo đảm tỷ lệ giải ngân.

    Do đó, đại biểu Cil Bri đề nghị bổ sung quy định miễn trừ hoặc không cắt giảm trần vốn trung hạn đối với các dự án triển khai tại xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS và miền núi nếu tiến độ giải ngân chậm do nguyên nhân khách quan như thiên tai, điều kiện địa hình hoặc vướng mắc về thủ tục đất đai.

    Khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cơ bản thống nhất với chủ trương hợp nhất các Chương trình mục tiêu quốc gia, qua đó hướng tới khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, chồng chéo về nhiệm vụ và đầu mối tổ chức thực hiện; đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền và chuyển mạnh từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo kết quả.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) phát biểu ý kiến tại phiên họp.

    Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Nghị quyết và đối chiếu với kết quả thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng, Chương trình không chỉ cần xác định tổng kinh phí đầu tư là bao nhiêu mà phải làm rõ nguồn lực nào thực sự chắc chắn, khả năng hấp thụ đến đâu và kết quả tạo ra là như thế nào.

    Cơ bản thống nhất với việc dự thảo xác định tổng nguồn lực dự kiến thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 – 2030 là 808.558 tỷ đồng. Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ hơn tính khả thi của con số này, nhất là cơ cấu và mức độ chắc chắn của từng nguồn lực. Theo đó, khi xác định nguồn lực cho giai đoạn 2026 – 2030, Chính phủ không chỉ thuyết minh tổng số vốn mà cần làm rõ nguồn nào đã có cơ sở chắc chắn; nguồn nào phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách hằng năm; nguồn nào là nguồn huy động từ xã hội; khả năng huy động và khả năng hấp thụ của từng nhóm nguồn đến đâu; đồng thời đánh giá sự phù hợp giữa quy mô nguồn lực với từng nhóm mục tiêu, nhiệm vụ.

    Đặc biệt, trong tổng nguồn lực dự kiến giai đoạn 2026 – 2030, ngân sách địa phương là 395.392 tỷ đồng, cao hơn cả ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng. Trong khi đó, khả năng cân đối ngân sách giữa các địa phương là rất khác nhau. Vì vậy, cần làm rõ cơ chế bảo đảm để việc huy động nguồn lực địa phương và các nguồn lực hợp pháp khác không trở thành yếu tố làm gia tăng chênh lệch về khả năng thực hiện và mức độ thụ hưởng giữa các địa phương.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị quán triệt một nguyên tắc nguồn lực phải được tính toán trên cơ sở khả năng huy động thực tế, khả năng hấp thụ và kết quả đầu ra; không nên chỉ dừng ở việc xác định một con số nguồn lực rất lớn trên giấy tờ. Đồng thời, đối với các mục tiêu rất cao mà dự thảo đặt ra đến năm 2030 và 2035, cần rà soát để bảo đảm có đủ nguồn lực và điều kiện thực hiện.

    Nếu trong quá trình thực hiện xuất hiện chênh lệch lớn giữa nguồn lực dự kiến và nguồn lực thực tế, Nghị quyết cũng cần có cơ chế chủ động điều chỉnh thứ tự ưu tiên, mục tiêu hoặc phạm vi hỗ trợ, tránh tình trạng địa phương phải thực hiện quá nhiều mục tiêu nhưng nguồn lực lại bị dàn trải và hiệu quả không cao.

    Về phân cấp, phân quyền, đại biểu Nguyễn Văn Huy đánh giá cao việc dự thảo chuyển mạnh theo hướng phân cấp, phân quyền, trao quyền chủ động cho địa phương trong lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh nguồn lực. Đây là hướng đi cần thiết để khắc phục cơ chế quản lý nhiều tầng nấc và giúp chính sách phù hợp hơn với đặc điểm của từng địa bàn.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng, việc phân cấp càng mạnh thì yêu cầu về nguyên tắc thống nhất và trách nhiệm giải trình càng phải rõ. Dự thảo đã đặt ra giới hạn đối với địa phương, như không được thay đổi những điều kiện thụ hưởng cốt lõi, giảm mức ưu tiên tối thiểu, loại bỏ chính sách bắt buộc hoặc điều chuyển nguồn lực làm ảnh hưởng đến mục tiêu tối thiểu do Quốc hội quyết định. 

    Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, các khái niệm như “điều kiện thụ hưởng cốt lõi”, “mức ưu tiên tối thiểu”, “mục tiêu tối thiểu” nếu không được lượng hóa, xác định rõ thì có thể dẫn tới cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các địa phương. Khi đó, cùng một chính sách do Quốc hội quyết định nhưng mức độ tiếp cận và thụ hưởng của người dân có thể rất khác nhau, tùy thuộc vào khả năng ngân sách và quyết định phân bổ của từng địa phương.

    Do đó, đại biểu đề nghị Nghị quyết cần xác định rõ hơn: những mục tiêu nào là bắt buộc trên phạm vi cả nước; nhóm đối tượng nào phải được ưu tiên thống nhất; mức hỗ trợ tối thiểu nào phải được bảo đảm; nội dung nào địa phương được tự quyết và giới hạn của quyền tự quyết đó đến đâu.

    Đồng thời, đã phân cấp thì phải gắn phân cấp với trách nhiệm giải trình. Địa phương phải được quyền quyết định cách làm phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng phải chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng; không thể vừa được trao quyền rộng, vừa thiếu cơ chế đo lường kết quả và quy trách nhiệm khi mục tiêu không đạt. 

    “Vì vậy, tôi đề nghị dự thảo cần quy định rõ nguyên tắc: Địa phương được chủ động về cách làm, nhưng không được làm thay đổi những mục tiêu, đối tượng. Phân cấp về tổ chức thực hiện không đồng nghĩa với phân tán chuẩn chính sách”, đại biểu Nguyễn Văn Huy phát biểu.

    V.T/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-nhung-vuong-mac-cho-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-c55865337.epi

  • Chủ tịch TPHCM ‘thúc’ tiến độ loạt dự án hạ tầng giao thông ở cửa ngõ phía Tây

    Sáng 19/8, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được cùng đoàn công tác đã khảo sát, kiểm tra thực tế dự án xây dựng đường trục Đông – Tây (đường Võ Văn Kiệt nối dài) và dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1 (đường Lê Khả Phiêu), đoạn từ đường Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Tây Ninh.

    “Cái nào xong trước, đủ điều kiện thì làm trước”

    Sau đó, tại trụ sở UBND xã Tân Nhựt, Chủ tịch UBND TPHCM nghe báo cáo tiến độ một số dự án trọng điểm khác như Bờ Nam kênh Đôi, mở rộng quốc lộ 13, nút giao Tân Vạn…

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được (trái) và Phó Chủ tịch UBND TPHCM Hoàng Nguyên Dinh làm việc tại trụ sở UBND xã Tân Nhựt. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Sau khi nghe báo cáo, ông Nguyễn Văn Được yêu cầu các sở, ban ngành và địa phương tập trung xử lý những điểm nghẽn đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, nhất là giải phóng mặt bằng, tái định cư và thủ tục đầu tư.

    Đối với dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1, Chủ tịch UBND TPHCM yêu cầu các địa phương tiếp tục đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di dời hạ tầng kỹ thuật.

    Theo báo cáo tại buổi làm việc, phần lớn mặt bằng trên địa bàn TPHCM đã được xử lý, song vẫn còn một số vị trí cần tiếp tục hoàn tất. Đây là những phần việc cần được tập trung giải quyết để nhà thầu có thể tổ chức thi công liên tục.

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được kiểm tra dự án mở rộng quốc lộ 1. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Ông Được yêu cầu các địa phương rà soát cụ thể từng trường hợp, không để một vài vị trí còn vướng làm ảnh hưởng đến cả dự án. “Cái nào xong trước, đủ điều kiện thì làm trước”, ông Được yêu cầu.

    Theo Chủ tịch UBND TPHCM, các dự án, hạng mục đã đủ điều kiện về hồ sơ, mặt bằng và thủ tục cần được chủ động triển khai, không nhất thiết phải chờ toàn bộ các phần việc khác hoàn tất.

    Đối với dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài, Sở Xây dựng đã trình hồ sơ lên Hội đồng thẩm định, trong đó Sở Tài chính là cơ quan thường trực. Hiện Sở Tài chính đang thực hiện thẩm định, dự kiến hoàn tất và trình UBND TPHCM phê duyệt trong tháng 8/2026.

    Dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài hiện còn đang dang dở. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được cho biết hồ sơ dự án đã được các đơn vị chuẩn bị đầy đủ, đồng thời yêu cầu Sở Tài chính khẩn trương tham mưu UBND TPHCM để trình HĐND TPHCM trong tháng 8. Ông yêu cầu phấn đấu khởi công dự án đường Võ Văn Kiệt nối dài trong quý 4/2026.

    Đối với dự án mở rộng quốc lộ 13, ông Được yêu cầu rà soát, hoàn thiện hồ sơ, thiết kế và các thủ tục liên quan để sớm trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

    Ông giao Sở Xây dựng, Sở Tài chính phối hợp xử lý các phần việc thuộc trách nhiệm của mình, hạn chế tình trạng hồ sơ phải chờ đợi qua nhiều khâu. “Những việc có thể trao đổi, phối hợp thì phải chủ động làm ngay”, ông Được nói.

    Chủ tịch UBND TPHCM cũng yêu cầu các dự án đang triển khai hoặc chuẩn bị triển khai phải được tổ chức thực hiện theo kế hoạch trong năm. Những hạng mục có điều kiện hoàn thành trước cần được ưu tiên thực hiện trước, thay vì chờ đồng loạt.

    Tái định cư phải đi trước một bước

    Cùng với mặt bằng, ông Được đặc biệt lưu ý công tác tái định cư. Theo ông, nếu chưa chuẩn bị chỗ ở cho người dân thì rất khó đẩy nhanh giải phóng mặt bằng.

    Chủ tịch UBND TPHCM giao Sở Xây dựng rà soát toàn bộ quỹ nhà tái định cư hiện có, tận dụng tối đa những căn hộ đã hoàn thành để bố trí cho người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án.

    Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được “thúc” tiến độ bàn giao mặt bằng cho các dự án trọng điểm. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Đối với các khu tái định cư đang triển khai, ông yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành trong khoảng hai năm. Các thủ tục phải được thực hiện song song, phần việc nào có thể làm trước thì phải triển khai trước. “Phải làm sao tái định cư tới đâu thì giải phóng mặt bằng tới đó”, ông Được nhấn mạnh.

    Liên quan dự án ven kênh rạch, ông Được yêu cầu nghiên cứu lại phương án giải phóng mặt bằng theo hướng giảm tối đa số hộ dân bị ảnh hưởng nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu chỉnh trang, tạo không gian công cộng ven kênh.

    Chủ tịch UBND TPHCM kiểm tra thực tế các dự án trọng điểm ở cửa ngõ phía tây TPHCM. Ảnh: Nguyễn Tiến

    Theo ông, thay vì áp dụng một ranh giải phóng mặt bằng cứng cho toàn bộ khu vực, cần nghiên cứu điều chỉnh phù hợp với thực tế, ưu tiên phương án hạn chế ảnh hưởng đến nhà dân và giảm chi phí bồi thường.

    Một điểm đáng chú ý là ông Được yêu cầu gắn việc chỉnh trang kênh rạch với phát triển không gian xanh. Theo đó, phần đất ven kênh sau khi chỉnh trang cần được nghiên cứu tổ chức thành công viên, không gian sinh hoạt cộng đồng phục vụ người dân.

    Ông Được yêu cầu nội dung này phải được tính toán ngay trong quá trình rà soát quy hoạch, thiết kế dự án, thay vì đến khi triển khai mới điều chỉnh. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn phải thông tin rõ cho người dân về phạm vi thu hồi đất, phương án chỉnh trang và những lợi ích sau khi dự án hoàn thành.

    Hữu Huy – Nguyễn Tiến

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-tphcm-thuc-tien-do-loat-du-an-ha-tang-giao-thong-o-cua-ngo-phia-tay-c55865063.epi

  • Nỗi lo tại các khu đất dịch vụ ở Hà Nội: Có đất nhưng thiếu đủ thứ, người dân khó an cư

    Có đất nhưng chưa thể an cư

    Đất dịch vụ được bố trí nhằm bảo đảm quyền lợi, tạo điều kiện để người dân có thêm nguồn lực ổn định đời sống khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án phát triển kinh tế – xã hội. Về nguyên tắc, đây không chỉ là những ô đất được phân chia trên bản đồ mà cần đi kèm hệ thống hạ tầng thiết yếu để người dân có thể xây dựng nhà ở, kinh doanh và sinh hoạt.

    Thế nhưng, thực tế nhiều khu đất dịch vụ tại một số xã, phường ở Hà Nội cho thấy khoảng cách giữa việc có đất và có một nơi ở ổn định vẫn còn khá lớn. Nhiều khu đã được phân lô, xác định vị trí nhưng hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn thiện đồng bộ; có nơi đường giao thông nội bộ chưa được đầu tư hoàn chỉnh; hệ thống thoát nước còn thiếu; điện chiếu sáng chưa đáp ứng yêu cầu. Đáng chú ý, nước sạch – nhu cầu thiết yếu nhất đối với đời sống dân cư vẫn là bài toán chưa được giải quyết dứt điểm tại một số khu vực.

    Hạ tầng giao thông tại khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh, xã Hoài Đức sau cơn mưa. Ảnh: NDCC

    Như tại xã Hoài Đức, người dân phản ánh tình trạng đường sá tại khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh hiện nay chưa được hoàn thiện nên xuống cấp và rất khó khăn cho giao thông và sinh hoạt, trời mưa thì ngập lụt, trời nắng thì bụi bẩn, các cơ sở phá dỡ thì chở vật liệu rác thải, trạc gạch đổ trái phép khắp nơi và ngay cả trên đường đi. Hệ thống điện, nước cũng không đảm bảo.

    Anh N.V.T, người dân ở khu đất dịch vụ thôn Yên Vĩnh (xã Hoài Đức) chia sẻ: “Người dân đã nộp tiền làm đường nhưng tới bây giờ hơn 10 năm đường vẫn chưa làm xong. Chúng tôi rất mong chính quyền sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề nước, điện, rồi đường giao thông cho người dân sớm ổn định cuộc sống”.

    Tương tự, tạikhu đất dịch vụ X3 Yên Lũng (xã An Khánh), người dân phản ánh đã được Nhà nước giao đất cho các hộ dân từ tháng 4-2020, tuy nhiên đến nay các cơ sở hạ tầng tối thiểu vẫn chưa được hoàn thiện; đường chưa trải nhựa, chưa có vỉa hè và chưa lắp hệ thống nước sạch.

    Khu đất dịch vụ X3 Yên Lũng, xã An Khánh. Ảnh: NDCC

    Về việc này, Ban Quản lý dự án Đầu tư – Hạ tầng xã An Khánh thừa nhận các hạng mục hạ tầng kỹ thuật tại khu đất dịch chưa được đầu tư đồng bộ; đơn vị đã tổng hợp và báo cáo UBND xã sớm triển khai các hạng mục tiếp theo của dự án.

    Khi hạ tầng chưa hoàn chỉnh, người dân có tâm lý e ngại xây dựng nhà ở. Những khu đất vốn được kỳ vọng trở thành các khu dân cư mới vì thế có thể rơi vào tình trạng xây dựng lác đác, xen kẽ đất trống, thiếu sức sống. Người đã có đất nhưng chưa thể sử dụng hiệu quả, trong khi khu vực xung quanh chưa hình thành đầy đủ các điều kiện phục vụ đời sống.

    Đây là nghịch lý cần được nhìn nhận rõ – trao đất dịch vụ mới chỉ là bước đầu; để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, phải bảo đảm người dân có thể sử dụng đất và sinh sống thuận lợi trên chính khu đất đó.

    Thiếu nước sạch, thiếu hạ tầng thiết yếu

    Trong các bất cập tại khu đất dịch vụ, câu chuyện nước sạch đặc biệt đáng quan tâm. Khi dân cư bắt đầu chuyển đến sinh sống, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt tăng lên nhanh chóng. Nếu chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung, người dân phải tìm giải pháp tạm thời, vừa bất tiện vừa phát sinh thêm chi phí.

    Đối với một khu dân cư mới, nước sạch không thể được xem là hạng mục có thể hoàn thiện sau cùng. Cùng với điện, đường giao thông và hệ thống thoát nước, đây là điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng.

    Cảnh nhếch nhác tại Khu đất dịch vụ X2 Song Phương (xã Sơn Đồng)

    Như Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã phản ánh, thời gian qua, tại Khu đất dịch vụ X2 Song Phương (xã Sơn Đồng) đã có rất nhiều hộ dân tiến hành xây dựng nhà cửa và sinh sống ổn định nhiều năm. Tuy nhiên, hạ tầng cấp nước sạch vẫn chưa được triển khai và đấu nối đến khu vực của người dân.

    Do đó, người dân đề nghị chính quyền xã Sơn Đồng và các cấp có thẩm quyền sớm có phương án thi công, đấu nối mạng lưới nước sạch cho Khu đất dịch vụ X2 Song Phương để đảm bảo quyền lợi và sức khỏe cho người dân.

    Ông Đinh Quốc Thái, Trưởng phòng Kinh tế xã Sơn Đồng cho biết, hiện nay chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể việc triển khai đầu tư hệ thống cấp nước sạch bằng nguồn vốn đầu tư công.

    UBND xã Sơn Đồng đã có các văn bản gửi UBND thành phố, Sở Xây dựng Hà Nội để được hướng dẫn triển khai đầu tư hệ thống cấp nước tại các khu đất dịch vụ. Bên cạnh đó, UBND xã cũng đã làm việc với Công ty CP nước sạch Tây Hà Nội và đề nghị đơn vị khảo sát, nghiên cứu đề xuất các hình thức đầu tư xã hội hóa… làm cơ sở tuyên truyền vận động nhân dân và báo cáo UBND thành phố xem xét chỉ đạo.

    Cũng trong tình cảnh tương tự, tại khu đất đấu giá, dịch vụ Đắc Sở (xã Dương Hòa), người dân phản ánh họ đã sinh sống ổn định tại khu vực này được hơn 3 năm nhưng chưa có đường ống cấp nước sạch, các hộ dân trong khu vực phải sử dụng nguồn nước tự khai thác hoặc các nguồn nước khác, chất lượng chưa được kiểm định, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.

    Đại diện Phòng Kinh tế xã Dương Hòa xác nhận đối với khu đất đấu giá, dịch vụ Đắc Sở hiện trạng chưa được đầu tư xây dựng hệ thống đường ống cung cấp nước sạch; đơn vị sẽ tiếp tục tham mưu UBND xã phối hợp với Công ty nước sạch Tây Hà Nội để giải quyết theo quy định.

    Không để đất dịch vụ trở thành những khu dân cư “nửa vời”

    Không chỉ thiếu nước sạch, tại một số khu đất dịch vụ, việc thiếu đồng bộ về hạ tầng còn kéo theo nhiều hệ lụy. Hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh có thể khiến việc tiêu thoát nước gặp khó khăn khi mưa lớn. Đường nội khu chưa được hoàn thiện ảnh hưởng đến việc đi lại, vận chuyển và tiếp cận của các phương tiện cứu hộ, cứu nạn. Hệ thống chiếu sáng thiếu cũng làm giảm mức độ an toàn vào ban đêm.

    Để giải quyết căn cơ vấn đề, các chuyên gia quy hoạch cho rằng, trước hết cần rà soát tổng thể từng khu đất dịch vụ, xác định rõ hạng mục nào đã hoàn thành, hạng mục nào còn thiếu, trách nhiệm thuộc đơn vị nào và thời hạn hoàn thành ra sao. Không nên chỉ nhìn vào việc đã giao đất hay chưa, mà cần đánh giá đầy đủ khả năng đưa đất vào sử dụng thực tế.

    Trong đó, ưu tiên trước hết phải là những hạng mục hạ tầng thiết yếu, nhất là cấp nước sạch, giao thông, thoát nước và điện chiếu sáng. Với những khu vực đã có người dân sinh sống hoặc chuẩn bị xây dựng nhà ở, cần có phương án kết nối hạ tầng phù hợp, tránh để người dân tự xoay xở bằng những giải pháp tạm thời.

    Cùng với đầu tư hạ tầng, chính quyền các cấp cần tăng cường phối hợp với các đơn vị chuyên ngành để tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến đấu nối, nguồn vốn, giải phóng mặt bằng hoặc thủ tục đầu tư. Những khó khăn kéo dài nhiều năm cần được phân loại, xác định rõ nguyên nhân để có lộ trình xử lý cụ thể, thay vì để tình trạng “chờ hạ tầng” tiếp tục kéo dài.

    Về lâu dài, việc phát triển các khu đất dịch vụ cần được đặt trong tổng thể quy hoạch đô thị. Khi người dân được bố trí đất, điều họ cần không chỉ là một vị trí trên giấy mà là một môi trường sống có hạ tầng đầy đủ, an toàn và thuận tiện.

    Có thể thấy, đất dịch vụ chỉ thực sự phát huy ý nghĩa khi người dân có thể sử dụng đất để ổn định cuộc sống trong một môi trường có hạ tầng đồng bộ. Vì vậy, việc hoàn thiện đường giao thông, hệ thống thoát nước, điện chiếu sáng, đặc biệt là cấp nước sạch, không nên được xem là phần việc bổ sung mà phải là điều kiện căn bản để các khu đất dịch vụ đi vào cuộc sống.

    Với những khu vực còn dang dở, cần sớm rà soát, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và lộ trình hoàn thành từng hạng mục. Không để tình trạng người dân đã được giao đất nhưng vẫn phải chờ đợi những điều kiện tối thiểu để có thể an cư. Khi hạ tầng được hoàn thiện, giá trị của đất dịch vụ mới được bảo đảm, chính sách hỗ trợ người dân mới thực sự trọn vẹn và những khu đất trên bản đồ mới có thể trở thành những khu dân cư sống động, văn minh.

    Hậu Lộc

    Nguồn https://baomoi.com/noi-lo-tai-cac-khu-dat-dich-vu-o-ha-noi-co-dat-nhung-thieu-du-thu-nguoi-dan-kho-an-cu-c55865126.epi

  • Đông Giang bàn giao nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo

    Lãnh đạo xã Đông Giang và Đoàn Thanh niên xã trao hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà Đại đoàn kết cho gia đình ông A Lăng Rấu. Ảnh: NGỌC VY

    Gia đình ông A Lăng Rấu thuộc diện hộ nghèo của xã, cuộc sống nhiều năm qua gặp nhiều khó khăn. Ngôi nhà cũ đã xuống cấp nghiêm trọng song điều kiện kinh tế eo hẹp khiến gia đình chưa có khả năng sửa chữa, xây mới.

    Từ sự kết nối của Thành đoàn Đà Nẵng, Đoàn Thanh niên xã Đông Giang đã vận động Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Thanh Xuân hỗ trợ 60 triệu đồng giúp gia đình ông A Lăng Rấu xây nhà; còn lại gia đình huy động, người thân và hàng xóm đóng góp thêm 40 triệu đồng

    Sau gần 2 tháng thi công, ngôi nhà cấp 4 lợp tôn, lát gạch có diện tích sử dụng 36m2 của hộ ông A Lăng Rấu hoàn thành, giúp gia đình có nơi ở ổn định, an tâm lao động, sản xuất.

    NGỌC VY

    Nguồn https://baomoi.com/dong-giang-ban-giao-nha-dai-doan-ket-cho-ho-ngheo-c55865118.epi

  • Xử phạt chủ tàu du lịch vi phạm quy định bảo vệ môi trường

    Ông Nguyễn Văn L. ký vào biên bản vi phạm.

    Hành vi vi phạm được phát hiện qua nguồn tin phản ánh trên mạng xã hội liên quan đến tàu du lịch biển hiệu N. H., do ông Nguyễn Văn L. làm chủ. Ông L. có hành vi vứt, bỏ rác thải trên sông Hương gây bức xúc trong dư luận.

    Theo quy định, UBND phường Thuận Hóa xử phạt ông Nguyễn Văn L. 1,5 triệu đồng. Người vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu; trường hợp gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm do hành vi vi phạm gây ra. Thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định; toàn bộ chi phí tổ chức thực hiện do người vi phạm chi trả.

    Theo quyết định, ông Nguyễn Văn L. phải nghiêm chỉnh chấp hành việc nộp phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định. Nếu quá thời hạn mà không tự nguyện chấp hành, việc cưỡng chế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật; đồng thời, mỗi ngày chậm nộp tiền phạt phải nộp thêm 0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp.

    Việc xử phạt cho thấy chính quyền địa phương đang tăng cường xử lý các hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, nhất là tại khu vực đô thị và những nơi có hoạt động du lịch. Qua đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành quy định về bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan đô thị và xây dựng môi trường du lịch văn minh, sạch đẹp trên địa bàn phường Thuận Hóa.

    THANH HƯƠNG

    Nguồn https://baomoi.com/xu-phat-chu-tau-du-lich-vi-pham-quy-dinh-bao-ve-moi-truong-c55865108.epi

  • TP. Hồ Chí Minh: Đấu giá lô đất hơn 10.000m2 tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm

    Khu đô thị mới Thủ Thiêm nhìn từ phường Sài Gòn sang. Ảnh: Quang Phương

    UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Quyết định số 5140/QĐ-UBND về Phương án đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ) đối với lô đất 1.K3.5.HH (trước đây là lô đất 3-12) thuộc Khu đô thị mới Thủ Thiêm, phường An Khánh.

    Lô đất trên thuộc một phần thửa số 2, tờ bản đồ số 64 trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm, có diện tích hơn 10.000m2.

    Về quy hoạch xây dựng: Tổng diện tích lô đất khoảng 1ha, tầng cao tối đa 25 tầng, chiều cao tối đa 100m. Hệ số sử dụng đất tối đa 8,95 lần, quy mô dân số tối đa 3.420 người.

    Một khu đất trống tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Ảnh: Quang Phương

    Khu đất trên sẽ được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua đấu giá QSDĐ. Thời hạn sử dụng đất là 50 năm, kể từ ngày Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh ban hành quyết định giao đất cho người trúng đấu giá. Dự kiến việc tổ chức đấu giá được thực hiện vào tháng 9/2026.

    Theo quyết định trên, giá khởi điểm lô đất hơn 2.967 tỷ đồng, tạm tính theo bảng giá đất tại phường An Khánh ban hành kèm Nghị quyết 87-2025/NQ-HĐND ngày 26/12/2025 của Hội đồng nhân dân TP. Hồ Chí Minh về bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 tại thành phố.

    Cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá phải nộp tiền đặt trước theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

    UBND TP. Hồ Chí Minh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND phường An Khánh tổ chức xét duyệt điều kiện của người tham gia đấu giá; các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm phối hợp triển khai tổ chức đấu giá theo nhiệm vụ đã được UBND thành phố phân công.

    Quang Phương

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-dau-gia-lo-dat-hon-10-000m2-tai-khu-do-thi-moi-thu-thiem-c55865137.epi

  • Hoàn thiện cơ chế ngân sách, bảo đảm nguồn lực cho các mục tiêu phát triển

    Phân cấp ngân sách phải đi cùng nguồn lực và điều kiện thực hiện

    Từ thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị dự thảo Luật cần làm rõ hơn nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách. Theo đại biểu, UBND cấp xã hiện được giao thêm nhiều nhiệm vụ liên quan đến quản lý ngân sách, đầu tư công, tài sản công cũng như tổ chức thực hiện các chương trình, dự án.

    Trong khi đó, tại nhiều địa phương, nguồn lực tài chính và điều kiện tổ chức thực hiện chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Vì vậy, việc phân cấp quản lý ngân sách cần gắn với bảo đảm nguồn lực tài chính và điều kiện tổ chức thực hiện phù hợp với nhiệm vụ. Theo ĐBQH Trần Thị Vân, quy định này sẽ góp phần nâng cao tính khả thi của Luật, tránh tình trạng giao thêm nhiệm vụ nhưng không bảo đảm đầy đủ điều kiện để thực hiện hiệu quả.

    ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ sáng 19/8. Ảnh: H.Nga

    Về dự phòng ngân sách nhà nước, tại điểm b, khoản 4, Điều 11 quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp quyết định sử dụng dự phòng ngân sách cấp mình, định kỳ báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân và báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp tại kỳ họp thường lệ gần nhất…”. Tuy nhiên, thực tế thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, sạt lở và những tình huống cấp bách khác đòi hỏi việc xử lý phải được tiến hành nhanh chóng. Trong khi đó, UBND hoạt động theo chế độ tập thể, một số địa phương có thể phải xin ý kiến hoặc tổ chức họp trước khi quyết định, dẫn tới kéo dài thời gian xử lý. ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định cho phép Chủ tịch UBND quyết định sử dụng dự phòng ngân sách trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách thuộc phạm vi quản lý, sau đó báo cáo UBND và Thường trực HĐND theo quy định.

    Đối với nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp, ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị bổ sung giới hạn đối với việc HĐND cấp xã ban hành chế độ chi ngân sách. Theo đó, chế độ chi phải phù hợp với khả năng quản lý, khả năng cân đối của ngân sách cấp xã và trong phạm vi khung chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, qua đó bảo đảm chặt chẽ hơn trong quản lý ngân sách nhà nước.

    Về nguồn thu của ngân sách trung ương, đại biểu đề nghị Ban Soạn thảo nghiên cứu cơ chế để ngân sách địa phương được hưởng 100% đối với một số khoản thu có tính chất đặc thù. Cụ thể, đối với khoản ghi thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ghi chi bồi thường giải phóng mặt bằng trong trường hợp nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân đã ứng trước tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, đại biểu cho rằng cần bảo đảm nguồn kinh phí để địa phương thực hiện nhiệm vụ giải phóng mặt bằng.

    Đối với khoản ghi thu tiền sử dụng đất, ghi chi thanh toán vốn đầu tư các dự án theo hình thức hợp đồng BT, ĐBQH Trần Thị Vân cho rằng quỹ đất đối ứng được xác định theo nguyên tắc ngang giá với giá trị dự án BT. Nếu khoản thu này phải điều tiết về ngân sách trung ương, theo đại biểu, sẽ không bảo đảm nguyên tắc ngang giá, trong khi ngân sách địa phương cũng không có nguồn để bù đắp.

    Đại biểu cũng đề cập khoản thu từ trường hợp được giao đất ở theo Điều 48 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đại biểu, khi giao đất cho các đối tượng thuộc trường hợp này, tiền sử dụng đất được xác định theo giá loại đất nông nghiệp tương ứng đã thu hồi cộng với chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư. Nếu khoản thu phải điều tiết về ngân sách trung ương, phần ngân sách địa phương được hưởng có thể không đủ để thanh toán chi phí đầu tư hạ tầng khu dân cư.

    Hợp nhất 4 chương trình nhưng không làm thay đổi cam kết với người dân

    Phát biểu liên quan đến chủ trương thống nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia thành một Chương trình mục tiêu quốc gia tổng thể, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh (Bắc Ninh) bày tỏ sự đồng tình, tán thành chủ trương, bởi đây là giải pháp cần thiết nhằm khắc phục tình trạng nhiều đầu mối, nhiều cơ chế quản lý, chồng chéo về đối tượng, địa bàn và nội dung hỗ trợ; đồng thời tạo điều kiện lồng ghép nguồn lực, tăng phân cấp và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

    ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh (Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ sáng 19/8. Ảnh: H.Nga

    Tuy nhiên, từ nghiên cứu hồ sơ Chính phủ trình Quốc hội, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh đề nghị tiếp tục làm rõ một số nội dung, trước hết là tên gọi của Chương trình. Theo phương án trình Quốc hội, tên gọi dự kiến là “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035”. Đại biểu cho rằng cần tiếp tục rà soát để tên gọi phản ánh rõ hơn phạm vi, mục tiêu và các trụ cột chính sách sau tích hợp.

    Đối với cụm từ “nông thôn”, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh đề nghị cân nhắc sử dụng cụm từ “xây dựng nông thôn mới”, bởi “nông thôn” chủ yếu phản ánh phạm vi không gian, địa bàn, trong khi “xây dựng nông thôn mới” thể hiện mục tiêu phát triển tổng hợp, bao gồm hạ tầng, kinh tế nông thôn, thu nhập, chất lượng đời sống, môi trường, văn hóa, quản trị và các điều kiện phát triển bền vững. Tương tự, đối với cụm từ “dân tộc và miền núi”, đại biểu đề nghị nghiên cứu cách diễn đạt theo hướng “phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”, nhằm phản ánh đầy đủ hơn đối tượng, không gian và mục tiêu phát triển, đồng thời tránh cách hiểu “dân tộc” và “miền núi” là hai lĩnh vực độc lập.

    Về nguyên tắc khi thực hiện tích hợp, đại biểu cho rằng cần xác định rõ nguyên tắc đó là “hợp nhất nhưng không làm thay đổi cam kết của Quốc hội đối với người dân“. Quốc hội đã ban hành 4 Nghị quyết riêng, xác định cụ thể mục tiêu, chỉ tiêu, phạm vi, đối tượng, địa bàn, nguồn lực và các chính sách đặc thù. Vì vậy, Nghị quyết lần này cần khẳng định rõ: mọi mục tiêu, chỉ tiêu, nhóm đối tượng và địa bàn ưu tiên đã được Quốc hội quyết nghị phải tiếp tục được bảo đảm.

    Về nguồn lực, tổng nguồn lực của 4 Chương trình giai đoạn 2026 – 2030 theo hồ sơ là khoảng 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng. ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh đồng tình với định hướng cho phép điều chỉnh, điều chuyển vốn theo tiến độ và khả năng thực hiện, thay vì phân bổ cứng theo nhu cầu đăng ký. Song, theo đại biểu, sự linh hoạt về nguồn lực cần đi kèm “hàng rào” bảo đảm mục tiêu. Cần xác định mức nguồn lực định hướng hoặc ngưỡng bảo đảm tối thiểu đối với từng nhóm mục tiêu lớn; việc điều chuyển vốn không được làm mất khả năng hoàn thành các chỉ tiêu Quốc hội đã quyết định. Đại biểu cho rằng, không nên duy trì 4 nguồn ngân sách hoàn toàn khép kín, nhưng cũng không thể gom toàn bộ vào một nguồn chung mà thiếu cơ chế bảo vệ từng mục tiêu; cần có sự điều phối linh hoạt.

    Đối với quy định chuyển tiếp, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh đề nghị nghiên cứu kỹ, bởi chuyển tiếp cần bao gồm cả nội dung chứ không chỉ cơ chế, chính sách và vốn. Dự thảo quy định các nhiệm vụ đã được phê duyệt, bố trí vốn và triển khai trong năm 2026 tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành nhằm không làm gián đoạn việc phân bổ, thanh toán, quyết toán. Tuy nhiên, theo đại biểu, như vậy vẫn chưa đủ.

    Vấn đề cần làm rõ là khi hợp nhất 4 Chương trình, nội dung đang triển khai có tiếp tục trong cấu trúc mới hay không, cơ quan nào tiếp nhận, chỉ tiêu nào được kế thừa và đối tượng đang thụ hưởng có tiếp tục được hỗ trợ hay phải thực hiện lại thủ tục. Vì vậy, trước khi vận hành Chương trình mới, cần có bảng chuyển đổi toàn bộ nội dung của 4 Chương trình cũ sang cấu trúc mới, xác định rõ nội dung kế thừa, nội dung tích hợp, nội dung kết thúc và cơ quan chịu trách nhiệm tiếp tục hoặc tiếp nhận kết quả. Đại biểu đề nghị nội dung này được thể hiện ngay trong Nghị quyết của Quốc hội, thay vì giao toàn bộ cho các văn bản hướng dẫn sau này.

    Về hoàn thiện hệ thống văn bản, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh cơ bản thống nhất với yêu cầu theo hướng gọn, thống nhất, không phát sinh thủ tục trung gian, nhưng đề nghị làm rõ nội hàm của “thống nhất”. Theo đại biểu, thống nhất không đồng nghĩa với tập trung toàn bộ thẩm quyền hướng dẫn vào một cơ quan. Đối với nguyên tắc, tiêu chí phân bổ nguồn lực, đại biểu cơ bản thống nhất với định hướng chuyển từ phân bổ theo đầu vào, nhu cầu đăng ký sang phân bổ gắn với mức độ thiếu hụt, yêu cầu đạt mục tiêu và kết quả thực hiện.

    Tuy nhiên, ĐBQH Nguyễn Thị Kim Anh đề nghị thận trọng khi sử dụng năng lực hấp thụ vốn, tiến độ giải ngân hoặc kết quả thực hiện năm trước làm căn cứ quá lớn để phân bổ nguồn lực. Những địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo thường hạn chế hơn về năng lực chuẩn bị dự án, nguồn nhân lực và điều kiện tổ chức thực hiện. Nếu quá nhấn mạnh khả năng giải ngân, các địa bàn cần ưu tiên có thể lại bị giảm nguồn lực.

    Theo đó, đại biểu đề nghị thiết kế cơ chế phân bổ dựa trên hai nhóm tiêu chí: mức độ thiếu hụt, khó khăn, quy mô đối tượng và mục tiêu cần đạt; đồng thời tính đến kết quả thực hiện, tiến độ, khả năng hấp thụ vốn và trách nhiệm giải trình. Kết quả thực hiện nên là một căn cứ quan trọng để điều chỉnh phân bổ, nhưng không thay thế các nguyên tắc, tiêu chí, định mức và thẩm quyền phân bổ ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công theo quy định của pháp luật.

    Hoàng Nga

    Nguồn https://baomoi.com/hoan-thien-co-che-ngan-sach-bao-dam-nguon-luc-cho-cac-muc-tieu-phat-trien-c55864916.epi

  • Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong xử lý chất thải rắn

    Tham dự có Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Công an thành phố; Phó Chủ tịch UBND thành phố Bùi Duy Cường.

    Quang cảnh buổi làm việc. Ảnh: Quang Thái

    Xử lý nhiều vụ việc liên quan đến hành vi gây ô nhiễm môi trường

    Báo cáo tại buổi làm việc, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Thanh Nam cho biết, hiện nay, mỗi ngày, trên địa bàn thành phố Hà Nội phát sinh khoảng 3.000 – 3.400 tấn chất thải rắn xây dựng, cao điểm có thể đạt khoảng 10.000 tấn/ngày. Khoảng 90% chất thải rắn xây dựng là vật liệu vô cơ. Dự báo đến năm 2030 khối lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh bình quân khoảng 5.000 tấn/ngày.

    Về chất thải rắn sinh hoạt, mỗi ngày các khu xử lý tập trung của thành phố tiếp nhận, xử lý trung bình hơn 8.000 tấn/ngày. Dự báo đến năm 2030, dự kiến tổng phát sinh khoảng 13.200 tấn/ngày, nhu cầu xử lý tại các khu tập trung khoảng 11.200 tấn/ngày. Ngoài ra thành phố còn phải xử lý khoảng 34 triệu tấn rác đã chôn lấp tại các Khu xử lý Nam Sơn, Xuân Sơn.

    Khối lượng bùn thải chủ yếu từ nạo vét hệ thống thoát nước, hồ điều hòa và thi công các công trình ngầm, đường sắt đô thị hiện khoảng 1.500 tấn/ngày; dự báo có thời điểm đến 7000 tấn/ngày và đến năm 2030 đạt bình quân khoảng 2.500 tấn/ngày.

    Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lê Thanh Nam báo cáo tại buổi làm việc. Ảnh: Quang Thái

    Về tình hình thực hiện, đồng chí Lê Thanh Nam cho biết, đối với chất thải rắn xây dựng, thành phố quy hoạch tại 8 vị trí, với tổng công suất xử lý đến năm 2030 là 7.640 tấn/ngày; đang quy hoạch tiếp tại 2 vị trí… Hiện đã xác định được 21 vị trí đất với diện tích khoảng 97,74ha trên địa bàn 15 xã, phường đáp ứng đủ điều kiện cho thuê tạm, thời hạn 5 năm.

    Thành phố cũng đã quy hoạch 5 vị trí xử lý bùn thải, với tổng công suất xử lý đến năm 2030 là 6.600 tấn/ngày, đủ đáp ứng yêu cầu xử lý (khi dự án đi vào hoạt động). Hiện có một vị trí tại khu C Yên Sở đang tiếp nhận, xử lý với tổng công suất xử lý 1.500 tấn/ngày. Có 4 vị trí khu đất đang triển khai dự án, tổng công suất xử lý 3.700 tấn/ngày. Dự kiến, đồng loạt hoàn thành trước ngày 31-12-2029.

    Ngoài ra, thành phố đang nghiên cứu, thử nghiệm có kiểm soát áp dụng công nghệ xử lý, tái chế bùn thải tại diện tích đã hoàn nguyên bãi đổ bùn Yên Mỹ (cạnh khu C Yên Sở), dự kiến hoạt động trước ngày 15-9-2026; đang nghiên cứu đề xuất mô hình thử nghiệm xử lý bùn cho 5 tuyến đường sắt đô thị…

    Đối với chất thải rắn sinh hoạt, thành phố quy hoạch tại 4 vị trí xử lý, tổng công suất xử lý đến năm 2030 là 11.200 tấn/ngày, đủ đáp ứng yêu cầu xử lý (khi dự án đi vào hoạt động). Hiện nay, tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện tăng lên 83%, giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp còn 17%. Bên cạnh đó, đang triển khai các dự án: Nhà máy Amaccao Thành Công, Nhà máy Điện rác Sóc Sơn mở rộng, khi đi vào vận hành theo công suất tối đa sẽ cân bằng giữa phát sinh và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố vào cuối năm 2027.

    Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: Quang Thái

    Tại buổi làm việc, Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội cho biết, thời gian qua, Công an thành phố đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc liên quan đến hành vi gây ô nhiễm môi trường.

    Từ ngày 15-12-2025 đến nay, Công an thành phố đã khởi tố 4 vụ với 13 bị can; kiểm tra, xử phạt hành chính 23 vụ với tổng số tiền 1,4 tỷ đồng và đang kiểm tra 20 vụ khác. Công an cấp xã đã phát hiện 247 vụ vi phạm về xả rác không đúng quy định, xử phạt tổng cộng 3 tỷ đồng.

    Phải chấm dứt tình trạng đổ trộm chất thải

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường cho biết, hiện nay thành phố đang tập trung vào hai nhóm nội dung: Duy trì vệ sinh môi trường hằng ngày và xử lý các loại chất thải. Thành phố đã đánh giá toàn diện khối lượng phát sinh, nhu cầu xử lý và xây dựng phương án triển khai các dự án theo quy hoạch; đồng thời bố trí các khu xử lý tạm thời hoặc xử lý tại chỗ đối với những trường hợp phát sinh cục bộ.

    Thành phố đặt mục tiêu cân bằng giữa lượng phát sinh và xử lý chất thải rắn xây dựng vào cuối năm 2026; cân bằng phát sinh và xử lý bùn thải giai đoạn 2026-2027; đối với chất thải rắn sinh hoạt sẽ xử lý bằng công nghệ đốt phát điện, chấm dứt chôn lấp trực tiếp vào cuối năm 2027.

    Về định hướng lâu dài, thành phố nghiên cứu triển khai khu tập kết quy mô lớn, xử lý vật liệu và chất thải tại xã Trung Giã (quy mô 90ha) và Vật Lại (quy mô 100ha). Hai khu vực này có lợi thế quỹ đất công và kết nối vận tải đường thủy, góp phần giảm áp lực giao thông, giảm chi phí vận chuyển, đồng thời phục vụ lưu trữ vật liệu xây dựng và xử lý chất thải xây dựng.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Bùi Duy Cường phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: Quang Thái

    Song song với đó, thành phố sẽ quan tâm xử lý lượng rác tồn lưu tại các bãi rác Xuân Sơn và Nam Sơn. Trước mắt, sẽ triển khai phương án xử lý khoảng 3,6 triệu tấn rác cũ tại bãi rác Xuân Sơn, sau đó mở rộng sang Nam Sơn với khối lượng khoảng 30 triệu tấn. Việc xử lý rác tồn lưu dựa trên tinh thần “sớm ngày nào, tốt ngày ấy” để giảm chi phí ngân sách cho công tác duy tu, xử lý nước rỉ rác và cải thiện môi trường tại các khu vực chịu ảnh hưởng…

    Sau khi nghe đại diện các xã, phường, đơn vị báo cáo và làm rõ một số nội dung, phát biểu kết luận buổi làm việc, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông đánh giá công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải trên địa bàn thành phố thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực.

    Trong thời gian tới, Đảng ủy UBND thành phố cần tiếp tục chỉ đạo các đơn vị rà soát, xây dựng báo cáo tổng thể về tất cả các loại chất thải phát sinh trên địa bàn; trong đó làm rõ khối lượng phát sinh, hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý, các tồn tại, vướng mắc và giải pháp triển khai.

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Trọng Đông kết luận buổi làm việc. Ảnh: Quang Thái

    Đồng chí Nguyễn Trọng Đông đề nghị Đảng ủy UBND thành phố tập trung đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án xử lý rác, từng bước chấm dứt việc chôn lấp rác sinh hoạt. Đối với việc xử lý rác cũ tại các bãi chôn lấp, các đơn vị liên quan phải nhanh chóng xây dựng đơn giá, định mức và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đây là điều kiện cần thiết để đẩy nhanh việc xử lý các bãi rác tồn lưu, góp phần cải thiện môi trường.

    Về công tác thu gom chất thải sinh hoạt, các đơn vị nhanh chóng bố trí các vị trí thu gom phù hợp, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng công nghệ hiện đại; tự động hóa trong thu gom, vận chuyển nhằm nâng cao hiệu quả, bảo đảm mỹ quan đô thị và vệ sinh môi trường trên dọc các tuyến phố, khu vực.

    Nhấn mạnh yêu cầu phải chấm dứt tình trạng đổ trộm chất thải, đồng chí Nguyễn Trọng Đông đề nghị các xã, phường khẩn trương bố trí quỹ đất để hình thành các điểm tập kết, tiếp nhận và đưa công nghệ vào xử lý chất thải rắn xây dựng. Tạo điều kiện cho các đơn vị triển khai xử lý ngay tại địa bàn, giảm chi phí vận chuyển.

    Đối với chất bùn thải, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông yêu cầu phân loại theo từng nhóm để lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp, tăng cường tái chế, tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc vật liệu san lấp đối với các loại đủ điều kiện.

    Bên cạnh đó, cần có giải pháp cho xử lý phân bùn bể phốt trong bối cảnh nhu cầu của người dân rất lớn mà quy mô hiện nay chưa đáp ứng; cần nhanh chóng xây dựng các khu xử lý bùn thải từ các nhà máy xử lý nước thải, hoạt động nạo vét sông, hồ với quy mô phù hợp và áp dụng công nghệ mới, tiên tiến; tiếp tục quản lý chặt chẽ chất thải y tế, chất thải công nghiệp…

    Phương Ngân – Quang Thái

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-day-manh-ung-dung-cong-nghe-trong-xu-ly-chat-thai-ran-c55864981.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!