Author: bachdn

  • Thành phố Hồ Chí Minh quyết tâm khởi công Dự án mở rộng Quốc lộ 1 dịp 2/9

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Được cùng các sở, ngành kiểm tra thực địa tiến độ các dự án trọng điểm. (Ảnh: VÕ LÊ)

    Với tính chất là các dự án cấp bách, phục vụ hạ tầng giao thông huyết mạch cũng như góp phần chỉnh trang đô thị, đồng chí Nguyễn Văn Được yêu cầu các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư tập trung cho công tác giải phóng mặt bằng, mạnh dạn kiến nghị tháo gỡ vướng mắc, không để ảnh hưởng tiến độ các công trình.

    Chủ tịch Nguyễn Văn Được nhấn mạnh: “Dù đến nay Dự án mở rộng Quốc lộ 1 đã đủ điều kiện khởi công, nhưng các địa phương phải hoàn thành bàn giao 100% mặt bằng càng sớm càng tốt, chậm nhất là trong tháng 9. Dứt khoát dự án phải khởi công vào dịp 2/9”.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Nguyễn Văn Được nghe báo cáo và chỉ đạo sớm khởi công Dự án mở rộng Quốc lộ 1 dịp 2/9. (Ảnh: VÕ LÊ)

    Với Dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 13 cũng thực hiện bằng hình thức BOT, thành phố yêu cầu đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, phấn đấu đạt khoảng 80% để đủ điều kiện khởi công dịp 2/9.

    Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Nguyễn Văn Được, thành phố sẽ ưu tiên nguồn thu từ đấu giá đất công, kết hợp các nguồn vốn PPP và các nguồn hợp pháp khác, không để thiếu vốn làm chậm tiến độ các dự án trọng điểm.

    Về các dự án chỉnh trang, cải tạo kênh rạch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo 8/57 dự án đang triển khai phải bảo đảm tiến độ. Cụ thể, đối với các dự án bờ bắc kênh Đôi, rạch Văn Thánh, rạch Xuyên Tâm thành phố đề nghị chủ đầu tư tập trung nguồn lực, phấn đấu hoàn thành trong năm 2027. Giai đoạn 2 phấn đấu hoàn thành vào cuối năm 2029.

    Cũng trong buổi kiểm tra, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã khảo sát thực địa và nghe các đơn vị báo cáo phương án đầu tư xây dựng đường trục đông-tây (đường Võ Văn Kiệt nối dài từ Quốc lộ 1 đến ranh tỉnh Tây Ninh) có chiều dài 15km, nguồn vốn đầu tư khoảng 16.000 tỷ đồng, dự tính sử dụng nguồn vốn ngân sách.

    Phương án đầu tư xây dựng đường trục đông-tây dài 15km. (Ảnh: VÕ LÊ)

    Vì tính chất khơi thông cửa ngõ giữa thành phố về hướng miền tây, ông Được đề nghị Sở Xây dựng thành phố phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để trình Hội đồng nhân dân thành phố Dự án đường trục đông-tây tại kỳ họp tháng 8, phấn đấu khởi công trong quý IV/2026.

    Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định phê duyệt Dự án thành phần 3-nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 đoạn từ đường Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Long An cũ. Dự phải thu hồi đất khoảng 2.200 hộ dân.

    Dự án dài 9,6km, vốn đầu tư khoảng 6.674 tỷ đồng. Dự án sẽ nâng cấp tuyến đường lên mặt cắt ngang rộng 60m, tương ứng 10-12 làn xe. Trong đó, phần tuyến chính 8 làn xe, riêng đoạn từ cao tốc Bến Lức-Long Thành đến ranh tỉnh Tây Ninh 6 làn xe; phần đường song hành sẽ làm 4 làn xe.

    QUÝ HIỀN

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-pho-ho-chi-minh-quyet-tam-khoi-cong-du-an-mo-rong-quoc-lo-1-dip-2-9-c55865918.epi

  • TP.HCM chi 7.150 tỷ đồng chống ngập

    Dồn vốn xử lý các điểm ngập kéo dài

    Trước tình trạng ngập do mưa lớn, triều cường vẫn diễn biến phức tạp, TP.HCM đang triển khai đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình, trong đó tập trung nguồn lực hoàn thành 9 dự án thoát nước, chống ngập trong năm 2026.

    Theo kế hoạch, 9 dự án có tổng mức đầu tư hơn 7.150 tỷ đồng, dự kiến góp phần xử lý 3 trong số 50 vị trí ngập có độ sâu từ 30cm trở lên và thời gian ngập kéo dài trên 30 phút.

    Tại khu vực TP.HCM cũ, thành phố triển khai các dự án chống sạt lở bán đảo Thanh Đa với tổng vốn hơn 1.342 tỷ đồng, đồng thời tập trung giải quyết tình trạng ngập tại đường Phan Văn Hớn và đường Bình Quới.

    TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thành 9 dự án chống ngập với tổng vốn hơn 7.150 tỷ đồng trong năm 2026.

    Các công trình chống sạt lở bán đảo Thanh Đa gồm đoạn 2 tại khu vực khách sạn Sài Gòn Domaine, đoạn 3 qua Bình Quới, Cây Bàng, Rạch Chùa và đoạn 4 từ khu vực biệt thự Lý Hoàng đến nhà thờ La San Mai Thôn.

    Tại khu vực TP Thủ Đức (cũ), thành phố thực hiện dự án nạo vét các tuyến rạch thoát nước khu vực chợ Tăng Nhơn Phú A, qua đó tăng khả năng tiêu thoát nước cho khu vực.

    Trong khi đó, 4 dự án tại khu vực Bình Dương (cũ) chiếm phần lớn nguồn vốn với tổng mức đầu tư khoảng 5.437 tỷ đồng. Các công trình gồm nâng cấp, mở rộng đường ĐT.748; xây dựng hệ thống thoát nước ĐT.744; dự án thoát nước Dĩ An và Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp; xây dựng kè gia cố bờ sông Sài Gòn đoạn từ cầu Thổ Ngữ đến rạch Bảy Tra.

    Tại khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ), thành phố triển khai tuyến thoát nước chính dọc Quốc lộ 51 đoạn qua Phú Mỹ với tổng vốn hơn 366 tỷ đồng. Công trình được kỳ vọng xử lý điểm ngập tại khu vực giao Quốc lộ 51 với đường Huỳnh Thúc Kháng.

    Kết hợp hạ tầng với công nghệ chống ngập

    Bên cạnh việc đầu tư các công trình mới, TP.HCM tiếp tục yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các hạng mục thuộc dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu giai đoạn 1, thường được gọi là dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng.

    Thành phố đồng thời tăng cường duy tu, nạo vét cống, kênh rạch, sửa chữa các tuyến cống xuống cấp, vận hành van ngăn triều và các trạm bơm. Lực lượng ứng cứu cơ động được bố trí trực 24/7 tại những khu vực có nguy cơ ngập cao.

    Đáng chú ý, công tác chống ngập đang được định hướng theo hướng chủ động hơn nhờ dữ liệu và công nghệ. TP.HCM dự kiến hoàn thiện phần mềm báo cáo ngập trực tuyến trên nền tảng FEDS, đồng thời tăng cường ứng dụng GIS, AI và dữ liệu thời gian thực trong quản lý, vận hành hệ thống thoát nước.

    Từ đầu năm 2026 đến nay, thành phố ghi nhận 26 tuyến đường bị ngập do mưa.

    Trong lĩnh vực thủy lợi, thành phố sẽ nâng cấp hệ thống quan trắc, cảnh báo từ xa và ứng dụng công nghệ số để vận hành công trình theo thời gian thực. Việc chia sẻ dữ liệu thủy văn, phối hợp vận hành các hồ chứa như Dầu Tiếng, Trị An cũng được tính đến nhằm chủ động giảm lũ cho khu vực hạ nguồn.

    Song song đó, TP.HCM sẽ kiểm soát tình trạng lấn chiếm hệ thống thoát nước, hành lang sông, kênh, rạch; xử lý các điểm tắc nghẽn, bảo đảm các tuyến cống được kết nối và vận hành đồng bộ.

    Trước tác động của sụt lún, thành phố cũng nghiên cứu các giải pháp giảm khai thác nước dưới đất, xây dựng bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nước ngầm và nâng nền cục bộ tại những khu vực cần thiết.

    Về nguồn lực, ngân sách được định hướng đóng vai trò vốn dẫn dắt, tạo nguồn vốn mồi để thu hút khu vực tư nhân thông qua các dự án PPP. Qua đó, TP.HCM kỳ vọng mở rộng nguồn lực đầu tư cho hệ thống thoát nước, kiểm soát triều và chống ngập trong dài hạn.

    Kim Sáng

    Nguồn https://baomoi.com/tp-hcm-chi-7-150-ty-dong-chong-ngap-c55866034.epi

  • Thái Nguyên đẩy nhanh giải phóng mặt bằng đê chống ngập nghìn tỉ đồng

    Nằm trong những công trình khẩn cấp, tuyến đê Hữu Cầu được triển khai nhằm tăng khả năng phòng, chống ngập cho khu vực trung tâm tỉnh Thái Nguyên.

    Dự án dài 16,4km, đi qua 4 phường gồm: Phan Đình Phùng, Quan Triều, Gia Sàng và Linh Sơn. Công trình được khởi công ngày 10.3.2026 và dự kiến hoàn thành ngày 31.12.2027.

    Dự án có tổng mức đầu tư dự kiến hơn 8.500 tỉ đồng, hiện công tác giải phóng mặt bằng tại những địa bàn có tuyến đê đi qua đang được tập trung thực hiện.

    Dự án tuyến đê Hữu Cầu tại điểm thi công thuộc phường Phan Đình Phùng

    Tại tổ 1, phường Quan Triều, khu dân cư nằm sát sông Cầu thường xuyên chịu cảnh ngập lụt mỗi khi mưa lớn kéo dài khiến cuộc sống của nhiều hộ dân nơi đây bị đảo lộn.

    Sau những trận lũ lớn do bão Yagi năm 2024 và bão Matmo năm 2025, nỗi lo ngập lụt vẫn thường trực, hiện hữu trong đời sống, tâm trí của những người dân ven sông, nhất là mỗi khi mưa lớn xuất hiện.

    Từ thực tế đó, khi có chủ trương triển khai tuyến đê Hữu Cầu, nhiều hộ dân ủng hộ và sẵn sàng phối hợp với chính quyền trong quá trình kiểm đếm, giải phóng mặt bằng.

    Riêng đoạn tuyến qua phường Quan Triều dài khoảng 7,6km, công tác giải phóng mặt bằng liên quan đến 825 hộ thuộc diện thu hồi đất, trong số này có 165 hộ dự kiến phải bố trí tái định cư.

    Trận lũ hồi năm 2025 khiến nhiều hộ dân thiệt hại về tài sản, đường xá ngổn ngang rác thải

    Cùng với diện tích đất của các hộ dân, khoảng 500 ngôi mộ cũng nằm trong phạm vi cần di chuyển, đây là nội dung được tính toán trong quá trình lập phương án giải phóng mặt bằng.

    Tại tổ 17, gia đình ông Lưu Văn Bản thuộc diện thu hồi đất để thực hiện dự án tuyến đê Hữu Cầu. Trước đó, gia đình ông chuyển đến khu vực này từ một dự án khác và xây dựng căn nhà 3 tầng, đến nay mới được khoảng 2 năm.

    Mặc dù việc tiếp tục phải di chuyển để phục vụ tuyến đê ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống gia đình, song ông Bản đồng tình với chủ trương triển khai công trình và mong dự án sớm hoàn thành để người dân yên tâm sinh sống.

    Với số lượng lớn hộ dân và phần mộ cần di chuyển, công tác giải phóng mặt bằng tại Quan Triều đang được địa phương tập trung thực hiện theo kế hoạch.

    Hiện Trung tâm Phát triển quỹ đất khu vực I đang kiểm đếm đất đai, tài sản, cây cối và hoa màu tại phường Quan Triều, bắt đầu thực hiện từ ngày 15.8.

    Theo kế hoạch, công tác kiểm đếm phấn đấu hoàn thành trước ngày 30.8 làm cơ sở lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân.

    Các máy móc, nhân công được huy động khẩn trương triển khai, đảm bảo tiến độ đề ra

    Một số hộ dân còn băn khoăn về đơn giá bồi thường, tài sản cơi nới và phương án tái định cư, các nội dung này cần được rà soát cụ thể trong từng trường hợp.

    Phường Quan Triều đang phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất khu vực I, huy động cán bộ chuyên môn và vận động các hộ dân thực hiện kiểm đếm đúng tiến độ.

    Việc kiểm đếm đầy đủ, chính xác sẽ là căn cứ để xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phù hợp với hiện trạng đất đai, tài sản của từng hộ.

    Trong khi đó, đoạn giữa tuyến qua phường Phan Đình Phùng đã được triển khai thi công từ tháng 6 còn các địa bàn khác tiếp tục thực hiện giải phóng mặt bằng.

    Khi mặt bằng được bàn giao theo tiến độ, các hạng mục của tuyến đê Hữu Cầu có điều kiện triển khai đồng bộ, hướng tới hoàn thành công trình theo kế hoạch đề ra.

    Với những hộ dân từng chịu ảnh hưởng bởi các trận lũ lớn, việc tuyến đê sớm hoàn thành là mong mỏi gắn với cuộc sống an toàn và ổn định hơn ven sông.

    THANH THẢO

    Nguồn https://baomoi.com/thai-nguyen-day-nhanh-giai-phong-mat-bang-de-chong-ngap-nghin-ti-dong-c55866008.epi

  • Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đề xuất tháo gỡ điểm nghẽn đất đai, bất động sản và nhà ở

    Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng tham gia phiên thảo luận tại tổ chiều 19/8. Ảnh: HỒNG CHÂU

    Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, khơi thông nguồn lực đất đai, phát triển thị trường bất động sản minh bạch, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền lợi và sinh kế của người dân.

    Góp ý về định hướng sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, đại biểu Phan Duy Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đề nghị cân nhắc kỹ việc giao thêm chức năng tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất cho đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã.

    Theo đại biểu, việc vừa thực hiện chức năng sự nghiệp công, vừa đảm nhiệm phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất và được ứng vốn từ Quỹ phát triển đất có thể dẫn đến chồng chéo chức năng với tổ chức phát triển quỹ đất.

    Đối với các dự án động lực, trọng điểm có phạm vi giải phóng mặt bằng liên quan đến nhiều xã, phường, đại biểu đề nghị nghiên cứu giao tổ chức phát triển quỹ đất thuộc UBND cấp tỉnh làm đầu mối tham mưu, tổ chức thực hiện, bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thống nhất.

    Đại biểu cũng nhấn mạnh quỹ đất công là nguồn lực đặc biệt quan trọng. Nếu phân tán thẩm quyền quản lý, khai thác có thể dẫn đến manh mún, nhỏ lẻ, thiếu hiệu quả và tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Do đó, cần có cơ chế quản lý chặt chẽ, thống nhất đối với nguồn lực này.

    Đại biểu Quốc hội Phan Duy Anh (Đà Nẵng) phát biểu thảo luận tại tổ. Ảnh: HỒNG CHÂU

    Đại biểu Phan Duy Anh lưu ý quy định về thu hồi đất tại các khu vực phụ cận công trình kết cấu hạ tầng có tiềm năng phát triển cần được cụ thể hóa bằng những tiêu chí rõ ràng, tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và vận dụng một cách khác nhau.

    Đặc biệt, đối với đề xuất cho phép thu hồi đất trước khi hoàn thành phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc bố trí tái định cư trong một số trường hợp, đại biểu đề nghị đánh giá thận trọng do tác động trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

    Theo đại biểu, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân”. Bên cạnh bồi thường về đất, tài sản và bố trí chỗ ở, cần quan tâm đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ an sinh cho người cao tuổi, người nghèo, người neo đơn… để người dân có sinh kế ổn định sau thu hồi đất.

    Về giao đất, cho thuê đất, đại biểu đề nghị bổ sung quy định bao quát trường hợp nhà đầu tư, liên danh nhà đầu tư được lựa chọn theo hình thức mời quan tâm và thành lập doanh nghiệp dự án. Việc quy định rõ sẽ tránh cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, hạn chế chậm trễ trong giao đất, cho thuê đất đối với các dự án trọng điểm.

    Đối với điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không do người sử dụng đất đầu tư tạo ra, đại biểu cho rằng cần nghiên cứu kỹ cơ chế thực hiện. Đây là nguồn giá trị hình thành từ đầu tư hạ tầng, điều chỉnh quy hoạch và quá trình phát triển kinh tế – xã hội, cần có cơ chế điều tiết hợp lý để tạo nguồn lực tái đầu tư.

    Góp ý về định hướng sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản, đại biểu Vương Quốc Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm đồng bộ với Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Đầu tư.

    Đại biểu Quốc hội Vương Quốc Thắng (Đà Nẵng) phát biểu thảo luận. Ảnh: HỒNG CHÂU

    Đại biểu lưu ý cần làm rõ thẩm quyền cho phép chuyển nhượng dự án, nhất là trường hợp dự án do Thủ tướng chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng dự thảo lại giao UBND cấp tỉnh quyết định. Nội dung này cần thống nhất với nguyên tắc về thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư của Luật Đầu tư.

    Về nghĩa vụ tài chính khi chuyển nhượng dự án, đại biểu cho rằng cần có giải pháp pháp lý để vừa chống thất thu ngân sách, vừa khơi thông những dự án đang bị đình trệ do chủ đầu tư thiếu năng lực tài chính. Có thể nghiên cứu cơ chế bên nhận chuyển nhượng bảo lãnh hoặc kế thừa nghĩa vụ tài chính, tránh để dự án “đắp chiếu”, gây lãng phí nguồn lực đất đai.

    Đối với bảo lãnh ngân hàng, đại biểu đề nghị giữ quyền lựa chọn của khách hàng. Theo đó, chủ đầu tư phải có cam kết bảo lãnh nhưng khách hàng được quyền lựa chọn sử dụng hoặc từ chối, tránh làm tăng chi phí và cuối cùng chuyển sang người mua nhà.

    Đại biểu cũng đề nghị quy định chặt chẽ việc cá nhân nước ngoài mua phần diện tích sàn xây dựng, theo hướng không gắn với chuyển quyền sử dụng đất và có cơ chế quản lý, đăng ký sở hữu rõ ràng, bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh.

    Một nội dung được đại biểu đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong minh bạch hóa thị trường là mã định danh điện tử đối với bất động sản. Đại biểu ủng hộ chủ trương này nhưng đề nghị quy định rõ mã định danh chỉ phục vụ kết nối, liên thông dữ liệu, không trở thành “giấy phép con” hay làm phát sinh thêm thủ tục hành chính.

    Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung các chỉ số cảnh báo và ngưỡng an toàn thị trường bất động sản, giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm tình trạng thị trường “nóng” hoặc “đóng băng”, từ đó chủ động có giải pháp điều tiết.

    Góp ý về Luật Nhà ở năm 2023, đại biểu Phan Thị Thúy Linh, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đề nghị lần sửa đổi này cần thể hiện rõ hơn định hướng phát triển nhà ở cho thuê lâu dài, phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, công nhân và người lao động.

    Đại biểu Quốc hội Phan Thị Thúy Linh (Đà Nẵng) phát biểu thảo luận. Ảnh: HỒNG CHÂU

    Đối với giá thuê nhà ở xã hội thuộc tài sản công, đại biểu đề nghị giữ nguyên nguyên tắc thu hồi vốn đầu tư và kinh phí bảo trì, không tính lợi nhuận, lãi vay; đồng thời nghiên cứu công thức tính giá theo hướng tăng dần qua từng năm, phù hợp với khả năng chi trả và mức độ biến động tiền lương.

    Đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định cụ thể về điều kiện thuê nhà ở xã hội thuộc tài sản công. Thực tế có trường hợp sau khi được bố trí thuê, người thuê đã có nhà ở hoặc có điều kiện kinh tế tốt hơn nhưng cơ quan quản lý không có đủ cơ sở pháp lý để thu hồi, trong khi quỹ nhà ở xã hội thuộc tài sản công còn hạn chế.

    Vì vậy, cần quy định rõ khung đối tượng, điều kiện thuê và giao UBND cấp tỉnh quy định cụ thể phù hợp với thực tế địa phương; đồng thời sửa quy định về thu hồi theo hướng người thuê không còn bảo đảm đối tượng, điều kiện được thuê nhà ở thì có thể xem xét thu hồi.

    Đối với xây dựng lại chung cư nhà ở xã hội thuộc tài sản công, đại biểu đề nghị đa dạng hóa nguồn lực, cho phép huy động từ Quỹ nhà ở Trung ương, địa phương và nguồn vốn doanh nghiệp, hợp tác xã; đồng thời nghiên cứu cơ chế để người đang thuê được mua nhà ở xã hội trong trường hợp phù hợp.

    Đại biểu cũng đề nghị mở rộng các chủ thể tham gia đầu tư nhà lưu trú công nhân, bổ sung đất sản xuất, kinh doanh vào diện đất có thể phát triển dự án nhà lưu trú; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà ở ngay trong khuôn viên nhà máy để phục vụ người lao động.

    Bên cạnh đó, cần cho phép các dự án nhà ở cho thuê bằng nguồn tài chính công đoàn dành một phần diện tích cho dịch vụ, thương mại nhằm tạo nguồn thu quản lý, vận hành và hình thành các thiết chế phục vụ công nhân như nhà trẻ, siêu thị, nhà thuốc…

    Đại biểu đề nghị chính sách hỗ trợ nhà lưu trú không chỉ áp dụng đối với công nhân khu công nghiệp mà cần bao quát cả khu công nghệ cao, khu kinh tế, khu công nghệ thông tin tập trung và cụm công nghiệp.

    HỒNG CHÂU

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-quoc-hoi-thanh-pho-da-nang-de-xuat-thao-go-diem-nghen-dat-dai-bat-dong-san-va-nha-o-c55865981.epi

  • Điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh

    Phối cảnh dự án. (Nguồn: hatinh.gov.vn)

    UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 32/QĐ-UBND chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với Dự án Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh. Dự án do Công ty Cổ phần Tập đoàn Onsen Fuji thực hiện, được UBND tỉnh Hà Tĩnh chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu tại Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 24/3/2022.

    Theo quyết định, dự án được đổi tên từ Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh thành Khu du lịch biển cao cấp Lynn Times Costa Hà Tĩnh; triển khai tại xã Đồng Tiến, tỉnh Hà Tĩnh.

    Dự án được định hướng phát triển tổ hợp thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng, gồm khu khách sạn du lịch với các căn hộ du lịch cao cấp, khu biệt thự du lịch nghỉ dưỡng, khu thương mại dịch vụ tổng hợp, vui chơi, giải trí, nhà hàng, bar, coffee, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, công viên cây xanh, bãi đỗ xe và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

    Theo quy mô được điều chỉnh, tại các lô đất DVT-01, DVT-02, dự án dự kiến đầu tư khu khách sạn du lịch khoảng 1.000 phòng, cùng các khu thương mại, dịch vụ vui chơi, giải trí, nhà hàng, bar, coffee và chăm sóc sức khỏe. Dự án cũng có khoảng 500 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại các lô DVS-01, DVS-02, DVS-03, dự án có khu biệt thự du lịch nghỉ dưỡng cao cấp với hơn 300 căn, cùng khoảng 200 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng. Ngoài ra là các khu thương mại, dịch vụ vui chơi, giải trí, nhà hàng, coffee, spa, công viên cây xanh, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật.

    Tại nhóm lô DV-01 đến DV-06, DT-01 và DT-02, dự án được điều chỉnh với khoảng hơn 600 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng, cùng các hạng mục hạ tầng phụ trợ.

    Dự án không có đất ở, nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Nhà đầu tư chỉ được khai thác công trình đúng mục tiêu hoạt động và mục đích sử dụng đất được phê duyệt; không hình thành đơn vị ở, không tự ý chuyển đổi công năng sử dụng đất và công trình sang đất ở, nhà ở.

    Thời hạn hoạt động của dự án được xác định là 50 năm kể từ ngày nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất lần đầu.

    Về tiến độ, từ quý III/2026 – I/2027, nhà đầu tư sẽ hoàn thành thủ tục thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, tiếp nhận và bàn giao phần diện tích đất sạch đã hoàn thành bồi thường đợt 1, tổ chức khởi công, triển khai thi công hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục công trình trên phần diện tích được bàn giao; từ quý IV/2026 – II/2027, dự án tiếp tục hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và thủ tục giao đất đối với phần diện tích còn lại, triển khai thi công đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục công trình trên toàn bộ diện tích.

    UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu Công ty Cổ phần Tập đoàn Onsen Fuji tập trung huy động nguồn vốn, bố trí đủ nhân lực để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục, sớm khởi công xây dựng và thực hiện dự án theo đúng tiến độ được chấp thuận; tuân thủ các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, kinh doanh bất động sản, môi trường và pháp luật liên quan trong suốt quá trình triển khai. Dự án chỉ được đưa vào kinh doanh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

    Đối với công trình được bán, cho thuê hoặc cho thuê mua, thời hạn sử dụng đất và quyền sở hữu công trình gắn liền với đất phải tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với thời hạn hoạt động của dự án. Nhà đầu tư có trách nhiệm thông báo đầy đủ nội dung này và đưa điều khoản về thời hạn vào hợp đồng ký với khách hàng.

    Trúc Ninh

    Nguồn https://baomoi.com/dieu-chinh-chu-truong-dau-tu-du-an-khu-du-lich-bien-cao-cap-wyndham-costa-ha-tinh-c55866090.epi

  • Mỗi địa điểm sẽ có mã định danh 12 chữ số, hiển thị trên VNeID

    Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

    Nghị định này quy định về việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước); việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. 

    Mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất gồm 12 chữ số

    Nghị định nêu rõ các nguyên tắc định danh địa điểm. Theo đó, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.

    Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng áp dụng như đối với đường giao thông, theo đó địa điểm của đối tượng sẽ gồm địa chỉ điểm đầu, địa chỉ điểm cuối, địa chỉ tại các nút giao, điểm giao cắt trên tuyến hoặc điểm giao cắt với địa giới hành chính cấp tỉnh.

    Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

    Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.

    Cơ quan quản lý định danh địa điểm là cơ quan được Bộ Công an giao thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

    Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện định danh địa điểm phải đảm bảo tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

    Cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.

    Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

    Theo Nghị định, cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, bao gồm: Mã định danh địa điểm; đối tượng định danh địa điểm; địa chỉ của địa điểm; lối tiếp cận; mã bưu chính; thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên); các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm; tên địa điểm; thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có); cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức); đấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ; các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

    Khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

    Dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

    Đối tượng, phương thức khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:

    a) Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

    b) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy định của pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;

    c) Tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia.

    Trường hợp khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ; trường hợp người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản của người đó; trường hợp người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế;

    d) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi khai thác thông tin của mình thông qua người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ. Việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất tích do người quản lý tài sản của người đó quyết định;

    đ) Tổ chức, cá nhân không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản này được khai thác dữ liệu về định danh địa điểm qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin.

    Trường hợp có nhu cầu khai thác thông tin khác trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, phải được sự đồng ý của chủ sở hữu, quản lý địa điểm đó.

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026./.

    Nguồn https://baomoi.com/moi-dia-diem-se-co-ma-dinh-danh-12-chu-so-hien-thi-tren-vneid-c55866017.epi

  • Nhà Khang Điền (KDH) lập công ty vốn 2.500 tỷ đồng, tham gia dự án Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo

    CTCP Đầu tư và Kinh doanh Nhà Khang Điền (mã ck: KDH) vừa thông qua chủ trương thành lập pháp nhân mới để ký kết và thực hiện hợp đồng BT đối với Dự án Chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo trên địa bàn phường Cầu Ông Lãnh và phường Bến Thành, TP.HCM theo phương thức đối tác công tư (PPP).

    Theo đó, doanh nghiệp dự kiến thành lập Công ty TNHH MTV Đầu tư Khang Phúc An, với vốn điều lệ 2.500 tỷ đồng. Nhà Khang Điền sẽ sở hữu 100% vốn tại công ty này. Trụ sở chính của Khang Phúc An được đặt tại phòng 1C, tầng 12, Saigon Centre, 67 Lê Lợi, phường Sài Gòn, TP.HCM.

    Trước đó, Nhà Khang Điền đã lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc tham gia Dự án Chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo và phương án này đã được thông qua.

    Theo tờ trình, dự án gồm hai khu vực. Khu thứ nhất là khu Mả Lạng, có phạm vi thực hiện được giới hạn bởi các tuyến đường Nguyễn Trãi, Trần Đình Xu và Nguyễn Cư Trinh, thuộc phường Cầu Ông Lãnh, TP.HCM. Quy mô dự kiến tại khu vực này là chỉnh trang đô thị, bao gồm đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và xây dựng khu nhà ở phục vụ tái định cư.

    Trong đó, hạ tầng xã hội gồm trường học liên cấp 1-2. Phần nhà ở gồm một khu chung cư là nhà ở xã hội cao khoảng 38 tầng, với khoảng 1.400 căn hộ, cùng khoảng 93 căn nhà ở thấp tầng theo quy hoạch.

    Khu thứ hai là khu Chợ Gà – Gạo, có phạm vi thực hiện được giới hạn bởi các tuyến đường Nguyễn Thái Học, Võ Văn Kiệt, Yersin và Hẻm 3 Yersin, thuộc phường Bến Thành, TP.HCM. Tại khu vực này, dự án dự kiến đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và xây dựng khu nhà ở phục vụ tái định cư.

    Theo quy hoạch, khu nhà ở gồm một tòa chung cư là nhà ở xã hội cao khoảng 35 tầng, với khoảng 760 căn hộ.

    Tổng nhu cầu sử dụng đất của toàn dự án khoảng 42.090,5 m2. Trong đó, khu Mả Lạng chiếm khoảng 37.740,5 m2 và khu Chợ Gà – Gạo khoảng 4.350 m2. Dự án được dự kiến triển khai xây dựng trong giai đoạn 2026-2029. Theo tiến độ dự kiến, dự án sẽ khởi công trong quý III/2026, hoàn thành xây dựng vào quý IV/2028 và bàn giao, đưa vào khai thác, vận hành trong năm 2029.

    Thời hạn hợp đồng dự án dự kiến là 5 năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án khoảng 16.369,5 tỷ đồng. Dự án được thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP), theo loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT), với phương án thanh toán bằng quỹ đất kết hợp ngân sách Nhà nước.

    Cụ thể, giá trị thanh toán bằng quỹ đất tương ứng khoảng 10.734,7 tỷ đồng. Phần giá trị thanh toán bằng ngân sách Thành phố khoảng 5.634,8 tỷ đồng và chỉ được sử dụng trong trường hợp giá trị quỹ đất dự kiến không đủ để thanh toán cho nhà đầu tư.

    Hà Anh

    Nguồn https://baomoi.com/nha-khang-dien-kdh-lap-cong-ty-von-2-500-ty-dong-tham-gia-du-an-ma-lang-va-cho-ga-gao-c55866048.epi

  • Từ 1/10, áp dụng định mức mới trong khảo sát, đo sâu hàng hải

    Hệ thống định mức khoa học và toàn diện

    Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư quy định định mức kinh tế – kỹ thuật khảo sát đo sâu trong lĩnh vực hàng hải sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/10.

    Định mức kinh tế – kỹ thuật khảo sát đo sâu quy định mức hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công việc (Ảnh minh hoạ).

    Theo đó, định mức mới quy định cụ thể mức hao phí cần thiết để thực hiện công tác khảo sát, đo sâu hàng hải, từ vật liệu, nhân công đến máy móc, thiết bị. Đây là cơ sở để các đơn vị lập dự toán, quản lý chi phí và triển khai các công việc khảo sát bằng nguồn vốn ngân sách.

    Định mức được xây dựng trên cơ sở điều kiện khảo sát thực tế, yêu cầu kỹ thuật, quy trình nghiệm thu và mức độ trang bị máy móc, thiết bị. Các phương pháp thi công và tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực khảo sát đo sâu cũng được tính đến nhằm bảo đảm phù hợp với thực tế.

    Mỗi định mức xác định rõ tên công việc, đơn vị tính, phạm vi công việc và các yêu cầu áp dụng, kèm mức hao phí tương ứng.

    Trong đó, chi phí vật liệu được tính theo lượng vật liệu cần thiết để hoàn thành công việc; chi phí nhân công được xác định theo số ngày công của kỹ sư, công nhân và nhân sự vận hành thiết bị; chi phí máy thi công được tính theo thời gian sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ khảo sát.

    Việc ban hành định mức mới được kỳ vọng tạo cơ sở thống nhất trong lập dự toán, quản lý chi phí và tổ chức thực hiện các dự án khảo sát, đo sâu hàng hải sử dụng ngân sách Nhà nước, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình triển khai.

    Phân cấp 4 mức độ khó khăn khi lập hải đồ

    Một điểm đáng chú ý trong Thông tư là công tác thành lập hải đồ giấy và hải đồ điện tử được phân thành 4 mức độ khó khăn, từ đơn giản đến phức tạp, làm cơ sở xác định định mức phù hợp với từng điều kiện khảo sát.

    Trong đó, mức I áp dụng tại những khu vực có địa hình, dân cư, hệ thống giao thông và sông ngòi tương đối thưa, các yếu tố trên bản đồ ít và dễ thể hiện.

    Mức II dành cho những khu vực có mật độ dân cư, đường sá, sông ngòi và các yếu tố địa hình ở mức trung bình, yêu cầu xử lý thông tin trên hải đồ cao hơn.

    Mức III áp dụng tại các khu vực phức tạp hơn như vùng đồi, núi cao, địa hình bị chia cắt, sông ngòi tự nhiên và giao thông thưa thớt.

    Mức IV là mức độ khó khăn cao nhất, chủ yếu tại vùng ven biển, cửa sông có nhiều bãi sú, vẹt và lạch thủy triều; các khu vực đô thị, khu công nghiệp lớn hoặc nơi có hệ thống giao thông, thủy hệ dày đặc, phức tạp.

    Việc phân cấp này giúp xác định định mức khảo sát phù hợp với từng điều kiện thực tế, đồng thời tạo cơ sở thống nhất cho việc lập dự toán, quản lý chi phí và triển khai các dự án khảo sát hàng hải sử dụng ngân sách Nhà nước.

    Hồ An

    Nguồn https://baomoi.com/tu-1-10-ap-dung-dinh-muc-moi-trong-khao-sat-do-sau-hang-hai-c55865856.epi

  • Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng

    Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 8368/VPCP-CN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.

    Theo đó, xét báo cáo của Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xử lý kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS nêu trên theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền các nội dung vượt thẩm quyền, trong đó cần tập trung một số nhiệm vụ.

    Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp dữ liệu về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng, khả năng điều phối và cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng và liên tỉnh trong tháng 10 năm 2026, bảo đảm ưu tiên cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.

    Hằng năm, Bộ này phải công bố Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và hỗ trợ địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng vật liệu.

    Cùng với đó, xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu xây dựng, cơ chế điều phối theo vùng kinh tế với lộ trình cụ thể; xây dựng hệ thống dự báo cung – cầu theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển.

    Định kỳ hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải tổng hợp, đánh giá tình hình cung – cầu vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất điều chỉnh phương án điều phối khi cần thiết.

    Địa phương phải chủ động quỹ mỏ vật liệu xây dựng

    Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn lực tài chính cho công tác điều tra địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản tại các địa phương còn khó khăn theo quy định pháp luật.

    UBND các tỉnh, thành phố được yêu cầu hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước quý II/2027 theo thẩm quyền.

    Các địa phương phải bố trí đầy đủ kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản theo quy định.

    Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan. Trong đó, cần rà soát, bổ sung những khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng. Các mỏ đang khai thác cũng phải được rà soát để xem xét điều chỉnh công suất đối với những mỏ đủ điều kiện theo thẩm quyền và quy định pháp luật, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm.

    Đặc biệt, các địa phương phải chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030 – 2045, tránh tình trạng bị động khi triển khai các dự án quy mô lớn.

    Các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung nêu trên; tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án trọng điểm thuộc phạm vi quản lý.

    Thanh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-nguon-cung-vat-lieu-xay-dung-c55866386.epi

  • TP Hồ Chí Minh tăng tốc để về đích

    Không để nguồn lực “nằm chờ”

    Theo báo cáo sơ bộ của Kho bạc Nhà nước khu vực II, đến hết ngày 29/7/2026, thành phố đã giải ngân 60.750,061 tỷ đồng, đạt 41,2% kế hoạch vốn năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ giao và thành phố triển khai là 147.599,166 tỷ đồng.

    Nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công ngân sách địa phương, tương đương 7.203,9 tỷ đồng được thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, tỷ lệ giải ngân đạt 43,3% trên tổng kế hoạch vốn còn lại 140.395,266 tỷ đồng. Bộ Tài chính đánh giá TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có khối lượng giải ngân lớn, tỷ lệ giải ngân tốt, nằm trong nhóm 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung cả nước, khi mức bình quân tại thời điểm báo cáo là 38,5%.

    Một góc khu đô thị An Phú- An Khánh, TP Hồ Chí Minh.

    Tuy nhiên, nhìn ở chiều ngược lại, tỷ lệ 41,2% cũng cho thấy phần việc còn lại là rất lớn. Thành phố đặt mục tiêu đến hết quý III đạt 70% và cả năm đạt 100% kế hoạch vốn được giao. Những tháng cuối năm, khối lượng vốn cần đưa vào nền kinh tế sẽ còn rất lớn.

    Đây không chỉ là bài toán về tốc độ giải ngân. Với TP Hồ Chí Minh, đầu tư công được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số. Vì vậy, yêu cầu được đặt ra không phải là tìm mọi cách để “chi cho hết vốn”, mà phải bảo đảm đồng tiền ngân sách được đưa đúng vào những công trình có khả năng triển khai, tạo ra hiệu quả và sức lan tỏa cho nền kinh tế.

    Một trong những giải pháp đáng chú ý là rà soát tiến độ từng dự án để chủ động điều chuyển vốn từ những dự án chưa có khả năng giải ngân ngay sang các dự án đã bảo đảm thủ tục đầu tư, có khối lượng thực hiện và nhu cầu bổ sung vốn để thanh toán. Cách làm này nhằm hạn chế tình trạng một bên vốn bị “đóng băng”, trong khi bên khác có công trình, có khối lượng nhưng lại thiếu nguồn lực.

    Thành phố cũng yêu cầu tập trung nguồn vốn cho các dự án lớn, trọng tâm, trọng điểm, có tác động lan tỏa; tuyệt đối tránh đầu tư dàn trải.

    Theo yêu cầu của UBND TP Hồ Chí Minh, thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các phường, xã, đặc khu phải trực tiếp chỉ đạo việc giải ngân từng dự án, thường xuyên theo dõi, giám sát, đôn đốc. Hằng tháng phải đánh giá cụ thể tiến độ thực hiện nhiệm vụ, số vốn và tỷ lệ giải ngân, tình hình hoàn tất thủ tục đầu tư, tổ chức thi công và thanh toán vốn.

    Với công tác giải phóng mặt bằng, các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị tại địa phương, tăng cường vận động, thuyết phục người dân đồng thuận, sớm bàn giao mặt bằng. Cùng với đó là đẩy nhanh thủ tục giải ngân vốn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn các địa phương xác định giá đất cụ thể, áp dụng đúng quy định pháp luật trong bồi thường, giải phóng mặt bằng; kịp thời tham mưu tháo gỡ những vướng mắc, không để dự án phải chờ mặt bằng.

    Đường Vành đai 3 một công trình trọng điểm ở TP Hồ Chí Minh.

    Sở Xây dựng được giao nghiên cứu, tham mưu phương án bảo đảm nguồn cung vật liệu cho các dự án, nhất là dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về giá vật liệu.

    Trong khi đó, công tác quy hoạch phải được xử lý nhanh hơn, nhất là việc điều chỉnh quy hoạch để đẩy nhanh thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư và giải ngân đối với những dự án có kế hoạch thực hiện trong năm 2026.

    Đặc biệt, thành phố nghiên cứu cơ chế cảnh báo “thẻ vàng”, “thẻ đỏ” đối với các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ giải ngân thấp, gắn kết quả giải ngân với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là một tín hiệu cho thấy áp lực hoàn thành nhiệm vụ đang được chuyển từ trách nhiệm tập thể chung chung sang trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, từng cá nhân.

    Tăng tốc thu ngân sách, khai thông nguồn lực từ đất đai

    Cùng với giải ngân đầu tư công, một “mặt trận” khác cũng đang bước vào giai đoạn nước rút là thu ngân sách.

    Sau 7 tháng đầu năm 2026, TP Hồ Chí Minh đã thu ngân sách khoảng 576.000 tỷ đồng, tương đương 72% dự toán Thủ tướng Chính phủ giao và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy nguồn thu đang có những tín hiệu tích cực, nhưng thành phố vẫn nhìn nhận chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô và dư địa phát triển của một đầu tàu kinh tế. Mục tiêu mà thành phố đặt ra là đạt và vượt 1.010.000 tỷ đồng thu ngân sách nhà nước trong năm 2026. Như vậy, trong 5 tháng cuối năm, nhiệm vụ đặt ra là phải thu hơn 400.000 tỷ đồng. Đây là con số không nhỏ, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

    Ban Chỉ đạo thúc đẩy nhanh tiến độ đấu giá đất công được yêu cầu khẩn trương hoàn tất hồ sơ, thủ tục pháp lý, bảo đảm các khu đất theo kế hoạch phải được hoàn thành đấu giá trước ngày 30/9/2026.

    Thành phố yêu cầu tuyệt đối không để chậm tiến độ do nguyên nhân chủ quan làm mất cơ hội tạo nguồn thu.

    Một đoạn rạch Xuyên Tâm đang được cải tạo.

    Các sở, ngành liên quan được giao tập trung xử lý những dự án tồn đọng, kéo dài do vướng thủ tục đất đai, quy hoạch, nghĩa vụ tài chính. Mỗi nhóm vướng mắc phải được phân loại, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý và kết quả đầu ra.

    Thành phố ưu tiên xử lý dứt điểm những dự án có khả năng phát sinh nguồn thu lớn ngay trong năm 2026, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm, không để nguồn lực đất đai bị lãng phí hoặc phát sinh thất thu ngân sách.

    Một hướng khác là tăng cường quản lý thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh, nhất là hoạt động thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số. Cơ quan thuế phối hợp với địa phương rà soát việc áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, tăng cường kiểm tra thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, qua đó ngăn chặn tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại.

    Để hoàn thành mục tiêu này,thành phố áp dụng nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Với nhiệm vụ thu ngân sách, sơ đồ Gantt chi tiết đến từng nhiệm vụ, từng mốc thời gian được xác định là công cụ để kiểm soát tiến độ. Thành phố không chấp nhận tình trạng “đạt kế hoạch trên giấy” nhưng nguồn lực thực tế không tương xứng.

    Kết quả thu ngân sách sẽ là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình xét thi đua, khen thưởng cuối năm 2026.

    Phương Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-tang-toc-de-ve-dich-c55865848.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!