Author: bachdn

  • Cảng hàng không quốc tế Phú Bài có thể đón 12 triệu khách/năm vào năm 2050

    Tới năm 2030, có thể đón 4 triệu hành khách/năm

    Bộ Xây dựng cho biết đã giao Cục Hàng không Việt Nam phối hợp với các đơn vị tư vấn nghiên cứu lập quy hoạch chi tiết các Cảng hàng không quốc tế Phú Bài thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đến nay, hồ sơ quy hoạch chi tiết cảng đã được Cục Hàng không Việt Nam hoàn thành.

    Cảng hàng không quốc tế Phú Bài được định hướng mở rộng, nâng công suất lên 12 triệu hành khách/năm vào năm 2050 (ảnh minh họa).

    Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm kiểm tra thông tin, kết quả tiếp nhận hồ sơ và kịp thời gửi bổ sung tài liệu đến các cơ quan; đồng thời chủ động tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý (nếu có) và hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Bộ Xây dựng.

    Theo Thuyết minh Báo cáo giữa kỳ do Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI) lập, việc quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Bài giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là cần thiết và phải tổ chức thực hiện ngay nhằm phù hợp với Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc, phù hợp với chiến lược phát triển của TP Huế được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

    Qua đó, làm cơ sở thực hiện các bước đầu tư, kêu gọi đầu tư nhằm nâng cao năng lực khai thác, đáp ứng nhu cầu vận tải hành khách, hàng hóa thông qua Cảng hàng không quốc tế Phú Bài, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của ngành hàng không, đồng thời đảm bảo quốc phòng an ninh khu vực miền Trung. 

    Theo đề xuất, Cảng hàng không quốc tế Phú Bài được đặt tại phường Phú Bài và phường Hương Thủy (TP Huế); có vị trí, chức năng trong mạng cảng hàng không dân dụng toàn quốc là cảng hàng không quốc tế; sân bay dùng chung dân dụng và quân sự.

    Trong thời kỳ 2021-2030, sân bay được quy hoạch đạt cấp 4E (theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế – ICAO); công suất 4 triệu hành khách/năm và 5 nghìn tấn hàng hoá/năm; có đủ năng lực khai thác loại tàu bay A350, B747, B777 A320/A321 và tương đương.

    Về các công trình khu bay, phương án quy hoạch đề xuất kéo dài đường cất hạ cánh hiện hữu về phía Đông để đạt kích thước 3.600x45m, lề vật liệu rộng 7,5m.

    Đường lăn song song hiện hữu cũng được kéo dài lên thành 3.600m đồng bộ với việc kéo dài đường cất hạ cánh hiện hữu. Tim đường lăn song song cách tim đường cất hạ cánh hiện hữu 182,5m, chiều rộng cơ sở của đường lăn là 23m, lề vật liệu theo quy định.

    Cùng với đó, quy hoạch bổ sung hoàn thiện các đường lăn nối từ đường cất hạ cánh về đường lăn song song và sân đỗ tàu bay để đồng bộ với đường cất hạ cánh, đường lăn song song. Chiều rộng cơ sở của đường lăn là 23m, lề vật liệu theo quy định. 

    Sân đỗ tàu bay hiện hữu được quy hoạch mở rộng đáp ứng tối thiểu 11 vị trí (bao gồm 2 vị trí đỗ tàu bay code E, 9 vị trí đỗ tàu bay code C) và có dự trữ quy đất để mở rộng theo nhu cầu. 

    Đối với các công trình bảo đảm hoạt động bay, phương án đề xuất tiếp tục sử dụng Đài kiểm soát tại sân bay hiện hữu và đầu tư các trang thiết bị đồng bộ khi có nhu cầu để đảm bảo yêu cầu khai thác.

    Thời kỳ này, nhà ga hành khách T2 hiện hữu tiếp tục được khai thác với công suất 4-5 triệu hành khách/năm. Giai đoạn đến năm 2030, cơ sở hạ tầng của nhà ga T1 hiện hữu được tận dụng để khai thác hàng không chung.

    Nhà ga hàng hóa được quy hoạch về phía Tây nhà ga T1 hiện hữu, đáp ứng công suất 12.000 tấn hàng hóa/năm, trên khu đất có diện tích khoảng 25.000m2, được xây dựng khi có nhu cầu.

    Đề xuất quy hoạch thêm đường băng, nhà ga hành khách T3 mới 

    Tầm nhìn đến năm 2050, Cảng hàng không quốc tế Phú Bài được định hướng nâng công suất lên 12 triệu hành khách/năm và 24.000 tấn hàng hóa/năm. 

    Để đáp ứng quy mô khai thác này, phương án quy hoạch đường cất hạ cánh số 2 song song với đường cất hạ cánh hiện hữu, cách đường cất hạ cánh hiện hữu 230m về phía Bắc với kích thước 3.200x45m, kích thước lề vật liệu theo quy định.

    Hệ thống đường lăn đã quy hoạch trong thời kỳ 2021-2030 được tiếp tục sử dụng. Đồng thời, quy hoạch thêm 4 đường lăn thoát nhanh và 2 đường lăn nối từ đường cất hạ cánh số 2 về đường cất hạ cánh hiện hữu. Chiều rộng cơ sở đường lăn là 23m, lề vật liệu theo quy định.

    Sân đỗ được quy hoạch tiếp tục mở rộng đáp ứng tối thiểu 27 vị trí đỗ (bao gồm 4 vị trí đỗ tàu bay code E và 23 vị trí đỗ tàu bay code C), có dự trữ để mở rộng khi có nhu cầu.

    Một trong những hạng mục đáng chú ý trong tầm nhìn đến năm 2050 là quy hoạch thêm nhà ga hành khách T3 mới về phía Đông nhà ga T2. Khi hoàn thành, tổng công suất khai thác của hai nhà ga T2 và T3 đạt 12 triệu hành khách/năm.

    Cùng với đó, xây dựng khu hàng không chung mới ở phía Đông nhà ga T3 với diện tích khoảng 20.000m2, được xây dựng khi có nhu cầu.

    Nhà ga hàng hóa cũng được mở rộng đáp ứng công suất 18.000 tấn hàng hóa/năm trên khu đất đã quy hoạch giai đoạn 2021-2030.

    Theo hồ sơ quy hoạch, nhu cầu sử dụng đất của toàn Cảng hàng không quốc tế Phú Bài được đề xuất khoảng hơn 526ha gồm hơn 76ha do hàng không dân dụng quản lý; hơn 66ha thuộc phạm vi quản lý của quân sự; hơn 383ha là khu vực dùng chung quân sự và hàng không dân dụng.

    Biển Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/cang-hang-khong-quoc-te-phu-bai-co-the-don-12-trieu-khach-nam-vao-nam-2050-c55866102.epi

  • Lịch Âm Dương ngày 20/08/2026: Chi tiết giờ hoàng đạo, tuổi xung và hướng xuất hành cát lợi

    Xem chi tiết Âm Dương lịch 20/08/2026

    Theo lịch vạn niên, ngày 20/08/2026 Dương Lịch trùng với ngày 08 tháng 07 Âm Lịch (năm Bính Ngọ). Đây là ngày Bính Dần, tháng Bính Thân, mang ngũ hành Lô Trung Hỏa (Lửa trong lò). Bài viết tổng hợp các thông tin Lịch Âm Dương, giờ tốt, tuổi xung hợp và hướng xuất hành nhằm hỗ trợ bạn đọc sắp xếp công việc cá nhân một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.

    Tổng quan Lịch Âm Dương ngày 20/08/2026

    Việc tra cứu các yếu tố ngũ hành và can chi của ngày giúp bạn chọn lựa thời điểm thích hợp cho từng nhóm công việc cụ thể:

    Chi tiết giờ hoàng đạo và giờ hắc đạo

    Lựa chọn khoảng thời gian phù hợp trong ngày giúp các kế hoạch diễn ra suôn sẻ và mang lại cảm giác chủ động, tự tin.

    Khung giờ hoàng đạo (Giờ tốt)

    Giờ Tý (23:00 – 00:59): Thích hợp cho việc lập kế hoạch, tư duy công việc.
    Giờ Sửu (01:00 – 02:59): Thuận lợi cho nghỉ ngơi, chuẩn bị năng lượng mới.
    Giờ Thìn (07:00 – 08:59): Thời điểm đẹp để bắt đầu ngày làm việc, gặp gỡ đối tác.
    Giờ Tỵ (09:00 – 10:59): Thích hợp trao đổi thông tin, giải quyết công việc tồn đọng.
    Giờ Mùi (13:00 – 14:59): Khoảng thời gian tốt cho các giao dịch nhẹ nhàng, học tập.
    Giờ Tuất (19:00 – 20:59): Thuận lợi cho đoàn tụ gia đình, sum họp bạn bè.

    Khung giờ hắc đạo (Nên cẩn trọng)

    Giờ Dần (03:00 – 04:59)
    Giờ Mão (05:00 – 06:59)
    Giờ Ngọ (11:00 – 12:59)
    Giờ Thân (15:00 – 16:59)
    Giờ Dậu (17:00 – 18:59)
    Giờ Hợi (21:00 – 22:59)

    Đánh giá tuổi xung hợp và hướng xuất hành

    Mối quan hệ ngũ hành giúp xác định các tuổi tương hợp hoặc những lưu ý cần thiết trong quá trình tương tác công việc.

    Tuổi hợp ngày: Tuổi Hợi (Lục hợp); tuổi Ngọ và Tuất (Tam hợp thành Hỏa cục).
    Tuổi xung kỵ cần lưu ý: Canh Thân và Nhâm Thân (đặc biệt kỵ do nạp âm và hành xung).
    Hướng xuất hành đón may mắn: Đi về hướng Tây Nam để đón Hỷ Thần (mang lại may mắn, niềm vui), hoặc đi về hướng Đông để đón Tài Thần (thuận lợi tài lộc). Nên tránh đi hướng Nam do gặp Hạc Thần.
    Khung giờ xuất hành tốt (theo Lý Thuần Phong): Khung giờ Mùi (13h-15h) và giờ Dậu (17h-19h) rất tốt cho việc di chuyển, giao thương hoặc cầu tin vui.

    Lời khuyên việc nên làm và nên hạn chế

    Mỗi ngày Âm Dương đều mang những năng lượng đặc trưng riêng. Việc nắm rõ tính chất ngày sẽ giúp bạn cân nhắc các kế hoạch hợp lý.

    Những việc nên làm

    Cầu phúc, học hành, thi cử, phát triển bản thân.
    Sắp xếp lại không gian sống, dọn dẹp nhà cửa, tháo dỡ công trình cũ (phù hợp với tính chất của Trực Phá).
    Thực hiện các công việc thiện nguyện, giải tỏa mâu thuẫn nhờ sự hỗ trợ của các sao cát như Giải Thần, Thánh Tâm.

    Những việc nên hạn chế

    Tránh khởi công các đại sự như động thổ, cất nóc, cưới hỏi hay an táng do rơi vào ngày Dương Công Kỵ Nhật và Sao Nguyệt Phá.
    Hạn chế tu sửa khu vực bếp nấu để đảm bảo an toàn về hỏa trụi theo quan niệm Bành Tổ Bách Kỵ Nhật.
    Thận trọng khi ký kết hợp đồng quan trọng hay xử lý hồ sơ pháp lý phức tạp do ngày gặp quẻ Lưu Liên.

    Giải thích một số thuật ngữ phong thủy

    Lô Trung Hỏa: Nghĩa là ngọn lửa trong lò, đại diện cho nguồn năng lượng ấm áp, kiên trì nhưng cần được duy trì đúng cách.
    Trực Phá: Là trạng thái Nhật Nguyệt tương xung, thích hợp cho việc phá bỏ cái cũ để xây dựng cái mới, không nên tiến hành xây dựng hay làm việc lớn mang tính khởi đầu.
    Lưu Liên: Khái niệm chỉ sự trễ nải, dây dưa. Khi gặp quẻ này, các kế hoạch nên được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn và thực hiện từng bước cẩn trọng.

    Những thông tin trên đây mang tính chất tham khảo theo văn hóa dân gian, giúp bạn đọc có thêm góc nhìn tối ưu cho sinh hoạt hàng ngày. Hãy luôn giữ tinh thần lạc quan, chủ động và cẩn trọng trong mọi quyết định để đạt được kết quả tốt nhất.

    Đại Ngàn

    Nguồn https://baomoi.com/lich-am-duong-ngay-20-08-2026-chi-tiet-gio-hoang-dao-tuoi-xung-va-huong-xuat-hanh-cat-loi-c55866097.epi

  • Đổi mới thực chất, phân cấp gắn với nguồn lực

    Rõ khái niệm, thống nhất cách xử lý ngân sách cuối năm

    Góp ý hồ sơ dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị làm rõ một số khái niệm và quy định liên quan đến xử lý ngân sách cuối năm, bảo đảm thống nhất cách hiểu và thực hiện giữa các địa phương.

    Tại khoản 14 Điều 4, dự thảo quy định: “Dự toán chi còn lại của cấp ngân sách là dự toán chi của cấp ngân sách đã được cấp có thẩm quyền quyết định nhưng hết năm ngân sách chưa phân bổ, sử dụng, bao gồm cả dự phòng (nếu có)”.

    ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu

    Theo đại biểu, quy định này đã làm rõ đối với phần dự toán chi chưa phân bổ nhưng có thể dẫn đến cách hiểu rằng các khoản đã giao cho đơn vị sử dụng ngân sách, đến hết năm chưa sử dụng hết, còn nhiệm vụ chi và được phép chuyển nguồn sang năm sau cũng thuộc phạm vi “dự toán chi còn lại của cấp ngân sách”. Cách xác định như vậy chưa phù hợp với bản chất của khoản kinh phí đã được giao dự toán và đang tiếp tục thực hiện theo chế độ chuyển nguồn.

    Khái niệm này là căn cứ quan trọng để xác định nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại, chuyển nguồn và xử lý ngân sách cuối năm. Nếu không được quy định, hướng dẫn rõ có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau giữa các địa phương.

    Vì vậy, đại biểu đề nghị xác định “dự toán chi còn lại của cấp ngân sách” là phần dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định nhưng hết năm ngân sách chưa phân bổ, bao gồm cả dự phòng ngân sách; không bao gồm khoản đã giao cho đơn vị sử dụng ngân sách, còn nhiệm vụ chi và được phép chuyển nguồn. Các khoản đã giao nhưng không được phép chuyển nguồn thì bị hủy dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

    Tại khoản 43 Điều 4, dự thảo quy định: “Nợ đọng xây dựng cơ bản là giá trị khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu của chương trình, nhiệm vụ, dự án đầu tư công nhưng chưa được cấp có thẩm quyền giao danh mục và mức chi đầu tư công 5 năm, không bao gồm các dự án đầu tư công khẩn cấp, dự án đầu tư công đặc biệt, dự án đã thực hiện chuyển tiếp qua kỳ kế hoạch đầu tư công 5 năm tiếp theo”.

    Đại biểu cho rằng, khái niệm này chưa bao quát trường hợp dự án được bố trí kế hoạch hằng năm từ nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại. Đây là những nguồn phát sinh hằng năm, chưa thể dự toán trước để đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn, nên cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện.

    Các ĐBQH tham dự thảo luận tổ

    Đại biểu cũng đề nghị phân biệt rõ khoản dự toán chi ngân sách chưa phân bổ thuộc dự phòng ngân sách theo khoản 8 Điều 4 và Điều 11 với khoản dự toán chưa phân bổ chi tiết quy định tại điểm a khoản 2 Điều 31 và điểm d khoản 4 Điều 32. Qua đó, bảo đảm tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 11 về mức bố trí dự phòng từ 2% đến 5% tổng chi ngân sách mỗi cấp, trong đó bao gồm khoản chi cho những nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách nhưng chưa được dự toán; đồng thời hạn chế tình trạng các khoản chưa phân bổ chi tiết ngoài dự phòng chiếm tỷ trọng lớn trong dự toán hằng năm.

    Đối với điểm l khoản 3 Điều 86, đại biểu đề nghị bổ sung cụm từ “ý kiến của cơ quan có thẩm quyền” vào quy định về các khoản kinh phí phải hoàn trả ngân sách cấp trên. Thực tế, một số khoản phải hoàn trả không phát sinh từ kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm toán mà được xác định trên cơ sở ý kiến của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình rà soát, thẩm định, xác nhận số liệu, như kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội do Trung ương ban hành.

    Trường hợp địa phương đã có văn bản báo cáo hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác định nghĩa vụ hoàn trả thì cần có cơ sở pháp lý để hạch toán, chuyển nguồn và hoàn trả ngân sách cấp trên. Việc bổ sung sẽ bảo đảm bao quát đầy đủ các trường hợp phát sinh và tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho địa phương thực hiện.

    Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự thảo luận tại tổ

    Về Điều 91, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị nghiên cứu bỏ quy định UBND phải báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp cho ý kiến trước khi trình HĐND phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Hồ sơ quyết toán đã phải qua quy trình thẩm tra của Ban Kinh tế – Ngân sách trước khi trình HĐND xem xét, quyết định.

    Việc bổ sung bước xin ý kiến Thường trực HĐND sẽ làm phát sinh thủ tục, kéo dài thời gian hoàn thiện hồ sơ, trong khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương không quy định thẩm quyền này của Thường trực HĐND.

    Đồng bộ hệ thống kế hoạch, phân định rõ thẩm quyền

    Từ góc độ hệ thống kế hoạch, ĐBQH Nguyễn Trường Giang (Lâm Đồng) cho rằng, việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công phải được thể hiện đồng bộ. Theo đó, kế hoạch đầu tư công trung hạn cần được tích hợp vào kế hoạch tài chính 5 năm; dự toán ngân sách nhà nước hằng năm phải bao gồm dự toán chi đầu tư công.

    ĐBQH Nguyễn Trường Giang (Lâm Đồng) phát biểu

    Đồng thời, cần rà soát, sửa đổi các luật có liên quan như Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công… để bảo đảm đồng bộ với những thay đổi về phân cấp và quản lý nguồn lực.

    Đại biểu nhấn mạnh, phân cấp phải tuân thủ Hiến pháp. Thẩm quyền quyết định dự toán ngân sách nhà nước, nhất là nguồn ngân sách trung ương, trong đó có phần dự phòng 10% chưa phân bổ, thuộc Quốc hội. Trường hợp cần linh hoạt trong điều hành, Quốc hội có thể ủy quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định phân bổ và báo cáo tại kỳ họp gần nhất.

    Khi chuyển nhiệm vụ từ Chính phủ xuống chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã, phải phân bổ nguồn lực tương ứng; không thể chỉ giao thêm nhiệm vụ, thẩm quyền mà không bảo đảm điều kiện thực hiện.

    Các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng dự phiên thảo luận tại tổ

    Cùng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thực chất, ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) cho rằng, việc hợp nhất phải tạo chuyển biến trong cơ chế quản lý nguồn lực công, không chỉ là sự tích hợp về kỹ thuật. Quy trình lập, phân bổ, giao dự toán và điều hành ngân sách cần được đơn giản hóa nhưng vẫn phải bảo đảm yêu cầu đặc thù của đầu tư công, nhất là quản lý theo vòng đời dự án, điều kiện bố trí vốn, tiến độ, giải ngân và đánh giá hiệu quả. Việc tích hợp kế hoạch đầu tư công trung hạn vào kế hoạch tài chính 5 năm cũng phải đi kèm các nguyên tắc, tiêu chí, thứ tự ưu tiên và cơ cấu phân bổ vốn rõ ràng.

    Thẩm quyền quyết định của Quốc hội, HĐND và thẩm quyền điều hành của Chính phủ, UBND phải được phân định rõ, không để việc điều chỉnh làm thay đổi các chỉ tiêu lớn và cơ cấu nguồn lực đã được cơ quan dân cử quyết định. Luật cũng cần quy định khung tiêu chí, nguyên tắc và giới hạn phân loại dự án nhóm A, B, C, không giao toàn bộ cho Chính phủ.

    ĐBQH Dương Khắc Mai (Lâm Đồng) phát biểu

    Theo đại biểu, thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư của cấp xã phải phù hợp với quy mô, tính chất dự án, nguồn vốn và năng lực thực tế; đồng thời có cơ chế hỗ trợ địa phương chưa đáp ứng yêu cầu. Kết quả đánh giá sau đầu tư phải được sử dụng để xác định trách nhiệm và làm căn cứ giao dự án, phân bổ vốn ở giai đoạn tiếp theo.

    Đại biểu cũng đề nghị kiểm soát chặt vốn vay và bội chi ngân sách địa phương, theo dõi riêng từng khoản vay, mục đích sử dụng, chi phí vay và nguồn trả nợ. Cơ chế linh hoạt giữa chi đầu tư và chi thường xuyên không được làm thay đổi bản chất nhiệm vụ, trở thành cách né tránh thủ tục đầu tư công, chia nhỏ dự án hoặc dịch chuyển nguồn lực đầu tư sang chi thường xuyên.

    Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ 7, sáng 19/8.

    Đối với dự phòng ngân sách, quỹ dự trữ tài chính và số tăng thu trong năm, cần quy định rõ điều kiện, thứ tự ưu tiên sử dụng, trước hết là giảm bội chi, trả nợ, tăng dự phòng và xử lý nhiệm vụ cấp bách. Việc chuyển nguồn vốn đầu tư công phải được thu hẹp, căn cứ nguyên nhân chậm giải ngân, mức độ hoàn thành thủ tục và khả năng thực hiện; nếu hết thời hạn được phép mà vẫn không giải ngân hết thì phải hủy dự toán và xem xét trách nhiệm.

    ĐBQH Dương Khắc Mai đồng thời đề nghị đẩy mạnh số hóa, kết nối dữ liệu quản lý ngân sách với cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công; đầu tư hạ tầng số và đào tạo cán bộ, nhất là ở cấp xã. Các quy định chuyển tiếp phải bảo đảm không làm gián đoạn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030 và các chương trình, dự án đang triển khai.

    Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

    Nguồn https://baomoi.com/doi-moi-thuc-chat-phan-cap-gan-voi-nguon-luc-c55866177.epi

  • ĐBQH: Tháo ‘điểm nghẽn’ chuyển nhượng dự án bất động sản, không để lãng phí nguồn lực

    Đề xuất không tạo thêm “giấy phép con” khi dự án đã đủ điều kiện

    Chiều 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại tổ về định hướng sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản.

    Góp ý dự thảo, đại biểu Lê Đào An Xuân (đoàn Đắk Lắk) đánh giá cao quy định bắt buộc áp dụng mã định danh điện tử cho từng tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản và các đối tượng có liên quan. Theo đại biểu, quy định này phù hợp với định hướng số hóa quản lý hoạt động kinh doanh bất động sản.

    Đại biểu Lê Đào An Xuân (đoàn Đắk Lắk). Ảnh: Media Quốc hội.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh quá trình số hóa chưa được triển khai đồng bộ, đại biểu đề nghị quy định theo hướng bắt buộc áp dụng mã định danh điện tử đối với những trường hợp đã được cấp mã. Với trường hợp chưa được cấp mã, cần tiếp tục bảo đảm đầy đủ quyền theo quy định, tránh phát sinh cách hiểu và cách thực hiện khác nhau giữa các cơ quan.

    Liên quan Điều 19 về điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh, đại biểu cho rằng cần xem xét lại yêu cầu phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo đủ điều kiện kinh doanh.

    Theo đại biểu, nếu dự án đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định về xây dựng, quy hoạch và các yêu cầu liên quan thì không nhất thiết phải thực hiện thêm một thủ tục để cơ quan nhà nước xác nhận lại bằng văn bản riêng.

    “Không cần thiết phải tạo thêm một giấy phép con ở giai đoạn này”, đại biểu nêu quan điểm.

    Thay vào đó, đại biểu đề nghị chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Pháp luật cần quy định rõ các điều kiện để bất động sản được đưa vào kinh doanh; khi đáp ứng đầy đủ, chủ đầu tư có trách nhiệm tự công bố đủ điều kiện kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    Đối với Điều 23 về điều kiện chuyển nhượng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản, đại biểu tiếp tục đề nghị lược bỏ yêu cầu phải có văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu dự án đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện chuyển nhượng.

    Theo đại biểu, đây cũng là một thủ tục cần được cân nhắc trong quá trình cải cách hành chính, nhất là khi các điều kiện chuyển nhượng đã được quy định cụ thể trong luật.

    Đáng chú ý, về Điều 30 quy định điều kiện chuyển nhượng dự án, đại biểu Lê Đào An Xuân cho rằng yêu cầu nhà đầu tư phải hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính trước khi được chuyển nhượng dự án có thể gây khó khăn trong thực tế.

    Theo đại biểu, có những dự án không thể tiếp tục triển khai do thiếu thanh khoản, thiếu vốn hoặc hạn chế về năng lực của nhà đầu tư. Nếu vẫn yêu cầu nhà đầu tư cũ hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ tài chính rồi mới được chuyển nhượng, việc xử lý những dự án này sẽ rất khó khăn.

    Theo đại biểu, quy định trên có thể khiến các dự án đang gặp khó khăn không thể chuyển giao cho nhà đầu tư có năng lực hơn, qua đó dẫn đến lãng phí nguồn lực xã hội.

    Do đó, đại biểu đề nghị cho phép chuyển nhượng dự án theo hướng nhà đầu tư mới cam kết tiếp nhận và thực hiện các nghĩa vụ tài chính còn lại. Các nội dung này cần được thể hiện rõ trong hợp đồng chuyển nhượng, đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm của bên nhận chuyển nhượng đối với Nhà nước sau khi tiếp nhận dự án.

    “Bảo vệ người mua không phải là giữ tiền lâu hơn”

    Góp ý quy định về tiền đặt cọc không quá 5% đối với bất động sản đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, đại biểu An Xuân cho rằng cần cân nhắc để phù hợp hơn với thực tế thị trường.

    Theo đại biểu, với trường hợp dự án chưa đủ điều kiện kinh doanh nhưng chủ đầu tư muốn nhận đặt cọc để giữ chỗ sớm, có thể xem xét cơ chế khống chế mức đặt cọc. Khoản tiền này có thể được đưa vào tài khoản phong tỏa nhằm bảo đảm an toàn, đồng thời giúp chủ đầu tư đánh giá nhu cầu thị trường.

    Tuy nhiên, đối với dự án đã đáp ứng đầy đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, đại biểu cho rằng không cần thiết quy định cứng mức đặt cọc 5%. Việc này nên để chủ đầu tư và người mua thỏa thuận trên cơ sở các quy định pháp luật.

    Đại biểu Nguyễn Cao Sơn (đoàn Phú Thọ). Ảnh: Media Quốc hội.

    Cũng góp ý về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Cao Sơn (đoàn Phú Thọ) cho rằng các quy định về giới hạn đặt cọc, giữ 5% đến khi cấp Giấy chứng nhận và bảo lãnh là cần thiết. Tuy nhiên, theo ông, “5% không thể làm áo phao cho 95% bị dùng sai mục đích”.

    Đại biểu đề nghị mọi khoản tiền giữ chỗ hoặc thiện chí nhằm giữ quyền mua phải được coi là tiền đặt cọc và chỉ được thu khi tài sản đủ điều kiện kinh doanh.

    Đối với tiền ứng trước, đại biểu đề nghị thực hiện qua tài khoản riêng của dự án, bảo đảm khả năng truy vết và giải ngân theo tiến độ. Theo ông, không nhất thiết phải phong tỏa cứng toàn bộ dòng tiền mà cần kiểm soát, ngăn chặn việc sử dụng tiền sai mục đích.

    Với khoản 5% còn lại, luật cần quy định rõ chủ tài khoản, lãi, phí, điều kiện giải ngân và hoàn trả. Chủ đầu tư cần thu xếp sẵn hạn mức bảo lãnh; việc phát hành thư bảo lãnh riêng có thể là lựa chọn của khách hàng, thay vì cài sẵn điều khoản từ chối trong hợp đồng mẫu.

    Đại biểu Nguyễn Cao Sơn cũng đề nghị mỗi sản phẩm bất động sản cần công khai hai trạng thái: mức độ hoàn thành về vật chất và mức độ sẵn sàng đăng ký quyền. Việc công trình đã hoàn thành, nghiệm thu về mặt vật chất không đồng nghĩa quyền tài sản đã hoàn tất.

    Trường hợp thiếu điều kiện sử dụng hoặc hồ sơ bắt buộc, người mua cần được quyền từ chối nhận bàn giao. Nếu việc chậm cấp Giấy chứng nhận xuất phát từ lỗi của chủ đầu tư, doanh nghiệp phải hoàn tiền và trả lãi. Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ nhưng đang trong quá trình xử lý của cơ quan nhà nước thì khoản tiền của người mua tiếp tục được bảo đảm và không bị coi là vi phạm của doanh nghiệp.

    “Bảo vệ người mua không phải là giữ tiền lâu hơn; là kiểm soát tiền từ khi vào dự án đến khi trở thành quyền tài sản”, đại biểu nhấn mạnh.

    Yến Chi

    Nguồn https://baomoi.com/dbqh-thao-diem-nghen-chuyen-nhuong-du-an-bat-dong-san-khong-de-lang-phi-nguon-luc-c55866096.epi

  • Xã Phúc Thịnh sắp có dự án nhà ở giá rẻ quy mô 160 căn

    Theo phương án được trình bày, khu đất lập quy hoạch có diện tích khoảng 3.470m². Dự án dự kiến xây dựng công trình cao 12 tầng nổi và 1 tầng hầm, với khoảng 160 căn hộ, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho khoảng 460 người. Tầng hầm được bố trí khu vực để xe và các hệ thống kỹ thuật phụ trợ.

    Người dân nêu ý kiến tại hội nghị. Ảnh: Thanh Hà

    Tại hội nghị, các ý kiến cơ bản đồng tình với chủ trương phát triển nhà ở xã hội, góp phần đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân, đồng thời đề nghị chủ đầu tư và đơn vị tư vấn quan tâm đầy đủ đến việc khớp nối hạ tầng kỹ thuật của dự án với khu dân cư hiện hữu thôn Trung Oai.

    Trong đó, người dân đề nghị đơn vị tư vấn khảo sát kỹ cao độ nền, đánh giá năng lực hệ thống thoát nước mưa, nước thải, tính toán các phương án tiêu thoát nước phù hợp, có giải pháp phòng, chống ngập úng, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến hệ thống tiêu thoát nước chung của khu dân cư.

    Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Thanh Hà

    Bên cạnh đó, các đại biểu đề nghị trong quá trình triển khai dự án cần thực hiện nghiêm các biện pháp hạn chế bụi, tiếng ồn và các tác động gây ô nhiễm môi trường, có phương án tổ chức thi công phù hợp, bảo đảm an toàn cho người dân. Việc bố trí cây xanh, không gian mở cũng cần được nghiên cứu hợp lý, góp phần bảo đảm cảnh quan và môi trường sống cho khu vực xung quanh.

    Kết luận hội nghị, đại diện UBND xã Phúc Thịnh ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến đóng góp trách nhiệm của nhân dân. UBND xã đề nghị chủ đầu tư và đơn vị tư vấn nghiêm túc tiếp thu, rà soát, bổ sung các giải pháp về thoát nước, phòng, chống ngập úng, bảo vệ môi trường, xử lý chất thải, phòng cháy, chữa cháy và bảo đảm an toàn giao thông trong khu vực.

    Thanh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/xa-phuc-thinh-sap-co-du-an-nha-o-gia-re-quy-mo-160-can-c55866107.epi

  • Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa góp ý nhiều nội dung quan trọng vào các dự thảo luật

    Đồng chí Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa chủ trì phiên thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

    Thảo luận về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia, các ĐBQH cho rằng chủ trương này là đúng, trúng, phù hợp và rất cần thiết nhằm giảm giao thoa, trùng lặp; phân bổ nguồn lực linh hoạt hơn, tăng tính chủ động và trách nhiệm của địa phương, đồng thời tạo điều kiện để người dân được tiếp cận đồng bộ các chính sách.

    Các đại biểu đề nghị việc phân bổ, điều chuyển nguồn lực trước hết phải căn cứ vào mục tiêu, mức độ khó khăn và nhu cầu thực tế. Nếu máy móc dựa vào tiến độ giải ngân, những địa bàn khó khăn, năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế có nguy cơ lại là những nơi mất đi nguồn lực cần thiết cho phát triển.

    ĐBQH Cao Thị Xuân, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    Tán thành với sự cần thiết tích hợp 4 chương trình thành một chương trình mục tiêu quốc gia tổng thể, ĐBQH Cao Thị Xuân, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cho rằng, vấn đề quan trọng không nằm ở việc hợp nhất về tên gọi hay đưa các chương trình hiện hành vào chung một nghị quyết, mà phải tạo được sự thay đổi thực chất trong mục tiêu, cơ chế tổ chức và phương thức triển khai.

    Việc tích hợp phải bảo đảm nguyên tắc kế thừa, không làm mất đi các mục tiêu, cơ chế và chính sách đặc thù đã được Quốc hội quyết định; đồng thời, nội dung nghị quyết phải thể hiện đúng tinh thần “tích hợp thực chất, không phải tích hợp cơ học”. Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát để tạo sự thống nhất thực sự giữa các mục tiêu, cơ chế tổ chức và phương thức triển khai.

    ĐBQH Phan Thị Thùy Linh, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    Cùng quan điểm không để việc tích hợp làm mờ nhạt các mục tiêu đặc thù, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa nhấn mạnh, mỗi mục tiêu của 4 chương trình hiện hành đều gắn với những yêu cầu phát triển cụ thể. Vì vậy, tích hợp là để thống nhất mục tiêu chung, cơ chế quản lý và nguồn lực, nhưng những nội dung đặc thù về văn hóa, y tế, giáo dục, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn phải được bảo đảm.

    Theo đại biểu, nếu không có cơ chế theo dõi riêng, có thể xuất hiện xu hướng địa phương ưu tiên các công trình lớn, dễ giải ngân, trong khi những nhiệm vụ tác động trực tiếp đến đời sống người dân như hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo, y tế cơ sở, dinh dưỡng học đường hay thiết chế văn hóa cơ sở lại bị xếp sau. Vì vậy, đại biểu tán thành việc hệ thống mục tiêu được thể hiện thành phụ lục chi tiết theo từng nhóm lĩnh vực, đồng thời đề nghị thống kê riêng nguồn vốn và kết quả đầu ra của từng nhóm mục tiêu trên hệ thống dữ liệu.

    ĐBQH Phan Thị Thùy Linh cũng đề nghị cân nhắc kỹ việc lấy kết quả giải ngân làm tiêu chí quyết định mức vốn hỗ trợ. Nguyên tắc phân bổ trước hết phải căn cứ vào mục tiêu, mức độ khó khăn và đối tượng ưu tiên; kết quả thực hiện nên được sử dụng ở bước sau để điều chỉnh và khuyến khích những nơi làm tốt.

    ĐBQH Lương Thị Hoa, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    Từ thực tiễn từng tham gia Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ở cấp huyện và cấp xã, ĐBQH Lương Thị Hoa, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cũng đánh giá việc tích hợp 4 chương trình ở thời điểm hiện nay là đúng, trúng và cần thiết, để giảm đầu mối, giảm thủ tục, tăng hiệu quả.

    Nghị quyết được ban hành sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng “2 con số”.

    Đại biểu Lương Thị Hoa đề nghị trao quyền chủ động hơn cho UBND các tỉnh, thành phố trong tổ chức lồng ghép nguồn vốn, phù hợp với điều kiện và khả năng cân đối của từng địa phương. Đồng thời, đại biểu cũng chỉ ra mâu thuẫn cần được xử lý giữa nhu cầu đầu tư và khả năng hấp thụ vốn. Nhiều địa phương có năng lực hấp thụ vốn thấp lại chính là những địa bàn khó khăn và cần đầu tư nhiều nhất. Nếu chỉ dựa vào kết quả giải ngân để ưu tiên bổ sung vốn cho những nơi làm tốt, còn những nơi giải ngân chậm bị cắt giảm hoặc không được bổ sung nguồn lực, khoảng cách phát triển giữa các địa phương có thể tiếp tục gia tăng.

    Từ thực tế này, ĐBQH Lương Thị Hoa đề nghị có giải pháp hỗ trợ thiết thực cho những địa phương khó khăn nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, qua đó vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư, vừa bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả.

    ĐBQH Vũ Tiến Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    ĐBQH Vũ Tiến Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cũng cho rằng, mục tiêu của việc hợp nhất không chỉ là giảm đầu mối, thủ tục mà quan trọng hơn phải bảo đảm chính sách đến với người dân nhanh hơn, đúng đối tượng và tạo chuyển biến thực chất, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn.

    Đề cập cơ cấu nguồn lực, ĐBQH Vũ Tiến Dũng cho rằng không nên áp dụng một cách cơ học tỷ lệ 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên, bởi có thể dẫn tới thiếu nguồn lực cho những nhiệm vụ quan trọng như hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, giáo dục, y tế, văn hóa và các chính sách đặc thù. Việc phân bổ cần linh hoạt hơn, phù hợp với đặc điểm của từng nhóm nhiệm vụ và từng địa bàn.

    ĐBQH Bùi Văn Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    Góp ý vào Định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), đại biểu Bùi Văn Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cho rằng: việc hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công, không nên chỉ hiểu là nhập hai đạo luật, mà quan trọng hơn là “nối được quyết định chi tiền với trách nhiệm về hiệu quả của đồng tiền đó”.

    Đại biểu đề nghị Luật phân biệt rõ hơn giữa “kiểm soát chi” và “chịu trách nhiệm về chi”. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao tự chủ, theo đại biểu, nên chuyển mạnh hơn từ “kiểm soát từng khoản chi” sang “kiểm soát kết quả và trách nhiệm của người quyết định chi”.

    Đối với việc tăng thu và chuyển nguồn, đại biểu cho rằng: Dự thảo mở rộng quyền chủ động là đúng. Nhưng nếu dự toán thu thấp thì cuối năm dễ có “tăng thu”; chi chưa hết thì tiếp tục được chuyển nguồn, vô hình chung chúng ta có thể tạo ra động cơ dự toán an toàn và giải ngân chậm. Vì vậy, theo đại biểu, cần xác lập một nguyên tắc: Tiết kiệm thì phải được khuyến khích; chậm chi thì không thể được coi là tiết kiệm. Chuyển nguồn phải là ngoại lệ có điều kiện. Khoản chuyển nguồn kéo dài cần công khai theo từng đơn vị và phải trở thành một chỉ số đánh giá người đứng đầu. Bởi “kỷ luật ngân sách không chỉ là chi đúng, mà còn phải chi đúng lúc”.

    Từ trải nghiệm quản lý thực tế, đại biểu đề nghị Luật giải quyết rõ một quan hệ: “quyền quyết định đến đâu, trách nhiệm phải đến đó”. Nếu làm được điều này, chúng ta sẽ giảm được một tình trạng khá phổ biến trong quản lý ngân sách: nhiều người cùng kiểm soát một đồng tiền, nhưng chưa chắc đã có một người chịu trách nhiệm đến cùng về hiệu quả của đồng tiền ấy.

    Đối với Định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024; Định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023; Định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản, các đại biểu bày tỏ sự thống nhất cao về sự cần thiết sửa đổi các luật này; đồng thời đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát những quy định còn bất cập, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa các luật, tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai và phát triển thị trường bất động sản lành mạnh, bền vững.

    Góp ý vào Định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, đại biểu Phan Thị Thùy Linh, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa phát biểu 6 nhóm vấn đề, kèm theo kiến nghị sửa đổi cụ thể về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phân cấp thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai và một số vấn đề dân sinh cử tri kiến nghị nhiều.

    Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ đánh giá tác động đầy đủ, lấy ý kiến thực chất các đối tượng chịu sự tác động, đặc biệt là người có đất bị thu hồi và các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa; đồng thời bảo đảm tính ổn định tương đối của chính sách đất đai sau lần sửa đổi này, để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sản xuất lâu dài.

    ĐBQH Lê Thanh Hoàn, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Lâm Hiển

    Góp ý vào Định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023; Định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản, đại biểu Lê Thanh Hoàn, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa cho rằng: Nên nghiên cứu để được hợp nhất hai luật này, đồng thời phải quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi của người mua; bởi trên thực tế, phát sinh nhiều tình huống mà người mua không được bảo vệ. Qua phân tích những tình huống phát sinh từ thực tế, đại biểu đề nghị trong thời điểm này nên dừng cho phép mua bán, chuyển nhượng nhà ở hình thành trong tương lai để tránh việc đầu cơ.

    Các ý kiến phát biểu của Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa tập trung vào những vấn đề thực tiễn, hướng tới hoàn thiện chính sách theo hướng rõ trách nhiệm, tăng tính chủ động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của người dân.

    Cẩm Tú

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-quoc-hoi-tinh-thanh-hoa-gop-y-nhieu-noi-dung-quan-trong-vao-cac-du-thao-luat-c55866196.epi

  • Giải phóng nguồn lực đất đai nhưng không tạo ra khoảng trống pháp lý mới

    Các đại biểu thảo luận ở tổ chiều 19/8 (Ảnh VPQH)

    Thảo luận tại tổ về định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản chiều nay (19/8), các đại biểu tiếp cận từ nhiều góc độ nhưng cùng đặt ra bài toán lớn: làm thế nào giải phóng nguồn lực đất đai, giảm chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp nhưng không tạo ra những khoảng trống pháp lý mới.

    Với Luật Đất đai, các vấn đề trọng tâm trải rộng từ quy hoạch, giao và cho thuê đất, thu hồi, bồi thường, tái định cư đến giá đất, điều tiết giá trị tăng thêm, phân cấp và xây dựng cơ sở dữ liệu. Đối với Luật Nhà ở, trọng tâm là nhà cho thuê, nhà ở xã hội, cải tạo chung cư và huy động nguồn lực. Trong khi đó, Luật Kinh doanh bất động sản đặt ra yêu cầu kiểm soát điều kiện kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai, đặt cọc, thanh toán, bảo lãnh và công khai thông tin.

    Đất đai phải trở thành nguồn lực phát triển

    Một điểm đáng chú ý được các đại biểu đặt ra tại phiên thảo luận là yêu cầu chuyển từ cách tiếp cận nặng về quản lý hành chính sang quản trị và khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai.

    Các đại biểu cho rằng đất đai không chỉ là đối tượng quản lý mà là tài sản, nguồn lực đặc biệt của quốc gia. Vì vậy, việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng phải gắn với tiến độ dự án, nghĩa vụ tài chính và hiệu quả sử dụng thực tế; đồng thời phải theo dõi xuyên suốt từ quy hoạch, giao đất, khai thác đến thực hiện nghĩa vụ tài chính và đánh giá hiệu quả cuối cùng.

    Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu mới đối với giá đất. Giá đất vừa là căn cứ thực hiện nghĩa vụ tài chính, bồi thường, vừa tác động trực tiếp đến chi phí đầu tư và năng lực cạnh tranh. Do đó, các đại biểu đề nghị định giá dựa trên dữ liệu số tập trung, công khai, minh bạch; đồng thời điều tiết hợp lý phần địa tô tăng thêm do đầu tư hạ tầng và thay đổi quy hoạch tạo ra.

    Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) đồng tình với định hướng áp dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất, song lưu ý khi trao thẩm quyền lớn hơn cho địa phương phải kiểm soát nguy cơ thao túng giá. Đại biểu đề nghị Trung ương quy định tiêu chí khung, phương pháp chuẩn hóa và biên độ hệ số điều chỉnh; dữ liệu đầu vào và phương pháp xây dựng bảng giá cần được công khai để xã hội giám sát.

    Phân cấp cũng là vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm. Đại biểu Đinh Thị Phương Lan (Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) ủng hộ quy định trực tiếp trong luật thẩm quyền của cấp xã đối với những công việc đất đai liên quan cá nhân và cộng đồng dân cư, bởi đây là cấp gần dân, nắm tương đối rõ hiện trạng và lịch sử sử dụng đất.

    Tuy nhiên, đại biểu lưu ý không thể chỉ chuyển thẩm quyền “trên giấy” mà không chuyển đồng thời nguồn lực thực thi. Thực tế tại cơ sở cho thấy khối lượng hồ sơ lớn trong khi cán bộ địa chính còn thiếu, năng lực không đồng đều, hệ thống phần mềm và dữ liệu sau sắp xếp đơn vị hành chính chưa hoàn toàn tương thích. Vì vậy, phân quyền phải đi cùng nhân lực chuyên môn, cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và kinh phí.

    Khơi thông nguồn lực nhưng phải giữ quyền lợi người bị thu hồi đất

    Một yêu cầu xuyên suốt khác là giải phóng nguồn lực đất đai không thể đánh đổi bằng việc làm suy giảm quyền lợi chính đáng của người dân.

    Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai cho rằng, chính sách thu hồi đất cần chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống” cho người dân. Đại biểu đặc biệt lưu ý nguyên tắc bố trí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi thu hồi đất và đề nghị nếu có ngoại lệ thì phải xác định rõ phạm vi, điều kiện, đồng thời thiết lập cơ chế bảo đảm thay thế đủ mạnh.

    Theo đại biểu, với trường hợp không thể bố trí đất hoặc nhà tái định cư tại chỗ, phương án bồi thường cần tính cả sinh kế dài hạn, đào tạo chuyển đổi nghề và khả năng tiếp cận trường học, y tế, giao thông tại nơi ở mới. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là hoàn tất thủ tục giải phóng mặt bằng mà phải giúp người dân ổn định cuộc sống.

    Từ góc độ tài chính – ngân hàng, đại biểu Tô Huy Vũ (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) đặt ra một vấn đề khác: xử lý quyền của bên nhận thế chấp khi đất đang bảo đảm cho khoản vay bị Nhà nước thu hồi.

    Theo đại biểu, dự thảo quy định trình tự thu hồi đất nhưng chưa đưa bên nhận thế chấp vào quy trình. Trong trường hợp đất đang thế chấp bị thu hồi, nếu ngân hàng không được thông báo và quyền bảo đảm không được chuyển tiếp sang khoản bồi thường hoặc tài sản tái định cư, có thể đồng thời phát sinh rủi ro đối với người vay, tài sản bảo đảm và khả năng thu hồi nợ.

    Từ đó, đại biểu kiến nghị cơ quan có thẩm quyền trước khi thu hồi phải tra cứu đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo cho bên nhận bảo đảm; đồng thời thiết kế cơ chế chuyển tiếp quyền bảo đảm sang khoản bồi thường hoặc tài sản tái định cư mới theo thứ tự ưu tiên đã đăng ký.

    Đại biểu cũng đề nghị các quy định về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất cần thống nhất trên phạm vi cả nước. Nếu phân cấp đến mức mỗi địa phương có một quy trình, hồ sơ và thời hạn khác nhau sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng hoạt động trên nhiều địa bàn, đồng thời ảnh hưởng đến việc xác định thứ tự ưu tiên khi xử lý tài sản bảo đảm.

    Các đại biểu thảo luận ở tổ chiều 19/8 (Ảnh VPQH)

    Bảo vệ dòng tiền của người mua nhà

    Nếu Luật Đất đai đặt ra bài toán cân bằng giữa khai thác nguồn lực và bảo vệ quyền tài sản, thảo luận về Luật Kinh doanh bất động sản lại tập trung mạnh vào việc bảo vệ dòng tiền của khách hàng mua bất động sản hình thành trong tương lai.

    Một số đại biểu cho rằng, bản chất của việc bán bất động sản hình thành trong tương lai không chỉ là giao dịch mua bán tài sản mà còn là một phương thức huy động vốn của chủ đầu tư. Bởi vậy, quản lý không nên chỉ dừng ở điều kiện mở bán hay tỷ lệ thu tiền mà cần kiểm soát rủi ro dòng tiền trong quá trình triển khai dự án.

    Dự thảo đã đặt ra một số hàng rào như giới hạn tiền đặt cọc không quá 5%, kiểm soát thanh toán theo tiến độ và cơ chế bảo lãnh. Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng, nếu chỉ kiểm soát mức thu mà không kiểm soát cách sử dụng tiền sau khi chủ đầu tư nhận từ khách hàng thì vẫn tồn tại nguy cơ dòng tiền của dự án này được chuyển sang dự án khác.

    Một rủi ro khác là các khoản thu có bản chất đặt cọc nhưng mang những tên gọi khác như giữ chỗ, đăng ký nguyện vọng hoặc phí ưu tiên. Các đại biểu kiến nghị mọi khoản tiền có tính chất bảo đảm giao kết hợp đồng đều phải được coi là tiền đặt cọc và chịu chung giới hạn pháp luật; chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền do đại lý, đơn vị phân phối được ủy quyền thu.

    Đáng chú ý, đại biểu đề xuất tiền ứng trước của người mua được quản lý theo từng dự án, qua tài khoản riêng tại ngân hàng bảo lãnh và chỉ giải ngân phục vụ chính dự án theo tiến độ thực tế. Với bảo lãnh, nếu khách hàng lựa chọn thì cần có chứng thư cụ thể, thay vì chỉ dừng ở cam kết bảo lãnh chung cho dự án.

    Ở Luật Nhà ở, Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) cũng đề nghị kiểm soát chặt trường hợp bán nhà hình thành trong tương lai khi dự án đang thế chấp. Theo đại biểu, cần bảo đảm người mua được biết rõ tình trạng thế chấp của căn hộ và thiết lập cơ chế giải chấp tương ứng với tiến độ thanh toán, để rủi ro từ khoản vay của chủ đầu tư không chuyển sang người mua nhà.

    Các đại biểu thảo luận ở tổ chiều 19/8 (Ảnh VPQH)

    Chuyển trọng tâm từ “sở hữu nhà” sang “có chỗ ở”

    Một hướng tiếp cận đáng chú ý trong thảo luận Luật Nhà ở là phát triển thị trường nhà cho thuê, nhất là nhà ở xã hội cho thuê.

    Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm đánh giá việc dành riêng quy định cho nhà ở cho thuê thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “phải sở hữu nhà” sang bảo đảm người dân “có chỗ ở ổn định, phù hợp với khả năng chi trả”. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị không bắt buộc mọi địa phương đều phải thành lập Quỹ nhà ở mà nên căn cứ nhu cầu, tốc độ đô thị hóa, quỹ đất và khả năng cân đối nguồn lực.

    Đại biểu đồng thời đề nghị chuyển mạnh trọng tâm nhà ở xã hội từ hỗ trợ mua sang hỗ trợ thuê, nhất là tại các đô thị lớn, khu vực TOD (nghiên cứu phát triển đô thị – PV) và khu công nghiệp. Khi nguồn cung hữu hạn, chính sách cũng cần phân biệt giữa người “đủ điều kiện” và người “được ưu tiên”, dựa trên khó khăn thực tế về nhà ở và khả năng chi trả.

    Ở góc nhìn rộng hơn, PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội) cho rằng, khai thác nguồn lực đất đai không chỉ được đo bằng giá trị thương mại. Đất còn là không gian cho văn hóa, công viên, trường học, thiết chế cộng đồng và chất lượng sống. Vì vậy, khi đô thị hóa và giá trị thương mại của đất tăng lên, luật cần có cơ chế bảo vệ những quỹ đất phục vụ lợi ích cộng đồng.

    Trần Hương

    Nguồn https://baomoi.com/giai-phong-nguon-luc-dat-dai-nhung-khong-tao-ra-khoang-trong-phap-ly-moi-c55866269.epi

  • Đồng chí Lò Minh Hùng làm việc với xã Chiềng Mai và Chiềng Mung

    Tham gia Đoàn công tác có đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh; các đồng chí trong Thường trực, Ban Thường vụ Đảng ủy hai xã.

    Đồng chí Lò Minh Hùng làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Chiềng Mai và xã Chiềng Mung.

    Các đại biểu dự cuộc làm việc.

    Trong 7 tháng đầu năm 2026, Ban Thường vụ Đảng ủy hai xã Chiềng Mai và Chiềng Mung tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, đạt nhiều kết quả tích cực. Xã Chiềng Mai chăm sóc 3.790 ha cà phê; thu ngân sách trên địa bàn trên 31,3 tỷ đồng, đạt hơn 652% kế hoạch tỉnh giao. Xã Chiềng Mung duy trì 1.500 ha cà phê, đạt 122,45% kế hoạch và 1.395 ha cây ăn quả; thu ngân sách 32,695 tỷ đồng, đạt 115,71% kế hoạch; hoàn thành Đề án phân loại và được công nhận đơn vị hành chính loại I.

    Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Mai báo cáo tại cuộc làm việc.

    Công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị và sắp xếp tổ chức bộ máy tại hai xã được triển khai đúng quy định. Xã Chiềng Mai sắp xếp 10 cơ sở giáo dục còn 6; tổ chức lại 26 chi bộ thôn, bản và 10 chi bộ nhà trường thành 12 chi bộ thôn, bản và 6 chi bộ cơ sở giáo dục; đến ngày 30/7, kết nạp 22 đảng viên mới. Xã Chiềng Mung sắp xếp 42 thôn, bản còn 28, giảm 33,33%; sắp xếp 7 cơ sở giáo dục thành 3 trường; kết nạp 30 đảng viên mới, đạt 78,94% chỉ tiêu. 

    Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Mung báo cáo tại cuộc làm việc.

    Về chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, xã Chiềng Mai đã tích hợp 38.767 thửa đất vào hệ thống tập trung, trong đó 60,5% đạt tiêu chí “Đúng – Đủ – Sạch – Sống”. Xã Chiềng Mung đã đồng bộ, đối khớp 56.504/63.305 thửa đất, đạt 89,3%, đứng thứ 2 toàn tỉnh về tiến độ cập nhật dữ liệu. Hai xã cũng tích cực triển khai khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí theo Chỉ thị 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch của UBND tỉnh.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Đối với Dự án đường bộ cao tốc CT03 (Mộc Châu – Sơn La – Điện Biên), đoạn qua xã Chiềng Mai dài 10,1 km, qua 8 bản, ảnh hưởng 90 hộ dân; đoạn qua xã Chiềng Mung dài 6,1 km, dự kiến thu hồi trên 50 ha đất của 200 hộ dân. Xã Chiềng Mung đã rà soát các mỏ đất đắp, bãi thải để tích hợp vào Quy hoạch chung đến năm 2045.

    Tại Khu công nghiệp Mai Sơn, xã Chiềng Mung đã phối hợp giải phóng 11.786,5 m² mặt bằng, tiếp tục xử lý 131.754 m² còn lại. Đối với các dự án tồn đọng, xã đã bàn giao mặt bằng thi công 44,5 km tuyến ống thuộc Hệ thống thủy lợi Nà Sản; tập trung tháo gỡ vướng mắc Dự án Nhà máy cấp nước Chiềng Dong.

    Hai xã cũng rà soát, xây dựng phương án xử lý trụ sở, điểm trường dôi dư; ưu tiên chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu sử dụng, đồng thời thực hiện đấu giá, cho thuê theo quy định.

    Tại cuộc làm việc, xã Chiềng Mai đề nghị tỉnh xem xét bổ sung 1 Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách tài chính – kế hoạch; hướng dẫn kiện toàn chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã; bố trí vốn xây dựng các khu tái định cư phục vụ dự án cao tốc; bổ sung, kéo dài tuyến đường liên xã Chiềng Mai – Mai Sơn vào quy hoạch đường tỉnh 117.

    Xã Chiềng Mung đề nghị tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư 2 tuyến giao thông trọng điểm, gồm: tuyến kết nối cao tốc CT03 với Khu công nghiệp Mai Sơn và tuyến từ quốc lộ 279D, xã Mường Bú, đến Khu công nghiệp Mai Sơn, góp phần tăng cường kết nối giao thông, thu hút đầu tư.

    Đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy phát biểu tại cuộc làm việc.

    Phát biểu kết luận cuộc làm việc, đồng chí Lò Minh Hùng ghi nhận, biểu dương những kết quả cấp ủy, chính quyền hai xã Chiềng Mai, Chiềng Mung đạt được thời gian qua. Đồng chí đề nghị Ban Thường vụ Đảng ủy hai xã tiếp thu các ý kiến tại cuộc làm việc; tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả nghị quyết đại hội Đảng các cấp và kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La; tập trung hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2026. Đồng thời, duy trì thực hiện nghiêm quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ xã; triển khai đầy đủ 4 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam xã; rà soát, bố trí cán bộ, công chức theo vị trí việc làm, phát huy năng lực, sở trường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

    Các đồng chí lãnh đạo tỉnh tặng quà Ban Thường vụ Đảng ủy xã Chiềng Mai và xã Chiềng Mung.

    Đồng chí giao Ban Thường vụ Đảng ủy xã Chiềng Mai lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện triển khai Dự án tuyến cao tốc Mộc Châu – Sơn La – Điện Biên. Ban Thường vụ Đảng ủy xã Chiềng Mung phối hợp với Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh và các sở, ngành đẩy nhanh giải phóng mặt bằng diện tích còn lại của Khu công nghiệp Mai Sơn giai đoạn I và tuyến đường từ quốc lộ 6 đến Khu công nghiệp Mai Sơn; tăng cường thu hút đầu tư vào địa bàn. Giao Đảng ủy UBND tỉnh xem xét, giải quyết các kiến nghị của hai xã theo quy định, phù hợp với nguồn lực và điều kiện thực tế của tỉnh; Ban Tổ chức Tỉnh ủy khẩn trương hướng dẫn việc sử dụng, giao biên chế.

    Đoàn công tác khảo sát thực địa  khu vực dự kiến xây dựng nút giao kết nối tuyến cao tốc CT03 trên địa bàn xã Chiềng Mai.

    Trước đó, đồng chí Lò Minh Hùng cùng Đoàn công tác đã khảo sát thực địa khu vực dự kiến xây dựng nút giao kết nối tuyến cao tốc Mộc Châu – Sơn La – Điện Biên (CT03).

    Minh Thu

    Nguồn https://baomoi.com/dong-chi-lo-minh-hung-lam-viec-voi-xa-chieng-mai-va-chieng-mung-c55865469.epi

  • Tạo tổng xung lực chung trong đầu tư của Nhà nước

    Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Đăng Bình chủ trì phiên thảo luận tại Tổ 6

    Cần xác định rõ vai trò cơ quan điều phối

    Thảo luận tại Tổ 6, các đại biểu hoàn toàn nhất trí chủ trương hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay; cơ bản nhất trí các nội dung sửa đổi, bổ sung và các mục tiêu mà dự thảo Nghị quyết đặt ra, cũng như các vấn đề đã được chỉ ra trong báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc…

    ĐBQH Nguyễn Thị Thủy (Thái Nguyên) cho rằng: xu hướng tích hợp các chương trình có tính chất gần nhau về phạm vi, đối tượng cũng như địa bàn sẽ tạo tổng xung lực chung trong đầu tư của Nhà nước; góp phần giảm các khâu trung gian để tránh lãng phí, đồng thời giúp địa phương lồng ghép được các hoạt động chung.

    “Đây là cách làm rất đổi mới thay vì các chương trình độc lập, đơn lẻ trước đây, thể hiện tính quản trị quốc gia rất tốt…”, ĐBQH Nguyễn Thị Thủy nhấn mạnh.

    ĐBQH Nguyễn Thị Thủy (Thái Nguyên) phát biểu

    Đại biểu cũng tán thành 5 quan điểm được Chính phủ đề ra trong Tờ trình về việc tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, đó là: không tích hợp “cơ học”; tổ chức theo nhóm vấn đề và có cơ chế chuyển tiếp để không gián đoạn nhiệm vụ; thiết kế theo logic chính sách chung, chuẩn hóa theo mục tiêu, đối tượng, địa bàn, nguồn lực và sản phẩm đầu ra; giảm đầu mối, giảm văn bản và thủ tục trung gian, tập trung nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiệm vụ trực tiếp tạo kết quả; phân cấp mạnh theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, gắn với giám sát, đánh giá kết quả…

    Các đại biểu dự phiên thảo luận tổ

    Về đề xuất cụ thể, theo đại biểu Nguyễn Thị Thủy, cần xác định rõ vai trò của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (cơ quan đầu mối điều phối), Bộ Tài chính (điều phối tài chính) và các cơ quan phối hợp (liên quan tới giáo dục, y tế, văn hóa) để đảm bảo vận hành nhịp nhàng từ Trung ương đến địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể, kịp thời cho 34 địa phương về rà soát các chương trình mục tiêu quốc gia hiện có, đảm bảo triển khai kịp thời ngay sau khi việc tích hợp 4 chương trình được thông qua. Đại biểu đề nghị cần quán triệt quan điểm “giảm văn bản và thủ tục trung gian”, tích hợp nhiều nội dung vào một văn bản hướng dẫn để cán bộ cấp xã dễ tiếp cận và triển khai ngay.

    Từ những kinh nghiệm trực tiếp thực hiện chương trình ở giai đoạn trước, đại biểu Hà Sỹ Huân (Thái Nguyên) đánh giá việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia cùng với những đổi mới trong dự thảo nghị quyết sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cấp cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện thời gian tới.

    ĐBQH Hà Sỹ Huân (Thái Nguyên) phát biểu

    Để tiếp tục tạo thuận lợi trong quá trình triển khai, đại biểu kiến nghị Chính phủ cần tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục trong các nghị định hướng dẫn thi hành. Cụ thể, đối với các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản và giá trị không cao (như đường giao thông nông thôn, kênh mương, nhà văn hóa), cần có các cơ chế đặc thù để cộng đồng dân cư có thể trực tiếp tiếp cận và thực hiện.

    Đại biểu Hà Sỹ Huân cũng nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về cơ chế đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo đại biểu, Chính phủ nên xem xét ưu tiên các nội dung phòng chống và giảm thiểu thiên tai trong chương trình, bởi đây là những vấn đề hết sức cấp bách tại các địa phương. Cần có cơ chế cho phép chính quyền địa phương linh hoạt vận dụng nguồn lực của chương trình để di chuyển khẩn cấp các hộ dân nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở…

    Cần ban hành bộ tiêu chí và các văn bản hướng dẫn cụ thể ngay khi Nghị quyết được thông qua

    Quan tâm đến tính phù hợp và “sức sống” của Nghị quyết khi đi vào cuộc sống, ĐBQH Lê Hoàng Hải (TP. Đồng Nai) đã nêu lên thực trạng, dù Quốc hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035, nhưng theo báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chương trình này vẫn chưa được phân bổ nguồn lực để triển khai. Nguyên nhân chính là do thiếu cơ sở pháp lý, cụ thể là chưa ban hành quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện.

    ĐBQH Lê Hoàng Hải (TP. Đồng Nai) phát biểu thảo luận tại tổ

    “Thông thường, đối với các dự án hay chương trình, khó khăn lớn nhất là vốn hay năng lực thực thi. Nhưng đối với chương trình mục tiêu quốc gia, không phải chúng ta không có vốn. Năng lực thực thi cũng không phải điểm yếu. Mà vấn đề là thiếu nguyên tắc, tiêu chí và hướng dẫn thực thi”, đại biểu Lê Hoàng Hải phân tích.

    Do đó, đại biểu đề nghị ngay sau khi việc tích hợp 4 Chương trình mục tiêu quốc gia được Quốc hội phê duyệt, Chính phủ cần ban hành ngay các quy định về tiêu chí, phương pháp, thời gian thực hiện, đánh giá kết quả đầu ra; trách nhiệm cập nhật, chia sẻ dữ liệu và các cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó cần chỉ đạo các bộ ngành phối hợp ban hành bộ tiêu chí và các văn bản hướng dẫn để các địa phương có cơ sở đối chiếu và cân đối nguồn lực, tránh tình trạng Nghị quyết đã ban hành nhưng thực tế triển khai vẫn chậm…

    Các ĐBQH TP. Đồng Nai tham gia thảo luận tổ

    Đồng tình với ý kiến của các đại biểu về sự cần thiết tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, ĐBQH Điểu Huỳnh Sang (Đồng Nai) cho rằng: điều này sẽ tránh được tình trạng dàn trải, manh mún trong phân bổ nguồn vốn cũng như triển khai công việc.

    ĐBQH Điểu Huỳnh Sang (Đồng Nai) phát biểu

    Về chính sách đặc thù (Điều 11),đại biểu đề nghịBan soạn thảo quan tâm đến các địa bàn vừa mới thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn hoặc các xã sau khi sáp nhập. Bên cạnh đó, quan tâm nguồn lực đầu tư cho hệ thống thư viện điện tử, xuất bản phẩm điện tử.

    Đồng thời, cần đánh giá, phân loại lại các bảo tàng (ngoài các bảo tàng phục vụ nhiệm vụ chính trị). Theo đại biểu, bất cập hiện nay là việc phân hạng bảo tàng (loại 1, 2, 3) để cấp ngân sách gây ra nhiều khó khăn cho việc đầu tư hạ tầng, sưu tầm hiện vật.

    Toàn cảnh Tổ 6 gồm: Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Nguyên và TP. Đồng Nai tiến hành thảo luận tại tổ

    “Nếu Nghị quyết không chú trọng nguồn lực hạ tầng công nghệ số cho bảo tàng thì sẽ khó đáp ứng nhu cầu của Nhân dân và hội nhập quốc tế…”, ĐBQH Điểu Huỳnh Sang nêu quan điểm.

    Tin: Nguyễn Ánh; Ảnh: Khánh Duy

    Nguồn https://baomoi.com/tao-tong-xung-luc-chung-trong-dau-tu-cua-nha-nuoc-c55866494.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!