Author: bachdn

  • Tìm giải pháp tái tạo bãi tắm Hải Tiến sau khi chống xâm thực

    Vừa chống xâm thực vừa giữ bãi tắm

    Đợt mưa bão năm 2025 khiến tuyến kè và đường giao thông ven biển Hải Tiến bị hư hỏng nặng. Trước yêu cầu cấp bách bảo vệ người dân, du khách, cơ sở hạ tầng và tài sản của các nhà đầu tư, tỉnh Thanh Hóa triển khai Dự án Xử lý khẩn cấp kè biển khu du lịch Hải Tiến trên địa bàn hai xã Hoằng Tiến và Hoằng Thanh.

    Nhiều đoạn đê kè biển bị nứt vỡ từ sau các cơn bão năm 2025

    Dự án có tổng chiều dài 2,96 km, tổng mức đầu tư khoảng 430 tỷ đồng. Trong đó, đoạn qua Hoằng Tiến dài khoảng 2 km, tổng mức đầu tư 270 tỷ đồng; đoạn qua Hoằng Thanh dài khoảng 950 m, tổng mức đầu tư 160 tỷ đồng.

    Mục tiêu trước mắt của dự án là xử lý khẩn cấp các điểm sạt lở, bảo vệ tuyến bờ cao, hệ thống giao thông và hạ tầng phía trong. Đây được xác định là công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác phòng, chống thiên tai và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Dự án Xử lý khẩn cấp kè biển khu du lịch Hải Tiến có tổng chiều dài 2,96 km, tổng mức đầu tư khoảng 430 tỷ đồng

    Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng làm nảy sinh những băn khoăn từ các doanh nghiệp du lịch. Một số nhà đầu tư cho rằng việc sử dụng đất, đá tạo mái kè áp sát bờ có thể làm thu hẹp thêm diện tích bãi cát trong ngắn hạn, đồng thời cần đánh giá kỹ tác động đến dòng chảy, vận chuyển bùn cát và hệ sinh thái ven bờ.

    Theo các doanh nghiệp, nếu chỉ bảo vệ được tuyến bờ mà không khôi phục được bãi tắm thì mục tiêu phát triển du lịch Hải Tiến sẽ khó đạt được.

    Một số nhà đầu tư, kinh doanh du lịch tại Hải Tiến cho rằng việc sử dụng đất, đá tạo mái kè áp sát bờ có thể làm thu hẹp thêm diện tích bãi tắm

    Giải pháp bậc thang, giảm sóng để biển tự bồi

    Trước những kiến nghị về phương án kè biển, đơn vị tư vấn thiết kế cho biết quá trình nghiên cứu đã được thực hiện theo hướng không chỉ bảo vệ bờ mà còn tạo điều kiện để bãi biển có khả năng tự bồi.

    Ông Ngô Quang Đỉnh, Phó Giám đốc Công ty CP Tư vấn và Kỹ thuật hạ tầng giao thông CEOTIC, đơn vị tư vấn thiết kế, cho biết phương án được lựa chọn là cấu kiện bậc thang nhằm ổn định thủy lực, giảm tối đa lưu lượng sóng tràn, tạo cảnh quan và thuận lợi cho người dân, du khách tiếp cận biển.

    Đại diện đơn vị tư vấn thiết kế trình bày giải pháp chống xói lở và khôi phục bãi tắm Hải Tiến

    Theo phương án này, mái đê kè có độ dốc vừa phải, được bố trí các “chiếu nghỉ” nhằm giảm áp lực của sóng biển, nhất là trong mùa mưa bão hoặc thời điểm thủy triều dâng cao. Cách thiết kế này cũng được kỳ vọng hỗ trợ quá trình sóng đưa cát trở lại bờ, góp phần bảo đảm an toàn cho chân đê và tạo điều kiện để bãi biển tự phục hồi.

    Đơn vị tư vấn cho biết giải pháp cấu kiện bậc thang đã được kiểm chứng thực tế tại một số bãi biển ở Huế và Hội An. Việc lựa chọn phương án cho Hải Tiến được tính toán trên cơ sở đặc điểm thủy lực, hiện trạng xâm thực và yêu cầu bảo vệ hạ tầng phía sau tuyến bờ, tạo nền tảng cho việc nghiên cứu và triển khai giải pháp phục hồi bãi tắm trong giai đoạn tiếp theo.

    Mặt cắt ngang bờ kè theo giải pháp của đơn vị tư vấn

    Tuy nhiên, việc xây dựng kè không đồng nghĩa với việc bãi tắm sẽ tự động trở lại như trước. Đây cũng là vấn đề được đơn vị tư vấn đặc biệt lưu ý.

    Theo ông Ngô Quang Đỉnh, Hải Tiến hiện không có đủ nguồn cát tự nhiên để chỉ bằng các biện pháp kỹ thuật có thể nhanh chóng hình thành lại bãi tắm. Vì vậy, muốn tái tạo bãi biển phải tính đến phương án bổ sung một lượng lớn cát từ nguồn phù hợp bên ngoài.

    Ông Lê Xuân Hoàn, Chủ tịch UBND xã Hoằng Tiến, cho rằng trước mắt địa phương phải ưu tiên xử lý sự cố sạt lở, bảo đảm an toàn cho người dân, du khách, các tuyến giao thông và tài sản của doanh nghiệp. Đây là dự án được triển khai theo tính chất khẩn cấp nên trong điều kiện nguồn kinh phí có hạn, địa phương phải tập trung xử lý những hạng mục cấp thiết đã được phê duyệt.

    Chủ tịch UBND xã Hoằng Tiến Lê Xuân Hoàn đề nghị đơn vị tư vấn tiếp tục nghiên cứu kỹ các giải pháp tái tạo bãi tắm Hải Tiến, bảo đảm vừa chống xâm thực, vừa phục hồi nguồn tài nguyên du lịch cho địa phương.

    Tuy nhiên, theo ông Hoàn, việc xử lý kè biển không phải là đích cuối cùng. Địa phương đề nghị đơn vị tư vấn tiếp tục nghiên cứu kỹ các giải pháp tái tạo bãi tắm Hải Tiến, bảo đảm vừa chống xâm thực, vừa phục hồi nguồn tài nguyên du lịch quan trọng này. Mục tiêu đặt ra là đến năm 2030, Hải Tiến trở thành một trong 3 khu du lịch quốc gia của tỉnh Thanh Hóa.

    Đê ngầm, giảm sóng và “nuôi bãi”

    Các nhà đầu tư du lịch từng kiến nghị nghiên cứu phương án đê ngầm hoặc đê giảm sóng ngoài khơi kết hợp với “nuôi bãi”. Đây là hướng tiếp cận được áp dụng tại một số khu vực từng chịu xói lở nghiêm trọng, trong đó có Cửa Đại – Hội An.

    Với Hải Tiến, theo đơn vị tư vấn, có thể nghiên cứu xây dựng công trình kè ngầm ngoài biển ở khoảng cách phù hợp nhằm giảm năng lượng sóng trước khi sóng tiếp cận bờ. Khi áp lực sóng được kiểm soát, lượng cát bổ sung cho bãi sẽ có điều kiện ổn định hơn.

    Sau khi hoàn thành xử lý đê kè biển theo giải pháp thiết kế mới, chính quyền địa phương và các nhà đầu tư du lịch đề nghị đơn vị tư vấn tiếp tục nghiên cứu phương án xây dựng đê ngầm kết hợp “nuôi bãi” để khôi phục, tái tạo bãi tắm Hải Tiến

    Tuy nhiên, đê ngầm không phải là giải pháp tự tạo ra cát. Đây là điểm cần được tính toán kỹ để tránh kỳ vọng rằng chỉ cần xây dựng công trình đê ngầm là bãi tắm sẽ tự nhiên phục hồi.

    Muốn tái tạo bãi tắm, Hải Tiến cần một chương trình “nuôi bãi” thực sự, trong đó xác định nguồn cát phù hợp, khối lượng cần thiết, vị trí bổ sung, quy trình thi công và cơ chế theo dõi biến động bờ biển sau khi thực hiện.

    Đây cũng là lý do nhiều nhà đầu tư đề nghị tỉnh không dừng lại ở việc xử lý khẩn cấp kè biển mà cần sớm nghiên cứu giai đoạn 2, hướng tới khôi phục không gian bãi cát và tạo nền tảng phát triển du lịch lâu dài.

    Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Thanh Hóa Lê Xuân Thảo đề nghị tỉnh Thanh Hóa sớm quan tâm đầu tư nghiên cứu, khôi phục, tái tạo lại bãi tắm Hải Tiến. 

    Ông Lê Xuân Thảo, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Thanh Hóa, đánh giá cao ý tưởng của đơn vị tư vấn, đồng thời đề nghị tiếp tục nghiên cứu sâu đặc thù biển Hải Tiến để tìm ra phương án vừa chống xâm thực vừa tái tạo bãi tắm. Theo ông Thảo, lượng khách đến Hải Tiến trong mùa hè 2026 giảm khoảng 50% so với những năm trước. Do đó, nếu muốn phục hồi sức hút của điểm đến, việc xử lý kè biển phải đi cùng với kế hoạch tái tạo bãi tắm. Đây là yếu tố cốt lõi để duy trì sức cạnh tranh, công suất lưu trú và doanh thu của hệ thống dịch vụ du lịch.

    Hải Tiến được quy hoạch trở thành khu du lịch quốc gia vào năm 2030

    Tại hội nghị về tiến độ Dự án Xử lý khẩn cấp kè biển khu du lịch Hải Tiến ngày 20/8, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Cao Văn Cường yêu cầu chính quyền địa phương 2 xã: Hoằng Tiến và Hoằng Thanh xây dựng phương án phòng, chống thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ”; các nhà thầu phải tập trung nhân lực, máy móc, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng và an toàn trong quá trình thi công, nhất là trong mùa mưa bão. Ông Cường đề nghị đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu tiếp thu các ý kiến góp ý tại hội nghị; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện và giải trình đầy đủ các nội dung liên quan nhằm hoàn thiện hồ sơ thiết kế xây dựng, tạo cơ sở để dự án được triển khai hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách về bảo vệ bờ biển, bảo đảm an toàn dân sinh và thúc đẩy phát triển du lịch Hải Tiến trong thời gian tới.

    Quang Duy

    Nguồn https://baomoi.com/tim-giai-phap-tai-tao-bai-tam-hai-tien-sau-khi-chong-xam-thuc-c55876859.epi

  • TP Hồ Chí Minh: Ba lô ‘đất vàng’ ở Thủ Thiêm dự kiến đấu giá hơn 7.600 tỷ đồng

    Công trình Trung tâm Hành chính mới TP Hồ Chí Minh ở khu đô thị Thủ Thiêm đang trong quá trình xây dựng.

    UBND TP Hồ Chí Minh vừa phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất đối với 3 lô 1.K3.1.OD, 1.K3.3.HH và 1.K1.5.DV tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm với tổng giá trị là 7.664 tỷ đồng.

    Đầu tiên là lô đất 1.K3.1.OD (trước đây là lô 3 – 8) có diện tích khoảng 8.600m². Đây là đất nhóm nhà ở quy hoạch, với tầng cao tối đa 10 tầng, chiều cao tối đa 40m và hệ số sử dụng đất tối đa 2,92 lần. Quy mô dân số tối đa tại khu đất này khoảng 1.067 người. Giá khởi điểm dự kiến của lô đất 1.K3.1.OD khoảng 1.263 tỷ đồng.

    Tiếp đến là lô đất 1.K3.3.HH (trước đây là lô 3 – 9) có diện tích khoảng 5.000m², được quy hoạch là đất hỗn hợp nhóm nhà ở và dịch vụ. Lô đất này được xây dựng tối đa 10 tầng, chiều cao không quá 40m, hệ số sử dụng đất tối đa là 3,99 lần. Trong đó, chức năng để ở là 3,79 lần và chức năng dịch vụ 0,2 lần. Tỷ lệ sàn xây dựng gồm 95% chức năng để ở và 5% chức năng kinh doanh dịch vụ. Quy mô dân số tối đa khoảng 811 người, giá khởi điểm dự kiến khoảng 738 tỷ đồng.

    Cuối cùng là lô đất 1.K1.5.DV (trước đây là lô 1-12) có diện tích 31.995,9m2. Theo quy hoạch, đây là đất dịch vụ cấp đô thị, được phép xây dựng tối đa 20 tầng, chiều cao không quá 80m, hệ số sử dụng đất tối đa 7,8 lần. Dự kiến, lô đất này có giá khởi điểm khoảng 5.663 tỷ đồng. Theo phương án được phê duyệt, cả ba lô đất dự kiến được tổ chức đấu giá trong tháng 9.

    Trước đó, UBND TP Hồ Chí Minh cũng đã phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất đối với 2 lô đất khác tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm gồm 1.K3.5.HH (trước đây là lô 3-12), diện tích 10.059 m2, giá khởi điểm khoảng 2.967 tỷ đồng và 1.K3.4.HH (trước đây là lô 3-5) rộng 6.446 m2, giá khởi điểm hơn 1.901 tỷ đồng.

    Lũy kế đến nay, UBND TP Hồ Chí Minh đã phê duyệt phương án đấu giá 5 lô đất tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm với tổng giá trị hơn 12.500 tỷ đồng.

    Tin, ảnh: An Hiếu/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-ba-lo-dat-vang-o-thu-thiem-du-kien-dau-gia-hon-7-600-ty-dong-c55876816.epi

  • Gia Lai bổ sung 11 cảng cá, điểm lên cá tạm thời

    Quyết định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khai thác, thu mua, xác nhận nguồn gốc thủy sản, đồng thời phục vụ công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

    Theo quyết định, có 11 cảng cá, điểm lên cá tạm thời được bổ sung. Trong đó, các cảng cá gồm: Cảng cá Cù Lao Xanh (xã Nhơn Châu); Cảng cá Nhơn Hải (phường Quy Nhơn Đông); Cảng cá Vĩnh Lợi (xã An Lương) và Cảng cá Hoài Hương (phường Hoài Nhơn Đông). Các cảng cá này đã được quy hoạch theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 3-7-2024 của Thủ tướng Chính phủ.

    Việc bổ sung các cảng cá, điểm lên cá tạm thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xác nhận nguồn gốc thủy sản, phục vụ công tác chống khai thác IUU. Ảnh: PHAN TUẤN

    Bên cạnh đó, tỉnh bổ sung 7 điểm lên cá tạm thời gồm: Bãi Xép (phường Quy Nhơn Nam); Khe Đá (phường Quy Nhơn Đông); khu vực Phước Thuận và Phước Sơn (xã Tuy Phước, Tuy Phước Đông); Trung Lương, Cát Tiến (xã Cát Tiến); khu vực Xuân Thạnh và An Tịnh (phường Phù Mỹ Đông).

    UBND tỉnh giao UBND các xã, phường liên quan ban hành quyết định tạm thời, công bố cảng cá hoặc điểm lên cá theo quy định. Riêng Cảng cá Hoài Hương bao gồm cả khu vực Hoài Hương, Hoài Hải và Hoài Mỹ.

    Việc bổ sung các cảng cá, điểm lên cá tạm thời nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của ngư dân, tạo điều kiện để tàu cá cập cảng, lên cá đúng quy định; qua đó hỗ trợ kiểm soát sản lượng, nguồn gốc thủy sản và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định chống khai thác IUU trên địa bàn tỉnh.

    UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện theo quy định. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký 19-8-2026.

    NGỌC TÚ

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lai-bo-sung-11-cang-ca-diem-len-ca-tam-thoi-c55876773.epi

  • Đất lấn biển phải thuộc sở hữu của Nhà nước

    Chiều 20/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự thảo Luật Phát triển đô thị.

    Chỉ áp dụng với dự án có vốn đầu tư từ 100.000 tỷ đồng trở lên

    Theo tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày, việc xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thể chế hóa các chủ trương về xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển và khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tại phiên họp. Ảnh: Quochoi.vn

    Việc lấn biển, tạo đảo nhân tạo là phương thức được nhiều quốc gia áp dụng để mở rộng không gian phát triển, với các dự án có quy mô đặc biệt lớn, thời gian thực hiện kéo dài và được điều chỉnh bằng khuôn khổ pháp lý riêng.

    Việt Nam hiện có hơn 3.260 km bờ biển, nhưng quỹ đất ven biển tại các đô thị lớn ngày càng hạn hẹp. Khu đô thị lấn biển vừa tạo quỹ đất mới, vừa tạo cực tăng trưởng, thu hút nhà đầu tư chiến lược, vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số cho các vùng và cả nước.

    Qua rà soát, Chính phủ nhận thấy trước mắt có ba đặc thù cần xử lý, gồm quy hoạch khu vực biển chưa tồn tại trên đất liền; quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài; khối lượng vật liệu san lấp rất lớn, tương tự các dự án quan trọng quốc gia. Do đó, cơ chế đề xuất chỉ điều chỉnh những vấn đề đặc thù của việc hình thành khu đô thị trên đất lấn biển, không điều chỉnh các hoạt động lấn biển nói chung.

    Theo đó, Chính phủ đề xuất bổ sung vào Chương IV về cơ chế, chính sách phát triển khu đô thị lấn biển của dự án Luật Phát triển đô thị 3 điều.

    Về nguyên tắc, cơ chế chỉ áp dụng đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ 100.000 tỷ đồng trở lên; dự án dưới ngưỡng này thực hiện theo pháp luật đất đai. Dự án phải phù hợp với quy hoạch, bảo đảm hiện đại, xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên biển.

    Toàn bộ nội dung về quản lý, sử dụng khu vực biển, giao đất, cho thuê đất, giá đất, nghĩa vụ tài chính, đăng ký đất đai và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất được dẫn chiếu sang Luật Đất đai, “bảo đảm không hình thành hai chế độ pháp lý để điều chỉnh cùng một mặt đất”.

    Đối với nhà đầu tư chiến lược, dự thảo quy định mức vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng 15% tổng mức đầu tư đối với dự án từ 100.000 đến 200.000 tỷ đồng và tối thiểu 10% đối với dự án trên 200.000 tỷ đồng. Thời gian hoạt động của dự án không quá 70 năm. Nhà đầu tư chiến lược được chuyển nhượng một phần dự án nhưng không quá 50% diện tích đã xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật; điều kiện cụ thể do HĐND cấp tỉnh quy định.

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại phiên họp. Ảnh: Quochoi.vn

    Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng việc tích hợp nội dung về khu đô thị lấn biển vào dự thảo Luật Phát triển đô thị là hợp lý và cần thiết kế để phù hợp với việc thực hiện ở các đô thị.

    Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ phải xác lập quyền sở hữu của Nhà nước với loại đất này, “mọi vùng đất mới hình thành từ biển mặc nhiên thuộc sở hữu tối cao của Nhà nước, không thuộc về bất cứ cá nhân hay doanh nghiệp nào”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

    Theo Chủ tịch Quốc hội, mặc dù lấn biển nhưng vẫn phải chấp hành Luật Quy hoạch; đồng thời phải tính toán cơ chế giao dịch, sở hữu đất sau lấn biển, các ràng buộc pháp lý về môi trường và an toàn hàng hải.

    Việc đánh giá tác động môi trường cũng phải được thực hiện bắt buộc, bởi hoạt động lấn biển có thể ảnh hưởng đến dòng chảy, giao thương và đi lại. Đồng thời, việc lấn biển phải được quản lý chặt chẽ, “không để tư nhân làm lũng đoạn”.

    Đối với ngưỡng đầu tư 100.000 tỷ đồng, Chủ tịch Quốc hội cho rằng không nên đưa vào Luật mà nên giao Chính phủ quy định phù hợp thực tế để có thể điều chỉnh khi giá cả thay đổi.

    Không hình thành hai chế độ pháp lý điều chỉnh cùng một mặt đất

    Phát biểu giải trình, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết các cơ quan của Chính phủ đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Pháp luật và dự kiến tiếp thu theo hướng không thiết kế một chương riêng, mà sửa thành một điều trong Chương II, với tên gọi “Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị lấn biển”, gồm 4 khoản.

    Khoản 1 quy định các nguyên tắc đối với dự án. Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch; bảo đảm an ninh, quốc phòng, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở hoạt động hàng hải.

    Dự án phải được quyết định trên cơ sở đánh giá đầy đủ điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động tới khu vực ven biển, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; bảo đảm hiện đại, xanh, thông minh, kết nối đồng bộ hạ tầng với đất liền, bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân. Việc thực hiện được phân chia theo từng giai đoạn, gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư.

    Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tham dự phiên họp. Ảnh: Quochoi.vn

    Tại Khoản 2 quy định về đất đai. Toàn bộ nội dung về quản lý, sử dụng khu vực biển, giao đất, cho thuê đất, giá đất, nghĩa vụ tài chính, đăng ký đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được dẫn chiếu thực hiện theo pháp luật đất đai.

    “Không hình thành hai chế độ pháp lý để điều chỉnh cùng một loại đất; vấn đề đặc thù đối với đất hình thành từ lấn biển được xử lý đồng bộ với dự án Luật Đất đai theo đúng tinh thần của Nghị quyết 21”, Bộ trưởng giải trình.

    Khoản 3 quy định về nhà đầu tư chiến lược. Tiếp thu ý kiến của Chủ tịch Quốc hội, cơ quan soạn thảo sẽ nghiên cứu điều chỉnh quy định về quy mô vốn, bảo đảm phù hợp với biến động của thị trường.

    Khoản 4 quy định về quy hoạch và khoáng sản. UBND quyết định các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật, chỉ tiêu sử dụng đất khi chưa có quy định hoặc yêu cầu cao hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

    Dự án được áp dụng cơ chế khai thác khoáng sản như đối với dự án trọng điểm quốc gia; khai thác cát biển phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc giao khu vực biển trong vùng lãnh hải do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến của các bộ, ngành và bảo đảm đúng thẩm quyền.

    Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành sự cần thiết có cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị lấn biển; thống nhất trình Quốc hội xem xét nội dung này cùng dự thảo Luật Phát triển đô thị ngay trong Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất.

    Hoàng Yến

    Nguồn https://baomoi.com/dat-lan-bien-phai-thuoc-so-huu-cua-nha-nuoc-c55876899.epi

  • Xóa bỏ khoảng trống chính sách để nguồn lực tích hợp thực sự đến với cấp cơ sở

    Sáng 20-8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã tiến hành thảo luận ở hội trường về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia nhằm hướng đến mục tiêu giải quyết tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực trong thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Ngay sau phiên thảo luận, đồng chí Chamaléa Thị Thủy – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa đã trả lời phỏng vấn Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa về việc tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia.

    – Thưa đồng chí, đề xuất tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình tổng thể đang nhận được sự quan tâm rất lớn của cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng chí đánh giá như thế nào về đề xuất này?

    – Tôi cơ bản tán thành với nội dung tờ trình của Chính phủ và thống nhất cao với báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Tôi cho rằng, việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình tổng thể là bước đi hết sức cần thiết và hoàn toàn phù hợp với thực tiễn. Nhiều năm qua, cử tri, nhất là cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã phản ánh rất nhiều về tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực giữa các chương trình riêng lẻ. Việc tích hợp này chính là câu trả lời kịp thời cho những trăn trở, kiến nghị kéo dài của người dân.

    Đồng chí Chamaléa Thị Thủy phát biểu thảo luận tại hội trường. 

    – Phát biểu thảo luận về vấn đề này tại nghị trường, đại biểu đã đặc biệt nhấn mạnh về “khoảng trống chính sách” liên quan đến nguyên tắc phân bổ ngân sách Trung ương. Xin đồng chí chia sẻ thêm về vấn đề này?

    – Tại khoản 6 Điều 1 của dự thảo, chúng ta thiết kế 3 lớp nguyên tắc bổ trợ khá chặt chẽ: Điểm a xác định ưu tiên phân bổ mức cao nhất cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo (ưu tiên đến cấp xã, thôn chứ không phải cấp tỉnh); điểm d quy định tiêu chí phân bổ gắn với mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn. Tuy nhiên, điểm c lại quy định ngân sách Trung ương ưu tiên các địa phương nhận bổ sung cân đối từ 70% trở lên so với tổng chi cân đối địa phương; còn các địa phương tự cân đối ngân sách phải tự lo nguồn lực thực hiện. Ngưỡng 70% này thông thường được tính theo báo cáo cân đối ngân sách cấp tỉnh.

    Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay (khi không còn cấp huyện làm tầng trung gian), khoảng chưa đồng bộ này rất đáng lo ngại. Nếu không làm rõ “địa bàn” tại điểm d, cơ quan soạn thảo khi xây dựng Nghị định có thể lựa chọn cách hiểu theo nghĩa hẹp là cấp tỉnh. Khi đó, các xã đặc biệt khó khăn nằm trong một tỉnh có khả năng tự cân đối ngân sách tốt sẽ bị “hòa lẫn” vào bức tranh chung của tỉnh và không được thụ hưởng đúng mức ưu tiên.

    Vì vậy, tôi đề nghị ban soạn thảo cần bổ sung, làm rõ ngay tại điểm d khoản 6 Điều 1 cụm từ “mức độ thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn, trong đó địa bàn được xác định đến cấp xã, phường, đặc khu”. Việc cụ thể hóa này giúp Chính phủ có căn cứ pháp lý rõ ràng khi quy định chi tiết tại Nghị định, đồng thời thống nhất với tinh thần theo dõi, báo cáo riêng kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở cấp xã được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2.

    – Khánh Hòa là địa bàn có cả vùng hải đảo, biên giới trên biển và đơn vị hành chính đặc thù. Từ góc nhìn của địa phương, đồng chí nhận thấy cơ chế chăm sóc sức khỏe cho người dân ở những nơi này cần được hoàn thiện như thế nào?

    – Tôi đánh giá rất cao việc dự thảo xác định “biên giới, hải đảo” là địa bàn ưu tiên xuyên suốt. Tuy nhiên, tại điểm d khoản 7 Điều 1 về nhiệm vụ trọng tâm chăm sóc sức khỏe, nội dung hiện tại mới chỉ tập trung vào “đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo bác sĩ chuyên khoa” một cách chung chung.

    Điều này chưa thể hiện được tính đặc thù của mô hình quân dân y kết hợp tại các xã đặc khu, nơi người dân sinh sống xen kẽ với lực lượng vũ trang và có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hoàn toàn khác biệt so với đất liền. Do đó, tôi đề nghị bổ sung cụm từ thể hiện rõ ưu tiên cho mô hình quân dân y kết hợp ngay tại điểm d khoản 7 Điều 1 để Chính phủ có căn cứ pháp lý riêng khi quy định chi tiết, không phải áp dụng theo cơ chế chung của địa bàn đất liền.

    – Bên cạnh y tế và kinh tế, việc bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số tại chỗ cũng là nội dung đồng chí dành nhiều quan tâm khi thảo luận. Đồng chí có đề xuất như thế nào để công tác này thực sự đi vào chiều sâu và phát huy vai trò chủ thể của người dân?

    – Về văn hóa, dự thảo đặt mục tiêu tu bổ 95% di tích quốc gia đặc biệt đến năm 2030 và 100% đến năm 2035. Tôi đề nghị Chính phủ khi ban hành danh mục chi tiết cần quan tâm bố trí đúng mức cho di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở từng vùng, miền, bao gồm cả những di sản có quy mô nhỏ, phân tán, không chỉ tập trung vào các di tích quy mô lớn.

    Về phân cấp, dự thảo đang quy định HĐND cấp tỉnh “quyết định hoặc phân cấp” cho HĐND cấp xã quyết định phân bổ chi tiết. Với các nội dung mang tính đặc thù cộng đồng cao như lập danh sách nghệ nhân, người thực hành di sản văn hóa phi vật thể, tôi đề xuất cần quy định trách nhiệm tham gia đề xuất của cấp xã là bắt buộc, không nên để ở dạng tùy nghi. Trong mô hình 2 cấp, chính quyền xã là cấp nắm rõ nhất, kịp thời nhất ai thực sự là nghệ nhân, ai đang thực hành di sản tại cộng đồng. Quy định bắt buộc này cũng hoàn toàn phù hợp với định hướng phân cấp cho cấp xã nhằm phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng.

    – Một vấn đề thực tế khác là tỷ lệ đối ứng ngân sách địa phương, theo đồng chí quy định hiện tại trong dự thảo có điểm nào cần điều chỉnh linh hoạt hơn để tránh gây áp lực lên cấp cơ sở?

    – Việc dự thảo phân chia tỷ lệ đối ứng chi tiết theo 5 bậc là điểm rất đáng ghi nhận, thể hiện sự cầu thị và sát thực tiễn của Chính phủ. Tuy nhiên, tỷ lệ đối ứng này vẫn đang được xác định hoàn toàn dựa trên khả năng cân đối ngân sách của cấp tỉnh.

    Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, một số tỉnh tuy có khả năng tự cân đối ngân sách chung khá tốt, nhưng các xã khó khăn trong tỉnh vẫn được xác định là đối tượng ưu tiên thụ hưởng. Nếu áp mức đối ứng của nhóm tỉnh tự cân đối chung lên các xã này, mức đối ứng sẽ vượt quá khả năng thực tế của chính quyền cấp xã – nơi trực tiếp triển khai dự án nhưng nguồn thu tại chỗ còn rất hạn chế. Do đó, tôi đề nghị bổ sung quy định cho phép HĐND cấp tỉnh linh hoạt phân bổ tỷ lệ đối ứng khác nhau giữa các xã trong nội bộ tỉnh, thay vì áp dụng một tỷ lệ đối ứng thống nhất cho toàn tỉnh.

    – Trân trọng cảm ơn đồng chí!

    THÚY SƯƠNG (Thực hiện)

    Nguồn https://baomoi.com/xoa-bo-khoang-trong-chinh-sach-de-nguon-luc-tich-hop-thuc-su-den-voi-cap-co-so-c55876889.epi

  • Phát hiện nhiều sai phạm trong quản lý rừng tại Phú Quốc

    Thanh tra tỉnh An Giang chỉ ra nhiều sai phạm trong quản lý đất rừng tại Phú Quốc – Ảnh Hoàng Tuấn

    Ngày 20/8, Thanh tra tỉnh An Giang cho biết, đơn vị vừa có kết luận thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý diện tích đất rừng thực hiện 4 dự án trên địa bàn đặc khu Phú Quốc.

    BQL rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia Phú Quốc quản lý không chặt chẽ dẫn đến tình trạng 315 trường hợp chiếm 260ha đất rừng – Ảnh Hoàng Tuấn

    Theo đó, Thanh tra tỉnh An Giang đã tiến hành thanh tra 4 dự án gồm: Khu tái định cư Hàm Ninh; Khu tái định cư Cửa Cạn; Hồ nước Cửa Cạn và Nhà máy nước hồ Cửa Cạn; Khu xử lý rác Bãi Bổn – Hàm Ninh.

    Kết luận thanh tra chỉ rõ, giai đoạn 2019-2024, Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia Phú Quốc (Vườn Quốc gia) không tổ chức kiểm kê rừng theo quy định. Từ năm 2017-4/2026, BQL rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia không tổ chức rà soát, phân loại đối tượng khoán, nội dung giao khoán thực hiện khoán đất rừng phòng hộ.

    Trong đó, có 16 hợp đồng ký chuyển tiếp chưa đúng quy định; lập hồ sơ thanh lý không đúng quy định đối với 6 hợp đồng giao khoán dẫn đến phải hỗ trợ về cây trồng, vật kiến trúc với số tiền hơn 817 triệu đồng. Một hợp đồng không xác định được vị trí đất giao khoán trên thực địa…

    Đáng chú ý, BQL rừng phòng hộ Phú Quốc, Vườn Quốc gia quản lý không chặt chẽ đất rừng phòng hộ dẫn đến có 315 hộ gia đình, cá nhân vào chiếm diện tích hơn 260 ha đất rừng phòng hộ, trong đó có 68 trường hợp xây dựng nhà ở, nhà tiền chế… trên diện tích đất rừng phòng hộ.

    Vườn Quốc gia Phú Quốc quản lý đất rừng không chặt chẽ

    BQL rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia quản lý không chặt chẽ diện tích đất rừng; giao khoán, quản lý đất rừng giao khoán; không kiểm tra, rà soát kỹ, kịp thời hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân nằm trong diện tích được giao và cấp GCN, dẫn đến hiện nay gặp nhiều khó khăn trong xác định trách nhiệm quản lý cũng như việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong phạm vi đất rừng được giao quản lý.

    Ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của một bộ phận đội ngũ công chức, viên chức của BQL rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia chưa cao, thậm chí từng lúc, từng nơi còn buông lỏng quản lý nên dẫn đến các hạn chế, khuyết điểm sai phạm như đã nêu trên.

    Thanh tra cũng chỉ ra rằng, để xảy ra những sai phạm phạm này trách nhiệm thuộc về Ban Giám đốc BQL rừng phòng hộ Phú Quốc giai đoạn 2017-2019, chịu trách nhiệm trong việc quản lý không chặt chẽ đất rừng phòng hộ được giao, không tổ chức rà soát, phân loại đối tượng khoán, nội dung giao khoán, không thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của bên giao khoán để xảy ra hạn chế, vi phạm như kết luận đã nêu.

    Ban Giám đốc Vườn Quốc gia giai đoạn 2020-4/2026, chịu trách nhiệm trong việc không tổ chức kiểm kê rừng, quản lý không chặt chẽ đất rừng phòng hộ, không tổ chức rà soát, phân loại đối tượng khoán, nội dung khoán, không thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của bên giao khoán và lập hồ sơ thanh lý không đúng quy định đối với 6 hợp đồng.

    Ngoài ra, thanh tra cũng chỉ rõ trách nhiệm còn thuộc về Giám đốc, các Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Quốc giai đoạn 2017-2019; Giám đốc, Phó Giám đốc (phụ trách giúp Giám đốc trong lĩnh vực Quản lý bảo vệ và phát triển rừng) Vườn Quốc gia giai đoạn 2020-4/2026; Phó Giám đốc Sở TNMT (giai đoạn năm 2013; Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng Quản lý bảo vệ và phát triển rừng thuộc Vườn Quốc gia giai đoạn 7/2020-4/2026.

    Đồng thời, kiến nghị UBND tỉnh An Giang yêu cầu Vườn Quốc gia chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, vi phạm kết luận đã nêu; Kiểm tra và chịu trách nhiệm về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với 6 hộ gia đình, cá nhân và xử lý theo quy định của pháp luật; Kiểm tra, rà soát các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất rừng trên diện tích đất được giao và cấp GCN kịp thời xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ rừng, phối hợp với cơ quan chức năng xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về đất rừng.

    Kiểm điểm trách nhiệm đối với Giám đốc, các Phó Giám đốc BQL rừng phòng hộ Phú Quốc giai đoạn từ 2017-2019; Giám đốc, Phó Giám đốc (phụ trách giúp Giám đốc trong lĩnh vực Quản lý bảo vệ và phát triển rừng) Vườn Quốc gia (giai đoạn 2020-4/2026) về trách nhiệm trong việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, để xảy ra vi phạm….

    Yêu cầu UBND đặc khu Phú Quốc thu hồi, nộp ngân sách theo quy định từ Vườn Quốc gia Phú Quốc số tiền hơn 817 triệu đồng đã lập phương án hỗ trợ về cây trồng, vật kiến trúc đối với 6 cá nhân nhận giao khoán tại Dự án Khu tái định cư Hàm Ninh.

    Hoàng Tuấn

    Nguồn https://baomoi.com/phat-hien-nhieu-sai-pham-trong-quan-ly-rung-tai-phu-quoc-c55876853.epi

  • Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường: Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế xã biên giới Thường Phước

     Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Ngô Chí Cường khảo sát Dự án thi công Trường Phổ thông Nội trú TH-THCS Thường Phước (xã Thường Phước).

    Tại xã Thường Phước, Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường đến khảo sát tiến độ triển khai Dự án Trường Phổ thông Nội trú TH-THCS Thường Phước. Theo báo cáo của nhà thầu thi công, công trình xây dựng theo hướng trường đạt chuẩn mức độ 2, phục vụ khoảng 2.040 học sinh/50 lớp, với tổng mức đầu tư hơn 273 tỷ đồng. Đến nay, dự án đã giải ngân hơn 77 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 67,48%; tiến độ thi công đạt 11,5%. 

    Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo đúng kế hoạch đề ra; đồng thời, chú trọng đảm bảo an toàn xây dựng, chất lượng công trình…

    Với công trình Cụm dân cư Thường Phước (xã Thường Phước), đơn vị thi công đang triển khai theo kế hoạch hoàn thành trong năm 2026. Cùng với đó, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh đã chủ động phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất và UBND xã Thường Phước tiến hành thực hiện chính sách tạm cư của các hộ dân thuộc diện bố trí tái định cư tại chỗ theo Quyết định 85 ngày 29-7-2026 của UBND tỉnh ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. 

    Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh sẽ hoàn thành bàn giao mặt bằng cho Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh tiếp tục triển khai thi công phần đang còn vướng mặt bằng sớm nhất. 

    Tại đây, Bí thư Tỉnh ủy đánh giá cao quy mô dự án; đồng thời yêu cầu đơn vị thi công đảm bảo triển khai nhanh các hạng mục xây dựng về phần nền, mặt đường giao thông nội bộ; chú trọng chất lượng công trình nhằm đảm bảo khai thác hiệu quả theo đúng mục tiêu đề ra.

    Đoàn công tác Tỉnh ủy khảo sát tại Cửa khẩu Quốc tế Thường Phước, cột mốc quốc gia, khu vực xây dựng quốc môn, khu kinh tế cửa khẩu mở rộng.

    Đến khảo sát tại Cửa khẩu Quốc tế Thường Phước, cột mốc quốc gia, khu vực xây dựng quốc môn, khu kinh tế cửa khẩu mở rộng, Bí thư Tỉnh ủy đánh giá đây là công trình quan trọng nên yêu cầu đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ dự án, hoàn thiện đúng kế hoạch.

    Đoàn công tác Tỉnh ủy chụp ảnh lưu niệm tại Cửa khẩu Quốc tế Thường Phước, cột mốc quốc gia.

    Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Ngô Chí Cường thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ thuộc Cửa khẩu Quốc tế Thường Phước.

    Khảo sát Dự án khắc phục khẩn cấp sạt lở sông Tiền, xã Thường Phước, có tổng chiều dài kè hơn 1.100 m, tổng mức đầu tư khoảng 246 tỷ đồng, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu đơn vị thi công phải tập trung xây dựng công trình theo hướng đảm bảo chất lượng, sớm đưa vào hoạt động. 

    Khi công trình hoàn thành, sở, ngành tỉnh và địa phương cần chú trọng việc bảo quản tốt công trình theo hướng bền vững, đảm bảo an toàn đi lại cho Nhân dân địa phương và vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

    Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường, cùng các thành viên Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo Công ty CP Nova Thabico.

    Tại Công ty CP Nova Thabico, đại diện đơn vị báo cáo với Đoàn công tác, đã đầu tư Nhà máy chế biến trái cây tại xã Thường Phước, tổng vốn đăng ký khoảng 500 tỷ đồng; giai đoạn 1 đã đi vào hoạt động từ năm 2024. 

    Nhà máy có công suất 40.000 tấn/năm. 6 tháng đầu năm 2026, nhà máy sản xuất 19.800 tấn, doanh thu 152,6 tỷ đồng, kế hoạch cả năm 300 tỷ đồng. 

    Nhà máy sử dụng khoảng 80% nguyên liệu trong nước, chủ yếu từ Đồng Tháp và An Giang. Trên 90% sản phẩm của nhà máy xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và châu Âu. Năm 2026, Công ty dự kiến sử dụng khoảng 450 lao động, thu nhập bình quân 9,5 triệu đồng/người/tháng. 

    Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp Ngô Chí Cường đánh giá cao hiệu quả hoạt động của công ty, góp phần tiêu thụ nông sản địa phương; đồng thời, yêu cầu các sở, ngành tỉnh và địa phương cần phối hợp với doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong xây dựng hạ tầng…

     Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường phát biểu tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thường Phước.

    Cùng ngày, đồng chí Ngô Chí Cường cùng Đoàn công tác làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Thường Phước. Lãnh đạo Đảng ủy xã Thường Phước thông tin, dự kiến đến cuối năm 2026, sau khi quy hoạch chung được cấp có thẩm quyền phê duyệt, xã sẽ hoàn thành tiêu chí 1 về Quy hoạch, nâng tổng số hoàn thành lên 4/10 tiêu chí về nông thôn mới. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đến tháng 8-2026 đạt hơn 57 tỷ đồng, đạt 106,51%.

    Bên cạnh đó, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của xã Thường Phước được giao hơn 7 tỷ đồng. Địa phương bố trí đầu tư 7 công trình. 

    Về lĩnh vực công nghiệp, xã tiếp tục phối hợp với các sở, ngành tỉnh hoàn chỉnh các thủ tục kêu gọi đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Thường Phước (500 ha), Cụm công nghiệp kết hợp thương mại Thường Phước (hơn 32 ha) và Cụm công nghiệp Ấp 3, quy mô 68 ha…

    Phát biểu tại buổi làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường đánh giá cao những nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền xã Thường Phước trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời, đồng chí yêu cầu Đảng ủy, UBND xã phối hợp với các sở, ngành nghiên cứu, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế khu vực biên giới. 

    Trong đó, tập trung phát triển thương mại, dịch vụ; rà soát lại hạ tầng để có phương án đề xuất đầu tư; tiếp tục phát huy tốt vai trò của Tổ công nghệ số cộng đồng; thực hiện tốt Sổ khám sức khỏe điện tử, nghĩa vụ chăm lo cho đối tượng chính sách; giữ vững an ninh, trật tự,…

    Bí thư Tỉnh ủy Ngô Chí Cường nhấn mạnh, với các diện tích đất công thuộc 6 xã, phường khu vực biên giới phải quy hoạch đúng theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh phải chủ trì hỗ trợ các địa phương trong kêu gọi đầu tư khu vực biên giới…

    NAM PHONG

    Nguồn https://baomoi.com/bi-thu-tinh-uy-ngo-chi-cuong-phat-huy-toi-da-tiem-nang-loi-the-xa-bien-gioi-thuong-phuoc-c55876624.epi

  • Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp: Cần cơ chế phù hợp xử lý nhà ở đã xây dựng trên đất nông nghiệp

    Phiên thảo luận diễn ra sôi nổi, trách nhiệm, tập trung vào những vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành 3 luật có quan hệ chặt chẽ với nhau. Các đại biểu đã có nhiều ý kiến góp ý nhằm hướng tới việc sửa đổi phải bảo đảm đồng bộ, rõ ràng, dễ thực hiện; vừa tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, vừa giữ nghiêm kỷ cương trong quản lý đất đai, nhà ở và thị trường bất động sản.

    GÓP Ý ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024 

    Góp ý vào Định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, các đại biểu đánh giá cao tinh thần đổi mới, sự chuẩn bị công phu của cơ quan soạn thảo, nhằm khơi thông nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế – xã hội, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.

    Phát biểu tại phiên thảo luận, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp Châu Thị Mỹ Phương đề nghị nghiên cứu cơ chế phù hợp, khả thi để giải quyết những trường hợp người dân đã xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp do nhu cầu chỗ ở thực tế, nhất là hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn; qua đó bảo đảm hài hòa yêu cầu quản lý nhà nước với quyền có chỗ ở ổn định của người dân.

    Đại biểu Châu Thị Mỹ Phương phát biểu thảo luận tại Tổ.

    Ghi nhận từ những phản ánh, kiến nghị của cử tri qua các cuộc tiếp xúc, đại biểu Châu Thị Mỹ Phương cũng đề nghị quan tâm giải quyết các trường hợp người dân đã xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp. Theo đại biểu, đây là tồn tại có tính lịch sử tại nhiều địa phương, nhất là khu vực nông thôn, do quy hoạch khu dân cư trước đây chưa đồng bộ, đời sống người dân gắn với sản xuất nông nghiệp và tập quán cha mẹ cho con đất để cất nhà. Phần lớn các trường hợp xuất phát từ nhu cầu có chỗ ở thực tế, không nhằm đầu cơ hoặc trục lợi đất đai.

    Đại biểu cho rằng, nếu áp dụng cứng nhắc biện pháp buộc tháo dỡ đối với mọi trường hợp sẽ gây thiệt hại lớn, bởi nhiều căn nhà là tài sản được người dân chắt chiu trong thời gian dài. Tiền xử phạt và nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất cũng có thể vượt quá khả năng của nhiều gia đình. Vấn đề này cần được xem xét thấu đáo, bởi phía sau mỗi hồ sơ đất đai chưa hoàn chỉnh là mái ấm và cuộc sống của người dân, nhất là hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn.

    Từ thực tiễn đó, đại biểu Châu Thị Mỹ Phương đề nghị nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp phù hợp, có thể không buộc tháo dỡ đối với những trường hợp đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp, không lấn, chiếm đất công và không thuộc diện phải thu hồi đất theo quy hoạch. Người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký chuyển mục đích sử dụng đối với phần diện tích đã xây dựng, bảo đảm thông tin đất đai phản ánh đúng hiện trạng và thuận lợi cho quá trình số hóa cơ sở dữ liệu.

    Đối với hộ gia đình chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và trường hợp cha mẹ cho con đất để xây nhà ở, đại biểu kiến nghị có chính sách đặc thù theo hướng nhân văn, giảm bớt gánh nặng tài chính, giúp người dân giữ được mái ấm và sớm hoàn thiện thủ tục pháp lý. Đồng thời, phải phân biệt rõ nhu cầu nhà ở chính đáng với hành vi lấn chiếm, đầu cơ, xây dựng để trục lợi; qua đó vừa bảo đảm kỷ cương quản lý đất đai, vừa bảo vệ quyền có chỗ ở ổn định của người dân và tạo đồng thuận trong xã hội.

    Đồng quan điểm với đại biểu Châu Thị Mỹ Phương, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh cho rằng chính sách chuyển tiếp cần được thiết kế chặt chẽ nhưng khả thi, có tiêu chí cụ thể để địa phương áp dụng thống nhất; tránh tình trạng cùng một loại vụ việc nhưng mỗi nơi hiểu và xử lý khác nhau, làm kéo dài thủ tục và ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người dân. 

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên thảo luận tại tổ.

    Liên quan cơ chế thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở, các đại biểu cơ bản thống nhất việc tôn trọng sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người sử dụng đất. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế xử lý đối với trường hợp phần lớn người sử dụng đất trong khu vực dự án đã đồng thuận nhưng còn một số trường hợp không đồng thuận hoặc đưa ra mức giá thiếu hợp lý, làm dự án bị đình trệ trong thời gian dài.

    Theo đại biểu, quy định phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất; không để lợi dụng cơ chế thu hồi đất làm ảnh hưởng quyền lợi chính đáng của người dân, nhưng cũng cần có giải pháp ngăn tình trạng cố tình cản trở, trục lợi làm ách tắc dự án. 

    Ngoài ra, các đại biểu cũng đề nghị tiếp tục rà soát các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và xác định giá đất; bảo đảm thẩm quyền được phân định rõ, thủ tục được rút gọn nhưng vẫn công khai, minh bạch. Cơ sở dữ liệu đất đai cần được hoàn thiện, kết nối đồng bộ để giảm thời gian xử lý hồ sơ, hạn chế tranh chấp và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý.

    GÓP Ý ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH SỬA ĐỔI LUẬT NHÀ Ở VÀ LUẬT KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN  

    Góp ý về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp đề nghị làm rõ trách nhiệm của chủ sở hữu và đơn vị quản lý, vận hành trong việc kịp thời bảo trì, sửa chữa nhà chung cư; đồng thời hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, bảo đảm thống nhất trong thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cư dân.

    Đại biểu cũng đề nghị làm rõ nội hàm, mối quan hệ giữa “thời hạn sử dụng nhà chung cư” và “nhà chung cư có thời hạn”, tránh phát sinh cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chính sách phát triển nhà ở cho thuê, nhất là nhà ở có mức giá phù hợp với khả năng chi trả của công nhân, người lao động và người có thu nhập thấp, tạo điều kiện để người dân dễ tiếp cận chỗ ở, ổn định cuộc sống.

    Quang cảnh thảo luận tại tổ.

    Về khai thác quỹ đất để phát triển nhà ở cho thuê, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị nghiên cứu phân cấp, phân quyền phù hợp cho chính quyền cấp xã trong quản lý và cho thuê đất. Việc phân cấp phải gắn với quy định cụ thể về điều kiện, hình thức, trình tự, thủ tục, cơ chế công khai và kiểm tra, giám sát, bảo đảm quỹ đất được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích và phát huy hiệu quả.

    Đối với Luật Kinh doanh bất động sản, các đại biểu đề nghị bảo đảm đồng bộ với Luật Đất đai và Luật Nhà ở; quy định rõ điều kiện đưa bất động sản vào kinh doanh, trách nhiệm công khai thông tin, nghĩa vụ của chủ đầu tư và cơ chế bảo vệ người mua, thuê mua nhà ở. Việc sửa đổi cần góp phần tháo gỡ khó khăn cho các dự án có đầy đủ điều kiện pháp lý, nhưng không làm giảm yêu cầu kiểm soát rủi ro, phòng ngừa huy động vốn trái quy định và bảo đảm thị trường phát triển minh bạch, lành mạnh.

    Cùng thảo luận, các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh bày tỏ đồng tình với yêu cầu rà soát đồng bộ 3 luật; đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ những quy định còn giao thoa, tránh chồng chéo hoặc tạo thêm thủ tục, bảo đảm khi luật có hiệu lực các địa phương có thể triển khai thống nhất, thuận lợi.

    Qua thảo luận, các đại biểu thống nhất việc sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản phải xuất phát từ những vướng mắc thực tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân làm trọng tâm; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, khơi thông nguồn lực đất đai và tạo môi trường minh bạch, ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội.

    HỮU LÝ – THU HOÀI 

    Nguồn https://baomoi.com/doan-dai-bieu-quoc-hoi-tinh-dong-thap-can-co-che-phu-hop-xu-ly-nha-o-da-xay-dung-tren-dat-nong-nghiep-c55876459.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!