Author: bachdn

  • Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch cao độ nền và thoát nước mặt đến năm 2030

    Quy hoạch hướng tới mục tiêu giải quyết căn bản tình trạng ngập úng đô thị, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng, bảo đảm hạ tầng phát triển bền vững trên toàn bộ địa giới hành chính thành phố Đà Nẵng (cũ) với tổng diện tích 129.046ha.

    Không gian cao độ nền và thoát nước mặt được phân chia thành 5 khu vực chính: trung tâm, tây bắc, phía đông, phía nam và Hòa Vang. Cao độ san nền xây dựng tối thiểu được khống chế cụ thể cho từng khu vực, trong đó khu vực trung tâm đạt tối thiểu +1,75m; tây bắc +2,46m; phía đông +2m; phía nam +3m và Hòa Vang +4,86m.

    Về hệ thống thoát nước, thành phố chọn cao trình mực nước thiết kế tại cửa sông Hàn và các cửa xả ra biển là +1,2m.

    Phương án chống ngập lụt kết hợp đồng bộ giữa giải pháp tôn nền, gia cố đê kè ven sông, hệ thống trạm bơm cùng mạng lưới hồ điều tiết hiện hữu. Tổng kinh phí khái toán cho danh mục các dự án ưu tiên đầu tư khoảng 12.016 tỷ đồng. Nguồn vốn được huy động linh hoạt từ ngân sách địa phương, ngân sách trung ương, vốn viện trợ quốc tế và vốn xã hội hóa.

    Các hạng mục được ưu tiên triển khai giai đoạn 2025 – 2030 tập trung vào việc cải tạo, mở rộng hệ thống cống trục chính như cống đường Ông Ích Khiêm, Quang Trung, Phùng Hưng…), nâng cấp các cầu qua kênh tiêu thoát nước và cải tạo các hồ điều tiết trọng điểm.

    MINH LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/phe-duyet-dieu-chinh-quy-hoach-cao-do-nen-va-thoat-nuoc-mat-den-nam-2030-c55877987.epi

  • Góp ý dự thảo Luật Phát triển đô thị: Thiết lập ‘định chế thu xếp vốn’ phát triển liên vùng

    Có vốn quan trọng, thu xếp vốn quan trọng hơn

    Dự án xây dựng đường sắt đô thị Thủ Thiêm – Long Thành, kết nối TPHCM với sân bay Long Thành (TP Đồng Nai) có thể coi là một ví dụ điển hình. Hiệu quả của dự án phụ thuộc vào khả năng kết nối và vận hành liên tục của toàn bộ dự án, chứ không nằm ở từng đoạn tuyến riêng lẻ. Vì vậy, nguồn lực tài chính cũng nên được tổ chức theo tiến độ và yêu cầu chung của dự án, thay vì chia cắt theo địa giới hành chính. Dự thảo Luật Phát triển đô thị đã có bước tiến đáng kể về vấn đề này.

    Nút giao Long Thành (TP Đồng Nai) kết nối đường cao tốc TPHCM – Long Thành với Biên Hòa – Vũng Tàu. ẢNH: XUÂN TRUNG

    Theo dự thảo, các địa phương tham gia dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt được sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào dự án trên địa bàn địa phương khác trong vùng nhằm giải quyết những vấn đề về hạ tầng giao thông, môi trường, cấp nước sạch, thoát nước cùng nhiều công trình công ích khác. Quy định này tạo cơ sở để nguồn lực công có thể được phân bổ sát hơn với lợi ích kinh tế – xã hội thực tế của dự án, giảm sự chia cắt nguồn lực theo ranh giới hành chính. Đồng thời quy định UBND thành phố và những địa phương có liên quan báo cáo HĐND cùng cấp xem xét, đồng thuận về việc thực hiện dự án; sau đó thống nhất lựa chọn một UBND cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện. Cơ chế này tạo được một đầu mối để tổ chức dự án liên vùng.

    Vấn đề còn lại là, một đầu mối hành chính liệu có đồng thời đảm nhiệm được việc điều phối nhiều nguồn vốn, nhiều kế hoạch ngân sách và nhiều mốc giải ngân khác nhau hay không? Xác định đủ nguồn vốn và bảo đảm dòng tiền đúng tiến độ là 2 yêu cầu khác nhau. Một dự án có thể đã xác định tổng mức đầu tư và phần vốn của từng bên, nhưng nhu cầu vốn lại phát sinh theo từng giai đoạn: khi cần giải phóng mặt bằng; lúc cần đặt mua thiết bị; khi phải thanh toán cho nhà thầu hoặc hoàn thành một hạng mục kết nối trước khi hạng mục tiếp theo có thể triển khai. Nếu một địa phương đã sẵn sàng vốn, trong khi nguồn vốn liên quan ở địa phương khác chưa hoàn tất thủ tục hoặc chưa được bố trí kịp thời thì tiến độ chung vẫn bị ảnh hưởng. Xét trong toàn bộ vòng đời dự án, các bên có thể đủ khả năng cân đối nguồn lực, nhưng dự án vẫn có thể chậm vì vốn không xuất hiện đúng thời điểm. Do vậy, bên cạnh câu hỏi “Ai có trách nhiệm bố trí vốn?” còn có vấn đề không kém phần quan trọng: “Ai chịu trách nhiệm bảo đảm những nguồn vốn khác nhau cùng đáp ứng tiến độ chung của dự án?”.

    Điều 40 của dự thảo quy định dự án có sử dụng ngân sách nhà nước được bố trí vốn theo pháp luật về ngân sách nhà nước; các địa phương có trách nhiệm cân đối nguồn vốn ngân sách để triển khai dự án trên địa bàn mình, phối hợp tổ chức thực hiện, cung cấp thông tin và xử lý các vấn đề phát sinh. Trên nền tảng đó, có thể nghiên cứu thêm cơ chế cam kết vốn liên địa phương theo toàn bộ tiến độ dự án, gồm mức cam kết của từng bên, phân kỳ giải ngân, cách xử lý khi một nguồn vốn chậm hơn dự kiến và trách nhiệm phát sinh khi tiến độ chung bị ảnh hưởng. Với dự án liên vùng, đủ vốn mới là một nửa vấn đề. Nửa còn lại là tổ chức để vốn xuất hiện đúng thời điểm dự án cần.

    Vai trò đặc biệt của Quỹ Phát triển vùng

    Khoản 4, điều 40 của dự thảo đã đặt ra một công cụ đáng chú ý: Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt. Đây là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do HĐND thành phố thành lập, trên cơ sở thống nhất với HĐND những địa phương trong vùng. Nguồn tài chính của quỹ có thể hình thành từ ngân sách Trung ương, ngân sách những địa phương, nguồn hỗ trợ, tài trợ cùng nhiều nguồn hợp pháp khác. Quỹ được sử dụng để đầu tư những dự án liên kết phát triển vùng.

    Thiết kế này có thể được nghiên cứu sâu hơn, theo hướng quỹ không dừng ở việc tập hợp những nguồn tiền đã được các bên bố trí, mà từng bước đảm nhiệm vai trò của một định chế thu xếp vốn liên vùng. Nếu được bổ sung cơ sở pháp lý và thẩm quyền phù hợp, quỹ có thể từng bước tham gia tổ chức dòng vốn cho các dự án liên vùng: tiếp nhận cam kết vốn trung và dài hạn, xây dựng kế hoạch dòng tiền chung, phối hợp với các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư và các nguồn vốn hợp pháp khác, đồng thời xử lý khoảng lệch về thời điểm giữa nhu cầu vốn của dự án và tiến độ bố trí vốn của từng bên. Khi đó, giá trị của một quỹ phát triển vùng không chỉ nằm ở số tiền đang có trong quỹ, mà còn ở khả năng tổ chức và kết nối những nguồn lực lớn hơn cho những dự án chung của vùng. Đây cũng là lý do nên xem quỹ trong một không gian rộng hơn ngân sách địa phương.

    Cân nhắc thêm không gian thiết kế trong luật

    Luật Phát triển đô thị không nhất thiết phải quyết định ngay cấu trúc cuối cùng của định chế này. Một hướng tiếp cận thận trọng hơn là Quốc hội tạo cơ sở pháp lý đủ rộng để Quỹ Phát triển vùng có thể phát triển thành một định chế thu xếp vốn liên vùng, sau đó giao Chính phủ tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức phù hợp: quỹ, công ty hay một dạng định chế tài chính chuyên biệt.

    Định chế đó cần có khả năng huy động nhiều nguồn lực hợp pháp; tổ chức cấu trúc vốn cho các dự án liên vùng; tiếp nhận cam kết tài chính từ các địa phương; phối hợp dòng vốn theo tiến độ dự án; có cơ chế quản trị, kiểm soát rủi ro, giới hạn nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Khi đó, Quỹ Phát triển vùng không đơn thuần là nơi tập hợp nguồn lực, mà có thể trở thành một đầu mối tài chính đủ năng lực phục vụ những dự án hạ tầng chung của cả vùng.

    Thực tế, đầu tư hạ tầng ngoài ngân sách nhà nước còn dựa vào hợp tác công – tư (PPP), nguồn lực xã hội, kiều hối, những định chế tài chính, vốn quốc tế và nhiều công cụ tài chính mới. TPHCM cũng đang nghiên cứu những kênh hướng dòng kiều hối có quy mô hàng tỷ USD mỗi năm vào khoa học – công nghệ và đầu tư phát triển, đồng thời mở rộng tiếp cận vốn quốc tế, công cụ tài chính xanh và những kênh huy động mới gắn với Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM.

    Những nguồn vốn lớn khó đi trực tiếp từ người sở hữu vốn đến từng dự án hạ tầng riêng lẻ nếu không có một định chế đủ uy tín, năng lực tài chính và minh bạch để kết nối, cấu trúc và quản lý dòng vốn. Đây có thể là một trong những vai trò quan trọng nhất của Quỹ Phát triển vùng, nếu khuôn khổ pháp lý cho phép. Trường hợp khả năng huy động và thu xếp vốn của quỹ được mở rộng, cơ chế quản trị và giám sát cũng cần mở rộng tương xứng. Một hội đồng quản trị hoặc cơ chế giám sát chung có sự tham gia của các địa phương liên quan sẽ là một hướng cần nghiên cứu, nhằm bảo đảm không địa phương nào phải gánh nghĩa vụ tài chính ngoài cam kết, đồng thời xác định rõ quyền quyết định, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát rủi ro. Điều này cũng giúp khắc phục một hạn chế từng xuất hiện trong những mô hình điều phối vùng: có cơ chế phối hợp nhưng thiếu một định chế tài chính đủ thực chất để chuyển những quyết định chung thành dự án cụ thể.

    PGS-TS PHẠM THỊ THANH XUÂN, Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TPHCM

    Nguồn https://baomoi.com/gop-y-du-thao-luat-phat-trien-do-thi-thiet-lap-dinh-che-thu-xep-von-phat-trien-lien-vung-c55877929.epi

  • Chính quyền 2 cấp nhìn từ những chuyển động ở cơ sở

    Những tín hiệu tích cực

    Ở phường Hà Lầm, dự án chợ dân sinh Cao Thắng đang được triển khai sau nhiều năm người dân và tiểu thương phải sử dụng khu chợ tạm đã xuống cấp. Nhu cầu xây dựng một khu chợ mới đã được đặt ra từ lâu, song việc triển khai gặp nhiều vướng mắc.

    Dự án được phê duyệt với tổng mức đầu tư hơn 22,4 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành, đưa vào hoạt động cuối năm 2026.

    Theo thông tin địa phương cung cấp, công trình đã hoàn thành thi công cọc thí nghiệm; đào móng, đổ bê tông móng đạt 110/250m. Các hạng mục lắp dựng cốt thép đáy bể nước phòng cháy, chữa cháy và những phần việc tiếp theo đang được triển khai.

    UBND phường Hà Lầm đã khởi công Dự án đầu tư xây dựng chợ dân sinh Cao Thắng vào tháng 7/2026.

    Một khu chợ không phải câu chuyện lớn nếu nhìn trên quy mô toàn tỉnh, nhưng lại là việc rất cụ thể với người dân địa phương. Cũng như đường giao thông, trường học, đất đai hay thủ tục hành chính, đây là những lĩnh vực mà hiệu quả của chính quyền cơ sở có thể được nhận biết trực tiếp nhất.

    Tại phường Cao Xanh, một phần việc khác đang được tập trung xử lý là các hồ sơ đất đai đủ điều kiện. Theo số liệu địa phương cung cấp, từ ngày 1/7/2025 đến nay, phường đã phối hợp với các sở, ngành giải quyết, cấp 214 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại một số dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng trên địa bàn.

    Một công trình được tháo gỡ, một hồ sơ được hoàn tất hay một thủ tục được giải quyết ngay tại cơ sở đều là những kết quả người dân có thể kiểm chứng. Từ những việc ấy, câu chuyện về chính quyền 2 cấp không còn dừng ở việc sắp xếp lại bộ máy mà chuyển thành câu hỏi cụ thể hơn: công việc có được giải quyết nhanh hơn, rõ trách nhiệm hơn và sát thực tế hơn hay không?

    UBND phường Cao Xanh trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân tại Khu dân cư đô thị mới đảo Sa Tô vào tháng 12/2025.

    Quảng Ninh chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 1/7/2025. Trước đó, tỉnh tổ chức vận hành thử nghiệm tại 54 xã, phường, đặc khu từ ngày 15 đến 30/6/2025, với sự tham gia của HĐND, UBND và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã.

    Sau hơn một năm, mô hình mới đã đi qua giai đoạn khởi động, bước vào thời kỳ cần được đánh giá bằng năng lực xử lý công việc thực tế.

    Trao quyền để cơ sở chủ động hơn

    Một thay đổi lớn của mô hình 2 cấp là việc phân định lại thẩm quyền. Quảng Ninh đã chuyển giao 1.047 nhiệm vụ, thẩm quyền của HĐND, UBND và Chủ tịch UBND cấp huyện trước đây cho cấp tỉnh và cấp xã. Trong đó, 859 nhiệm vụ chuyển xuống cấp xã, 188 nhiệm vụ chuyển lên cấp tỉnh.

    Tỉnh đồng thời tiếp nhận 746 nhiệm vụ thuộc 12 lĩnh vực được Trung ương phân cấp, phân quyền. UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành 58 quyết định phân cấp, ủy quyền, gồm 13 quyết định phân cấp và 45 quyết định ủy quyền.

    Các nhiệm vụ được phân cấp trải rộng từ nội vụ, tài chính, tư pháp đến xây dựng, đất đai, đầu tư công, giải phóng mặt bằng, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học và công nghệ. Nhiều công việc trước đây phải qua cấp huyện nay được xử lý trực tiếp tại cấp xã.

    Niềm vui của người dân tại Khu dân cư đô thị mới đảo Sa Tô (Quảng Ninh) sau nhiều năm chờ đợi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Quảng Ninh triển khai hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp tại 54/54 đảng ủy xã, phường, đặc khu với gần 1.900 tài khoản người dùng. Các Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã được đầu tư cơ sở vật chất, kết nối với hệ thống giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh.

    Hiệu quả bước đầu thể hiện khá rõ ở hoạt động giải quyết thủ tục hành chính. Trong quý III/2025, toàn tỉnh tiếp nhận 177.564 hồ sơ, đã giải quyết 163.435 hồ sơ; trong đó 160.965 hồ sơ được giải quyết trước và đúng hạn, đạt 98,5%. Tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt 98,34%, trả kết quả bản điện tử đạt 92,05%. Khảo sát sự hài lòng ghi nhận 99,1% số phiếu ở mức rất hài lòng và 0,9% hài lòng.

    Cùng với thủ tục hành chính, nguồn lực cũng được đưa về gần cơ sở. Đến ngày 10/7/2025, 54/54 xã, phường, đặc khu hoàn thành phân bổ, giao dự toán thu, chi ngân sách chi tiết để triển khai nhiệm vụ.

    Năm 2026, tổng dự toán chi ngân sách cấp xã được giao là 16.748 tỷ đồng. Trong 54 xã, phường, đặc khu, có 16 địa phương tự bảo đảm chi thường xuyên từ nguồn thu trên địa bàn; 100% cấp xã được phân cấp đầu tư, giao kế hoạch vốn đầu tư công theo quy định.

    Nguồn lực được đưa về cơ sở giúp cấp xã chủ động hơn trong giải quyết công việc, đồng thời gắn quyền hạn với trách nhiệm. Quảng Ninh cũng xác định những việc cần tiếp tục hoàn thiện, như khối lượng công việc lớn, năng lực giữa các địa phương chưa đồng đều, thiếu nhân lực chuyên môn sâu về đất đai, quy hoạch, công nghệ thông tin và xử lý tài sản công sau sắp xếp.

    Nhìn từ khu chợ ở Hà Lầm, những hồ sơ đất đai tại Cao Xanh đến các thủ tục được xử lý trên môi trường điện tử, mô hình chính quyền 2 cấp đang được thể hiện bằng những việc rất cụ thể.

    Thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm được đưa gần cơ sở hơn đang giúp chính quyền địa phương chủ động, sát thực tế hơn, tạo nền tảng để Quảng Ninh tiếp tục nâng chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

    Hoàng Hà

    Nguồn https://baomoi.com/chinh-quyen-2-cap-nhin-tu-nhung-chuyen-dong-o-co-so-c55878025.epi

  • TP Hồ Chí Minh: Bờ Nam kênh Đôi sắp được ‘thay áo mới’

    Đây là một trong những chương trình chỉnh trang đô thị có quy mô lớn của Thành phố, hướng tới cải thiện điều kiện sống của người dân khu vực ven kênh, góp phần tăng cường kết nối giao thông, phát triển TP Hồ Chí Minh theo hướng đồng bộ, bền vững.

    Hàng nghìn căn nhà tạm, bám sát mặt nước dọc theo tuyến đường Phạm Thế Hiển qua địa bàn phường Chánh Hưng chuẩn bị được di dời.

    Vào những ngày giữa tháng 8/2026, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc có dịp khảo sát dọc tuyến đường Phạm Thế Hiển tại khu vực bờ Nam kênh Đôi, đoạn qua địa bàn phường Chánh Hưng, Bình Đông. Dọc tuyến đường này vẫn còn hàng nghìn căn nhà nằm san sát nhau, nhiều căn được cơi nới, mở rộng diện tích bằng cọc, cừ và sàn bê tông, sàn gỗ vươn ra sát mép nước.

    Tại nhiều đoạn, khoảng cách từ nhà dân đến lòng kênh chỉ còn vài mét, thậm chí có nơi được cơi nới gần như chạm mặt nước.

    Đáng chú ý, dòng nước tại một số khu vực dân cư có màu đen, đục, rác thải và chất thải sinh hoạt xuất hiện dọc bờ kênh, kèm theo mùi hôi khó chịu, nhất là vào những thời điểm nắng nóng. Theo nhiều người dân sống lâu năm tại khu vực này, tình trạng nhà cửa lấn sát mép kênh, môi trường nước ô nhiễm đã tồn tại trong thời gian dài.

    Người dân xung quanh khu vực này mong muốn dự án sớm được cải tạo, chỉnh trang lại; góp phần tạo mỹ quan đô thị, môi trường sống xanh, sạch, an toàn hơn cho cuộc sống người dân.

    Theo nhiều người dân, việc cải tạo, làm mới lại khu vực bờ Nam kênh Đôi là hết sức cần thiết, giúp môi trường được sạch đẹp hơn, người dân có cuộc sống tốt hơn.

    Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP Hồ Chí Minh, 4 dự án trải dài toàn bộ bờ Nam kênh Đôi, từ cầu Rạch Ông đến hết tuyến kênh, thuộc địa bàn các phường Chánh Hưng và Bình Đông có tổng chiều dài khoảng 8,8km sẽ được đầu tư đồng bộ các hạng mục gồm kè bờ kênh, mở rộng đường Phạm Thế Hiển theo quy hoạch, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công viên cây xanh cùng các công trình giao thông phục vụ chỉnh trang đô thị.

    Được biết, dự án ảnh hưởng hơn 7.100 trường hợp, trong đó có 5.807 trường hợp phải giải tỏa toàn phần; nhu cầu tái định cư của người dân khoảng 1.742 trường hợp. Hiện Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị Thành phố đang phối hợp với các sở, ngành và địa phương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định để trình HĐND Thành phố xem xét, quyết định chủ trương đầu tư.

    Tin, ảnh: An Hiếu/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-bo-nam-kenh-doi-sap-duoc-thay-ao-moi-c55878012.epi

  • Thạnh Mỹ quyết tâm hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp phía Tây thành phố

    Tăng cường giải phóng mặt bằng tại Cụm công nghiệp thôn Hoa.

    Tháo gỡ những “điểm nghẽn” về hạ tầng

    Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, UBND xã Thạnh Mỹ tiếp nhận thẩm quyền quản lý, phát triển CCN thôn Hoa theo quy định. Đây là điều kiện quan trọng để địa phương chủ động hơn trong tổ chức quản lý, đầu tư hạ tầng và xúc tiến thu hút doanh nghiệp. Ông Nguyễn Công Bình – Chủ tịch UBND xã Thạnh Mỹ cho biết, đến nay CCN thôn Hoa đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500. Diện tích đã thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng (BT, GPMB) đạt 23,7ha, tương đương 63,82%; còn 13,55ha chưa hoàn thành GPMB. Theo quy hoạch, diện tích đất công nghiệp khoảng 29,95ha, trong đó đã cho doanh nghiệp thuê 9,13ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 30,5%. Cuối năm 2025, có 4 nhà đầu tư đăng ký thực hiện dự án. Tuy nhiên, do tiến độ GPMB chậm cùng một số yếu tố khách quan, việc triển khai dự án gặp nhiều khó khăn. Đến nay, chỉ còn 1 nhà đầu tư tiếp tục cam kết thực hiện; 2 nhà đầu tư xin rút dự án và 1 nhà đầu tư không còn khả năng thực hiện.

    “Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến sức hút của Cụm công nghiệp là hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư đồng bộ. Nhiều hạng mục thiết yếu như giao thông nội bộ, cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, xử lý nước thải, thu gom rác thải, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ môi trường và an ninh trật tự chưa hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn gặp khó khăn do một số hộ dân chưa thống nhất về giá trị bồi thường đất nông nghiệp; nguồn lực ngân sách dành cho giải phóng mặt bằng còn hạn chế, làm tăng chi phí đầu tư và ảnh hưởng đến khả năng thu hút doanh nghiệp”- ông Bình thẳng thắn thừa nhận. Cũng theo ông Nguyễn Công Bình, việc đầu tư, hoàn thiện CCN thôn Hoa không chỉ nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất công nghiệp mà còn hướng đến tạo động lực phát triển KT-XH khu vực phía Tây TP Đà Nẵng; thu hút doanh nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động địa phương; hình thành trung tâm công nghiệp – chế biến gắn với vùng nguyên liệu lâm nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng nguồn thu ngân sách.

    Việc hoàn thiện CCN thôn Hoa giúp Thạnh Mỹ đồng bộ cơ sở hạ tầng, tạo động lực cho địa phương phát triển. Trong ảnh: Trung tâm xã Thạnh Mỹ.

    Phấn đấu hoàn thiện hạ tầng vào năm 2030

    Trước thực trạng trên, ngày 7-8 vừa qua, Đảng ủy xã Thạnh Mỹ đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐU về đầu tư, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật CCN thôn Hoa”. Đây là nghị quyết có ý nghĩa quan trọng, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Thạnh Mỹ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, tạo cơ sở để tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, giải phóng mặt bằng và thu hút đầu tư, từng bước đưa công nghiệp trở thành một trong những động lực phát triển KT-XH của địa phương. Theo đó, mục tiêu của Nghị quyết đến năm 2030 cơ bản hoàn thiện CCN thôn Hoa theo hướng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, quản lý hiệu quả, khai thác đúng quy hoạch, ưu tiên thu hút các ngành công nghiệp sạch, chế biến lâm sản, vật liệu xây dựng “xanh” và công nghiệp hỗ trợ.

    Một số mục tiêu cụ thể được đặt ra là hoàn thành 100% công tác GPMB theo diện tích dự án được phê duyệt; huy động khoảng 400 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và các nguồn xã hội hóa hợp pháp để đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật; hình thành đơn vị thuộc UBND xã Thạnh Mỹ thực hiện quản lý, vận hành và thu hút doanh nghiệp; phấn đấu tỷ lệ lấp đầy đạt trên 80% diện tích hoặc số lô theo quy hoạch; điều chỉnh quy hoạch, mở rộng thêm khoảng 5ha, nâng tổng diện tích CCN lên 42,25ha; tạo việc làm cho khoảng 300 lao động địa phương. “Tầm nhìn đến năm 2045, xã Thạnh Mỹ phấn đấu phát triển, nâng cấp CCN thôn Hoa thành khu công nghiệp sinh thái quy mô phù hợp, ứng dụng mô hình thông minh, quản lý số hóa, từng bước hình thành trung tâm chế biến lâm sản công nghệ cao của khu vực phía Tây thành phố Đà Nẵng; đồng thời thu hút các ngành công nghiệp sạch, công nghệ cao, logistics và năng lượng tái tạo”- ông Nguyễn Công Bình chia sẻ thêm.

    Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết số 17 của Đảng ủy xã Thạnh Mỹ tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ lớn, gồm: Hoàn thiện quy hoạch; huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng; hoàn thiện công tác quản lý và thủ tục đầu tư; đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Phấn đấu đến giữa năm 2027 hoàn thành dứt điểm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với diện tích đã được phê duyệt, tạo quỹ đất sạch phục vụ đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp; đến năm 2035 phấn đấu hoàn thành việc mở rộng Cụm công nghiệp lên 42,25 ha. Theo ông Nguyễn Công Bình, một trong những định hướng xuyên suốt của Nghị quyết là phát triển CCN thôn Hoa theo hướng xanh, hiện đại, bền vững và thân thiện với môi trường. “Xã Thạnh Mỹ ưu tiên thu hút các ngành chế biến nông, lâm sản, công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu xây dựng “xanh” và logistics; đồng thời hạn chế các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao, sử dụng nhiều nước, công nghệ lạc hậu hoặc tiêu hao nhiều năng lượng”- ông Bình chia sẻ.

    Bí thư Đảng ủy xã Thạnh Mỹ A Viết Sơn nhấn mạnh: Việc triển khai Nghị quyết số 17-NQ/ĐU ngày 7-8-2026 là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, với sự vào cuộc đồng bộ của các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc, UBND xã, Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. “Nghị quyết số 17-NQ/ĐU thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ủy xã Thạnh Mỹ trong việc biến tiềm năng thành động lực phát triển, biến quỹ đất thành nguồn lực, biến hạ tầng thành nền tảng thu hút đầu tư. Với cách làm chủ động, đồng bộ và có trọng tâm, trọng điểm, CCN thôn Hoa được kỳ vọng sẽ từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn về quy hoạch, GPMB và hạ tầng kỹ thuật; nâng cao năng lực thu hút đầu tư, tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu, góp phần xây dựng Thạnh Mỹ phát triển theo hướng công nghiệp, xanh, hiện đại và bền vững trong giai đoạn mới”-ông A Viết Sơn nhấn mạnh.

    TRẦN TÂN

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-my-quyet-tam-hoan-thien-ha-tang-cum-cong-nghiep-phia-tay-thanh-pho-c55878066.epi

  • 13 vấn đề của Luật đất đai năm 2024 liên quan đến tôn giáo Tăng Ni nên biết

    So với Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 có nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến việc quản lý, sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc.

    Trong thực tiễn hoạt động Phật sự, việc hiểu đúng và vận dụng đúng các quy định của pháp luật về đất đai có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở tự viện, đồng thời hạn chế những rủi ro pháp lý trong quá trình quản lý và sử dụng đất.

    Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin giới thiệu và phân tích một số quy định đáng chú ý của Luật Đất đai năm 2024 liên quan đến tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc để chư tôn đức Tăng Ni tham khảo trong quá trình thực hiện Phật sự.

    1. Đất tôn giáo là gì?

    Khoản 1, Điều 213 định nghĩa: “Đất tôn giáo bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác”.

    2. Ai là người trong tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất

    Khoản 4, Điều 6 quy định người đại diện tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

    Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, người đại diện của từng cấp tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức tôn giáo trực thuộc được xác định theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và quyết định công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, người đại diện của mỗi tổ chức là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc quản lý, sử dụng đất thuộc phạm vi quản lý của tổ chức mình.

    Chẳng hạn, đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, người đại diện của Giáo hội là Chủ tịch Hội đồng Trị sự; đối với Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh, người đại diện là Trưởng ban Trị sự; đối với cơ sở tự viện, người đại diện là Trưởng ban Quản trị hoặc người đại diện theo quyết định công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    3. Đất tôn giáo thuộc nhóm đất nào?

    Luật Đất đai 2024 phân loại đất đai thành 03 nhóm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Điểm G, khoản 3, Điều 9 quy định đất tôn giáo thuộc nhóm đất phi nông nghiệp.

    4. Nhà nước giao đất tôn giáo có thu tiền sử dụng đất không?

    Khoản 2, Điều 213 quy định Nhà nước giao đất tôn giáo không thu tiền sử dụng đất.

    5. Ủy ban Nhân dân cấp nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc?

    Điểm B, khoản 1, Điều 123 quy định Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

    Như vậy, thẩm quyền giao đất và cho thuê đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Ủy ban Nhân dân cấp xã không có thẩm quyền quyết định giao đất hoặc cho thuê đất đối với các chủ thể này.

    6. Thời hạn sử dụng đất tôn giáo bao nhiêu lâu?

    Khoản 8, Điều 171 quy định đất tôn giáo được sử dụng ổn định lâu dài.

    7. Hạn mức giao đất tôn giáo là bao nhiêu mét vuông?

    Khoản 4, Điều 213 quy định “Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh căn cứ nhu cầu thực tế về hoạt động tôn giáo và khả năng quỹ đất của địa phương để quy định hạn mức và quyết định diện tích đất giao cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trên địa bàn tỉnh”.

    Quy định này cho thấy Luật Đất đai năm 2024 không quy định một hạn mức giao đất tôn giáo thống nhất áp dụng trên phạm vi cả nước. Hạn mức giao đất do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định trên cơ sở nhu cầu hoạt động tôn giáo và khả năng quỹ đất của từng địa phương. Vì vậy, hạn mức giao đất tôn giáo có thể khác nhau giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Ví dụ, Ủy ban Nhân dân tỉnh A có thể quy định hạn mức giao đất tôn giáo là 5.000m², trong khi Ủy ban Nhân dân tỉnh B có thể quy định là 8.000m², tùy thuộc vào nhu cầu hoạt động tôn giáo và khả năng quỹ đất của từng địa phương.

    8. Điều kiện để tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là gì?

    Khoản 3, Điều 145 quy định “Diện tích đất của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sau khi đã xử lý theo quy định tại khoản 2, Điều 145 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất với thời hạn sử dụng đất ổn định lâu dài và hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, Điều 213 của Luật này khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước cho phép hoạt động;

    b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

    c) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau.”

    Đây là một trong những quy định cần đặc biệt lưu ý trong Luật Đất đai năm 2024. Theo điểm C, khoản 3, Điều 145, một trong những điều kiện để tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là diện tích đất đó không phải là đất nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho kể từ ngày 1-7-2004 trở về sau.

    Trong thực tiễn, không ít cơ sở tôn giáo và người quản lý cơ sở tôn giáo cho rằng đất do Phật tử hiến cúng đương nhiên sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, quy định của Luật Đất đai năm 2024 cho thấy việc cấp Giấy chứng nhận không chỉ phụ thuộc vào nguồn gốc hiến cúng mà còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Vì vậy, khi tiếp nhận đất do tổ chức, cá nhân chuyển nhượng hoặc hiến tặng, các cơ sở tôn giáo cần nghiên cứu kỹ quy định của pháp luật để tránh những vướng mắc trong quá trình quản lý và sử dụng đất.

    9. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đang sử dụng diện tích đất lớn hơn hạn mức giao đất tôn giáo do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định thì được giải quyết như thế nào?

    Khoản 4, Điều 145 quy định: “Trường hợp đất do tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 3, Điều 145 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hình thức và thời hạn sử dụng đất tương ứng với mục đích đó như đối với hộ gia đình, cá nhân”.

    Khoản 3, Điều 213 “Nhà nước cho thuê đất, thu tiền thuê đất hằng năm đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sử dụng đất không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 213.

    Từ các quy định nêu trên có thể thấy rằng, đối với phần diện tích đất tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đang sử dụng vượt hạn mức giao đất tôn giáo do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quy định, nếu không thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo khoản 2, Điều 213 thì được Nhà nước cho thuê đất và thu tiền thuê đất hằng năm theo quy định tại khoản 3, Điều 213. Trường hợp diện tích đất đó được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp hoặc sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3, Điều 145 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hình thức và thời hạn sử dụng đất tương ứng với mục đích sử dụng như đối với hộ gia đình, cá nhân.

    10. Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ gì?

    Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 26 và Điều 31.

    Bên cạnh đó, cần đặc biệt lưu ý khoản 2, Điều 32 còn quy định “Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.”

    11. Đất tôn giáo ngoài mục đích “xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác” còn có thể được sử dụng vào mục đích nào khác không?

    Khoản 5, Điều 213 và điểm E, khoản 1, Điều 218 quy định “Đất tôn giáo được sử dụng kết hợp với mục đích thương mại, dịch vụ” nhưng phải đảm bảo các yêu cầu quy định tại khoản 2, Điều 218 là:

    “a) Không làm thay đổi loại đất theo phân loại đất quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 9 và đã được xác định tại các loại giấy tờ quy định tại Điều 10 của Luật này;

    b) Không làm mất đi điều kiện cần thiết để trở lại sử dụng đất vào mục đích chính;

    c) Không ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh;

    d) Hạn chế ảnh hưởng đến bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường;

    đ) Không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề;

    e) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định;

    g) Tuân thủ pháp luật có liên quan”.

    Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật Đất đai năm 2024. Theo đó, lần đầu tiên pháp luật cho phép đất tôn giáo được sử dụng kết hợp với mục đích thương mại, dịch vụ, với điều kiện phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật.

    12. Ủy ban Nhân dân cấp nào có thẩm quyền thu hồi đất tôn giáo?

    Khoản 1, Điều 83 quy định Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

    Như vậy, thẩm quyền thu hồi đất tôn giáo thuộc Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Ủy ban Nhân dân cấp xã không có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

    13. Khi Nhà nước thu hồi đất tôn giáo, đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp do tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sử dụng thì có được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất hay không?

    Ngoài việc được bồi thường đối với tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật, theo khoản 2, Điều 97 và khoản 4, Điều 100 cùng với khoản 6, Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 còn quy định tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất tôn giáo, đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp đang sử dụng, nếu đáp ứng điều kiện quy định tại điểm D, khoản 1, Điều 95 của Luật này.

    Theo đó, điều kiện để được bồi thường về đất là tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đã được Nhà nước cho phép hoạt động, đang sử dụng đất không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và không phải là đất nhận chuyển nhượng hoặc nhận tặng cho kể từ ngày 1-7-2004 trở về sau.

    Như vậy, không phải mọi trường hợp Nhà nước thu hồi đất do tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đang sử dụng đều được bồi thường về đất. Việc bồi thường chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà Luật Đất đai năm 2024 quy định.

    ***

    Luật Đất đai năm 2024 có nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc. Việc nắm vững các quy định này không chỉ giúp các cơ sở tự viện thực hiện đúng pháp luật mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tôn giáo trong quá trình quản lý, sử dụng đất.

    Trong thực tiễn, nhiều vướng mắc phát sinh không phải do quy định của pháp luật thiếu rõ ràng mà do người quản lý cơ sở tôn giáo chưa cập nhật đầy đủ các quy định mới hoặc hiểu chưa đúng tinh thần của Luật. Vì vậy, Tăng Ni, đặc biệt là người đại diện các tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, cần chủ động nghiên cứu Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành để việc quản lý, sử dụng đất đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của các cơ sở tôn giáo.

    Chùa Phúc Lâm, ngày 3-11-2024 (hiệu đính ngày 18-7-2026)

    Thượng tọa Thích Minh Trí

    Nguồn https://baomoi.com/13-van-de-cua-luat-dat-dai-nam-2024-lien-quan-den-ton-giao-tang-ni-nen-biet-c55878051.epi

  • Hôm nay, Quốc hội thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai

    Quang cảnh phiên họp tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất. Ảnh: Quang Vinh

    Trong phiên làm việc buổi sáng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Sau phần thảo luận, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội nêu.

    Buổi chiều, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Kết thúc phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Xây dựng phát biểu giải trình, làm rõ một số nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm, nêu ý kiến.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày Tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Quang Vinh

    Trước đó, ngày 19/8, trình bày Tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, qua gần 2 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, quan trọng góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số Nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp nhưng chỉ mang tính tạm thời.

    Do đó, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Về các nhóm chính sách cụ thể, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết, dự thảo Luật gồm 7 nhóm chính sách: Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng kết hợp giữa phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất; Hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất; Hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất; Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất; Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai; Đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.

    Anh Vũ – Việt Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/hom-nay-quoc-hoi-thao-luan-ve-dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-c55878056.epi

  • Xã nông thôn mới: Hướng tới chuẩn đô thị

    Nông thôn mang dáng dấp đô thị

    Giai đoạn 2021-2025, chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đạt kết quả nổi bật. Đến nay, toàn tỉnh có 51/66 xã đạt chuẩn nông thôn mới, 5 xã đạt chuẩn nâng cao và hàng trăm thôn được công nhận đạt chuẩn kiểu mẫu. Để đạt được kết quả này, cùng với sự chủ động của người dân, tỉnh đã phân bổ hơn 1.200 tỷ đồng từ ngân sách trung ương và huy động hơn 2.200 tỷ đồng từ các nguồn lực hợp pháp khác.

    Hạ tầng xã Tân Dĩnh được đầu tư đồng bộ.

    Tại nhiều địa phương, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đã được quy hoạch, đầu tư tiệm cận với tiêu chuẩn của đô thị hiện đại. Các tuyến đường đôi rộng rãi, hệ thống cây xanh, vỉa hè, đèn chiếu sáng cao áp và công viên công cộng xuất hiện ngày càng nhiều ngay giữa các vùng quê thuần nông.

    Cùng với hạ tầng, chuyển đổi số đã trở thành động lực mới. Việc số hóa văn bản hành chính, triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình tại cấp xã giúp người dân tiếp cận thủ tục nhanh chóng, minh bạch. Trong sản xuất, công nghệ thông tin và công nghệ cao từng bước ứng dụng vào nông nghiệp, mở ra hướng đi bền vững cho kinh tế nông thôn.

    Trung tuần tháng 7/2026, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 15/2026/NQ-HĐND về hỗ trợ xây dựng đường xã, phố, thôn, ngõ, ngách. Theo đó, giai đoạn 2026-2030, tỉnh phấn đấu cải tạo, nâng cấp khoảng 4.184 km đường giao thông với tổng kinh phí 12.634 tỷ đồng (trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ khoảng 8.880 tỷ đồng). Đây là nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy chương trình xây dựng nông thôn mới.

    Tại xã Tân Dĩnh (được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 xã Tân Dĩnh, Thái Đào, Đại Lâm), ngay sau khi ổn định bộ máy, cấp ủy Đảng và chính quyền xã đã định hướng phát triển địa phương theo tiêu chí đô thị. Từ một vùng quê nông nghiệp, Tân Dĩnh chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp hiện giảm xuống còn 8,46%, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng đạt 62,97% và thương mại – dịch vụ 28,57%.

    Năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn xã đạt 555 tỷ đồng (đạt 323,3% kế hoạch). Nguồn lực này được tái đầu tư trực tiếp cho hạ tầng. Hiện 100% đường trục xã, liên thôn được cứng hóa, lắp đặt đồng bộ hệ thống chiếu sáng, thoát nước và vỉa hè…, đạt cấp kỹ thuật đường đô thị; hơn 80% số hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn; hệ thống xử lý nước thải và vệ sinh môi trường được bảo đảm. Tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến toàn trình đạt 93,74%, 15/15 thôn đạt tiêu chuẩn thôn thông minh, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm sâu, còn 0,53%…

    Bà Vũ Thị Thùy, thôn Tân Sơn chia sẻ: “Diện mạo quê hương đã thay đổi rất nhiều trong thời gian gần đây. Những con đường xóm nhỏ hẹp trước kia nay được mở rộng, rải nhựa phẳng lỳ ra tận cánh đồng; nhiều công trình phúc lợi như trường học, trạm y tế, các nhà văn hóa được đầu tư xây dựng khang trang đúng với mong muốn của bà con”.

    Tương tự, từ một địa phương thuần nông, xã Trung Chính đang đứng trước cơ hội mới nhờ tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ. Quyết tâm đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2026, địa phương đang tập trung mọi nguồn lực đầu tư hoàn thiện hạ tầng kinh tế – xã hội. Hàng loạt công trình giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế và nhà văn hóa được nâng cấp, xây mới. Chương trình xây dựng nông thôn mới tại đây nhận được sự đồng thuận và đánh giá rất cao từ cộng đồng.

    Ông Vũ Văn Hào, Chủ tịch UBND xã cho biết: Với định hướng trở thành khu vực đô thị hiện đại, kiểu mẫu gắn với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, xã ưu tiên phát triển công nghiệp, dịch vụ, logistics, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao… Tập trung mọi nguồn lực hoàn thành xây dựng nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao; duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; giữ vững an ninh, trật tự; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống người dân.

    Hiện nay, xã Trung Chính đang tập trung cao độ giải phóng mặt bằng gần 300 ha đất nông nghiệp phục vụ tái định cư dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và tuyến đường kết nối với Thủ đô Hà Nội. Việc hoàn thiện các dự án hạ tầng động lực này sẽ thu hút hàng nghìn hộ dân đến sinh sống, tạo không gian đô thị mới, mở ra cơ hội lớn để xã chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế sang phát triển thương mại, dịch vụ…

    Thực hiện đồng bộ các giải pháp

    Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình rà soát theo Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026 – 2030 cũng cho thấy những tồn tại, hạn chế. Trước hết là vướng mắc về hạ tầng giao thông. Dù đã được cứng hóa song lòng đường tại nhiều nơi rất hẹp (phổ biến từ 3,5 m đến 5,5 m), thiếu vỉa hè và hành lang an toàn, nguy cơ ùn tắc và mất an toàn giao thông khi lưu lượng phương tiện cá nhân tăng nhanh. Một số xã gặp khó khăn trong việc hoàn thiện chỉ tiêu hạ tầng thương mại nông thôn; tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người chưa đồng đều. Quỹ đất dành cho quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao, du lịch sinh thái và du lịch trải nghiệm còn hạn chế.

    Xã Trung Chính chú trọng phát triển mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    Theo ông Nguyễn Văn Thực, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Dĩnh, hiện địa phương còn một số chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt chuẩn như cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người, có mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc mô hình kinh tế xanh hoặc mô hình kinh tế tuần hoàn hiệu quả; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ… Mặt khác, việc duy trì tính bền vững của các tiêu chí nông thôn mới để nâng cấp lên đô thị cũng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn.

    Ông Lưu Văn Khải, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, bước sang giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh Bắc Ninh xác định tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững. Mục tiêu cốt lõi là cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn gắn với chuyển đổi số, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân và bảo vệ môi trường cảnh quan.

    Để đạt được các mục tiêu trên, tỉnh tập trung triển khai nhiều nhóm giải pháp đồng bộ. Đó là chủ động rà soát, phân loại các xã, phường theo từng nhóm tiêu chí để áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp. Khuyến khích các địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn gắn với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành từ cấp tỉnh đến cơ sở; nhân rộng mô hình “thôn thông minh” gắn với dịch vụ công trực tuyến. Đồng thời điều chỉnh cơ chế tín dụng hỗ trợ sản xuất, phát triển sản phẩm OCOP, công nghệ chế biến và vệ sinh môi trường.

    Nhận thức rằng phát triển nông thôn mới theo hướng đô thị hóa phải đi đôi với bảo tồn di sản, cấp ủy, chính quyền các địa phương và Nhân dân chú trọng giữ gìn không gian văn hóa truyền thống, duy trì và phát triển các phong trào văn nghệ, thể thao ở cơ sở. Đồng thời phát huy tốt vai trò làm chủ của Nhân dân, khơi dậy tinh thần tự giác của mỗi người dân và sự đồng hành của doanh nghiệp để cùng giữ vững, nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới.

    Việc xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị tại các địa phương trong tỉnh đã bước sang giai đoạn mới, lấy chất lượng sống của người dân làm trung tâm và tiêu chí đô thị làm mục tiêu phấn đấu. Sự kết hợp giữa hạ tầng đồng bộ, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số đang đưa các vùng quê Bắc Ninh phát triển bền vững, mang lại sự thay đổi rõ nét.

    Yến Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/xa-nong-thon-moi-huong-toi-chuan-do-thi-c55878127.epi

  • Muốn nhà vừa đẹp vừa thoáng, hãy đặt cây xanh ở những vị trí này

    Cây xanh ngày càng được sử dụng nhiều trong trang trí nhà ở. Một chậu cây phù hợp có thể làm mềm những đường nét cứng của nội thất, tạo điểm nhấn và mang lại cảm giác gần gũi với thiên nhiên.

    Tuy nhiên, mỗi khu vực trong nhà lại có đặc điểm khác nhau về diện tích, ánh sáng và tần suất sử dụng. Vì vậy, thay vì đặt cây theo cảm tính, gia chủ nên cân nhắc từng vị trí.

    Cửa chính và sảnh vào nên ưu tiên cây gọn, tạo điểm nhấn

    Cửa chính là khu vực đầu tiên được nhìn thấy khi bước vào nhà. Một chậu cây có hình dáng đẹp, kích thước vừa phải có thể tạo điểm nhấn mà không khiến lối đi bị vướng.

    Nếu khu vực cửa chính có khoảng trống rộng, gia chủ có thể lựa chọn những cây có dáng đứng hoặc tán vừa phải như cọ, trúc, thiên tuế. Với không gian nhỏ, những chậu cây thấp hoặc cây đặt trên kệ sẽ phù hợp hơn.

    Sảnh vào cũng có thể bố trí một chậu cây lớn nếu diện tích cho phép. Những loại cây lá xanh quanh năm như kim tiền, trầu bà hoặc một số cây cảnh thân gỗ có thể giúp khu vực này trông sinh động hơn.

    Không nên đặt cây quá sát cửa hoặc ở vị trí thường xuyên va chạm. Những cây có gai cũng cần được cân nhắc kỹ, đặc biệt nếu trong nhà có trẻ nhỏ hoặc vật nuôi.

    Cây ở khu vực cửa ra vào cũng cần được chăm sóc thường xuyên. Cây héo úa, vàng lá hoặc rụng lá nhiều không chỉ làm mất thẩm mỹ mà còn khiến khu vực vốn tạo ấn tượng đầu tiên trở nên kém gọn gàng.

    Phòng khách phù hợp với cây lớn, cây có dáng đẹp

    Phòng khách thường là khu vực rộng và có nhiều ánh sáng hơn những không gian khác, vì vậy có thể sử dụng đa dạng loại cây.

    Một chậu cây lớn đặt ở góc phòng có thể trở thành điểm nhấn mà không cần thêm quá nhiều đồ trang trí. Với phòng khách rộng, gia chủ cũng có thể kết hợp cây có chiều cao khác nhau để tạo cảm giác tự nhiên hơn.

    Tuy nhiên, không nên đưa quá nhiều cây vào cùng một không gian. Việc đặt cây dày đặc có thể khiến phòng khách trở nên chật chội, đồng thời gây khó khăn khi vệ sinh và di chuyển.

    Vị trí đặt cây cũng cần được tính toán. Nên ưu tiên góc phòng, cạnh cửa sổ hoặc những khoảng trống ít ảnh hưởng đến sinh hoạt. Không nên đặt chậu cây ngay lối đi hoặc những vị trí dễ bị va chạm.

    Với phòng khách có trần cao, cây treo hoặc cây leo có thể giúp tận dụng khoảng không phía trên và làm căn phòng cân đối hơn. Ngược lại, phòng có diện tích nhỏ nên ưu tiên những loại cây có dáng gọn, lá nhỏ hoặc cây phát triển theo chiều cao.

    Phòng ngủ chỉ nên đặt cây vừa phải

    Phòng ngủ cần ưu tiên sự yên tĩnh, thoáng và dễ chịu. Vì vậy, không nên biến khu vực này thành một “góc vườn” với quá nhiều chậu cây.

    Nếu muốn đưa cây xanh vào phòng ngủ, có thể chọn một chậu nhỏ đặt gần cửa sổ hoặc trên bàn, kệ. Với phòng rộng, một chậu cây có kích thước vừa phải ở góc phòng cũng có thể tạo điểm nhấn.

    Những cây có hình dáng mềm mại, tán không quá rậm có thể giúp không gian trở nên nhẹ nhàng hơn. Nếu yêu thích cây có hương thơm, nên chọn loại có mùi nhẹ và quan sát phản ứng của bản thân, bởi một số người có thể nhạy cảm với mùi hương.

    Đặc biệt, cần quan tâm đến điều kiện ánh sáng. Không phải cây nào cũng thích hợp để trong phòng ngủ, nhất là những căn phòng thường xuyên đóng kín cửa và ít ánh sáng tự nhiên.

    Không nên đặt quá nhiều chậu cây ở nơi nghỉ ngơi chỉ vì mục đích trang trí. Những chậu cây có đất ẩm cũng cần được chăm sóc tốt để hạn chế nấm mốc và côn trùng.

    Đừng chỉ chọn cây đẹp, hãy chọn cây phù hợp với căn nhà

    Một sai lầm phổ biến khi trang trí bằng cây xanh là thấy cây đẹp rồi mua về nhưng không tìm hiểu điều kiện sinh trưởng. Kết quả là cây nhanh héo, vàng lá hoặc phải di chuyển nhiều lần để tìm vị trí thích hợp.

    Trước khi mua, nên xem xét ánh sáng, diện tích, độ thông thoáng và thời gian có thể dành cho việc chăm sóc cây. Nhà nhiều ánh sáng có thể có nhiều lựa chọn hơn, trong khi những góc ít sáng nên chọn cây có khả năng thích nghi với điều kiện đó.

    Kích thước chậu cũng cần tương xứng với căn phòng. Một cây quá lớn trong phòng nhỏ sẽ khiến không gian bị nặng nề, còn một chậu quá nhỏ trong phòng rộng có thể không tạo được điểm nhấn.

    Ngoài ra, nên chú ý đến vị trí đặt chậu để thuận tiện vệ sinh và tưới cây. Không nên đặt cây ở nơi nước tưới có thể làm hỏng sàn gỗ, thiết bị điện hoặc đồ nội thất.

    Tuệ San

    Nguồn https://baomoi.com/muon-nha-vua-dep-vua-thoang-hay-dat-cay-xanh-o-nhung-vi-tri-nay-c55878169.epi

  • Sở Dân tộc và Tôn giáo kiểm tra việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia tại xã Khánh Yên

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Báo cáo tại buổi làm việc, lãnh đạo UBND xã Khánh Yên cho biết địa phương đã chủ động quán triệt các chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, đồng thời tăng cường kiểm tra nhằm tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Việc xác định danh mục đầu tư, lựa chọn đối tượng thụ hưởng đảm bảo công khai, dân chủ, có sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng.

    Đến nay, các chương trình trên địa bàn cơ bản bảo đảm tiến độ; nhiều công trình hạ tầng hoàn thành, đưa vào vận hành; công tác nghiệm thu, quyết toán tuân thủ đúng quy định. Tỷ lệ giải ngân chung đạt khoảng 86% kế hoạch vốn.

    Chuẩn bị cho giai đoạn 2026 – 2030, xã đã chủ động rà soát nhu cầu, xây dựng danh mục dự án ưu tiên phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương với tổng kinh phí dự kiến 73,365 tỷ đồng (ngân sách Trung ương 48,399 tỷ đồng, ngân sách địa phương 24,966 tỷ đồng). Bước đầu rà soát phân vùng giai đoạn 2026 – 2030 cho thấy, xã có 11/12 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, 12/12 thôn miền núi và 7/12 thôn đáp ứng tiêu chí thôn đặc biệt khó khăn.

    Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Khánh Yên phát biểu tại buổi làm việc.

    Bên cạnh kết quả đạt được, xã Khánh Yên gặp một số vướng mắc thực tế. Trước khi sáp nhập, 3 xã Khánh Yên Trung, Khánh Yên Hạ và Liêm Phú đều đã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới. Tuy nhiên, sau khi hợp nhất, địa bàn rộng, nhiều công trình hạ tầng đường giao thông, nhà văn hóa xây dựng từ lâu nay xuống cấp, cần nguồn lực lớn để nâng cấp. Trong khi đó, đời sống Nhân dân – phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn, thu nhập phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp nên khả năng đóng góp tại chỗ hạn chế; lực lượng cán bộ chuyên môn về quy hoạch, xây dựng lại mỏng và phải kiêm nhiệm.

    UBND xã Khánh Yên đề nghị tỉnh và các sở, ngành tiếp tục quan tâm hỗ trợ nguồn lực nâng cấp giao thông, nhà văn hóa tại các thôn khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Xã kiến nghị cấp trên hoàn thiện cơ chế, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, đẩy mạnh phân cấp quản lý đi đôi với hướng dẫn nghiệp vụ và sớm phân bổ nguồn vốn để hoàn thiện hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, nâng cao đời sống Nhân dân và duy trì các tiêu chí nông thôn mới.

    Kết luận buổi kiểm tra, đồng chí Nguyễn Quốc Luận – Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh ghi nhận nỗ lực của xã Khánh Yên. Đồng chí đề nghị địa phương tiếp tục bám sát các hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh, rà soát cụ thể từng dự án để tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

    Đồng chí Nguyễn Quốc Luận đề nghị xã tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, số liệu phục vụ công tác rà soát, chuẩn bị đầu tư giai đoạn 2026 – 2030; xác định rõ các công trình, dự án thực sự cấp thiết, phù hợp với nhu cầu thực tế và khả năng cân đối nguồn lực để ưu tiên đầu tư. Đối với những nội dung thuộc thẩm quyền cấp trên, đoàn công tác sẽ tổng hợp, báo cáo và đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    Hà Phương

    Nguồn https://baomoi.com/so-dan-toc-va-ton-giao-kiem-tra-viec-thuc-hien-cac-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-tai-xa-khanh-yen-c55877816.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!