Author: bachdn

  • Nghe dân nói và trách nhiệm phản hồi

    Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng Phạm Thị Phúc thăm hỏi, trao đổi với các đại biểu, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng từ cơ sở. Ảnh: Hương Ly

    Kiến nghị rất đời thường

    Những ý kiến được người dân gửi đến các cấp, ngành cho thấy phía sau mỗi kiến nghị là một câu chuyện rất cụ thể của đời sống. Ở phường Mũi Né, ông Bùi Thanh Hưng, khu phố Hàm Tiến 3, đề nghị cơ quan chức năng xác minh nguồn gốc đất của gia đình để có cơ sở giải quyết bồi thường tại dự án Nâng cấp đường Nguyễn Đình Chiểu – Huỳnh Thúc Kháng; đồng thời xem xét việc bồi thường tại dự án Đường 706B, nơi gia đình đã bị thu hồi đất nhưng chưa nhận được bồi thường. Điều người dân mong mỏi là những đơn thư đã gửi trong thời gian dài được xem xét, trả lời và giải quyết rõ ràng.

    Cũng tại Mũi Né, ông Trần Văn Thọ, khu phố 1, mong sớm đầu tư khu neo đậu tàu thuyền để ngư dân có nơi tránh trú an toàn khi mưa bão. Với ông Nguyễn Văn Lập và bà Nguyễn Thị Bông, khu phố Suối Nước, nỗi lo lại gắn với sinh kế khi hoạt động khai thác khoáng sản được cho là ảnh hưởng đến nguồn nước, sản xuất và đời sống của người dân. Những kiến nghị này cho thấy, với người dân phát triển kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng với bảo vệ môi trường và bảo đảm sinh kế lâu dài.

    Ở Đà Lạt, những vấn đề người dân phản ánh cũng rất gần với cuộc sống. Ông Nguyễn Văn Tiến, tổ dân phố 22, phường Cam Ly – Đà Lạt, đề nghị có giải pháp chống ngập tại các tổ dân phố 1, 6 và 12. Còn ông Trương Văn Thành, tổ dân phố Vạn Thành 1, phản ánh tình trạng rác thải, bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng và nước, rác tràn ra đường mỗi khi mưa lớn. Trong khi đó, ông Trần Minh Anh, tổ dân phố Vạn Thành, đề nghị chính quyền kiểm tra, giám sát, xử lý tình trạng ô nhiễm, hôi thối tại khu vực trại gà đường Trần Văn Côi, bởi vấn đề đã tác động trực tiếp đến cuộc sống người dân.

    Đáng chú ý, nhiều ý kiến liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được người dân phường Cam Ly – Đà Lạt gửi gắm. Ông Võ Tá Hào, tổ dân phố Lê Lai, đề nghị quan tâm việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân khi đến nay mới có khoảng 30% số hộ được cấp.

    Ông Nguyễn Hùng Vỹ, tổ dân phố Vạn Thành đề nghị, giải quyết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân tại khu vực Tập đoàn Cà phê đường Cam Ly – Phước Thành. Những kiến nghị tưởng như chỉ là thủ tục hành chính, nhưng phía sau đó là quyền lợi hợp pháp, là tài sản, kế sinh nhai và sự ổn định của từng gia đình.

    Đối với khu vực Nhà ở xã hội Kim Đồng, ông Trần Văn Toàn, đại diện 28 hộ dân, thể hiện một cách nhìn rất rõ ràng: người dân thống nhất với chủ trương thu hồi đất nếu việc thu hồi phục vụ mục đích, lợi ích chung của cộng đồng, nhưng đồng thời mong muốn được bảo đảm quyền lợi chính đáng về bồi thường; trường hợp không thu hồi thì đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ.

    Người dân Tổ An Sơn 1 dự hội nghị các đại biểu ứng cử ĐBQH khóa XVI và HĐND nhiệm kỳ 2026 – 2031 tiếp xúc cử tri

    Từ Mũi Né đến Đà Lạt, hay Gia Nghĩa, từ câu chuyện bồi thường đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến chống ngập, xử lý rác thải, bảo vệ nguồn nước, bảo đảm nơi tránh trú cho ngư dân…, các kiến nghị có thể khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một mong muốn: được lắng nghe và được giải quyết thấu đáo.

    Nắm bắt để giải quyết

    Trong giai đoạn mới, yêu cầu đối với bộ máy chính quyền không chỉ là làm đúng, mà còn phải làm nhanh hơn, sát thực tế hơn và có trách nhiệm đến cùng hơn.

    Tinh thần ấy càng cần thiết khi Lâm Đồng đang đứng trước những yêu cầu phát triển mới. Giải quyết được một kiến nghị đúng nghĩa là tháo được một “nút thắt” trong đời sống. Nhiều nút thắt được tháo gỡ sẽ tạo thành một dòng chảy đồng thuận, thúc đẩy phát triển.

    Vì thế, “giải quyết đến cùng cho dân” không đơn thuần là một phương thức xử lý công việc. Đó còn là thước đo trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền trước Nhân dân.

    Tại buổi gặp mặt, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân, đồng chí Phạm Thị Phúc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh, việc gặp gỡ, lắng nghe Nhân dân không chỉ nhằm nắm bắt tâm tư, nguyện vọng mà quan trọng hơn là để kịp thời tổng hợp, phản ánh và theo dõi việc giải quyết những kiến nghị chính đáng từ cơ sở.

    Mỗi ý kiến của Nhân dân đều là một kênh thông tin quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền nhìn nhận sát hơn những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn. Vì vậy, những kiến nghị thuộc thẩm quyền cần được quan tâm giải quyết kịp thời; những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc phải được rà soát, làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm và có hướng xử lý phù hợp. Qua đó tạo sự đồng thuận và củng cố niềm tin của Nhân dân.

    Đại diện hộ dân phường Lâm Viên – Đà Lạt kiến nghị, đề xuất về những bất cập liên quan đến bảo hiểm xã hội

    Thời gian tới, MTTQ các cấp tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân; chủ động nắm bắt tình hình cơ sở, tập hợp ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, đồng thời phối hợp giám sát việc giải quyết, để mỗi tiếng nói chính đáng của người dân đều được lắng nghe và phản hồi thỏa đáng.

    Nguyệt Thu .

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-dan-noi-va-trach-nhiem-phan-hoi-c55877175.epi

  • Cát Tiên 3 tạo đà từ 4 chương trình trọng tâm, 3 công trình trọng điểm

    Người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Đồng Nai Thượng tích cực phát triển kinh tế nông nghiệp

    Tập trung những nền tảng phát triển

    Năm 2026, Đảng ủy xã Cát Tiên 3 đề ra 4 chương trình trọng tâm, 3 công trình trọng điểm và xây dựng các kế hoạch chuyên đề để tổ chức thực hiện. Đây là những nhiệm vụ then chốt nhằm cụ thể hóa mục tiêu phát triển địa phương trong nhiệm kỳ 2025 – 2030.

    4 chương trình trọng tâm tập trung vào phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững, hiệu quả; xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, quy hoạch sử dụng đất; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính quyền số.

    Trong nông nghiệp, xã định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo diện tích sản xuất kém hiệu quả, xây dựng vườn mẫu, hướng tới nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích. Cùng với đó, địa phương chú trọng phát triển các chuỗi liên kết sản xuất, phát huy vai trò của tổ hợp tác, hợp tác xã; duy trì 4 sản phẩm OCOP 3 sao và phát triển thêm những sản phẩm đặc trưng như: ốc bươu đen, gà đồi, rượu cần, cơm lam, heo đen.

    Tại vùng Đồng Nai Thượng, xã Cát Tiên 3, nghề truyền thống dệt thổ cẩm vẫn đang được đồng bào Mạ lưu giữ và phát huy

    Ông Nguyễn Đình Lập, Phó Chủ tịch UBND xã Cát Tiên 3 cho biết, địa phương xác định phát triển sản xuất phải gắn với nâng cao thu nhập, xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện thực tế và phát huy lợi thế từng khu vực. Vì vậy, cùng với hỗ trợ sản xuất, xã chú trọng xây dựng các chuỗi liên kết, phát triển sản phẩm đặc trưng và từng bước hình thành những hướng sinh kế bền vững cho người dân.

    Công tác quy hoạch cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng để mở không gian phát triển. Xã đã rà soát quy hoạch của các địa phương trước đây gồm: Gia Viễn, Tiên Hoàng, Đồng Nai Thượng, làm cơ sở lập quy hoạch chung xã Cát Tiên 3. Nhiệm vụ quy hoạch chung đến năm 2050 đã được hoàn thành và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; địa phương tiếp tục triển khai lập quy hoạch và lấy ý kiến cộng đồng dân cư.

    Người dân thôn Phi Sar, xã Cát Tiên 3 lưu giữ và phát huy nghề dệt thổ cẩm.

    Đẩy nhanh các công trình tạo động lực

    Nếu 4 chương trình trọng tâm tạo khung định hướng thì 3 công trình trọng điểm được xác định là những động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển hạ tầng, sản xuất và đời sống. Đáng chú ý là các dự án nâng cấp, mở rộng đường ĐH.91, ĐH.95 và ĐH.94. Xã đã phối hợp khảo sát, đề xuất bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030; đồng thời hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư một số dự án giao thông, trình cấp có thẩm quyền thẩm định.

    Cùng với giao thông, hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị là công trình có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đang được triển khai quyết liệt. Địa phương đã phối hợp điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm 460/487 hộ; xác minh nguồn gốc đất 235 hộ để phục vụ xây dựng phương án bồi thường.

    Người dân xã Cát Tiên 3 đồng tình, hưởng ứng bàn giao mặt bằng cho các đơn vị thi công hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị

    Đáng ghi nhận, 160 hộ dân đã ký cam kết bàn giao mặt bằng trước, trong đó 15 hộ bàn giao mặt bằng trước khi phương án bồi thường được xây dựng và công khai. Chủ đầu tư đã hoàn thành 2 tuyến cống qua đường ĐH.92, ĐH.95, xây dựng 500 m kênh chính và đang thi công 600 m kênh N4.

    Cát Tiên 3 cũng đang khảo sát hệ thống thủy lợi khu vực Đồng Nai Thượng, xác định các công trình cần nâng cấp, sửa chữa, đầu tư mới; tập trung hoàn thành đập dâng Đạ Rông, nạo vét suối thoát lũ, xây dựng kè chống sạt lở, phục vụ sản xuất và chủ động ứng phó thiên tai.

    Nông dân xã Cát Tiên 3 thu hoạch sầu riêng.

    Mặt khác, xã Cát Tiên 3 tập trung huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, tháo gỡ khó khăn trong bồi thường, giải phóng mặt bằng. Công tác xây dựng nông thôn mới, chỉnh trang cảnh quan, trồng cây xanh, duy trì các tuyến đường tự quản và hệ thống điện chiếu sáng tiếp tục được quan tâm.

    Trong cải cách hành chính, xã tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, đẩy mạnh cơ chế một cửa, duy trì hệ thống một cửa điện tử, nâng tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến và số hóa thủ tục hành chính. Đây là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng chính quyền số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

    Hoàng Sa .

    Nguồn https://baomoi.com/cat-tien-3-tao-da-tu-4-chuong-trinh-trong-tam-3-cong-trinh-trong-diem-c55877158.epi

  • Nguy cơ chậm tiến độ các chương trình mục tiêu năm 2026

    Hạ tầng nông thôn xã Tuy Đức đang dần hoàn thiện

    Nhiều địa phương chậm

    Tại xã Tuy Đức, địa phương đã tập trung công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các chương trình MTQG. Trong đó, Tuy Đức rà soát các nội dung, tiêu chí, mô hình đang triển khai và các hạng mục đầu tư, đánh giá tính hiệu quả, khả thi để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp, tập trung hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ theo kế hoạch đề ra.

    Dù nhiều nỗ lực, tuy nhiên đánh giá chung, đến nay tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, phần việc vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn, giải ngân vốn các chương trình MTQG còn thấp. Theo ông Trần Văn Sỹ – Chủ tịch UBND xã Tuy Đức, tổng nguồn vốn các chương trình MTQG năm 2026 trên địa bàn là 16,872 tỷ đồng (nguồn vốn năm 2025 được phép chuyển sang thực hiện trong năm 2026). Ước đến ngày 30/6/2026 giải ngân đạt 5,062 tỷ đồng, đạt 30% kế hoạch vốn.

    Tương tự, tại xã Đắk Sắk ước thực hiện giải ngân vốn các chương trình MTQG đến 6 tháng đầu năm mức 2,38 tỷ đồng, đạt khoảng 30% kế hoạch.

    Theo ông Nguyễn Văn Phò, Chủ tịch UBND xã một phần của việc giải ngân thấp là do khối lượng công việc của 3 chương trình phải triển khai nhiều, đội ngũ chuyên môn mỏng, không ít nội dung khó, mới với cán bộ cấp xã như: đầu tư, đất đai… Hiện nay, cấp ủy, chính quyền cơ sở đang tập trung đôn đốc triển khai chương trình, bảo đảm chất lượng các nội dung, phần việc.

    Cần quyết tâm cao hơn

    Mới đây, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đoàn đi thực tế nắm bắt, kiểm tra tình hình thực hiện, giải ngân nguồn vốn của 3 chương trình MTQG, đôn đốc, hướng dẫn tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc tại nhiều địa phương. Đoàn đã kiểm tra ở một số địa phương như: Đức Linh, La Dạ, Sơn Điền, Ninh Gia…

    Khối lượng công việc lớn, lực lượng chuyên môn mỏng ảnh hưởng tiến độ các chương trình mục tiêu quốc gia tại xã Đắk Sắk

    Liên quan đến nội dung này, ông Lê Quang Dần, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin: “Bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được thì còn một số vấn đề, tồn tại, hạn chế. Về tiến độ triển khai các nhiệm vụ chung các chương trình giai đoạn 2026 – 2030 còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu. Nếu không có giải pháp quyết liệt, kịp thời thì nguy cơ không hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2026 là rất lớn”.

    Lãnh đạo sở thông tin thêm, qua kiểm tra, công tác kiện toàn, thành lập Ban Chỉ đạo cấp xã để tổ chức thực hiện chương trình ở một số xã chưa bảo đảm. Một số địa phương chưa phân công rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, các phòng, đơn vị trực thuộc và cán bộ trực tiếp theo dõi, tham mưu thực hiện chương trình.

    Từ đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải ngân nguồn vốn của giai đoạn 2021 – 2025 đã được kéo dài thời gian thực hiện sang năm 2026. Hơn thế, một số địa phương chưa xác định, nắm bắt được rõ nguồn vốn của từng chương trình MTQG giai đoạn 2021 – 2025 sau khi sắp xếp, sáp nhập; chưa xác định được thẩm quyền của địa phương và cách thức triển khai, điều chỉnh nguồn vốn để tiếp tục thực hiện, giải ngân theo quy định.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề nghị các Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu quan tâm, trực tiếp chỉ đạo triển khai các chương trình MTQG. Các địa phương khẩn trương kiện toàn Ban Chỉ đạo chương trình MTQG cấp xã và Ban Phát triển thôn giai đoạn 2026 – 2030 theo quy định và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh để kịp thời phân công, triển khai thực hiện các nhiệm vụ của chương trình theo thẩm quyền.

    Xã Đắk Sắk chăm lo sinh kế cho hộ nghèo, cận nghèo.

    Trong kế hoạch thực hiện các chương trình MTQG giai đoạn 2026 – 2030, các địa phương cần xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân để tổ chức thực hiện, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của chương trình giai đoạn 2026 – 2030. Từ đó, các địa phương bảo đảm tiến độ thực hiện để sớm giải ngân hết, dứt điểm nguồn vốn của 3 chương trình MTQG, nhất là vốn giai đoạn 2021 – 2025 đang kéo dài trong năm 2026.

    Ngày 27/7/2026, tại Quyết định 3801, UBND tỉnh đã phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2026 thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Tổng số tiền 827, 817 tỷ đồng, trong đó: nguồn ngân sách Trung ương 349,290 tỷ đồng; nguồn ngân sách tỉnh bố trí đối ứng 478,527 tỷ đồng. Đây được coi là nguồn lực mới nhưng cũng là thách thức đòi hỏi sự quyết tâm cao hơn của các địa phương để đưa nguồn vốn đến với thực tiễn góp phần xây dựng kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống người dân.

    Hồng Thoan .

    Nguồn https://baomoi.com/nguy-co-cham-tien-do-cac-chuong-trinh-muc-tieu-nam-2026-c55877159.epi

  • Xây dựng giải pháp xử lý nước thải tại nguồn

    Địa hình chia cắt và dân cư rải rác là cản trở lớn nhất trong việc đồng bộ hệ thống thu gom nước thải

    Xoay xở với nước thải sinh hoạt

    Lâu nay, khi hạ tầng thu gom, xử lý nước thải chưa đáp ứng, nhiều khu dân cư vẫn tự xoay xở với nguồn nước thải sinh hoạt phát sinh hằng ngày. Việc xả nước thải trực tiếp ra môi trường vẫn diễn ra ở nhiều khu dân cư. Không ít hộ phải tự xử lý nước thải sinh hoạt theo cách riêng, trong đó có tình trạng nối đường ống từ nhà ra mương, cống thoát nước chung. Vào chiều tối, khi lượng nước thải sinh hoạt tăng, nước từ các đường ống theo mương chảy ra ngoài, kéo theo mùi hôi nồng nặc, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của các hộ xung quanh.

    Ông Nguyễn Quốc Khánh, một hộ dân ở phường B’Lao cho biết: “Đa số các hộ cho nước thải sinh hoạt xuống hầm tự hoại. Nhưng có người đưa đường ống ra mương, cống, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng và môi trường”.

    Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý được người dân xả trực tiếp ra môi trường xung quanh

    Hiện nay, hạ tầng xử lý nước thải trên địa bàn vẫn còn hạn chế. Tại thời điểm đầu năm 2026, toàn tỉnh có 3 hệ thống xử lý nước thải với tổng công suất khoảng 18.000 m³/ngày đêm. Trong đó, Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại Đà Lạt có công suất 12.400 m³/ngày đêm; nhà máy tại Phan Thiết 5.000 m³/ngày đêm và nhà máy tại Gia Nghĩa 600 m³/ngày đêm. Từ thực tế này cho thấy, năng lực xử lý nước thải tập trung mới đáp ứng một phần nhu cầu của các đô thị. Trong khi đó, nước thải sinh hoạt vẫn phát sinh hằng ngày từ các hộ gia đình, khu dân cư và cơ sở dịch vụ.

    Điều kiện sinh hoạt khó khăn của người dân xã Quảng Sơn khiến việc làm vệ sinh, xử lý nước thải chưa được quan tâm đúng mức

    Đáng chú ý, theo đánh giá của cơ quan chức năng, chất lượng nước mặt trên địa bàn giai đoạn 2020 – 2025 có xu hướng suy giảm. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là còn thiếu các nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, dẫn đến tình trạng nước thải chưa được xử lý đầy đủ trước khi xả ra sông, suối, hồ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu không chỉ tiếp tục đầu tư các nhà máy xử lý nước thải tập trung mà còn phải có giải pháp phù hợp với những khu vực chưa thể kết nối vào hệ thống chung.

    Từ khoảng trống hạ tầng đến chính sách hỗ trợ

    Theo lộ trình thực hiện, UBND tỉnh đã chỉ đạo ưu tiên đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị. Đồng thời, huy động nguồn lực xã hội hóa, mở rộng các công trình xử lý nước thải và từng bước hoàn thiện hạ tầng tập trung ở vùng nông thôn. Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ xử lý và tái chế sử dụng nước thải đạt khoảng 65 – 70%. Cùng với đó, tỉnh đang nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tổ chức, hộ gia đình tự đầu tư công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ. Nội dung này dự kiến được tích hợp trong nghị quyết chung về một số cơ chế, chính sách quản lý chất thải, bảo vệ môi trường, trình HĐND tỉnh xem xét.

    Để bảo đảm môi trường xanh, sạch, đẹp, người dân xã Hòa Bắc thường xuyên tổ chức vệ sinh đường làng, ngõ xóm

    Theo hướng này, những khu vực có điều kiện sẽ tiếp tục được đầu tư hệ thống xử lý tập trung. Còn tại các khu dân cư chưa thể kết nối, cần có giải pháp xử lý phù hợp ngay tại nguồn phát sinh.

    Theo ông Võ Văn Minh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, xử lý tại chỗ không thay thế hệ thống tập trung mà là giải pháp bổ trợ ở những nơi chưa thể kết nối. Với không gian phát triển rộng sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh cần kết hợp linh hoạt 2 phương thức, từng bước thu hẹp khoảng trống hạ tầng và kiểm soát nước thải ngay từ nguồn phát sinh.

    Văn Tâm .

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-giai-phap-xu-ly-nuoc-thai-tai-nguon-c55877173.epi

  • Vì sao nhà, đất dôi dư ‘ế’ giữa đô thị?

    Trung tâm Giới thiệu sản phẩm OCOP (phường Lang Biang – Đà Lạt) sau một thời gian bỏ trống, vừa được một cá nhân thuê và đang sửa chữa để buôn bán kinh doanh

    Bức tranh 2 mảng màu

    Thời gian vừa qua, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có những chỉ đạo quyết liệt về việc rà soát, xử lý toàn bộ quỹ nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính. Mục tiêu là đưa các cơ sở này vào khai thác hiệu quả, tránh lãng phí. Một trong những phương án được khuyến khích là tài sản thuộc quản lý của xã, phường giao cho trung tâm dịch vụ tổng hợp cấp xã, phường quản lý và tổ chức cho thuê, tạo nguồn thu cho ngân sách.

    Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 4.642 cơ sở nhà, đất dôi dư, trong đó 505 cơ sở đã được UBND tỉnh phê duyệt phương án xử lý. Riêng 157 cơ sở tại 60 xã, phường đã được chuyển giao về địa phương trực tiếp quản lý, bố trí sử dụng hợp lý hoặc giao trung tâm dịch vụ tổng hợp tổ chức cho thuê.

    Dù nằm ở vị trí đẹp, hạ tầng thuận tiện nhưng những trụ sở càng lớn lại càng khó cho thuê

    Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên, nhiều địa phương cho biết, dù đã nghe chủ trương nhưng vẫn chưa thể triển khai. Một cán bộ tại xã Lạc Dương chia sẻ: “Chúng tôi có nghe chủ trương bàn giao tài sản dôi dư về Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, nhưng chưa có quyết định. Thực tế, các trụ sở công sở cũ ở đây cũng rất khó cho thuê, chỉ có một ít người dân, doanh nghiệp có nhu cầu thuê để làm nơi chứa nông sản, hàng hóa, phân bón mà thôi. Một số thì bố trí làm hội trường thôn, nơi ở cho cán bộ, công chức”.

    Không ít xã, phường ở đô thị Đà Lạt cũng rơi vào tình trạng tương tự. Trong khi đó, tài sản càng để lâu thì càng xuống cấp theo thời gian.

    Điểm sáng giữa vùng tối

    Trái ngược với nhiều thông tin không biết, chưa nắm rõ ở nhiều nơi trong quá trình đi tìm hiểu thì tại phường Lang Biang – Đà Lạt lại đang triển khai khá tốt. Ngay khi có chủ trương, Phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị phường đã nhanh chóng thống kê, bàn giao tài sản về Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường. UBND phường cũng lập tức ban hành quyết định phân cấp, tạo cơ sở pháp lý để đơn vị này triển khai cho thuê.

    Ông Nguyễn Xuân Quang – Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp phường Lang Biang – Đà Lạt phấn khởi cho biết: “Hiện trung tâm được giao quản lý 6 cơ sở nhà, đất dôi dư. Chúng tôi đã mời chào và tổ chức đấu giá cho thuê thành công 3 trụ sở công, được các đơn vị thuê làm văn phòng công ty và cơ sở kinh doanh”.

    Khu vực trung tâm xã Lạc Dương

    Tuy nhiên, thành công này cũng chỉ là một nửa câu chuyện. 3 trụ sở còn lại, theo ông Quang, đều có diện tích lớn, tổng mức đầu tư lớn, dù đã nỗ lực giới thiệu, mời chào, niêm yết giá công khai nhưng đến nay vẫn không ai đăng ký.

    Tại sao trụ sở lớn lại “ế”?

    Vì sao tài sản lớn lại ế, khó cho thuê? Câu trả lời nằm ở chính cách định giá hiện hành. Ông Nguyễn Xuân Quang thẳng thắn chỉ ra: “Quá trình khảo sát thực tế cho thấy, việc đưa tổng mức đầu tư xây dựng công trình vào công thức tính đơn giá cho thuê đã đẩy mức giá lên quá cao. Trong khi đó, các công trình này vốn được thiết kế phục vụ hoạt động hành chính, hoàn toàn không phù hợp với mục đích kinh doanh thương mại”.

    Không chỉ vậy, thời hạn cho thuê cũng là một nghịch lý. Theo quy định, thời hạn cho thuê tài sản công tối đa 10 năm, nhưng phần lớn các địa phương chỉ áp dụng hợp đồng ngắn hạn 3 – 5 năm để tránh rủi ro. Điều này khiến người thuê không đủ thời gian thu hồi vốn nếu phải đầu tư cải tạo, sửa chữa.

    Một cá nhân vừa đấu giá thành công trụ sở trưng bày sản phẩm OCOP cũ tại phường Lang Biang – Đà Lạt chia sẻ: “Dù thuê các trụ sở này để làm nhà mẫu giáo hay kinh doanh khách sạn, buôn bán thì các trụ sở hành chính cũ của Nhà nước có diện tích và tổng mức đầu tư lớn đều phải sửa chữa lớn. Thời gian thuê lại quá ngắn, người thuê không dám đầu tư nhiều để cải tạo theo nhu cầu kinh doanh. Giá thuê cao, chi phí sửa chữa tốn kém, mà thuê ngắn hạn thì không thể cân đối được bài toán thu hồi vốn”.

    Một góc trung tâm Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

    Bên cạnh đó, việc giao trung tâm dịch vụ tổng hợp cấp xã, phường trực tiếp quản lý và thúc đẩy cho thuê nhưng hiện nay các đơn vị này thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về định giá tài sản và quản lý công trình xây dựng, khiến quá trình triển khai ở một số nơi gặp nhiều lúng túng.

    Cần linh hoạt tháo gỡ

    Nghị định 31/2026/NQ-CP của Chính phủ ra đời được xem là bước đi quan trọng giúp tháo gỡ nút thắt trong việc cho thuê tài sản công dôi dư. Giá thuê đã được quy định rõ ràng hơn, quy trình niêm yết, mời chào công khai, minh bạch hơn.

    Ông Nguyễn Xuân Quang đánh giá: “Từ khi có Nghị định 31, việc tổ chức cho thuê thuận lợi hơn rất nhiều. Giá đã rõ ràng, được niêm yết công khai. Vướng hiện nay chỉ là khâu tính giá đối với những tài sản có diện tích và chi phí đầu tư công lớn và còn mới”.

    Để tránh bỏ hoang, lãng phí tài sản công là nhà, đất dôi dư và thúc đẩy việc cho thuê các tài sản này sớm, các cấp chính quyền và cơ quan chức năng cần tiếp tục lắng nghe kiến nghị từ cơ sở và linh hoạt tháo gỡ.

    Một số trụ sở vừa mới được xây dựng rất đẹp sau một thời gian bỏ hoang đã có dấu hiệu xuống cấp

    Bởi, tài sản công, dù ở hình thức nào, cũng là nguồn lực của địa phương. Tháo gỡ kịp thời các vướng mắc không chỉ giải được bài toán lãng phí mà còn góp phần khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển cho các địa phương.

    Nguyễn Nghĩa .

    Nguồn https://baomoi.com/vi-sao-nha-dat-doi-du-e-giua-do-thi-c55877157.epi

  • Khánh Hòa quyết liệt triển khai Quy hoạch chung đô thị đến năm 2050

    Ngày 20/8, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị thẩm định Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn, Chủ tịch Hội đồng thẩm định, chủ trì hội nghị.

    Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn phát biểu tại hội nghị.

    Theo báo cáo của đơn vị tư vấn, Quy hoạch được lập trên phạm vi toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Khánh Hòa mới sau sắp xếp, sáp nhập tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận, với 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 phường, 48 xã và đặc khu Trường Sa. Quy mô nghiên cứu khoảng 8.706,74km² và phần diện tích biển theo quy định.

    Quy hoạch hướng tới xây dựng Khánh Hòa trở thành đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương; hình thành cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, phát triển kinh tế biển, dịch vụ – du lịch, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, logistics, thương mại và đổi mới sáng tạo.

    Mô hình phát triển được đề xuất theo cấu trúc “Đa trung tâm – 3 cực động lực – 4 hành lang – 2 phân vùng phát triển”, dựa trên chuỗi đô thị biển và khung thiên nhiên đặc thù của Khánh Hòa.

    Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Việt Hùng nhấn mạnh các định hướng trọng tâm trong triển khai Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa.

    Phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Việt Hùng cho biết, đồ án được lập trong bối cảnh tỉnh vừa sắp xếp lại đơn vị hành chính, có không gian phát triển lớn hơn, đa dạng hơn. Do đó, tỉnh xác định đây không chỉ là đồ án tổ chức không gian đô thị mà còn là khung phát triển tổng thể, lâu dài, nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh mới và kiểm soát các rủi ro trong quá trình phát triển.

    Lãnh đạo tỉnh nhấn mạnh các yêu cầu trọng tâm gồm phát triển kinh tế biển gắn với cảng biển, logistics, du lịch chất lượng cao, năng lượng và công nghiệp công nghệ cao; sử dụng đất tiết kiệm, ưu tiên tái thiết đô thị hiện hữu; xác định rõ thứ tự ưu tiên đầu tư hạ tầng; bảo vệ môi trường, an ninh nguồn nước, hành lang sinh thái và bảo đảm quốc phòng – an ninh, chủ quyền biển đảo.

    Không gian đô thị Khánh Hòa hướng tới phát triển đồng bộ, hiện đại.

    Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Nguyễn Tường Văn đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Khánh Hòa và đơn vị tư vấn trong việc triển khai lập Đồ án Quy hoạch.

    Thứ trưởng yêu cầu tiếp tục cập nhật, cụ thể hóa các cơ sở chính trị, pháp lý mới; làm rõ tác động của các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành; rà soát dự báo dân số, chỉ tiêu đất đai, động lực và tính chất đô thị. Đồng thời, hoàn thiện mô hình, cấu trúc đô thị trên cơ sở khung thiên nhiên, hạ tầng giao thông kết nối, động lực kinh tế từng vùng và vùng đô thị hóa gắn với các đơn vị hành chính cấp xã, phường.

    UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết sẽ nghiêm túc tiếp thu các ý kiến góp ý, chỉ đạo đơn vị tư vấn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ theo quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

    Tỉnh xác định việc hoàn thiện Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với quá trình phát triển của tỉnh sau sắp xếp đơn vị hành chính. Sở Xây dựng đang tập trung phối hợp với đơn vị tư vấn, các sở, ngành rà soát, cập nhật và hoàn thiện hồ sơ theo các ý kiến của Hội đồng thẩm định, bảo đảm quy hoạch vừa có tầm nhìn dài hạn, vừa sát thực tiễn và có tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

    Ông Nguyễn Thành Phú – Giám đốc Sở Xây dựng Khánh Hòa

    Tùng Quân

    Nguồn https://baomoi.com/khanh-hoa-quyet-liet-trien-khai-quy-hoach-chung-do-thi-den-nam-2050-c55876925.epi

  • Quy hoạch Khánh Hòa thành đô thị đa cực, phát triển bền vững

    Quy hoạch khu vực Nha Trang-Cam Lâm là trung tâm tổng hợp (Ảnh: Một góc biển Nha Trang)

    Quy mô nghiên cứu khoảng 8.706,74km² và phần diện tích biển theo ranh giới được xác định, công bố theo quy định. Mục tiêu của Quy hoạch là cụ thể hóa các định hướng phát triển tỉnh Khánh Hòa trở thành là đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương.

    Hình thành cấu trúc không gian đô thị đa cực, đa trung tâm, gắn với các khu vực động lực; xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại; phát triển các trung tâm về kinh tế biển, dịch vụ-du lịch, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, logistics, thương mại, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao chất lượng sống của người dân, bảo đảm quốc phòng-an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế. Làm cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý phát triển đô thị, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.

    Về mô hình phát triển, Quy hoạch đề xuất cấu trúc “Đa trung tâm-3 cực động lực-4 hành lang-2 phân vùng phát triển”, dựa trên chuỗi các đô thị biển và khung thiên nhiên đặc thù của Khánh Hòa. Trong đó, khu vực Nha Trang-Cam Lâm là trung tâm tổng hợp; Vân Phong, Nha Trang-Cam Lâm-Cam Ranh và Phan Rang cùng vùng kinh tế trọng điểm phía nam là các cực động lực phát triển. Quy hoạch hướng tới xây dựng Khánh Hòa trở thành trung tâm kinh tế biển, dịch vụ-du lịch, logistics, công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo; đồng thời phát triển đô thị thông minh, xanh, hiện đại, nâng cao chất lượng sống của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững dài hạn.

    Cao tốc Khánh Hòa-Buôn Ma Thuột là tuyến đường giao thông chiến lược quan trọng, kết nối vùng Duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên.

    Hội đồng thẩm định là đại diện Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương; hội, hiệp hội nghề nghiệp chuyên ngành; các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Xây dựng; đại diện các sở, ngành liên quan của tỉnh Khánh Hòa đã xem xét toàn diện hồ sơ Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.

    Các chuyên gia phản biện, đại diện của Bộ, ngành Trung ương, thành viên Hội đồng đều đánh giá cao Báo cáo thuyết minh thẩm định Quy hoạch được chuẩn bị công phu, kỹ càng, đồng thời cơ bản thống nhất với các mục tiêu, mô hình phát triển, cấu trúc không gian và các định hướng lớn của Quy hoạch. Các ý kiến tập trung chủ yếu vào việc chuẩn hóa số liệu, củng cố luận cứ, làm rõ phân kỳ, nguồn lực thực hiện để bảo đảm tính khả thi, đồng thời hoàn thiện nội dung Hồ sơ thẩm định quy hoạch.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Việt Hùng.

    Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Việt Hùng cho biết, đồ án Quy hoạch có quy mô phạm vi rộng, được lập trong bối cảnh tỉnh Khánh Hòa vừa sắp xếp lại đơn vị hành chính, có không gian phát triển lớn hơn, đa dạng hơn. Đồ án phải giải quyết đồng thời mối quan hệ giữa phát triển đô thị, kinh tế biển, công nghiệp, năng lượng, du lịch, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo. Vì vậy, tỉnh xác định đây không chỉ là đồ án tổ chức không gian đô thị, mà là khung phát triển tổng thể, lâu dài cho tỉnh Khánh Hòa, vừa phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh mới, vừa kiểm soát chặt chẽ các rủi ro trong quá trình phát triển.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Việt Hùng nêu rõ 5 quan điểm chỉ đạo trọng tâm của tỉnh: Thứ nhất, về tổ chức không gian và mô hình phát triển: Phát triển không gian thống nhất nhưng không áp đặt khiên cưỡng. Kinh tế biển là nền tảng; cảng biển, logistics, du lịch chất lượng cao, năng lượng và công nghiệp công nghệ cao là động lực. Phát triển có trọng tâm, không dàn trải.

    Toàn cảnh Hội nghị thẩm định Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.

    Thứ hai, quy mô dân số và sử dụng đất: Quy mô dân số trong đồ án là dự báo dài hạn để tính toán hạ tầng, không phải chỉ tiêu hành chính bắt buộc. Tỉnh ưu tiên tái thiết đô thị hiện hữu, sử dụng tiết kiệm đất đai, không mở rộng đô thị tràn lan.

    Thứ ba, hạ tầng chiến lược và nguồn lực: Xác định rõ thứ tự ưu tiên và phân kỳ đầu tư cho hạ tầng giao thông, cảng biển, năng lượng… phù hợp với khả năng huy động nguồn lực.

    Thứ tư, môi trường và cảnh quan: Bảo vệ môi trường, an ninh nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu xuyên suốt. Duy trì các khoảng đệm sinh thái, hành lang thoát lũ và hệ sinh thái đặc trưng.

    Thứ năm, quốc phòng-an ninh: Phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo. Mọi định hướng tại các khu vực ven biển, sân bay, bán đảo phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định quốc phòng.

    Tại Hội nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cho biết, tỉnh sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý, chỉ đạo đơn vị tư vấn bổ sung và hoàn thiện Hồ sơ theo quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

    Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Tường Văn Chủ tịch Hội đồng thẩm định Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, đánh giá cao sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và đơn vị tư vấn trong việc triển khai lập Đồ án Quy hoạch.

    Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Tường Văn phát biểu tại hội nghị thẩm định Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.

    Để hoàn thiện hồ sơ bảo đảm chất lượng và tính khả thi, Thứ trưởng yêu cầu, hồ sơ Quy hoạch cần cập nhật và cụ thể hóa các cơ sở chính trị, pháp lý mới, nhất là những định hướng liên quan đến phát triển kinh tế biển, phù hợp với vị thế, tiềm năng và lợi thế đặc thù của Khánh Hòa. Đồng thời cần làm rõ hơn tác động của các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành đối với cấu trúc và không gian phát triển đô thị.

    Đánh giá sự phù hợp của các quy hoạch phân ngành; đánh giá lại hiện trạng thời gian vừa qua; Đánh giá sát thực tiễn hiện trạng và công tác tổ chức thực hiện; Xác định rõ động lực và tính chất đô thị, đơn vị tư vấn cần rà soát, phân tích làm bật các tính chất cốt lõi ở tầm quốc gia, đồng thời bổ sung định hướng phát triển “năng lượng” vào động lực phát triển chung của tỉnh; Rà soát dự báo dân số và chỉ tiêu đất đai.

    Hoàn thiện mô hình, cấu trúc đô thị và không gian, cần xác định rõ khu vực cốt lõi dựa trên 4 trụ cột: Khung thiên nhiên (núi, sông, vịnh biển, đảo); Khung hạ tầng giao thông kết nối; Động lực kinh tế từng vùng; Vùng đô thị hóa gắn với các đơn vị hành chính cấp xã/phường làm hạt nhân lan tỏa. Chú trọng thiết kế đô thị và cảnh quan: Tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan phải bám sát 4 khung thiên nhiên đặc trưng (biển vịnh, ven sông, núi, đô thị ven biển), tập trung thiết kế tại các khu vực trọng điểm, bảo tồn di sản, gắn với hệ thống đô thị quốc gia.

    VŨ TÂN

    Nguồn https://baomoi.com/quy-hoach-khanh-hoa-thanh-do-thi-da-cuc-phat-trien-ben-vung-c55876928.epi

  • Huế thông qua Nghị quyết đầu tư Đại lộ, vốn 20.000 tỷ đồng

    Trong số dự án đầu tư lĩnh vực hạ tầng giao thông, dự án Đại lộ Bắc Nam phía Đông, thành phố Huế đề xuất đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), hợp đồng BT.

    Theo tờ trình của UBND thành phố Huế, Đại lộ Bắc Nam phía Đông có điểm đầu tại đường tỉnh 9, giao Quốc lộ 49F ở KCN Phong Điền, đi song song và hai bên tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam qua địa bàn thành phố Huế, điểm cuối kết nối với đường trục chính khu đô thị Chân Mây. Tổng chiều dài tuyến khoảng 75km, quy mô 6 làn xe.

    Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 20.000 tỷ đồng. Dự án được đề xuất đầu tư phương thức PPP, hợp đồng BT, thanh toán bằng quỹ đất hoặc ngân sách nhà nước; quỹ đất dự kiến đối ứng khoảng 500-600ha tại các khu vực lân cận. Mục tiêu nhằm hướng đến hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại, tăng khả năng kết nối giữa các khu công nghiệp phía Bắc với ga đường sắt tốc độ cao, các trung tâm thương mại – dịch vụ mới, Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô và cảng Chân Mây.

    Cũng tại kỳ họp, đại biểu đã thống nhất, thông qua danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất. Trong danh mục, có 4 dự án điện mặt trời gồm Nhà máy điện mặt trời TTC Phong Điền 2, Phong Điền III, Điền Hương và Điền Môn. Theo hồ sơ, phần lớn diện tích dự án là đất rừng sản xuất có hiệu quả thấp trên đất cát hoặc đất chưa sử dụng; trong phạm vi các dự án không có khu dân cư sinh sống.

    Theo đánh giá của UBND thành phố, việc đầu tư các dự án năng lượng mặt trời vừa bổ sung sản lượng điện cho hệ thống điện quốc gia, vừa góp phần nâng giá trị sản xuất trên những diện tích đất hiệu quả thấp. Khi đi vào hoạt động, mỗi dự án dự kiến tạo việc làm cho khoảng 30-50 lao động địa phương.

    Sau khi HĐND thành phố Huế ban hành nghị quyết, UBND thành phố sẽ công khai danh mục, tổ chức các bước lập, thẩm định hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư theo quy định.

    Kỳ họp cũng xem xét chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện dự án Chỉnh trang đường lên đỉnh núi Kim Phụng. Dự án có quy mô khoảng 3,1ha, trong đó diện tích có rừng đề nghị chuyển mục đích khoảng 1,96ha. Đáng chú ý, diện tích rừng tự nhiên xin chuyển mục đích là 0,1406ha. Dự án thuộc trường hợp được phép chuyển mục đích sử dụng diện tích rừng này theo quy định hiện hành đối với dự án đầu tư công.

    Hà Minh

    Nguồn https://baomoi.com/hue-thong-qua-nghi-quyet-dau-tu-dai-lo-von-20-000-ty-dong-c55876871.epi

  • Phối hợp thực hiện các công tác chuẩn bị đưa Sân bay Long Thành vào khai thác

    Quang cảnh hội nghị. Ảnh: CTV

    Tại buổi làm việc, đại diện Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã báo cáo tổng quan về Dự án Sân bay Long Thành; đồng thời, đưa ra các nội dung chính đề nghị phường Long Thành phối hợp triển khai nhằm chuẩn bị cho công tác đưa Sân bay Long Thành vào khai thác.

    Cùng với đó, đại diện các đơn vị liên quan đã trao đổi, thảo luận các chuyên đề phối hợp khi Sân bay Long Thành đưa vào khai thác gồm: an ninh, an toàn, quản lý tĩnh không; y tế, phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, tìm kiếm cứu nạn tàu bay; hạ tầng giao thông, lưu trú; diễn tập thử nghiệm và định hướng cộng đồng.

    Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Long Thành Lê Hoàng Sơn phát biểu ý kiến tại buổi làm việc. Ảnh: ĐPCC

    Tại buổi làm việc, các bên đã thống nhất các nội dung hợp tác, triển khai diễn tập theo phương án mà Cảng hàng không quốc tế Long Thành đề nghị. Phường Long Thành cũng cam kết tạo tối đa các điều kiện, triển khai các công tác chuẩn bị đưa Sân bay Long Thành vào khai thác. Đồng thời, phường Long Thành kiến nghị các đơn vị liên quan sớm thi công hoàn trả nguyên trạng tuyến đường dân sinh phục vụ thi công dự án. Cùng với đó, ưu tiên chính sách hướng nghiệp, đào tạo và tuyển dụng lao động địa phương, đặc biệt là con em các gia đình thuộc diện giải phóng mặt bằng, tái định cư phục vụ dự án vào làm việc tại Sân bay Long Thành.

    Đối với việc ký kết quy chế phối hợp, phường Long Thành và Cảng hàng không quốc tế Long Thành dự kiến chính thức ký kết trong tháng 9-2026.

    Nhân dịp này, Cảng hàng không quốc tế Long Thành phối hợp với phường Long Thành trao tặng 2 phần quà cho các Mẹ Việt Nam anh hùng đang sinh sống trên địa bàn phường.

    Phạm Tùng

    Nguồn https://baomoi.com/phoi-hop-thuc-hien-cac-cong-tac-chuan-bi-dua-san-bay-long-thanh-vao-khai-thac-c55876824.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!