Author: bachdn

  • Hải Phòng: Tháo gỡ vướng mắc cho 84/151 dự án tồn đọng kéo dài

    Quang cảnh cuộc họp

    Chiều 21/8, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị giao ban báo chí tháng 8 năm 2026. Đây là hội nghị giao ban báo chí được tổ chức thường niên, nhằm đánh giá tình hình hoạt động báo chí trong tháng và định hướng công tác thông tin, tuyên truyền trong thời gian tới.

    Theo thông tin tại hội nghị, đến ngày 17/8/2026, các sở, ban, ngành và địa phương của Hải Phòng đã hoàn thành tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với 84/151 dự án, công trình tồn đọng kéo dài trên địa bàn.Trong số này có 41 dự án đầu tư ngoài ngân sách, 40 dự án đầu tư công và 3 quỹ đất thuộc Trung tâm Phát triển quỹ đất đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng.

    Đối với 67 dự án còn lại, thành phố đã xác định phương án tháo gỡ và đang triển khai thực hiện. Trong đó có 35 dự án đầu tư ngoài ngân sách, 26 dự án đầu tư công, 5 quỹ đất cần giải phóng mặt bằng thuộc Trung tâm Phát triển quỹ đất và 1 doanh nghiệp có vốn nhà nước đang thực hiện thủ tục giải thể. Để xử lý các dự án tồn đọng kéo dài, trước và sau hợp nhất, Hải Phòng đã ban hành 70 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo. UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 51/KH-UBND ngày 13/2/2026 về rà soát, giải quyết 151 dự án, công trình tồn đọng, dừng thi công, chậm tiến độ trên địa bàn.

    Thành phố xác định việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án là nhiệm vụ quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Các sở, ban, ngành và địa phương được yêu cầu khẩn trương giải quyết những nội dung thuộc thẩm quyền; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc tiến độ, không để xảy ra tình trạng chậm trễ, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Cùng với việc xử lý các dự án tồn đọng, Hải Phòng đang tập trung sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư sau hợp nhất. Theo Sở Tài chính, toàn thành phố hiện có 995 cơ sở nhà, đất dôi dư.

    Trong đó, 343 cơ sở được giao, điều chuyển làm trụ sở, gồm 255 cơ sở cho các đơn vị địa phương và 88 cơ sở cho cơ quan Trung ương; 85 cơ sở phục vụ giáo dục; 28 cơ sở phục vụ y tế; 93 cơ sở được điều chuyển, chuyển đổi công năng phục vụ văn hóa, công cộng và 10 cơ sở tiếp tục được quản lý để thực hiện các công trình theo dự án, quy hoạch đã được phê duyệt.

    Đáng chú ý, 436 cơ sở nhà, đất được chuyển giao về Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố quản lý, khai thác. Trong đó, 243 cơ sở dự kiến khai thác vào mục đích đấu giá đất ở; 175 cơ sở dự kiến cho thuê ngắn hạn; 18 cơ sở có nguồn gốc từ Công ty Kinh doanh nhà được xây dựng phương án xử lý cùng quỹ nhà cho thuê kinh doanh.

    Đối với quỹ nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở, chủ trương của thành phố là thu hồi để sắp xếp, xử lý theo quy định, ưu tiên sử dụng vào các mục đích công cộng, phục vụ nhân dân. Trường hợp không thể sử dụng vào mục đích công cộng sẽ bán đấu giá để tạo nguồn thu cho ngân sách thành phố.

    Trong tổng số 159 điểm nhà, đất thực hiện thu hồi theo quy định, đến nay 148 điểm đã được thu hồi và có cam kết trả nhà, đạt khoảng 93% kế hoạch. Có 5 điểm đang được rà soát các tồn tại do vướng mắc pháp lý và 6 điểm đã ban hành quyết định cưỡng chế, đồng thời tiếp tục tuyên truyền, vận động thực hiện thủ tục bàn giao, trả nhà.

    Thời gian tới, Hải Phòng tiếp tục rà soát các cơ sở nhà, đất dôi dư, không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả; đẩy nhanh việc đưa tài sản vào khai thác, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng quy định. Qua đó, thành phố hướng tới sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, tài sản công, không để xảy ra thất thoát, lãng phí.

    Đoàn Duy Long

    Nguồn https://baomoi.com/hai-phong-thao-go-vuong-mac-cho-84-151-du-an-ton-dong-keo-dai-c55882512.epi

  • Quyết liệt xử lý, chống lãng phí nhà, đất dôi dư sau sáp nhập

    Đồng chí Đỗ Anh Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu kết luận cuộc họp.

    Theo báo cáo đến ngày 20-8, toàn tỉnh có 1.595 cơ sở nhà, đất dôi dư cần xử lý (tăng 467 cơ sở) chủ yếu là điểm trường (1.122 cơ sở), trụ sở làm việc và nhà văn hóa thôn (473 cơ sở). Tỉnh đã hoàn thành xử lý dứt điểm 1.494 cơ sở, đạt gần 94%, trong đó 1.268 cơ sở được điều chuyển làm trụ sở, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa và công trình công cộng, còn lại 101 cơ sở đang tiếp tục hoàn tất các bước xử lý. Bên cạnh đó, công tác khai thác kinh tế mang lại hiệu quả thiết thực. Qua các đợt chào hàng cạnh tranh đối với nhà, đất do Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh quản lý, đã có 24/33 cơ sở được cho thuê, mang lại nguồn thu ổn định cho ngân sách.

    Lãnh đạo Sở Y tế đề xuất các giải pháp sử dụng hiệu quả tài sản dôi dư.

    Tuy nhiên, một số cơ sở dôi dư nằm rải rác ở vùng sâu, vùng xa, hạ tầng yếu kém nên khó thu hút nhà đầu tư; cùng với đó quy trình thủ tục về đất đai, đấu giá và định giá mất nhiều thời gian khiến tiến độ xử lý tại một số xã, phường còn chậm.

    Tại cuộc họp, các thành viên Tổ công tác đã thảo luận, đóng góp nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản công.

    Lãnh đạo Sở Tài chính báo cáo kết quả xử lý cơ sở nhà đất dôi dư.

    Kết luận cuộc họp, đồng chí Đỗ Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương khẩn trương đưa các cơ sở đã có phương án vào sử dụng ngay, tuyệt đối không để tài sản công bị bỏ trống, xuống cấp, hoang hóa. Đồng thời, cần nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, không để xảy ra tình trạng đùn đẩy, né tránh, chậm trễ. Chủ tịch UBND các xã, phường và Thủ trưởng các cơ quan phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước UBND tỉnh. Các đơn vị phải khẩn trương rà soát, thu thập hồ sơ pháp lý chứng minh nguồn gốc nhà, đất đối với các cơ sở còn thiếu; hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho từng cơ sở và phân loại cụ thể các trường hợp vướng mắc để tập trung giải quyết dứt điểm.

    Các đại biểu dự cuộc họp.

    Trong đó, cần ưu tiên sử dụng cơ sở nhà, đất dôi dư cho y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, an ninh, quốc phòng và các thiết chế phục vụ nhân dân, hoàn thành trước ngày 25-9. Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ cho thuê, đấu giá tài sản, đảm bảo nguồn lực từ đất đai và nhà công sản được khơi thông, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Tin, ảnh: Đoàn Thư

    Nguồn https://baomoi.com/quyet-liet-xu-ly-chong-lang-phi-nha-dat-doi-du-sau-sap-nhap-c55882517.epi

  • Công trình mới nối những bản, làng

    Khởi công từ tháng 3/2026, công trình ngầm dân sinh Đồng Đình, thôn Đồng Phe, xã Sơn Động đến nay cơ bản hoàn thành. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 2,5 tỷ đồng, dài 40 m, đường dẫn 70 m, mặt ngầm rộng 6 m, phục vụ nhu cầu đi lại của hơn 110 hộ dân trong vùng. Trước đây, ngầm thấp và hẹp, vào mùa mưa lũ nước suối dâng cao thường gây ngập sâu, giao thông bị chia cắt, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn. Công trình mới hoàn thành đã tạo điều kiện để người dân vận chuyển nông sản, vật tư thuận lợi, phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế.

    Ngầm Cại, thôn Đồng Phe, xã Sơn Động vừa hoàn thành.

    Cùng với ngầm Đồng Đình, còn nhiều công trình khác cũng hoàn thành như: Ngầm dân sinh thôn Tam Sơn (xã Sơn Động), ngầm Nà Đình, thôn Kim Bảng (xã An Lạc), ngầm Thùng Thình, thôn Đồng Mậm (xã Sơn Hải)… Với địa bàn còn nhiều khó khăn, mỗi công trình ngầm, cầu dân sinh được xây dựng không chỉ giải quyết nhu cầu đi lại hằng ngày mà còn mở thêm không gian phát triển cho địa phương. Bà Lã Thị Thảo, dân tộc Tày, thôn Kim Bảng, xã An Lạc chia sẻ: “Trước đây, cứ mưa to là nước dâng, đi qua ngầm rất lo, nhất là khi đưa các cháu đến trường. Nay ngầm mới được làm cao, cống rộng, bà con yên tâm, không còn thắc thỏm mỗi khi trời mưa nữa”.

    Giai đoạn 2026-2028, từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn, toàn tỉnh xây dựng 136 công trình, gồm 121 công trình ngầm và 15 cầu dân sinh tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tổng số vốn khoảng 424 tỷ đồng. Riêng năm 2026, tỉnh bố trí hơn 144 tỷ đồng để xây dựng 42 ngầm và 3 cầu, giao UBND các xã, phường vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi làm chủ đầu tư. Đến hết tháng 7, 100% công trình đã được khởi công. Trong đó 15 công trình đạt hơn 70% khối lượng xây lắp, 5 công trình đạt từ 98% đến 100%, đang hoàn thiện hồ sơ quyết toán.

    Theo tổng hợp của Sở Dân tộc và Tôn giáo, các địa phương có tiến độ triển khai tích cực gồm: Sơn Động, An Lạc, Yên Định, Sơn Hải, Tân Sơn, Sa Lý, Kiên Lao và phường Chũ. Tổng số vốn đã giải ngân đạt gần 60 tỷ đồng, tương đương 39,5% kế hoạch vốn được giao.

    Đầu tư hạ tầng giao thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một trong những nhiệm vụ được tỉnh quan tâm nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển, tạo nền tảng để người dân nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 29/8/2025 về đầu tư xây dựng công trình ngầm, cầu dân sinh được UBND tỉnh ban hành nhằm từng bước khắc phục tình trạng chia cắt giao thông, nhất là trong mùa mưa lũ; tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, nâng cao đời sống và góp phần giảm nghèo bền vững tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Tại những nơi địa hình phức tạp, một điểm ngầm, một cây cầu được xây dựng kiên cố tạo nên sự thay đổi rõ rệt trong đời sống người dân. Tuy nhiên, quá trình triển khai các công trình vẫn gặp không ít khó khăn do địa hình phức tạp, việc vận chuyển thiết bị chưa thuận lợi; năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện dự án ở cấp xã còn hạn chế. Công tác giải phóng mặt bằng tại một số địa phương chưa đáp ứng tiến độ, trong khi giá vật liệu xây dựng biến động cũng tác động đến chi phí và tiến độ thi công.

    Tại xã Đèo Gia, do ngân sách địa phương khó khăn, không đủ nguồn lực đối ứng, xã đã kiến nghị tỉnh điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với một số công trình. Trong khi đó, tại những địa bàn bảo đảm điều kiện thi công, các chủ đầu tư đang tranh thủ thời tiết thuận lợi, đôn đốc nhà thầu huy động nhân lực, thiết bị để đẩy nhanh tiến độ. Tại công trình ngầm Đồng Ía, thôn Đồng Ía, xã Nam Dương, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 5,5 tỷ đồng, dài 35 m, mặt ngầm rộng 5,5 m, dự kiến hoàn thành trong quý IV năm nay.

    Sở Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với các sở, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, kịp thời tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung danh mục, quy mô và tổng mức đầu tư một số công trình cho phù hợp với thực tế. Các xã, phường tiếp tục tuyên truyền, vận động người dân tạo mặt bằng sạch, phối hợp với đơn vị thi công. Mục tiêu không chỉ hoàn thành đủ số lượng công trình theo kế hoạch mà quan trọng hơn là bảo đảm từng công trình sau khi đưa vào sử dụng thực sự phát huy hiệu quả.

    Bài, ảnh: Khôi Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/cong-trinh-moi-noi-nhung-ban-lang-c55882582.epi

  • ĐBQH: Mua nhà ở xã hội nên xét tiêu chí ưu tiên, không chỉ bốc thăm

    Tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, chiều 21/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Một trong những nội dung được các đại biểu Quốc hội quan tâm là chính sách phát triển nhà ở xã hội, từ xác định đối tượng thụ hưởng, giá bán, giá thuê đến phương thức huy động và sử dụng nguồn lực để mở rộng cơ hội an cư cho công nhân, người lao động.

    Đại biểu Phan Thị Thúy Linh. (Ảnh: Media Quốc hội)

    Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Phan Thị Thúy Linh (đoàn Đà Nẵng) đề nghị luật hóa thời hạn và cơ chế xét duyệt hồ sơ mua nhà ở xã hội.

    Đại biểu nêu thực tế, thời gian qua có nhiều phản ánh về quy trình xét duyệt hồ sơ, chứng minh thu nhập còn phức tạp, thậm chí kéo dài nhiều năm. Một trong những nguyên nhân là pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thời hạn xét duyệt hồ sơ.

    “Đề nghị quy định thời hạn xét duyệt trong luật, đồng thời khi số hồ sơ vượt số căn hộ thì phải xét theo tiêu chí ưu tiên công khai, không chỉ dựa vào bốc thăm”, bà Linh đề xuất.

    Bên cạnh đó, đại biểu Phan Thị Thúy Linh đề nghị xem xét mức giá thuê, giá bán nhà ở xã hội theo hướng sát hơn với khả năng chi trả của người lao động.

    “Thu nhập bình quân của người lao động cả nước hiện nay khoảng 9 triệu đồng/tháng, nhiều địa phương cũng chỉ 6-8 triệu đồng. Trong khi một căn nhà ở xã hội diện tích khoảng 50m² mở bán đầu năm nay đã trên 1 tỷ đồng, bằng khoảng 10 năm thu nhập. Còn tiền thuê, mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng nếu áp theo công thức tính hiện nay. Do vậy người lao động rất khó có khả năng chi trả”, đại biểu Linh phân tích.

    Theo đại biểu, dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) có nhiều quy định để tính giá nhà ở cho thuê song đều xuất phát từ chi phí đầu tư, không quy định nào dựa vào khả năng chi trả.

    “Nghị quyết 21 Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV yêu cầu phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp. Phù hợp ở đây cũng cần phải hướng tới phù hợp với khả năng chi trả, không chỉ phù hợp với chi phí”, bà Linh nhấn mạnh.

    Lo nhà ở xã hội bị dồn xa nơi làm việc, dịch vụ thiết yếu

    Cùng quan tâm đến giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội, đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc (đoàn TP.HCM) cho rằng, cần có cơ chế kiểm soát để bảo đảm giá thực sự phù hợp với khả năng tài chính của người thụ hưởng.

    Theo đại biểu, dự thảo luật đã xác định các nhóm được hưởng, nhưng còn thiếu tiêu chí thống nhất để xác định người thu nhập thấp và nhà ở cách xa nơi làm việc. “Dự thảo Luật cũng quy định xử lý vi phạm nhưng chưa có cơ chế kiểm tra, sàng lọc ngay từ khâu xét duyệt. Khoảng trống này có thể sẽ tạo kẽ hở để trục lợi chính sách”, bà Trúc nói.

    Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc. (Ảnh: Media Quốc hội)

    Do đó, đại biểu Trúc đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định điều kiện thu nhập theo tiêu chí khách quan, dễ kiểm chứng, có thể gắn với mức thu nhập chưa phải nộp thuế thu nhập cá nhân hoặc thu nhập bình quân theo vùng. Chính phủ quy định mức cụ thể và định kỳ điều chỉnh phù hợp với tiền lương, giá cả của từng thời kỳ.

    Đối với trường hợp nhà ở cách xa nơi làm việc, đại biểu đề nghị quy định nguyên tắc xác định dựa trên khoảng cách, thời gian đi lại và khả năng tiếp cận giao thông công cộng, bảo đảm áp dụng thống nhất giữa các địa phương.

    Bên cạnh đó, cần có cơ chế liên thông, đối soát dữ liệu về cư trú, thuế, bảo hiểm xã hội, đất đai và nhà ở; cấp mã hồ sơ thống nhất trên toàn quốc và thực hiện hậu kiểm định kỳ. Theo đề xuất của đại biểu, người dân chỉ kê khai một lần, cơ quan nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả xác nhận.

    Đề cập nghĩa vụ phát triển nhà ở xã hội của chủ đầu tư, đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc cho biết dự thảo Luật đưa ra 3 phương án gồm: dành đất trong dự án nhà ở thương mại, bố trí đất tại vị trí khác hoặc đóng tiền tương đương.

    Cho rằng sự linh hoạt là cần thiết, song đại biểu lưu ý nếu thiếu các điều kiện ràng buộc, phương án đóng tiền có thể được ưu tiên lựa chọn vì thuận lợi hơn cho chủ đầu tư.

    “Nhà ở xã hội lại bị dồn ra xa nơi làm việc và các dịch vụ thiết yếu, khi đó, người lao động phải gánh thêm chi phí đi lại và đánh đổi thời gian dành cho gia đình. Một căn nhà có giá thấp trên hợp đồng vẫn có thể trở thành một nơi quá đắt trong đời sống”, đại biểu TP.HCM nói.

    Từ đó, bà Trúc đề nghị ưu tiên bố trí quỹ đất nhà ở xã hội ngay trong dự án. Trường hợp không khả thi thì bố trí tại khu vực lân cận có hạ tầng và khả năng tiếp cận việc làm. Chỉ được đóng tiền khi cả hai phương án trên không thể thực hiện và phải giải thích rõ lý do.

    “Khoản tiền thu được phải hạch toán riêng vào quỹ nhà ở, gắn với dự án, địa điểm, tiến độ cụ thể và được công khai kết quả sử dụng hằng năm”, đại biểu đề xuất.

    Đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc cũng góp ý quy định giao chủ đầu tư tự xây dựng, thuê tư vấn thẩm tra và tự phê duyệt giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội. Theo bà, cách làm này giúp rút ngắn thủ tục nhưng nếu thiếu hậu kiểm độc lập sẽ tiềm ẩn nguy cơ chi phí bị tính cao.

    “Với người thu nhập thấp, chỉ một khoản chênh lệch nhỏ cũng có thể khiến họ mất khả năng tiếp cận nhà ở”, đại biểu nói và đề nghị chủ đầu tư phải công khai đầy đủ cơ cấu giá trước khi ký hợp đồng.

    Sau khi dự án hoàn thành, chi phí thực tế phải được quyết toán, hậu kiểm. Nếu giá quyết toán thấp hơn giá đã thu thì phải hoàn trả hoặc khấu trừ phần chênh lệch cho người mua, người thuê mua. Đồng thời, cần xử lý nghiêm hành vi kê khai, phân bổ chi phí không đúng nhằm đẩy giá lên cao.

    Theo đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, thước đo của chính sách nhà ở xã hội không chỉ là số dự án được phê duyệt hay số căn hộ được xây dựng, mà quan trọng hơn là người dân có thực sự mua được, thuê được và an cư lâu dài hay không.

    “Nhà nước có thể đơn giản hóa thủ tục nhưng không thể giảm trách nhiệm. Luật phải bảo đảm nhà ở xã hội đúng người, đúng chỗ, đúng giá và không để người dân gánh chịu rủi ro. Có như vậy, mục tiêu mọi người đều có chỗ ở sẽ không dừng lại ở những con số mà trở thành những mái ấm hiện hữu trong đời sống của nhân dân”, đại biểu nêu quan điểm.

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/dbqh-mua-nha-o-xa-hoi-nen-xet-tieu-chi-uu-tien-khong-chi-boc-tham-c55882494.epi

  • TP.HCM giải bài toán kẹt xe từ quy hoạch mới thế nào?

    Quy hoạch Tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025 – 2050, tầm nhìn 100 năm, đang được thành phố hoàn thiện với yêu cầu định hình không gian phát triển mới sau khi hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Đây không chỉ là bài toán tổ chức lại không gian đô thị, mà còn là cơ hội để thành phố nhìn lại những điểm mạnh, hạn chế của từng địa bàn, từ đó xác lập cấu trúc phát triển phù hợp cho chặng đường dài.

    Kết hợp chữa bệnh với nghỉ dưỡng

    Góp ý cho dự thảo quy hoạch, các chuyên gia cho rằng, cần đánh giá kỹ hiện trạng và những kết quả đạt được từ những đồ án quy hoạch của 3 địa phương trước khi sáp nhập.

    Ông Nguyễn Đức Lập, Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP.HCM, nhìn nhận Quy hoạch Tổng thể TP.HCM lần này có thể xem là sự kết nối của 3 mảnh ghép lớn, vì vậy trước hết cần đánh giá kỹ hiện trạng 3 vùng: TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Ông Nguyễn Đức Lập, Phó chủ tịch Hội Kiến trúc sư TP.HCM, góp ý cho dự thảo Quy hoạch Tổng thể TP.HCM thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm. Ảnh: Phan Anh.

    Theo ông Lập, cần rà soát các đồ án quy hoạch đã được lập trước đây, xác định rõ những kết quả, tiền đề có thể kế thừa, phát huy cũng như những bất cập cần khắc phục.

    “Chỉ khi đánh giá đầy đủ những vấn đề đó, chúng ta mới có cơ sở để phát huy các điều kiện thuận lợi và khắc phục hạn chế. Đây là việc rất quan trọng”, ông Lập nói.

    Đề cập câu chuyện vì sao TP.HCM luôn kẹt xe, nhất là khu vực trung tâm dù liên tục mở rộng đường, ông Lập cho rằng, vấn đề này cần được giải quyết ngay từ quy hoạch. Một trong những nguyên nhân là các trường đại học, bệnh viện và nhiều chức năng đô thị đang tập trung quá dày trong khu vực trung tâm.

    Do đó, TP.HCM nên nghiên cứu phân bổ lại một số trường đại học, bệnh viện về các khu vực như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu và vùng ven, trên cơ sở mạng lưới giao thông kết nối liên vùng đang ngày càng hoàn thiện.

    Việc này có thể hạn chế dòng người từ địa phương khác đổ dồn về khu vực trung tâm TP.HCM để học tập, khám chữa bệnh, qua đó giảm áp lực lên hạ tầng giao thông.

    Chuyên gia cho rằng TP.HCM nên giải bài toán kẹt xe từ câu chuyện quy hoạch. Ảnh: Quỳnh Danh.

    Đối với hệ thống y tế, việc phân bố lại các cơ sở khám chữa bệnh cũng cần được tính toán trong quy hoạch. Một số loại hình y tế chất lượng cao có thể nghiên cứu phát triển tại những khu vực như Vũng Tàu, Hồ Tràm hoặc vùng ven biển, kết hợp giữa chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.

    “Cách tổ chức này vừa góp phần giảm áp lực giao thông cho khu vực trung tâm, vừa mở thêm dư địa phát triển kinh tế, dịch vụ và du lịch cho các khu vực khác”, ông Lập nhìn nhận và nêu quan điểm làm càng sớm càng tốt.

    Tương tự, với lĩnh vực logistics, ông Lập kiến nghị cần nghiên cứu phân bố lại hệ thống cảng và các đầu mối logistics thay vì tiếp tục tập trung quá lớn tại khu vực Cát Lái, Tân Cảng. Lượng lớn container ra vào các khu vực này đang tạo áp lực đáng kể lên mạng lưới đường bộ, trong đó có tuyến Vành đai 2.

    “Cần đầu tư sớm, đưa vào kế hoạch phát triển mạng lưới đường sắt vận chuyển hàng hóa từ Bình Dương, Đồng Nai xuống khu vực cảng Cái Mép”, ông Lập đề xuất.

    Áp lực ngập nước và cảnh báo “quy hoạch treo thế kỷ”

    Một vấn đề bức xúc đô thị của người dân TP.HCM hiện nay là ngập úng do mưa lũ và triều cường, cũng được ông Nguyễn Đức Lập đề cập trong câu chuyện làm quy hoạch.

    Theo ông, cần phải tính toán được tác động của biến đổi khí hậu và xác định cốt cao độ. Trước kia có những vùng được khống chế cốt cao độ là 2,7 m thì trong quy hoạch tổng thể TP.HCM cũng phải xác định được mốc cụ thể để sau này không ngập lụt nữa.

    Ông Đặng Văn Khoa cảnh báo “quy hoạch treo thế kỷ”. Ảnh: Phan Anh.

    Đồng quan điểm, ông Đặng Văn Khoa, Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường TP.HCM, nhìn nhận thành phố đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.

    Ông nhấn mạnh TP.HCM phải liên tục cập nhật, dự trù các kịch bản, nhằm tránh những hệ lụy rất lớn trong tương lai.

    Bên cạnh bài toán ngập nước, ông Khoa đề nghị đồ án quy hoạch cần làm rõ hơn vấn đề mảng xanh đô thị, bao gồm hệ thống công viên và hành lang xanh, nhất là trong bối cảnh thực trạng tỷ lệ cây xanh tại TP.HCM hiện ở mức thấp nhất cả nước.

    Do đó, việc cải thiện mạnh mẽ chỉ tiêu này phải là nhiệm vụ cấp bách ngay hôm nay, sớm trở thành quyết sách của Nhà nước để phát triển “thành phố xanh” đúng nghĩa.

    “Đây là quy hoạch thế kỷ. 100 năm nữa, chúng ta không thể mường tượng nổi thành phố sẽ thay đổi thế nào từ sự phát triển của khoa học cũng như tâm lý con người. Do đó, chúng ta cần tính toán kỹ lưỡng để quy hoạch không trở thành “quy hoạch treo thế kỷ” và đặc biệt là phải tạo ra không gian rộng mở cho tương lai của con cháu”, ông Khoa nói.

    Nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM Nguyễn Thị Lệ chỉ ra khoảng cách còn khá lớn giữa dự thảo Luật Phát triển đô thị và dự thảo quy hoạch. Ảnh: Phan Anh.

    Ở góc độ thể chế và pháp lý, nguyên Chủ tịch HĐND TP.HCM Nguyễn Thị Lệ chỉ ra khoảng cách còn khá lớn giữa dự thảo Luật Phát triển đô thị và dự thảo quy hoạch.

    Bà đề xuất đồ án cần kịp thời tiếp thu, cập nhật đầy đủ công cụ và cơ chế mới dự kiến được trao cho thành phố, đặc biệt là nội dung trong dự thảo Luật Phát triển đô thị đang được Quốc hội xem xét.

    Phan Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tp-hcm-giai-bai-toan-ket-xe-tu-quy-hoach-moi-the-nao-c55882425.epi

  • Phá dỡ tòa nhà nguy hiểm nhưng không để tài sản hợp pháp của dân bị phá dỡ theo

    Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho biết, dự thảo quy định tại các phường ở đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3 phải xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê mua, còn các khu vực còn lại giao cho UBND cấp tỉnh căn cứ điều kiện có thể xây dựng nhà để bán hoặc nhà ở riêng lẻ.

    Đại biểu nhận thấy quy định này bất cập cho những khu vực đô thị loại 2 và loại 3, bởi thực tế đô thị này có đất ở nông thôn rất nhiều. Nếu quy định “cứng” thì chủ đầu tư khó có thể xây dựng nhà để bán. Đặc biệt, người dân ở khu vực nông thôn, đô thị loại 2, loại 3 sẽ có tâm lý mua đất để tự xây nhà ở chứ không mua nhà xây sẵn.

    Vì vậy, ông cho rằng cần quy định những cơ chế thông thoáng hơn với đô thị đặc biệt, đô thị loại 1.

    Đại biểu Phạm Văn Hòa

     Ông Hòa đề nghị, dự thảo luật quy định cơ chế thông thoáng hơn để nhà đầu tư xây dựng nhà ở, với điều kiện kèm theo trong thời hạn bao lâu phải xây nhà để “không cho phép bỏ đất trống, hoang hóa, đầu cơ”. Những trường hợp tích trữ, đầu cơ thì phải đánh thuế cao hơn.

    Về sở hữu nhà chung cư có thời hạn, đại biểu tỉnh Đồng Tháp đặt vấn đề, nhà chung cư hết niên hạn có đồng nghĩa với việc quyền sở hữu nhà chung cư của người dân chấm dứt hay không?

    “Xây dựng nhà tất nhiên phải có niên hạn công trình. Ví dụ, thời hạn sử dụng nhà chung cư là 50 năm theo niên hạn công trình 50 năm. Tuy nhiên, hết 50 năm đó, người sở hữu căn hộ chung cư vẫn còn quyền đối với tài sản của mình, quyền sử dụng đất và các lợi ích đi kèm khác”, ông Hòa nêu quan điểm.

    Đại biểu đề nghị quy định rõ ràng, cụ thể để người mua phấn khởi mua nhà và nhà đầu tư cũng bán hàng dễ dàng.

    Giá bán có thể giảm một nửa nếu chung cư có thời hạn

    Đại biểu Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) đề nghị không sử dụng khái niệm “chung cư có thời hạn” tại dự thảo luật. Bởi lẽ, đây không chỉ là câu chuyện về thuật ngữ, mà sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người đang sở hữu căn hộ chung cư – vốn là tài sản phải tích lũy nhiều năm mới có được.

    Ông cho rằng cần phân biệt giữa “chung cư có thời hạn” và “thời hạn sử dụng chung cư”. Nếu công trình không còn đảm bảo an toàn thì phá dỡ, di dời là yêu cầu không thể thỏa thiệp. Tuy nhiên, việc không còn tòa nhà không đồng nghĩa quyền tài sản của người sở hữu căn hộ trở về bằng 0.

    Đại biểu Thạch Phước Bình

    Đại biểu đề xuất bổ sung nguyên tắc khi nhà chung cư hết thời hạn sử dụng, phải phá dỡ sẽ không làm chấm dứt các quyền tài sản hợp pháp của chủ sở hữu. Đồng thời, ông đề xuất cần có cơ chế rõ ràng về việc đóng góp kinh phí để xây dựng lại tòa chung cư đó.

    Theo quan điểm của ông cần quy định rõ mức đóng góp, đóng một lần hay theo tiến độ, tỷ lệ đồng thuận bao nhiêu. Đặc biệt, người không có khả năng tài chính để đóng góp thì quyền lợi của họ được giải quyết ra sao.

    “Không thể để một người cao tuổi, một gia đình thu nhập thấp đã sở hữu hợp pháp căn hộ nhưng khi chung cư phải xây dựng lại thì họ phải đứng trước lựa chọn hoặc có ngay một khoản tiền rất lớn để đóng góp hoặc mất khả năng tiếp tục có chỗ ở”, ông Bình bày tỏ quan điểm.

    Ông kiến nghị dự thảo luật mở ra các phương án như: cho người dân đóng góp theo tiến độ, tạo điều kiện tiếp cận tín dụng, được nhận căn hộ phù hợp với khả năng đóng góp, hoặc nhận giá trị quyền tài sản theo phương án được phê duyệt.

    “Chúng ta phải có cơ chế đủ mạnh để phá dỡ một tòa nhà nguy hiểm nhưng không thể để tài sản hợp pháp của người dân cũng bị phá dỡ theo”, ông Bình nói.

    Đại biểu Tạ Văn Hạ

    Tranh luận sau đó, đại biểu Tạ Văn Hạ (Đà Nẵng) cho rằng, khi người dân mua căn hộ chung cư, quyền sở hữu căn hộ đó chính là quyền sở hữu tài sản của người mua. Nhưng thực tế, ông cũng cho rằng công trình phải có thời hạn sử dụng nhất định, không thể tồn tại vĩnh cửu.

    Theo ông, nếu quy định rõ thời hạn sử dụng chung cư, sẽ có thêm một phân khúc nhà ở. Ví dụ, nếu chung cư có thời hạn sử dụng là 70 hay 90 năm, người dân và người lao động có thể tiếp cận mua dễ dàng hơn, vì có thể giá bán khi đó chỉ bằng một nửa so với mức giá hiện nay – khi xem việc mua chung cư là “vĩnh viễn”.

    “Như vậy, những người không có điều kiện kinh tế, thay vì phải bỏ ra 4 tỷ đồng để sở hữu lâu dài, họ có thể lựa chọn mua căn hộ có thời hạn với mức giá khoảng 2 tỷ đồng”, ông Hạ nêu quan điểm.

    Dù vậy, ông vẫn lưu ý quy định thời hạn sử dụng chung cư và quyền sở hữu tài sản của người dân là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, không nên lẫn lộn.

    Trần Thường

    Phạm Hải

    Nguồn https://baomoi.com/pha-do-toa-nha-nguy-hiem-nhung-khong-de-tai-san-hop-phap-cua-dan-bi-pha-do-theo-c55882474.epi

  • Công an TP Đà Nẵng dẫn đầu khối cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn về chuyển đổi số

    Theo kết quả công bố, Sở Khoa học và Công nghệ dẫn đầu khối sở, ban, ngành với 101 điểm, xếp loại Xuất sắc. Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Sở Nội vụ với 100,5 điểm, Sở Công Thương với 99,5 điểm, Sở Xây dựng 97,26 điểm và Thanh tra thành phố 97 điểm.

    Ở khối cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn thành phố, Công an thành phố dẫn đầu với 96,44 điểm, xếp loại Xuất sắc; Chi cục Hải quan khu vực XII đứng thứ 2 với 96 điểm; Kho bạc Nhà nước thành phố xếp thứ 3 với 93,5 điểm. Thuế thành phố Đà Nẵng đạt 91,95 điểm, xếp thứ 4; Bảo hiểm xã hội thành phố đạt 91,25 điểm, xếp thứ 5. Đáng chú ý, toàn bộ 5 cơ quan trong khối Trung ương đóng trên địa bàn đều được xếp loại Xuất sắc.

    Trung tâm Thông tin chỉ huy Công an TP Đà Nẵng

    Trong khối sở, ban, ngành, 10/20 cơ quan được xếp loại Xuất sắc; 8 cơ quan xếp loại Tốt. Ở khối phường, xã, UBND phường Hòa Khánh dẫn đầu với 99,25 điểm, xếp loại Xuất sắc. Các vị trí tiếp theo là UBND phường Hòa Xuân (99 điểm), UBND phường Hải Châu (97,5 điểm). Toàn thành phố có 22/93 phường, xã được xếp loại Xuất sắc.

    Căn cứ kết quả đánh giá, xếp hạng chuyển đổi số năm 2025 trên địa bàn thành phố, Chủ tịch UBND thành phố biểu dương và tặng Bằng khen cho 18 cơ quan, đơn vị, địa phương có thành tích xuất sắc trong công tác chuyển đổi số năm 2025.

    Công an TP Đà Nẵng triển khai cấp thẻ căn cước và làm sạch dữ liệu dân cư

    UBND thành phố đề nghị người đứng đầu các cơ quan, địa phương thuộc nhóm xếp cuối, chưa có nhiều cải thiện theo kết quả đánh giá, xếp hạng thực hiện rà soát cụ thể các tiêu chí, chỉ số thành phần còn hạn chế; xác định nguyên nhân, trách nhiệm và xây dựng giải pháp khắc phục, cải thiện kết quả chuyển đổi số trong năm 2026. Giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp các cơ quan, địa phương nghiên cứu, rà soát, tham mưu ban hành Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng chuyển đổi số năm 2026 phù hợp với các yêu cầu nhiệm vụ chuyển đổi số của Bộ, ngành Trung ương.

    Thủ trưởng các cơ quan, địa phương trực tiếp chỉ đạo, triển khai công tác chuyển đổi số và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND thành phố về kết quả xếp hạng chuyển đổi số của ngành, địa phương.

    C.K

    Nguồn https://baomoi.com/cong-an-tp-da-nang-dan-dau-khoi-co-quan-trung-uong-dong-tren-dia-ban-ve-chuyen-doi-so-c55882422.epi

  • Thu nhập bình quân 9 triệu đồng/tháng, người lao động khó mua nhà ở xã hội

    Chiều 21/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023. Là người phát biểu đầu tiên, đại biểu Phan Thị Thúy Linh – Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng cho biết, tại các hội nghị đối thoại với công nhân, người lao động, vấn đề được quan tâm và đặt ra nhiều nhất vẫn là nhà ở.

    Liên quan đến nhà ở xã hội, đại biểu đoàn Đà Nẵng cho rằng, thời gian qua, nhiều ý kiến phản ánh quy trình xét duyệt hồ sơ và việc chứng minh thu nhập còn quá phức tạp, kéo dài, có trường hợp mất cả năm. Do vậy, đại biểu đề nghị quy định rõ thời hạn xét duyệt hồ sơ ngay trong luật. Đồng thời, trong trường hợp số lượng hồ sơ vượt quá số căn hộ được bố trí, cần thực hiện việc xét duyệt theo các tiêu chí ưu tiên công khai, minh bạch, thay vì chỉ dựa vào hình thức bốc thăm.

    Đại biểu Phan Thị Thúy Linh – Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng.

    Liên quan đến giá nhà, nữ đại biểu tính toán, thu nhập bình quân của người lao động cả nước hiện nay khoảng 9 triệu đồng/tháng; tại nhiều địa phương, mức thu nhập chỉ khoảng 6-8 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, một căn nhà ở xã hội diện tích khoảng 50 m2 được mở bán đầu năm nay đã có giá trên 1 tỷ đồng, tương đương khoảng 10 năm thu nhập của một người lao động.

    Đối với nhà thuê, tiền thuê mỗi tháng khoảng 5 triệu đồng, với mức thu nhập như trên, người lao động rất khó có khả năng chi trả. Dự thảo hiện có bốn công thức tính giá thuê, tuy nhiên tất cả đều xuất phát từ chi phí đầu tư mà chưa có quy định nào dựa trên khả năng chi trả thực tế của người lao động. Theo nữ đại biểu đoàn Đà Nẵng, để phát triển nhà ở cho thuê với mức giá phù hợp cần hướng tới khả năng chi trả của người lao động, chứ không chỉ “phù hợp với chi phí đầu tư”.

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) nhất trí cao với định hướng chuyển đổi từ mục tiêu chủ yếu khuyến khích sở hữu nhà sang bảo đảm cho người dân có chỗ ở an toàn, ổn định và phù hợp với khả năng chi trả. Tuy nhiên, để tư duy mới này thực sự đi vào cuộc sống, đối với việc phát triển nhà ở cho thuê, bà Nga đề nghị phân biệt rõ chính sách khuyến khích thị trường với chính sách hỗ trợ bằng nguồn lực công.

    Theo đại biểu đoàn Hải Phòng, dự thảo đang dành cho dự án nhà ở cho thuê ngoài Nhà nước một gói ưu đãi khá lớn: có thể giao chủ đầu tư không qua đấu thầu, miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, được bố trí diện tích thương mại và một phần nhà ở thương mại để bán, cùng các ưu đãi tín dụng và hỗ trợ khác. Trong khi đó, đối tượng thuê lại được xác định rất rộng, bao gồm cả công dân chỉ “có nhu cầu thuê nhà”.

    “Cần trả lời rõ một câu hỏi: Nhà nước đang ưu đãi cho một loại hình kinh doanh hay ưu đãi để đạt một mục tiêu xã hội?”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nói và cho rằng, nếu chỉ cần xây nhà để cho thuê theo giá thị trường cũng được hưởng đầy đủ các cơ chế đặc biệt thì rất khó lượng hóa Nhà nước đã bỏ ra bao nhiêu nguồn lực và người dân thực sự nhận lại được lợi ích gì.

    Khu nhà tái định cư ở Đền Lừ, TP Hà Nội.

    Vì vậy, đại biểu Nga đề nghị luật xác lập nguyên tắc: mức ưu đãi phải tương ứng với nghĩa vụ xã hội mà chủ đầu tư cam kết thực hiện. “Nhà ở cho thuê thương mại thông thường vận hành theo thị trường; còn dự án được hưởng ưu đãi đặc biệt về đất đai, lựa chọn chủ đầu tư và tín dụng thì phải chịu ràng buộc tương ứng về thời gian cho thuê, giá thuê, đối tượng phục vụ và hoàn trả ưu đãi nếu vi phạm cam kết”, bà Nga nói.

    Đại biểu Thạch Phước Bình cho rằng, câu hỏi quan trọng không chỉ là xây dựng được bao nhiêu căn nhà ở xã hội, mà quan trọng hơn là những căn nhà đó cuối cùng đến đúng đối tượng nào?

    Đồng tình với yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ, minh bạch và bảo đảm đúng đối tượng, tuy nhiên, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị không nên giải quyết vấn đề này chủ yếu bằng cách yêu cầu người dân phải đi xin thêm nhiều loại giấy xác nhận.

    “Nếu Nhà nước đã có cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, nhà ở, thuế, bảo hiểm xã hội và các dữ liệu có liên quan thì nguyên tắc nên là cơ quan nhà nước chủ động kết nối, khai thác và đối soát dữ liệu”, đại biểu Thạch Phước Bình nói.

    Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định việc xác định điều kiện được hưởng chính sách nhà ở được thực hiện thông qua kết nối, khai thác và đối soát giữa cơ sở dữ liệu quốc gia với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; không yêu cầu người dân cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước có thể khai thác theo quy định.

    Quang Phong/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/thu-nhap-binh-quan-9-trieu-dong-thang-nguoi-lao-dong-kho-mua-nha-o-xa-hoi-c55882448.epi

  • Quản lý rác thải: Không thể để chi phí môi trường nằm ngoài bài toán kinh tế

    Việc Lạng Sơn tăng cường kiểm tra các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt đặt ra một vấn đề lớn hơn dưới góc nhìn kinh tế môi trường: chi phí xử lý rác không thể chỉ tính từ lúc thu gom đến khi rác được đưa vào bãi chôn lấp hoặc lò đốt, mà phải bao gồm cả nguồn lực cần thiết để kiểm soát nước rỉ rác, khí thải và những tác động môi trường phát sinh trong suốt quá trình vận hành.

    Lạng Sơn hiện có 6 đơn vị xử lý chất thải rắn sinh hoạt, 12 trạm trung chuyển và 5 bãi chôn lấp. Ngoài ra, 3 cơ sở tại Văn Quan, Nhân Lý và Đình Lập đang xử lý rác bằng lò đốt.

    Qua rà soát, phần lớn cơ sở cơ bản thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, một số công trình được đầu tư từ nhiều năm trước hoặc đã thay đổi chủ thể quản lý vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hồ sơ pháp lý và tăng cường kiểm tra, giám sát.

    Xử lý được rác nhưng phải kiểm soát được chi phí môi trường

    Trường hợp bãi xử lý rác Lân Tắng tại xã Tân Tri cho thấy khá rõ bài toán này. Công trình được đầu tư từ năm 2006, đưa vào sử dụng năm 2010 với công suất 20 tấn/ngày đêm.

    Sau nhiều năm vận hành, cơ quan chuyên môn xác định cần tiếp tục rà soát lượng nước rỉ rác thực tế để xây dựng công trình xử lý đáp ứng quy chuẩn môi trường, đồng thời hoàn thiện các thủ tục môi trường phù hợp.

    Dưới góc độ kinh tế môi trường, một cơ sở tiếp nhận và xử lý được rác chưa đồng nghĩa toàn bộ chi phí của chất thải đã được giải quyết.

    Rác sau khi được thu gom vẫn có thể tiếp tục phát sinh nước rỉ rác, khí thải và những tác động khác. Nếu các dòng thải này không được kiểm soát đầy đủ, một phần chi phí có nguy cơ chuyển từ đơn vị xử lý sang môi trường và cộng đồng xung quanh.

    Đây chính là vấn đề ngoại ứng môi trường.

    Do đó, chi phí thực của xử lý chất thải cần được nhìn nhận đầy đủ hơn: không chỉ có tiền thu gom, vận chuyển, đốt hay chôn lấp mà còn phải tính đến đầu tư hệ thống xử lý nước rỉ rác, khí thải, quan trắc, cải tạo công trình và duy trì các điều kiện môi trường trong quá trình hoạt động.

    Trường hợp bãi xử lý rác Lộc Bình cũng cho thấy yêu cầu tuân thủ môi trường đang ngày càng trở thành một điều kiện của hoạt động xử lý chất thải. Cơ sở này hiện tạm dừng tiếp nhận, chôn lấp và xử lý rác. Trước đó, đơn vị vận hành bị xử phạt do không có giấy phép môi trường và bị đình chỉ hoạt động nguồn phát sinh chất thải không có giấy phép trong 4,5 tháng.

    Như vậy, không tuân thủ quy định môi trường không chỉ tạo ra nguy cơ ô nhiễm mà còn có thể trở thành rủi ro kinh tế và vận hành đối với chính đơn vị xử lý.

    Cần dòng vốn cho hạ tầng xử lý rác bền vững

    Sau rà soát, UBND tỉnh Lạng Sơn yêu cầu tăng cường kiểm tra từ giấy phép môi trường, đánh giá tác động môi trường đến hệ thống xử lý nước rỉ rác, khí thải và quan trắc.

    Đáng chú ý, các đơn vị xử lý rác được yêu cầu rà soát, hoàn thiện hồ sơ, đầu tư và cải tạo công trình bảo vệ môi trường; đồng thời tỉnh khuyến khích huy động nguồn lực xã hội hóa để xử lý nước rỉ rác, khí thải và cải thiện hạ tầng tại các bãi chôn lấp hiện hữu.

    Đây là điểm cần được nhìn rộng hơn câu chuyện kiểm tra hành chính.

    Nhiều công trình xử lý chất thải được đầu tư và vận hành trong thời gian dài sẽ phát sinh nhu cầu cải tạo, nâng cấp. Nếu nguồn lực tài chính không theo kịp yêu cầu môi trường ngày càng cao, khoảng cách giữa năng lực của hạ tầng hiện hữu và tiêu chuẩn quản lý mới có thể ngày càng lớn.

    Vì vậy, xã hội hóa xử lý chất thải không nên chỉ được hiểu là huy động doanh nghiệp tham gia thu gom hoặc vận hành bãi rác. Nguồn vốn xã hội còn cần được hướng vào công nghệ xử lý, kiểm soát ô nhiễm, quan trắc và nâng cấp hạ tầng.

    Đổi lại, thị trường dịch vụ môi trường cũng cần cơ chế đủ rõ để doanh nghiệp có khả năng thu hồi những khoản đầu tư cần thiết cho bảo vệ môi trường.

    Xa hơn, quản lý rác cần từng bước dịch chuyển từ tư duy “thu gom rồi xử lý” sang quản trị toàn bộ vòng đời chất thải. Giảm phát sinh, phân loại tại nguồn, tái sử dụng và tái chế sẽ giúp giảm lượng rác cuối cùng phải đưa vào các cơ sở xử lý, qua đó giảm cả nhu cầu đầu tư lẫn những rủi ro môi trường tại các bãi chôn lấp.

    Việc Lạng Sơn siết quản lý các cơ sở xử lý rác vì thế không chỉ nhằm hoàn thiện giấy phép hay chấn chỉnh hoạt động của một số bãi rác. Vấn đề sâu hơn là phải đưa đầy đủ chi phí môi trường vào bài toán kinh tế của xử lý chất thải.

    Khi chi phí phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm được tính đúng ngay từ đầu, đầu tư cho môi trường sẽ không còn được xem là khoản chi bổ sung sau khi công trình đã vận hành, mà trở thành một bộ phận bắt buộc của chính hoạt động kinh tế xử lý chất thải. Khi đó, quản lý chặt hơn không chỉ giúp giảm nguy cơ ô nhiễm mà còn tạo nền tảng cho một thị trường dịch vụ môi trường minh bạch và bền vững hơn.

    Quỳnh An

    Nguồn https://baomoi.com/quan-ly-rac-thai-khong-the-de-chi-phi-moi-truong-nam-ngoai-bai-toan-kinh-te-c55882352.epi

  • Phát sinh 12 cơ sở dôi dư sau sắp xếp tại Bộ Khoa học và Công nghệ

    Bộ KH&CN. Ảnh minh hoạ.

    Thanh tra Chính phủ vừa công bố Thông báo Kết luận thanh tra chuyên đề quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy tại Bộ Khoa học và Công nghệ. Theo kết luận, từ ngày 1/3/2025, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Thông tin và Truyền thông được hợp nhất. Cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại bộ máy, số lượng đơn vị trực thuộc Bộ được thu gọn từ 74 xuống còn 40 đơn vị.

    Quá trình này đồng thời làm thay đổi quy mô quản lý tài sản công của Bộ Khoa học và Công nghệ. Tổng cộng 91 cơ sở nhà, đất trên phạm vi cả nước được Bộ quản lý, trong đó xác định 12 cơ sở thuộc diện dôi dư cần xử lý. Thanh tra Chính phủ ghi nhận Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức kiểm kê, rà soát và lập phương án xử lý đối với 36 cơ sở; trong đó 30 phương án đã được phê duyệt thực hiện.

    Tuy nhiên, đến ngày 19/6/2026, công tác xử lý vẫn còn nhiều tồn tại. Có 12 cơ sở nhà, đất chưa được kê khai, đăng ký đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2024; 6 cơ sở nhà, đất dôi dư vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

    Một trong những vấn đề tồn tại được Thanh tra Chính phủ chỉ ra là sự chưa thống nhất giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và chính quyền địa phương trong việc xác định căn cứ pháp lý để thu hồi, bàn giao và xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư.

    Tại Hà Nội, một số cơ sở có vị trí thuận lợi rơi vào tình trạng kéo dài thủ tục do các bên chưa thống nhất được cơ chế xử lý. Đối với lô đất tại số 70 Trần Hưng Đạo và Khu nghiên cứu – phát triển tại Hòa Lạc, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất xử lý theo cơ chế thu hồi quy định tại Nghị định 186/2025/NĐ-CP hoặc pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.

    Trong khi đó, UBND TP. Hà Nội yêu cầu đơn vị trực thuộc Bộ thực hiện thủ tục tự nguyện trả lại đất theo quy định của pháp luật đất đai. Việc chưa thống nhất về căn cứ pháp lý và trình tự thực hiện khiến quá trình xử lý các cơ sở này kéo dài.

    Tương tự, tại TPHCM, khu đất B18 thuộc khu C30, phường Diên Hồng, có diện tích 6.403,4 m² cũng chưa thể xử lý. Theo kết luận thanh tra, khu đất không đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu 1 ha để thực hiện dự án Trung tâm công nghệ cao. Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị thành phố thực hiện thu hồi theo quy định của pháp luật đất đai, trong khi phía thành phố đề nghị xử lý theo Nghị định 03/2025/NĐ-CP.

    Đất công bị chia nhỏ làm ki – ốt kinh doanh

    Tại Khánh Hòa, cơ sở nhà, đất rộng 281 m² tại số 1 Phan Chu Trinh, Nha Trang, dù UBND tỉnh đã thống nhất tiếp nhận từ tháng 5/2026 nhưng sau đó việc bàn giao vẫn chưa hoàn tất. Tại Lâm Đồng, diện tích 599.400 m² đất rừng phòng hộ ở Đà Lạt cũng được địa phương thống nhất phương án thu hồi nhưng tiến độ bàn giao thực tế còn chậm.

    Theo Thanh tra Chính phủ, việc chậm hoàn tất các thủ tục bàn giao không chỉ kéo dài quá trình xử lý tài sản dôi dư mà còn làm chậm khả năng đưa nguồn lực đất đai vào sử dụng đúng mục đích.

    Tại số 113 Trần Duy Hưng, Hà Nội, khu đất khoảng 8.000 m² từng được dự kiến triển khai Dự án Trụ sở giai đoạn 2. Dù khu đất đã được đầu tư hạ tầng, đến thời điểm thanh tra, tài sản này chủ yếu được sử dụng làm kho tạm và bãi đỗ xe, trong khi chưa có phương án chính thức để xử lý, khai thác.

    Không chỉ tồn tại tình trạng chậm xử lý, một số cơ sở còn phát sinh tình trạng đất công bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích.

    Tại cơ sở 96A Trần Phú, Hà Đông, có diện tích 55.133 m² do Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông quản lý, Thanh tra Chính phủ phát hiện 9 khu đất trống bị các hộ dân chiếm dụng làm kho tạm và nơi ở. Đáng chú ý hơn, tại Viện Công nghệ xạ hiếm thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, việc thu hồi diện tích đất bị sử dụng trái phép đã kéo dài nhiều năm.

    Cụ thể, dù đơn vị đã ban hành quyết định thanh lý hợp đồng từ năm 2014, đến nay vẫn chưa thu hồi được 293 m² tại số 48 Láng Hạ, gồm 18 ki-ốt, và 311,5 m² tại số 140 Nguyễn Tuân, gồm 11 ki-ốt đang bị các cá nhân chiếm giữ, sử dụng để kinh doanh. Việc đất công bị chia nhỏ, sử dụng làm ki-ốt kinh doanh trong thời gian dài nhưng chưa được thu hồi cho thấy những hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ và xử lý tài sản công tại một số đơn vị trực thuộc Bộ.

    Từ những tồn tại được phát hiện, Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức rà soát, xác định rõ tính chất, mức độ, hậu quả và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân liên quan qua các thời kỳ để xem xét, xử lý theo quy định.

    Thanh tra Chính phủ cũng yêu cầu làm rõ trách nhiệm của UBND phường Tương Mai, Hà Nội, trong việc chậm ban hành văn bản thu hồi khu đất khoảng 400 m² tại ngách 19/9 phố Kim Đồng. Đối với các cơ sở dôi dư còn vướng mắc, Bộ Khoa học và Công nghệ được yêu cầu khẩn trương phối hợp với UBND TP Hà Nội và TPHCM thống nhất căn cứ, cơ chế pháp lý để hoàn tất việc thu hồi, bàn giao và xử lý tài sản.

    Đối với diện tích đất bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, các đơn vị thuộc Bộ phải phối hợp với chính quyền địa phương để thu hồi toàn bộ diện tích, trong đó có các khu vực thuộc địa bàn Hà Đông, Thanh Xuân và Láng.

    Riêng khu đất khoảng 8.000 m² tại 113 Trần Duy Hưng, Bộ Khoa học và Công nghệ phải sớm xây dựng phương án khai thác, sử dụng phù hợp, tránh để tài sản công tiếp tục bỏ trống sau khi dự án cũ được dừng.

    Minh Đức

    Nguồn https://baomoi.com/phat-sinh-12-co-so-doi-du-sau-sap-xep-tai-bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-c55882406.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!