Điện lực Cao Bằng phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) và Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Bắc (NSO) xây dựng, thực hiện phương án đảm bảo cung ứng điện an toàn, tin cậy trong thời gian diễn ra các hoạt động.
Điện lực Cao Bằng tăng cường kiểm tra, đảm bảo hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định dịp Quốc khánh 2/9.
Theo đó, đơn vị bố trí phương thức vận hành nguồn, lưới điện hợp lý, bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, tin cậy trong điều kiện bình thường, đồng thời, chủ động phương án chuyển đổi linh hoạt khi xảy ra sự cố. Điện lực Cao Bằng ưu tiên đảm bảo cấp điện cho các địa điểm diễn ra các hoạt động chính trị, văn hóa của địa phương trong dịp Quốc khánh.
Trong thời gian từ 0h00 ngày 29/8 đến 24h00 ngày 2/9, Điện lực Cao Bằng không thực hiện các công việc phải ngừng, giảm cung cấp điện làm mất điện khách hàng, trừ trường hợp xử lý sự cố.
Trước kỳ nghỉ lễ, Xí nghiệp Lưới điện Cao thế Cao Bằng được giao tăng cường kiểm tra ngày, đêm, kịp thời phát hiện và xử lý các khiếm khuyết trên toàn bộ đường dây 110kV và các trạm biến áp 110kV do đơn vị quản lý. Trong thời gian nghỉ lễ, các trạm biến áp 110kV thực hiện tái lập ca trực, đảm bảo lưới điện vận hành liên tục, ổn định. Cùng với đó, đơn vị chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng, hệ thống thông tin liên lạc và phương tiện đi lại, sẵn sàng xử lý nhanh các sự cố phát sinh.
Các điện lực trực thuộc tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các khiếm khuyết của thiết bị trên lưới điện; thực hiện phát quang hành lang tuyến dây, góp phần bảo đảm an toàn đường dây, ngăn ngừa nguy cơ xảy ra sự cố.
Điện lực Cao Bằng phối hợp với các cấp chính quyền, lực lượng công an, quân đội tại địa phương rà soát, xây dựng và triển khai các phương án bảo vệ an ninh, an toàn, phòng chống cháy nổ đối với các công trình điện và địa điểm điều hành lưới điện. Chủ động rà soát, phối hợp, hỗ trợ các phương án về điện phục vụ tổ chức các hoạt động, sự kiện chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2/9 trên địa bàn tỉnh.
Với các phương án được triển khai đồng bộ, Điện lực Cao Bằng chủ động bảo đảm hệ thống điện vận hành an toàn, ổn định, góp phần phục vụ các hoạt động chính trị, văn hóa và nhu cầu sinh hoạt của người dân trong dịp Quốc khánh 2/9.
Một cánh rừng nguyên sinh phía Tây TP. Đà Nẵng-nguồn tín chỉ các bon quan trọng của Thành phố. Ảnh Ngô Anh Văn
UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành Quyết định số 3688/QĐ-UBND ngày 18/8/2026 về phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ carbon rừng trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Đây là một bước đi quan trọng nhằm chuyển hóa giá trị hấp thụ carbon của rừng thành nguồn lực tài chính, đồng thời thúc đẩy quản lý rừng bền vững.
Theo Đề án, trong giai đoạn 2026 – 2030, Đà Nẵng sẽ tiến hành điều tra, rà soát và xác định hiện trạng rừng, tính toán trữ lượng các bon và phân loại 100% diện tích rừng có tiềm năng triển khai dự án carbon rừng. Thành phố cũng sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu nền, xác lập đường cơ sở và mức tham chiếu phát thải rừng (FREL/FRL), tạo nền tảng cho hệ thống quản lý carbon rừng minh bạch, phục vụ đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh (MRV).
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 Đà Nẵng có từ 1 đến 3 dự án carbon rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thành phố cũng có kế hoạch hợp tác với ít nhất 2 đối tác trong nước và quốc tế, hoàn thành tối thiểu 1 đến 2 hồ sơ đăng ký dự án và tín chỉ carbon rừng.
Đặc biệt, Đà Nẵng phấn đấu ký ít nhất một hợp đồng mua bán tín chỉ carbon trong nước hoặc quốc tế, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật.
Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc tạo nguồn cung, TP. Đà Nẵng cũng chú trọng đến quản lý và phân chia lợi ích từ tín chỉ carbon bằng việc ban hành cơ chế quản lý, giám sát và phân chia lợi ích được định hướng theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng mục đích. Nguồn lực từ tín chỉ carbon rừng sẽ được tái đầu tư cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế cho người dân.
Nhằm giúp người trồng rừng có thể tham gia vào chuỗi giá trị mới này, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo, tập huấn chuyên sâu về kiểm kê khí nhà kính, MRV và thị trường carbon cho 100% cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp và carbon rừng. Đồng thời, thành phố hướng dẫn để tối thiểu 70% chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư có rừng đủ điều kiện tham gia các hoạt động liên quan đến carbon rừng.
Định hướng đến năm 2035, TP. Đà Nẵng sẽ hoàn thiện và vận hành ổn định hệ thống quản lý carbon rừng, nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, hệ thống MRV và năng lực quản lý nhà nước trong phê duyệt dự án, cấp tín chỉ carbon rừng. Thành phố cũng chủ động kết nối nguồn cung tín chỉ carbon rừng với thị trường carbon trong nước, gắn với định hướng phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và hệ thống giao dịch carbon theo lộ trình của Chính phủ.
UBND TP. Đà Nẵng giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan đầu mối, chủ trì tham mưu tổ chức triển khai Đề án; đồng thời tham mưu UBND thành phố báo cáo, trình Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố ban hành Nghị quyết về tập trung đẩy mạnh xây dựng và thực hiện các dự án carbon rừng.
Theo thống kê, hiện TP. Đà Nẵng có tổng diện tích rừng và diện tích đã trồng cây rừng khoảng hơn 745.000 ha, trong đó diện tích rừng trồng khoảng 241.639 ha. Quy mô diện tích rừng này là tiềm năng, tạo dư địa khá lớn để Đà Nẵng phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và từng bước tham gia thị trường carbon toàn cầu.
Những năm qua, người dân các địa phương miền núi của tỉnh Quảng Nam cũ (nay là Đà Nẵng) đã và đang phát triển những cánh rừng gỗ lớn thay thế rừng trồng keo hoặc bạch đàn, thành phố có cơ hội hình thành thêm một dòng giá trị mới cho sản xuất lâm nghiệp bằng giá trị tín chỉ carbon được đo đếm, xác minh và giao dịch minh bạch. Từ đó tạo thêm nguồn thu từ việc hình thành nguồn sinh kế mới, góp phần bảo vệ phát triển rừng bền vững.
Dự án Khu dân cư Thành Tâm (phường Chơn Thành) giai đoạn 2 đang gấp rút hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Ảnh: Vũ Thuyên
Kết quả này đến từ cách làm quyết liệt, bám sát tiến độ từng dự án, gắn trách nhiệm của người đứng đầu cùng sự đồng thuận của người dân và doanh nghiệp.
Công trình thiết yếu phục vụ dân sinh
Tuyến đường thuộc tổ 10, khu phố Phùng Hưng (phường Chơn Thành) dài 3km, tập trung đông dân cư và phương tiện qua lại. Trước đây, tuyến đường chỉ được thảm nhựa, chưa có vỉa hè, cây xanh và hệ thống điện chiếu sáng nên việc đi lại của người dân còn nhiều bất tiện. Từ nguồn vốn ĐTC năm 2026, địa phương vận động người dân mở rộng vỉa hè từ 3m lên 4m mỗi bên; đồng thời lát gạch, trồng cây xanh và lắp đặt hệ thống chiếu sáng. Khi hoàn thành, tuyến đường sẽ góp phần tạo diện mạo khu dân cư sáng – xanh – sạch – đẹp.
Ông Lê Đức Thuận, người dân ở khu phố Phùng Hưng cho biết: Sau khi các hạng mục được đầu tư, tuyến đường trở nên thông thoáng, sạch đẹp, mỹ quan đô thị khang trang hơn. Nhận thấy người dân là đối tượng trực tiếp thụ hưởng, nhiều hộ đã tự nguyện tháo dỡ vật kiến trúc, bàn giao mặt bằng để dự án triển khai đúng tiến độ.
Cùng với đó, nhiều tuyến đường chật hẹp, xuống cấp được địa phương quan tâm nâng cấp, mở rộng. Tuyến đường Đoàn Thị Điểm, dài 1,4km, thuộc khu phố 2, trước đây chỉ là đường bê tông rộng 5m, chưa có vỉa hè và hệ thống thoát nước. Từ nguồn vốn ĐTC năm 2026, người dân đã đồng thuận tháo dỡ vật kiến trúc để mở rộng đường. Đến nay, tuyến đường được thảm nhựa nóng rộng 7m, có hệ thống thoát nước, mương kết hợp vỉa hè rộng 1m mỗi bên và đã đưa vào sử dụng.
Năm 2026, phường Chơn Thành triển khai 14 công trình giao thông. Cùng với những tuyến đường đã hoàn thành, nhiều công trình khác đang được đẩy nhanh tiến độ.
Ông Nguyễn Như Vương, đại diện nhà thầu thi công tuyến đường số 15, khu phố Mỹ Hưng cho biết: Giá vật liệu tăng cao, nguồn cung có thời điểm khan hiếm. Tuy nhiên, xác định đây là công trình quan trọng, khu vực có chợ và đông người qua lại, nhà thầu đã chủ động tập kết vật tư, máy móc, nhân công, tăng cường thi công, phấn đấu sớm đưa tuyến đường vào khai thác.
Tạo đồng thuận để đẩy nhanh tiến độ
Ngoài các công trình giao thông, phường Chơn Thành đang triển khai Dự án Khu dân cư Thành Tâm giai đoạn 2, diện tích gần 38ha với tổng mức đầu tư 160 tỷ đồng. Giai đoạn này tập trung đầu tư hạ tầng gồm: đường giao thông nội bộ, cấp – thoát nước, cây xanh, cảnh quan, vỉa hè, cấp điện và các tiện ích khác.
Tuyến đường Đoàn Thị Điểm, thuộc khu phố 2, phường Chơn Thành được đưa vào khai thác từ đầu tháng 8-2026.
Công trình được khởi công đầu tháng 3-2026, theo hợp đồng thi công trong 11 tháng nhưng nhà thầu đang phấn đấu rút ngắn 3 tháng so với kế hoạch. Ông Phạm Thế Hùng, đại diện nhà thầu cho hay: Để rút ngắn thời gian thi công, đơn vị bố trí nhiều tổ, đội cùng triển khai các hạng mục; đồng thời tăng ca, tăng kíp, tập trung nhân lực, vật tư, máy móc nhằm bảo đảm và phấn đấu vượt tiến độ đề ra.
Trong tổng số 242 tỷ đồng vốn ĐTC năm 2026, vốn thành phố Đồng Nai giao UBND phường Chơn Thành làm chủ đầu tư hơn 131 tỷ đồng, còn lại là vốn phân cấp. Chủ tịch UBND phường Chơn Thành Nguyễn Anh Tài cho biết: Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phường rà soát các tuyến đường chật hẹp, xuống cấp để đầu tư, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân và tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Địa phương cũng tập trung chỉnh trang đô thị, xây dựng bổ sung phòng học, trong đó đầu tư 28 phòng học cho Trường tiểu học và THCS Lương Thế Vinh; đồng thời xây dựng hạ tầng Khu dân cư Thành Tâm giai đoạn 2 để phục vụ tái định cư cho các dự án trên địa bàn.
Theo ông Nguyễn Anh Tài, để các công trình bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tiến độ, địa phương chú trọng 3 khâu gồm: chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và tuyên truyền, vận động người dân. Trong đó, sự đồng thuận của người dân được xác định là yếu tố then chốt. Quá trình thực hiện được công khai, minh bạch; địa phương tăng cường tuyên truyền để người dân hiểu rõ chủ trương, chính sách và lợi ích lâu dài của dự án. Đồng thời, phường chủ động tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giải quyết thấu đáo những đề xuất chính đáng của người dân, đảm bài hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Đến nay, không chỉ có tỷ lệ giải ngân cao, khối lượng công việc được giao làm chủ đầu tư năm 2026 của phường Chơn Thành cũng đạt gần 80%. Đặc biệt, phần lớn mặt bằng các dự án đã được giải phóng 100%. Đây là kết quả đáng ghi nhận từ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương và sự đồng thuận của người dân, doanh nghiệp.
Với tinh thần quyết liệt, rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, phường Chơn Thành phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch vốn ÐTC năm 2026. Qua đó phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư, từng bước hoàn thiện hạ tầng, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội, góp phần tạo nền tảng để đô thị công nghiệp này tiếp tục bứt phá trong giai đoạn mới.
Khảo sát thực tế tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, Đoàn khảo sát Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh ghi nhận những kết quả bước đầu trong công tác tiếp nhận, duy trì hoạt động các Nhà văn hóa ấp, Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, thư viện và điểm luyện tập thể thao. Hệ thống thiết chế này đang phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt, hội họp và giải trí của người dân. Đơn cử như tại Tân Lập, UBND xã đã đầu tư 285,6 triệu đồng trang bị dụng cụ thể dục ngoài trời cho 4 Nhà văn hóa ấp; xã Tân Biên cũng chi gần 153,9 triệu đồng mua sắm trang thiết bị cho 5 cơ sở.
Đoàn khảo sát Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh khảo sát thực tế thiết chế văn hóa tại Nhà văn hóa ấp Thạnh Tân, xã Tân Biên. Ảnh: Thanh Điệp
Dù vậy, qua thực tế khảo sát, Ban Văn hóa – Xã hội HĐND tỉnh cũng đánh giá mạng lưới thiết chế tại cơ sở vẫn bộc lộ sự thiếu đồng bộ và xuống cấp. Quy mô dân số và diện tích thay đổi sau sắp xếp khiến nhiều công trình trở nên lạc hậu. Như tại phường Long Hoa, trên địa bàn hiện có 9 khu phố “trắng” Nhà văn hóa và 3 cơ sở chưa đạt diện tích tối thiểu. Đối chiếu tiêu chí nông thôn mới, xã Tân Biên chỉ có 9 trên tổng số 16 Nhà văn hóa ấp đạt chuẩn. Các xã Tân Hưng và Vĩnh Hưng lại gặp khó khăn do tình trạng dôi dư cơ sở vật chất sau sắp xếp đơn vị hành chính trong khi nguồn kinh phí sửa chữa các công trình xuống cấp rất hạn hẹp.
Làm việc với các địa phương, Đoàn khảo sát đề nghị chính quyền các cấp khẩn trương rà soát lại mạng lưới thiết chế, đối chiếu quỹ đất và nhu cầu thực tế để ưu tiên đầu tư. Phường Long Hoa cần sớm có phương án xây dựng Nhà văn hóa cho 9 khu phố đang thiếu hụt. UBND các xã Tân Hưng, Vĩnh Hưng cần phân loại rõ công trình cần nâng cấp và xử lý dứt điểm nhóm tài sản dôi dư, không để xảy ra lãng phí. Quy hoạch mạng lưới thiết chế mới cần bám sát quy mô dân số và khả năng cân đối vốn dài hạn. Cùng với đó, các địa phương cần kiện toàn nhân sự quản lý, chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm kém hiệu quả. Trong đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa, huy động doanh nghiệp và người dân tham gia khai thác tối đa công năng tài sản công.
Đối với lĩnh vực thể thao thành tích cao, Đoàn khảo sát đã làm việc tại cơ sở 2 ở xã Châu Thành thuộc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh. Sau khi hợp nhất các đơn vị thuộc 2 tỉnh Long An, Tây Ninh, Trung tâm đã từng bước ổn định cơ cấu tổ chức và hiện quản lý hệ thống thiết chế quy mô gồm hai cơ sở chính tại phường Long An và xã Châu Thành, cùng Khu vực Hồ bơi tỉnh, Nhà thi đấu và khu nhà ở vận động viên. Các thiết chế này đang phục vụ liên tục cho 19 môn thể thao chuyên nghiệp với 430 vận động viên; trong đó, 151 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia. Hàng năm, hệ thống đón hàng trăm nghìn lượt người tham gia rèn luyện, thi đấu. Trung tâm cũng đang triển khai Đề án khai thác tài sản công nhằm gia tăng nguồn thu tự chủ.
Đoàn khảo sát thực tế tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh Tây Ninh (cơ sở 2, xã Châu Thành). Ảnh: Thanh Điệp
Bên cạnh những kết quả bước đầu, Trung tâm cũng chia sẻ về tình trạng thiếu hụt cán bộ chuyên môn, vận hành và bảo trì. Nhiều hạng mục công trình lâu năm đã xuống cấp, phát sinh nhu cầu sửa chữa cấp thiết nhưng kinh phí cấp phát còn hạn chế. Việc khai thác dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, đồng thời công tác xã hội hóa đầu tư cho thể thao thành tích cao vẫn gặp nhiều cản trở.
Ghi nhận thực tế và các kiến nghị, đề xuất, Đoàn khảo sát đề nghị, Trung tâm tiếp tục rà soát tổng thể hiện trạng các cơ sở, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư, sửa chữa, bảo trì; tập trung nguồn lực cho các công trình phục vụ trực tiếp công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên và tổ chức các giải thể thao. Đồng thời, hoàn thiện Đề án khai thác tài sản công đúng quy định, sắp xếp, bổ sung và đào tạo nhân lực phù hợp với phạm vi quản lý sau hợp nhất.
Đoàn khảo sát cũng đề nghị, Trung tâm phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện phương án bàn giao Sân vận động Long An và Khu vực hồ bơi tỉnh, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động thể dục, thể thao. Song song đó, có giải pháp huy động nguồn lực xã hội hóa, kết nối doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hỗ trợ đào tạo, huấn luyện, thi đấu và phát triển thể thao thành tích cao.
Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Media Quốc hội
Ngày 22/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI tiến hành thảo luận tại hội trường về nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chính sách phát triển đô thị, bất động sản, ngân sách nhà nước, chính sách thuế và dự án điện hạt nhân.
Buổi sáng, Quốc hội thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản. Các đại biểu tập trung cho ý kiến về những định hướng, chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh bất động sản, đồng thời bảo đảm thị trường phát triển ổn định, minh bạch và bền vững.
Quốc hội cũng thảo luận về nội dung cơ chế, chính sách đối với các dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.
Buổi chiều, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất).
Quốc hội đồng thời cho ý kiến về dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Một nội dung quan trọng khác được Quốc hội thảo luận trong chiều 22/8 là việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.
Thảo luận tại Tổ 11 (gồm Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đoàn thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ngãi) về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị chiều 21/8, Đại biểu Vũ Văn Tiến, ĐBQH đoàn thành phố Hải Phòng đã đóng góp ý kiến về việc xây dựng hành lang pháp lý đột phá cho khu đô thị lấn biển.
Đại biểu Vũ Văn Tiến, ĐBQH đoàn thành phố Hải Phòng.
Theo đại biểu Vũ Văn Tiến, lấn biển đang trở thành xu hướng phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở những nơi có nhu cầu mở rộng không gian đô thị và quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Dẫn chứng cụ thể, đại biểu Vũ Văn Tiến cho biết, sân bay Kansai (Nhật Bản) được xây dựng ngoài biển Osaka từ năm 1987, sau 20 năm lên kế hoạch. Đây là một dự án khổng lồ và tốn kém, với tổng chi phí lên đến 14 tỷ USD vào thời điểm đó – tương đương gần 40 tỷ USD ngày nay. Hay như Singapore hiện lấn biển mạnh nhất thế giới, khoảng 25% (từ 580km2 ban đầu, hiện diện tích đã lên đến khoảng 730km2 và đang tiếp tục).
Đối với Việt Nam, một quốc gia có đường bờ biển dài nhưng quỹ đất tại nhiều khu vực đồng bằng ven biển còn hạn chế, việc lấn biển để tạo thêm không gian phát triển có sức hấp dẫn rất lớn. Vì vậy, việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động lấn biển là yêu cầu thực tiễn, đồng thời tạo cơ sở để quản lý, kiểm soát và định hướng hoạt động này một cách chặt chẽ, bền vững.
Theo đại biểu Vũ Văn Tiến, đi cùng với lấn biển, mở rộng không gian phát triển, cần lưu ý: hoạt động lấn biển có thể phá hủy hoặc làm suy giảm hệ sinh thái ven bờ; làm thay đổi quá trình bồi tụ. Đi cùng với đó là nguy cơ thiên tai có thể gia tăng; thậm chí có thể làm đảo lộn đời sống, sinh kế, phong tục, tập quán và không gian văn hóa của cộng đồng dân cư ven biển.
Đề xuất giải pháp để hạn chế các tác động tiêu cực từ các dự án, khu đô thị lấn biển, đại biểu Vũ Văn Tiến đã đưa ra một số đề xuất.
Trước hết, cần xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể về lấn biển ở phạm vi quốc gia. Trên cơ sở đó, xác định rõ khu vực được phép lấn biển, quy mô tối đa của từng vùng và giới hạn diện tích phù hợp. Khu vực lấn biển, nếu được xác định trong quy hoạch, phải được xem là một thành phần bắt buộc của hệ thống quy hoạch tổng thể. Quy mô, mật độ, chức năng sử dụng và mức độ khai thác phải được cân đối với khả năng chịu tải của môi trường và được cơ quan có thẩm quyền xem xét, điều phối thống nhất.
“Không nên cho phép hoạt động lấn biển phát triển tự phát, không giới hạn hoặc chỉ dựa trên đề xuất riêng lẻ của từng nhà đầu tư. Cần có cơ chế kiểm soát tổng thể ở cấp quốc gia và cấp vùng, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng và lợi ích cộng đồng”,đại biểu Vũ Văn Tiến đề xuất.
Cũng theo đại biểu, mọi hoạt động lấn biển cần được đặt trên nền tảng nghiên cứu khoa học, công nghệ và đánh giá tác động đầy đủ. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống quản lý và cơ sở dữ liệu thống nhất ở phạm vi quốc gia để theo dõi, dự báo, kiểm soát các dự án lấn biển; qua đó bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, ổn định đời sống người dân và phát triển bền vững lâu dài.
Mời độc giả xem thêm video cấp cứu một ngư dân trên vùng biển Trường Sa:
Theo chương trình, buổi sáng, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản. Bộ trưởng Bộ Xây dựng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề được đại biểu Quốc hội nêu.
Tiếp đó, Quốc hội thảo luận về cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.
Bộ trưởng Bộ Tài chính phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.
Quốc hội tiếp tục thảo luận nhiều nội dung quan trọng.
Buổi chiều, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất).
Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm.
Sau đó, Quốc hội thảo luận về dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp. Bộ trưởng Bộ Tài chính phát biểu giải trình, làm rõ các vấn đề đại biểu nêu.
Cuối buổi chiều, Quốc hội thảo luận về việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập. Bộ trưởng Bộ Tài chính phát biểu giải trình, làm rõ một số nội dung được đại biểu Quốc hội đặt ra.
Trồng cây trong nhà không chỉ tạo mảng xanh mà còn giúp không gian có hương thơm tự nhiên và hạn chế sự xuất hiện của muỗi.
Cây sả
Cây sả chứa các hợp chất thơm, trong đó có citronellal và geraniol, tạo nên mùi hương mà nhiều loài côn trùng không ưa.
Cây sả có tác dụng hỗ trợ xua đuổi muỗi. (Ảnh: Plant)
Có thể trồng sả trong chậu đặt ở ban công, gần cửa sổ hoặc khu vực thông thoáng. Khi cây phát triển tốt, phần lá tỏa ra mùi thơm đặc trưng.
Cây hương thảo
Cây hương thảo nổi bật với mùi thơm mạnh từ tinh dầu trong lá. Tinh dầu cineole và camphor có trong cây hương thảo gây nhiễu khứu giác của muỗi, làm giảm khả năng xác định vị trí con người trong không gian kín.
(Ảnh: Vietnamnet)
Cây hương thảo phù hợp đặt ở phòng khách, bếp hoặc ban công nhiều ánh sáng. Không nên đặt hương thảo trong môi trường ẩm kín.
Cây ngũ gia bì
Ngũ gia bì thường được sử dụng để trang trí văn phòng, đặt trên bàn làm việc… Đặc biệt, cây ngũ gia bì với mùi thơm nhẹ nhàng, có tác dụng chống muỗi hiệu quả.
(Ảnh: Medlatec)
Bên cạnh khả năng hỗ trợ đuổi muỗi, cây ngũ gia bì còn có khả năng lọc không khí.
Cây bạc hà
Cây bạc hà chứa hàm lượng lớn tinh dầu như menthol, menthone và limonene. Mùi hương này làm muỗi khó chịu, mất định hướng và buộc phải bay tránh xa.
Cây bạc hà có thể trồng trong chậu nhỏ đặt ở cửa sổ, góc phòng hoặc bàn làm việc.
Cây húng quế
Cây húng quế có tác dụng đuổi muỗi do chứa các loại tinh dầu thơm như eugenol, linalool và citronellol. Mùi hương này làm muỗi bị rối loạn định hướng và khó chịu. Loài cây này ưa nắng, cần được tưới nước đều và cắt ngọn thường xuyên để phân nhánh.
Ngoài tác dụng đuổi muỗi, cây xanh trồng trong nhà còn góp phần cân bằng độ ẩm, giảm mùi ẩm mốc và cải thiện chất lượng không khí. Với căn hộ từ 50 – 70m², nên bố trí cây xanh rải rác thay vì dồn vào một góc để tăng hiệu quả khuếch tán tinh dầu.
Dù vậy, cây xanh chỉ đóng vai trò hỗ trợ, không thay thế các biện pháp phòng muỗi khác. Hiệu quả chống muỗi của cây xanh có thể giảm nếu không gian quá kín, thiếu thông gió hoặc cây sinh trưởng kém.
Nhà nước vạch ra địa giới hành chính để xác lập thẩm quyền và trách nhiệm quản lý, dù tự nhiên và nền kinh tế không vận hành theo những đường ranh giới này. Sông ngòi, ngập lụt, sụt lún, ô nhiễm, logistics hay chuỗi cung ứng đều có thể vượt khỏi phạm vi quản lý của một địa phương.
Tàu container cập cảng Gemalink, phường Tân Phước, TPHCM. ẢNH: THÀNH HUY
Địa giới hành chính xác định ai quản lý ở đâu; còn không gian chức năng giúp xác định một vấn đề cần được quản trị trong phạm vi nào. Từ đó, có thể xem “vùng không gian sinh thái – kinh tế” trước hết là một tư duy quản trị, không phải một cấp hành chính hay loại quy hoạch mới. Vùng này được nhận diện thông qua quan hệ giữa hệ sinh thái, lưu vực, tài nguyên, dân cư, hạ tầng và hoạt động kinh tế. “Sinh thái – kinh tế” là hai mặt của cùng một hệ thống phát triển: tăng trưởng phải tính đến sức chịu tải của hệ sinh thái, còn bảo vệ sinh thái gắn với sinh kế và nhu cầu phát triển.
Dự thảo Luật Phát triển đô thị đã đặt nền tảng cho cách tiếp cận trên khi xác định vùng đô thị đặc biệt là khu vực liên kết phát triển kinh tế – xã hội gồm thành phố là đô thị đặc biệt và các đơn vị hành chính cấp tỉnh có địa giới hành chính liền kề với thành phố; đồng thời dành riêng một mục về liên kết, phát triển vùng. Dự thảo đặt nguyên tắc thống nhất trong tổ chức không gian phát triển, đầu tư hạ tầng chung; phối hợp quản lý nguồn nước, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển chuỗi sản xuất, logistics, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, du lịch.
Điểm có thể làm rõ thêm là phạm vi vận hành của nhiều vấn đề không phải lúc nào cũng trùng với ranh giới của vùng đô thị đặc biệt. Một lưu vực sông, mạng lưới logistics hay hệ sinh thái có phạm vi vận hành được xác định bởi những quan hệ tự nhiên, kinh tế và hạ tầng, không nhất thiết trùng với địa giới hành chính. Vì vậy, tư duy “vùng không gian sinh thái – kinh tế” có thể bổ sung cho phương thức quản trị vùng đô thị đặc biệt bằng cách giúp nhận diện đúng phạm vi vận hành của từng vấn đề, thay vì tạo thêm một loại vùng pháp lý mới.
Quản trị chiến lược không thay thế quản trị địa phương, mà tạo khung chung để những quyết định địa phương cùng hướng tới lợi ích của toàn bộ đại đô thị. Ở TPHCM, vấn đề này càng rõ sau khi không gian hành chính được mở rộng, bao gồm những khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ, cảng biển, rừng ngập mặn và không gian biển. Tuy nhiên, địa giới mới vẫn không thể bao trọn mọi quan hệ chức năng gắn với sự phát triển của TPHCM. An ninh nguồn nước của TPHCM gắn với lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn. Sân bay Long Thành là cấu phần quan trọng của mạng lưới hàng không và logistics Đông Nam bộ. Dòng hàng hóa từ Tây Nguyên,
Đông Nam bộ và Tây Nam bộ kết nối với hệ thống đường bộ, đường thủy, hàng không và cảng biển quy mô vùng. Không gian Cần Giờ cũng nằm trong một hệ thống cửa sông – rừng ngập mặn – ven biển rộng hơn ranh giới của một địa phương. Xét theo địa giới hành chính, chuỗi không gian này thuộc nhiều địa phương khác nhau; nhưng dưới lăng kính địa không gian, đây là một chuỗi tương tác từ thượng nguồn, lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn, vùng công nghiệp – đô thị, hệ thống sông rạch đến Cần Giờ, Cái Mép – Thị Vải và không gian biển.
Kết nối 3 mảnh ghép quản trị
Dự thảo Luật Phát triển đô thị quy định nhiều cơ chế hướng tới phương thức quản trị hiện đại, trong đó có Quy hoạch tổng thể thành phố, quản lý không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao, liên kết vùng và quản trị dựa trên dữ liệu. Dự thảo cũng cho phép thí điểm mô hình quản trị, kiến tạo tiên tiến, hiện đại và mô hình quản lý đô thị, nông thôn, không gian và phát triển bền vững. Những nền tảng này đã hiện diện trong dự thảo, vấn đề là kết nối rõ hơn 3 mảnh ghép: không gian chức năng, dữ liệu nhất thống và thể chế điều phối.
Thứ nhất là không gian chức năng. Dự thảo đặt nguyên tắc thống nhất trong tổ chức không gian phát triển và hình thành cơ chế liên kết vùng. Bước tiếp theo là có thể làm rõ hơn nguyên tắc: phạm vi quản trị một vấn đề phù hợp với phạm vi vận hành thực tế của vấn đề đó. Với nguồn nước, đó có thể là lưu vực; với logistics, đó là mạng lưới hành lang và đầu mối; với môi trường, đó là vùng phát thải và vùng chịu tác động.
Luật Phát triển đô thị nếu được thông qua sẽ là cơ hội để kết nối các cơ chế đang được thiết kế thành một khung quản trị thống nhất hơn, mở rộng cách tiếp cận từ tư duy quản lý, khai thác đất đai sang quản trị tổng thể không gian phát triển, trong mối quan hệ giữa sinh thái, kinh tế, hạ tầng và con người.
Thứ hai là dữ liệu nhất thống. Dự thảo trao cho UBND thành phố thẩm quyền xây dựng, tạo lập, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm liên thông với cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương; đồng thời cho phép áp dụng phương thức quản trị tiên tiến dựa trên dữ liệu số và cơ chế chia sẻ dữ liệu công – tư. Ở cấp vùng, các địa phương cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ liên kết, phát triển vùng. Dữ liệu dùng chung không có nghĩa là gom mọi dữ liệu về một nơi, mà phải bảo đảm tính toàn vẹn, nhất quán, khả năng kết nối và cùng phản ánh một thực tại không gian. Hạ tầng dữ liệu không gian, tiêu chuẩn dữ liệu mở và mô hình bản sao số (Digital Twin) có thể trở thành những công cụ kỹ thuật quan trọng cho quá trình này.
Thứ ba là thể chế điều phối. Dự thảo đã có cơ chế để các địa phương thống nhất triển khai dự án liên kết vùng, lựa chọn cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện dự án và quy định cơ chế thành lập Quỹ Phát triển vùng đô thị đặc biệt. Trong quản lý môi trường, dự thảo quy định UBND thành phố cùng các địa phương xây dựng cơ chế điều phối, xác định trách nhiệm của các bên và giám sát việc phối hợp. Nền tảng này có thể được làm rõ hơn về phạm vi vấn đề cần điều phối liên vùng, thẩm quyền quyết định, căn cứ dữ liệu, phân định trách nhiệm và cơ chế xử lý xung đột lợi ích giữa các địa phương, ngành và chủ thể liên quan. Có thể khái quát: không gian chức năng kết hợp dữ liệu nhất thống và thể chế điều phối giúp đảm bảo quản trị không gian hiệu quả.
* Ông NGUYỄN HỮU Y YÊN,Chủ tịch HĐTV Lữ hành Saigontourist:
Mạnh dạn thử nghiệm những gì thị trường cần
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo Luật Phát triển đô thị là trao cho TPHCM không gian chủ động để thí điểm những cơ chế, chính sách mới mà thực tiễn đang cần nhưng pháp luật hiện hành chưa quy định hoặc chưa theo kịp.
Từ hoạt động của doanh nghiệp, tôi đề xuất TPHCM ưu tiên 3 nhóm chính sách. Thứ nhất là phát triển sản phẩm du lịch mới và kinh tế ban đêm với kỳ vọng kéo dài thời gian lưu trú và thêm nguồn thu từ mức chi tiêu gia tăng của du khách. Thành phố có thể quy hoạch những khu vực tổ chức hoạt động văn hóa, ẩm thực, mua sắm, vui chơi, giải trí về đêm với khung giờ linh hoạt; đơn giản hóa thủ tục cấp phép tổ chức. Thứ hai là tạo thuận lợi hơn cho dòng khách quốc tế có giá trị cao, thông qua cơ chế “một cửa” đối với khách tàu biển, khách MICE, đoàn khách quốc tế quy mô lớn… Đồng thời có chính sách đủ hấp dẫn để phối hợp với những hãng hàng không, tàu biển và doanh nghiệp lữ hành quốc tế mở thêm đường bay, tuyến tàu. Thứ ba là áp dụng cơ chế hợp tác công – tư linh hoạt hơn trong xúc tiến, phát triển điểm đến. Tinh thần của cơ chế là: những gì thị trường thực sự cần, pháp luật chưa quy định và rủi ro có thể kiểm soát thì mạnh dạn thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng.
* Ông HUỲNH LÊ ĐỨC,Tổng Giám đốc Tập đoàn Y khoa Sài Gòn:
Dự thảo Luật Phát triển đô thị với những cơ chế, chính sách dành cho đô thị đặc biệt có thể tạo thêm động lực huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho y tế. Việc tăng tính chủ động sẽ giúp TPHCM cụ thể hóa chính sách sát thực tiễn hơn, tạo khuôn khổ để y tế công lập và ngoài công lập phối hợp, bổ trợ cho nhau trong chăm sóc sức khỏe người dân.
Chúng tôi kỳ vọng thành phố nghiên cứu bố trí quỹ đất phù hợp để phát triển nhiều cụm y tế kỹ thuật cao, tích hợp cơ sở y tế tại những khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), góp phần giảm tải bệnh viện tuyến cuối… Ngoài ưu đãi về đất đai, thuế đối với cơ sở khám chữa bệnh chất lượng cao, thành phố có thể nghiên cứu chính sách tín dụng phù hợp để thúc đẩy ứng dụng robot phẫu thuật, trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán và điều trị; khuyến khích bệnh viện đạt các chuẩn kiểm định quốc tế, phát triển dịch vụ khám chữa bệnh cho người nước ngoài, đưa TPHCM trở thành một trung tâm du lịch y tế của khu vực.
THI HỒNG – THÀNH AN ghi
PGS-TS LÊ TRUNG CHƠN, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TPHCM