Author: bachdn

  • Dự án đã có cơ sở pháp lý phải được hướng dẫn triển khai ngay

    Nội dung công điện yêu cầu khẩn trương cập nhật, rà soát, tổng hợp phân loại và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Ảnh minh họa

    Công điện yêu cầu các địa phương, bộ, ngành rà soát tổng thể các dự án thuộc phạm vi quản lý. Những vấn đề thuộc thẩm quyền phải được quyết liệt xử lý dứt điểm; đối với nội dung vượt thẩm quyền, cần xác định rõ vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý.

    Đáng chú ý, Thủ tướng đặt ra yêu cầu cụ thể đối với các bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành khi xử lý kiến nghị từ các dự án.

    Đã có quy định, phải hướng dẫn thực hiện ngay

    Theo Công điện, đối với những kiến nghị, đề xuất đã có quy định pháp luật, bộ, cơ quan được phân công chủ trì phải khẩn trương có văn bản hướng dẫn để cơ quan trung ương, địa phương và đơn vị quản lý dự án tổ chức thực hiện ngay.

    Mục tiêu là sớm đưa dự án trở lại hoạt động, đồng thời cập nhật, chuyển dự án sang nhóm phù hợp trên Hệ thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

    Yêu cầu này hướng tới việc hạn chế tình trạng dự án tiếp tục đình trệ trong khi hành lang pháp lý xử lý đã có, nhưng việc hướng dẫn hoặc tổ chức thực hiện còn chậm.

    Đối với từng dự án cụ thể, địa phương và cơ quan quản lý cũng phải chủ động chuyển thông tin, kiến nghị đến đúng bộ, cơ quan chuyên ngành phụ trách các lĩnh vực như đất đai, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, quy hoạch, tài chính, y tế, năng lượng… để được hướng dẫn hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét.

    Với những kiến nghị chưa có cơ sở pháp lý để dự án tiếp tục triển khai đầu tư xây dựng và cần báo cáo Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng yêu cầu cơ quan chủ trì không chỉ dừng ở việc ghi nhận vướng mắc.

    Các bộ, cơ quan phải chủ động nghiên cứu giải pháp tháo gỡ phù hợp; tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật hoặc ban hành cơ chế, chính sách để xử lý những vấn đề phát sinh thuộc lĩnh vực quản lý.

    Trường hợp xác định vướng mắc thuộc trách nhiệm của bộ, cơ quan khác, đơn vị đang xử lý phải chuyển kiến nghị đến đúng cơ quan có thẩm quyền, đồng thời điều chỉnh cơ quan chủ trì xử lý trên Hệ thống 751.

    Cách phân loại này nhằm xác định rõ từng “địa chỉ” chịu trách nhiệm, tránh tình trạng kiến nghị qua nhiều cơ quan nhưng không xác định được đơn vị chủ trì giải quyết.

    Gắn tiến độ tháo gỡ vưỡng mắc với trách nhiệm người đứng đầu

    Thủ tướng yêu cầu các tỉnh, thành phố và các bộ, cơ quan được giao làm chủ đầu tư hoặc quản lý dự án cập nhật đầy đủ tình hình phân loại, xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751.

    Việc rà soát phải bảo đảm không còn dự án thuộc diện khó khăn, vướng mắc nhưng chưa được tổng hợp. Thông tin, số liệu cập nhật phải đầy đủ, chính xác và thống nhất với các báo cáo gửi cấp có thẩm quyền.

    Đối với những dự án cần Chính phủ hoặc Quốc hội ban hành cơ chế, chính sách, cơ quan quản lý phải làm rõ tình hình triển khai, nguyên nhân vướng mắc, căn cứ pháp lý và giải pháp đề xuất; đồng thời chủ động phối hợp với các bộ quản lý chuyên ngành để xây dựng phương án tháo gỡ.

    Thời hạn hoàn thành việc cập nhật, rà soát theo yêu cầu của Công điện là trước ngày 15/9/2026.

    Thủ tướng giao Bộ Tài chính tiếp tục theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương cập nhật số liệu, xử lý các vướng mắc trên Hệ thống 751.

    Bộ Tài chính có trách nhiệm định kỳ hằng tháng hoặc đột xuất tổng hợp, báo cáo Thủ tướng; đồng thời tham mưu biểu dương những đơn vị thực hiện tốt và xử lý trách nhiệm đối với các cơ quan, địa phương chậm trễ, không nghiêm túc cập nhật số liệu hoặc xử lý vướng mắc.

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về kết quả thực hiện.

    Việc đẩy nhanh xử lý các dự án tồn đọng, kéo dài được đặt trong yêu cầu giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời khắc phục tình trạng dự án kéo dài do vướng mắc pháp lý hoặc chậm xác định cơ quan chịu trách nhiệm xử lý.

    Bạch Dương

    Nguồn https://baomoi.com/du-an-da-co-co-so-phap-ly-phai-duoc-huong-dan-trien-khai-ngay-c55892727.epi

  • Muốn mua nhà vừa túi tiền ở Hà Nội, nhiều người phải đi xa đến đâu?

    Nhiều người trẻ đang tìm hiểu một dự án nhà ở. Ảnh minh họa

    Chấp nhận đi xa để có thể mua được nhà

    Một cặp vợ chồng trẻ có trong tay khoảng 1 tỷ đồng tiền tích lũy. Họ từng nghĩ số tiền này đủ làm khoản vốn ban đầu để mua một căn hộ khoảng 2-3 tỷ đồng, phần còn lại vay ngân hàng và trả dần.

    Nhưng khi đi tìm nhà, lựa chọn ngày càng thu hẹp. Những căn hộ phù hợp với khả năng tài chính không còn nhiều, trong khi các dự án mới liên tục thiết lập mặt bằng giá cao hơn. Cuối cùng, thay vì tìm một căn nhà gần nơi làm việc, họ phải tính đến phương án đi xa hơn, tìm nhà ở những khu vực ven đô hoặc ngoài trung tâm.

    Đây không phải bài toán riêng của một gia đình.

    Báo cáo thị trường Hà Nội quý II/2026 của Savills cho thấy nguồn cung căn hộ mới đạt 5.317 căn, nhưng chủ yếu đến từ phân khúc hạng A. Giá chào bán sơ cấp tăng 16% theo quý và 27% theo năm. Đáng chú ý, trong quý không có nguồn cung mới nào có giá dưới 70 triệu đồng/m².

    Nhà ở vừa túi tiền gần như biến mất khỏi thị trường Hà Nội

    Với mức giá này, một căn hộ 50m² đã tương đương khoảng 3,5 tỷ đồng, còn căn 60m² khoảng 4,2 tỷ đồng. Với nhiều gia đình trẻ, đây là mức giá buộc họ phải thay đổi tiêu chí tìm kiếm: căn hộ nhỏ hơn, vị trí xa hơn hoặc chấp nhận đi lại lâu hơn để đổi lấy mức giá dễ chịu hơn.

    Savills cũng ghi nhận khả năng chi trả tiếp tục là rào cản chính trên thị trường Hà Nội. Người mua trở nên kỹ tính và nhạy cảm hơn về giá, dù nhu cầu nhà ở vẫn ở mức cao.

    Điều này tạo ra một sự dịch chuyển đáng chú ý, khi không thể kéo giá căn nhà xuống, người mua buộc phải kéo rộng bán kính tìm kiếm.

    Trước đây, một gia đình có thể đặt tiêu chí nhà cách nơi làm việc 10-15 km, khi giá nhà tăng, họ có thể chấp nhận 20 km. Nếu vẫn không tìm được sản phẩm phù hợp, khoảng cách ấy tiếp tục được nới rộng.

    Một căn hộ ở xa trung tâm có thể rẻ hơn, nhưng mỗi ngày người mua phải trả thêm bằng thời gian đi lại. Với hai vợ chồng cùng đi làm, tổng thời gian di chuyển có thể trở thành một phần đáng kể của ngày sống. Gia đình có con nhỏ lại phải tính thêm trường học, việc đưa đón, chăm sóc con và khoảng cách với ông bà.

    Khi đó, câu hỏi không còn đơn giản là “căn nhà này rẻ hơn bao nhiêu?”, mà là “để có căn nhà này, gia đình phải đánh đổi những gì?”.

    Báo cáo của Savills cũng cho rằng các dự án hạ tầng trọng điểm có thể mở ra cơ hội tiếp cận nhà ở vừa túi tiền hơn tại các khu vực vùng ven và các tỉnh lân cận. Hạ tầng được cải thiện sẽ giúp mở rộng không gian phát triển nhà ở, thay vì nhu cầu tiếp tục dồn vào khu vực trung tâm.

    Đây có thể là một hướng giải bài toán nhà ở Hà Nội trong dài hạn. Khi quỹ đất được mở rộng, các dự án mới có thêm không gian phát triển và người dân có thêm lựa chọn.

    Nhưng với người mua ở thực, “vùng ven” chỉ thực sự hấp dẫn nếu khoảng cách địa lý được bù đắp bằng hạ tầng giao thông và các tiện ích thiết yếu.

    Đi xa để mua nhà, hay ở gần để giữ thời gian sống?

    Không phải ngẫu nhiên mà hạ tầng đang trở thành một trong những yếu tố được nhắc đến nhiều khi nói về bài toán nhà ở Hà Nội.

    Savills đánh giá Hà Nội đang ưu tiên phát triển hạ tầng, tạo ra nhu cầu bất động sản trước mắt và nền tảng tăng trưởng dài hạn. Các dự án trọng điểm có thể mở ra cơ hội tiếp cận nhà ở vừa túi tiền hơn tại vùng ven và các tỉnh lân cận.

    Điều đó có nghĩa, trong tương lai, “nhà Hà Nội” có thể không còn được hình dung đơn thuần là những căn hộ nằm trong khu vực trung tâm hoặc các quận nội thành. Không gian sống của Thủ đô đang mở rộng cùng với các tuyến đường, vành đai, cầu và các khu đô thị mới.

    Tuy nhiên, sự mở rộng ấy chỉ thực sự có ý nghĩa với người mua nhà nếu nó giúp giảm tổng chi phí của cuộc sống, chứ không chỉ giảm giá căn hộ.

    Nếu ở dự án này, mỗi ngày người dân sẽ đi hàng chục km di chuyển

    Giả sử một gia đình mua được căn nhà rẻ hơn 1 tỷ đồng ở khu vực xa hơn. Nếu đổi lại, mỗi ngày họ phải mất thêm hai giờ đi lại, phát sinh thêm tiền xăng xe, phí gửi xe hoặc chi phí phương tiện công cộng, trong nhiều năm, khoản “tiết kiệm” ban đầu sẽ cần được tính lại.

    Với gia đình có con nhỏ, bài toán còn phức tạp hơn. Một căn nhà rộng hơn, giá thấp hơn nhưng cách trường học và nơi làm việc quá xa có thể khiến cha mẹ mất thêm nhiều giờ mỗi ngày cho việc đưa đón. Nếu ông bà ở nội đô, khoảng cách cũng đồng nghĩa với việc giảm bớt sự hỗ trợ vốn rất quan trọng đối với nhiều gia đình trẻ.

    Bởi vậy, nhà vừa túi tiền không nên chỉ được tính bằng giá bán trên mỗi mét vuông. Đó phải là mức giá mà sau khi mua nhà, gia đình vẫn đủ khả năng duy trì cuộc sống và không phải đánh đổi quá nhiều thời gian cho việc đi lại.

    Triển vọng nguồn cung đang mở ra thêm lựa chọn. Theo Savills, thị trường căn hộ Hà Nội dự kiến có 22 dự án mới, cung cấp khoảng 13.700 căn. Ở các phân khúc khác, nguồn cung tương lai cũng được mở rộng nhờ các dự án mới và hạ tầng.

    Nhưng điều đáng quan tâm không chỉ là nguồn cung tăng bao nhiêu, mà những căn nhà ấy sẽ nằm ở đâu, giá bao nhiêu và kết nối với nơi làm việc, trường học, bệnh viện, dịch vụ thiết yếu như thế nào.

    Bởi nếu nhà vừa túi tiền chỉ xuất hiện khi người mua phải đi ngày càng xa, thì bài toán an cư mới chỉ được giải một nửa.

    Một căn nhà có thể rẻ hơn, nhưng một gia đình không chỉ mua những mét vuông để ở. Họ còn mua thời gian bên con cái, sự thuận tiện trong công việc, khoảng cách với người thân và chất lượng cuộc sống mỗi ngày.

    Vì thế, câu hỏi “muốn mua nhà vừa túi tiền phải đi xa đến đâu?” có lẽ không nên được trả lời bằng một con số kilomet. Mà đi bao xa để giá nhà giảm xuống mức có thể mua được, nhưng vẫn đủ gần để một gia đình có thể sống một cuộc sống bình thường?

    Hà Khê

    Nguồn https://baomoi.com/muon-mua-nha-vua-tui-tien-o-ha-noi-nhieu-nguoi-phai-di-xa-den-dau-c55892966.epi

  • “Luồng xanh” tạo đà tăng tốc đầu tư

    Giảm thời gian, tăng trách nhiệm

    Ngày 27/3/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 968 về việc thí điểm triển khai cơ chế “Luồng xanh” trong giải quyết thủ tục hành chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Thời gian thực hiện thí điểm từ ngày 1/4 đến 30/9/2026. Cơ chế được thiết kế theo 2 cấp độ: “Luồng xanh 24 giờ” áp dụng với 5 thủ tục thuộc lĩnh vực đầu tư và lao động; “Luồng xanh 50%” áp dụng với các dự án trọng điểm và thủ tục đầu tư, xây dựng phức tạp, yêu cầu giảm ít nhất một nửa thời gian trong từng khâu. Việc rút ngắn thời gian không đồng nghĩa với giản lược hồ sơ hay bỏ qua các bước thẩm định. Thời gian được tiết kiệm chủ yếu nhờ xử lý đồng thời, tăng trao đổi trên môi trường điện tử và giảm thời gian chờ giữa các khâu.

    Dự án Meiko có tổng vốn đầu tư 500 triệu USD, triển khai tại KCN Yên Quang, xã Thịnh Minh. Ngày 8/4/2026, trên cơ sở đề xuất của nhà đầu tư, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông quyết định đưa dự án vào cơ chế “Luồng xanh” để tập trung hỗ trợ, góp phần đưa dự án khởi công vào ngày 12/6/2026.

    Theo ông Nguyễn Đức Phương, đại diện Văn phòng Chủ tịch Tập đoàn Meiko Electronics, sự hướng dẫn cụ thể và tiến độ giải quyết thủ tục nhanh giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch, sớm đưa dự án vào thực hiện. Meiko đánh giá cao sự đồng hành của tỉnh Phú Thọ trong quá trình chuẩn bị đầu tư.

    Cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục về giấy phép lao động, chủ động bố trí nhân lực phục vụ sản xuất. (Công nhân làm việc tại dây chuyền sản xuất của Công ty TNHH Compal – Việt Nam).

    Cơ chế này cũng phát huy tác dụng đối với doanh nghiệp đang hoạt động. Từ ngày 1/4/2026 đến nay, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã giải quyết 53 thủ tục về giấy phép lao động cho Công ty TNHH Compal (Việt Nam) theo “Luồng xanh 24 giờ”. Trong đó, 43 lượt gia hạn giấy phép được rút ngắn thời gian giải quyết từ 10 ngày xuống còn 1 ngày; 10 lượt cấp lại được rút ngắn thời gian giải quyết từ 3 ngày xuống còn 1 ngày. Việc giải quyết nhanh các thủ tục đã giúp công ty chủ động bố trí nhân lực, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất.

    Đồng chí Hoàng Long Biên – Trưởng Ban Quản lý các KCN tỉnh cho biết: Điểm quan trọng của “Luồng xanh” là chuẩn hóa hồ sơ ngay từ khâu khảo sát, hạn chế việc phải bổ sung nhiều lần. Khi hồ sơ được tiếp nhận, nhiệm vụ và thời hạn xử lý được xác định cụ thể đến từng bộ phận; tiến độ được theo dõi thường xuyên để xử lý kịp thời nội dung phát sinh.

    Từ thí điểm đến mở rộng “luồng xanh”

    Từ ngày 1/4/2026 đến nay, Ban Quản lý các KCN tỉnh đã tiếp nhận 477 hồ sơ theo cơ chế “Luồng xanh”, gồm 468 hồ sơ thuộc “Luồng xanh 24 giờ”, 9 hồ sơ thuộc “Luồng xanh 50%”. Có 470 hồ sơ được trả kết quả đúng hạn hoặc trước hạn, không có hồ sơ quá hạn; 7 hồ sơ đang trong thời gian giải quyết.

    Từ kết quả bước đầu, phạm vi áp dụng cơ chế được mở rộng tới các dự án hạ tầng KCN và dự án thứ cấp thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Điển hình là Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Bình Xuyên – Yên Lạc II (giai đoạn 1) đã được bổ sung vào danh mục thí điểm “Luồng xanh 50%”.

    Dự án có quy mô khoảng 132 ha, tổng vốn đầu tư hơn 100,5 triệu USD, được triển khai tại xã Xuân Lãng và Nguyệt Đức. Việc rút ngắn thời gian ở từng khâu sẽ tạo điều kiện sớm hoàn thiện thủ tục, triển khai hạ tầng và hình thành quỹ đất tiếp nhận các dự án thứ cấp.

    Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2.000 KCN Bình Xuyên – Yên Lạc II được công bố, tạo cơ sở hoàn thiện thủ tục và triển khai dự án hạ tầng KCN.

    Việc mở rộng “Luồng xanh” diễn ra trong bối cảnh dòng vốn đầu tư vào các KCN tiếp tục tăng. Trong 8 tháng năm 2026, các KCN trên địa bàn tỉnh thu hút hơn 2 tỷ USD vốn FDI, gấp 3,6 lần cùng kỳ năm 2025, đạt 138% kế hoạch giao ban đầu. Vốn đầu tư trong nước đạt hơn 13.235 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ.

    Đáng chú ý, 59 lượt dự án FDI đang hoạt động điều chỉnh tăng vốn với tổng số vốn bổ sung hơn 1,72 tỷ USD, chiếm trên 83% tổng vốn FDI thu hút. Kết quả này đến từ nhiều yếu tố như vị trí, hạ tầng, quỹ đất, nguồn nhân lực và năng lực hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó, “Luồng xanh” góp phần nâng chất lượng giải quyết thủ tục, giúp nhà đầu tư chủ động hơn trong triển khai và mở rộng dự án.

    Phạm vi áp dụng cơ chế cũng không giới hạn trong các KCN. Ngày 21/4/2026, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu đưa toàn bộ dự án đầu tư công vào “Luồng xanh”, tập trung rút ngắn thời gian thẩm định, chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và hoàn thiện các điều kiện khởi công. Việc mở rộng cơ chế đặt ra yêu cầu cao hơn về sự phối hợp giữa các cơ quan, nhất là với những hồ sơ liên quan đồng thời đến đất đai, xây dựng, môi trường và phòng cháy, chữa cháy.

    Theo đồng chí Hoàng Long Biên, Ban Quản lý các KCN tỉnh sẽ tiếp tục rà soát quy trình, nâng chất lượng dịch vụ công trực tuyến và đề xuất đưa thêm các thủ tục phù hợp thuộc lĩnh vực đầu tư, lao động, xây dựng vào “Luồng xanh”. Đồng thời kiến nghị nhân rộng “Luồng xanh liên ngành” đối với các dự án trọng điểm trong KCN, quy định rõ thời hạn cho ý kiến của từng cơ quan và đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch bàn giao cho nhà đầu tư.

    Giai đoạn thí điểm tại các KCN kéo dài đến ngày 30/9/2026. Kết quả thực hiện sẽ là cơ sở để tỉnh tiếp tục hoàn thiện cơ chế, lựa chọn các thủ tục phù hợp để mở rộng “Luồng xanh”, qua đó, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, nâng sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư và củng cố niềm tin của doanh nghiệp.

    Nguyễn Yến

    Nguồn https://baomoi.com/luong-xanh-tao-da-tang-toc-dau-tu-c55892599.epi

  • CÂU CHUYỆN CUỐI TUẦN Xứng tầm đô thị cửa ngõ Sân bay Long Thành

    Thực tế tại Đồng Nai cho thấy, trong nhiều thập kỷ qua, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã khiến diện mạo đô thị Đồng Nai trở nên quá tải. Nhận diện rõ điều đó, quy hoạch mới của thành phố đưa dòng sông Đồng Nai trở thành “xương sống” trong cấu trúc phát triển. Dải đất ven sông sẽ được ưu tiên đầu tư công viên cây xanh, không gian sinh hoạt cộng đồng và công trình kiến trúc biểu tượng của thành phố. Quỹ đất ven sông được sắp xếp lại để thu hút các dự án dịch vụ, thương mại, du lịch và tài chính có giá trị gia tăng cao.

    Đặc biệt, chiến lược phát triển đô thị ven sông Đồng Nai càng trở nên “đắt giá” khi đặt trong mối tương quan với Dự án Sân bay Long Thành. Sự kết hợp giữa hàng không quốc tế và đô thị sinh thái ven sông tạo nên một lợi thế cạnh tranh khác biệt của Đồng Nai.

    Dự kiến, khi Sân bay Long Thành đi vào vận hành, mỗi năm, Đồng Nai sẽ đón hàng triệu lượt khách quốc tế, nhà đầu tư, kỹ sư và chuyên gia nước ngoài đến tham quan, làm việc, sinh sống và nghiên cứu. Lực lượng lao động trình độ cao này không chỉ tìm kiếm nơi làm việc mà còn đòi hỏi một môi trường sống chất lượng cao với không gian xanh, không khí sạch, hạ tầng hiện đại và dịch vụ chuẩn quốc tế.

    Để đáp ứng điều đó, một đô thị ven sông được quy hoạch bài bản với các khu phức hợp sinh thái, bệnh viện, trường học quốc tế và trung tâm thương mại cao cấp chính là lời giải cho bài toán “giữ chân” đội ngũ chuyên gia này đến sinh sống và làm việc lâu dài.

    Tuy nhiên, để quy hoạch sớm trở thành hiện thực và tạo ra bước chuyển mình thực sự, công tác phát triển đô thị ven sông phải tiến hành song song với bảo vệ môi trường. Tập trung nguồn lực hoàn thành tuyến đường trục ven sông Đồng Nai, tạo hành lang giao thông, cảnh quan quy mô lớn. Cùng với đó, đầu tư hệ thống bến thuyền, cảng du lịch, phát triển tuyến giao thông đường thủy kết nối Đồng Nai với Thành phố Hồ Chí Minh để giảm tải cho đường bộ và nâng cao trải nghiệm du lịch…

    Chủ trương lấy sông Đồng Nai làm trục phát triển chiến lược là bước đi đúng đắn trong giai đoạn hiện nay. Khi các dự án ven sông hoàn thành kết hợp với Sân bay Long Thành đi vào vận hành thông suốt, Đồng Nai sẽ trở thành một trung tâm đô thị – dịch vụ – hàng không hiện đại, đáng sống và đáng đầu tư hàng đầu ở khu vực phía Nam.

    Minh Luận

    Nguồn https://baomoi.com/cau-chuyen-cuoi-tuan-xung-tam-do-thi-cua-ngo-san-bay-long-thanh-c55892457.epi

  • Chạy đua tiến độ GPMB đường nối trung tâm tỉnh với Cảng Hàng không Thọ Xuân

    Người dân xã Xuân Du tháo dỡ công trình, bàn giao mặt bằng thi công dự án. Ảnh: Hữu Đại

    Xã Tân Ninh và Xuân Du về đích sớm

    Vào thời điểm cuối tháng 7, xã Tân Ninh còn 1,82km chưa GPMB với 57 hộ; xã Xuân Du còn 0,66km với 24 hộ. Tuy nhiên, chỉ sau hơn nửa tháng, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và đồng thuận của người dân, tiến độ GPMB tại hai địa phương này đã có sự thay đổi đáng kể.

    Tại xã Tân Ninh, công tác GPMB đối với phần tuyến chính đã cơ bản hoàn thành. Đến ngày 18/8, địa phương đã bàn giao toàn bộ 4,707km mặt bằng, đạt 100%; kinh phí bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được bố trí và chi trả đầy đủ. Để đạt được kết quả này, xã Tân Ninh đã tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, đối thoại, kịp thời giải thích những vấn đề người dân còn băn khoăn trong quá trình thực hiện. Với những trường hợp có vướng mắc về nguồn gốc, loại đất và chính sách hỗ trợ, địa phương chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng để hoàn thiện hồ sơ, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    Ông Lương Ngọc Ánh, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Ninh, cho biết: Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng với việc công khai, minh bạch các phương án bồi thường, hỗ trợ và lắng nghe ý kiến của người dân, đến nay phần tuyến chính qua địa bàn xã đã hoàn thành công tác bàn giao mặt bằng, tạo điều kiện để đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.

    Tại xã Xuân Du, công tác GPMB cũng đang được đẩy nhanh. Đến ngày 15/8, địa phương đã hoàn thành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho 100% số hộ được phê duyệt. Toàn bộ các hộ gia đình bị ảnh hưởng đã ký cam kết bàn giao mặt bằng cho UBND xã và chủ đầu tư. Khối lượng tháo dỡ công trình đạt 0,48/0,66km, tương đương 73% chiều dài tuyến phải GPMB; phần mặt bằng còn lại với chiều dài 0,18km đang trong quá trình tháo dỡ và dự kiến bàn giao mặt bằng trước 25/8/2026.

    Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Du, cho biết: Toàn bộ các hộ dân thuộc diện GPMB trên phần tuyến còn lại đã đồng thuận với phương án, nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Vấn đề chủ yếu là cần thêm thời gian để người dân tháo dỡ công trình, di chuyển tài sản và ổn định nơi ở mới. Trong quá trình thực hiện, khó khăn lớn nhất cũng xuất phát từ chính sách hỗ trợ đối với đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở. Khi chính sách thay đổi, mức hỗ trợ thấp khiến một số hộ dân chưa đồng thuận. Tuy nhiên, sau khi các quy định mới được ban hành, địa phương đã tổ chức công khai phương án, đối thoại, giải thích cụ thể cho người dân và tạo được sự thống nhất. Thực tế cho thấy, công khai chính sách và đối thoại trực tiếp có vai trò rất quan trọng. Khi người dân hiểu rõ căn cứ pháp lý, quyền lợi và trách nhiệm của mình, việc tạo đồng thuận sẽ thuận lợi hơn.

    Trong số các hộ bị ảnh hưởng tại xã Xuân Du, có những hộ phải bố trí tái định cư. Địa phương đã chuẩn bị quỹ đất, bố trí các hộ có nhu cầu vào khu tái định cư và hiện các hộ đã nhận đất, bắt đầu xây dựng nhà ở mới. Việc bảo đảm nơi ở mới cũng là điều kiện quan trọng để người dân yên tâm tháo dỡ công trình, bàn giao mặt bằng phục vụ dự án.

    Hợp Tiến, Thọ Ngọc và Thọ Bình vẫn là “nút thắt”

    Trong khi xã Tân Ninh và xã Xuân Du đã cơ bản hoàn thành công tác GPMB, khối lượng và những vướng mắc còn lại tập trung chủ yếu tại các xã Hợp Tiến, Thọ Ngọc và Thọ Bình. Theo Báo cáo số 9851 ngày 18/8/2026 của Sở Xây dựng, hiện nay, xã Hợp Tiến còn 200 hộ với hơn 3km chưa bàn giao mặt bằng; trong đó 118 hộ đã hoặc đang hoàn thiện thủ tục để chi trả trong tháng 8 và 9, còn 82 hộ có vướng mắc phức tạp, dự kiến xử lý đến cuối năm 2026. Tại Thọ Ngọc, tỷ lệ bàn giao mặt bằng mới đạt 28,7%, còn 102 hộ với 2,81km chưa hoàn thành; địa phương dự kiến xử lý phần lớn trong các tháng 8 – 10, số trường hợp phức tạp còn lại giải quyết trong tháng 12/2026. Trong khi đó, Thọ Bình có tiến độ khả quan hơn, đã bàn giao 65,2% mặt bằng và còn 45 hộ với 0,81km chưa hoàn thành, dự kiến đến 30/11/2026 sẽ hoàn thành chi trả cho các hộ chưa đồng thuận, đồng thời tiếp tục xử lý các trường hợp còn vướng mắc, phức tạp.

    Các đơn vị thi công tại những điểm đã được bàn giao mặt bằng. Ảnh: Hữu Đại

    Với khối lượng còn lại khá lớn, nhất là tại các xã Hợp Tiến, Thọ Ngọc và Thọ Bình, tiến độ GPMB thời gian tới cần tiếp tục được theo dõi sát, xử lý từng trường hợp cụ thể và quyết liệt hơn. Sở Xây dựng, chủ đầu tư dự án đề nghị bí thư đảng ủy các xã tổ chức giao ban, kiểm tra hằng tuần về công tác GPMB, qua đó kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc phát sinh để chỉ đạo giải quyết. Cùng với đó, UBND các xã tiếp tục tăng cường tuyên truyền, vận động, phối hợp với các sở, ngành hoàn thiện hồ sơ đối với từng trường hợp còn vướng; đồng thời triển khai “Chiến dịch 45 ngày đêm đẩy nhanh tiến độ GPMB”, tập trung vào các phần việc có thể hoàn thành ngay trong tháng 8 và 9, tạo chuyển biến rõ nét về mặt bằng, góp phần bảo đảm tiến độ thi công toàn tuyến.

    Hữu Đại

    Nguồn https://baomoi.com/chay-dua-tien-do-gpmb-duong-noi-trung-tam-tinh-voi-cang-hang-khong-tho-xuan-c55892422.epi

  • TPHCM mở ‘luồng xanh’cho tất cả dự án NƠXH

    Báo SGGP trao đổi với ông Huỳnh Thanh Khiết (ảnh), Phó Giám đốc Sở Xây dựng TPHCM, về các giải pháp thúc đẩy nguồn cung NƠXH.

    * Phóng viên: Thưa ông, theo kế hoạch trong năm nay TPHCM sẽ phát triển bao nhiêu dự án và đã thực hiện kế hoạch này như thế nào?

    * Ông HUỲNH THANH KHIẾT: Theo chỉ tiêu phát triển NƠXH được Chính phủ giao, giai đoạn 2026 -2030 thành phố phải hoàn thành 181.257 căn (cao gấp 10 lần giai đoạn 2021-2025). Riêng trong năm 2026, thành phố được giao chỉ tiêu hoàn thành 28.500 căn NƠXH.

    Tính đến nay, đã có 1 dự án NƠXH hoàn thành đưa vào sử dụng, quy mô 580 căn; 10 dự án đã khởi công với quy mô 11.362 căn; lũy kế hiện nay có 22 dự án đang thi công xây dựng, quy mô khoảng 19.878 căn, đạt 69,7% so với chỉ tiêu.

    Dự kiến, thành phố sẽ khởi công thêm 5 dự án với quy mô khoảng 10.000 căn trong tháng 9 này. Bên cạnh đó, có 89 dự án, quy mô khoảng 97.100 căn ở giai đoạn chủ đầu tư làm thủ tục để triển khai xây dựng.

    Mục tiêu của thành phố không chỉ là tăng số lượng dự án khởi công mà quan trọng hơn là chuyển các dự án từ trạng thái chuẩn bị đầu tư sang triển khai thực tế, đồng thời kiểm soát chặt tiến độ thi công và hoàn thành, đưa nhà ở vào sử dụng.

    Với khối lượng công việc hiện nay, thành phố xác định tập trung cao độ trong những tháng cuối năm. Theo đó, thành phố sẽ tháo gỡ từng hồ sơ, từng dự án; phân công rõ trách nhiệm của từng sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư.

    * Sở Xây dựng TPHCM đã trình UBND TPHCM các chính sách “luồng xanh” để phát triển NƠXH. Hiện nay đã có dự án nào được phê duyệt theo chính sách này?

    * Trên cơ sở đề xuất của Sở Xây dựng, ngày 9-3, UBND TPHCM đã ban hành công văn về trình tự thủ tục thực hiện dự án đầu tư xây dựng NƠXH trên địa bàn TPHCM.

    Theo đó, sẽ cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính do UBND cấp xã, sở – ngành và UBND TPHCM tổ chức thực hiện liên quan đến trình tự thủ tục thực hiện dự án đầu tư xây dựng NƠXH. Đồng thời, đưa các dự án NƠXH vào nhóm “luồng xanh”, “luồng ưu tiên”; phân công chuyên viên có kinh nghiệm hướng dẫn, xem trước hồ sơ khi có đề nghị của nhà đầu tư để đảm bảo đúng thời gian, đúng quy trình. Hiện nay, tất cả các dự án NƠXH đều được áp dụng chính sách “luồng xanh” này.

    Một dự án nhà ở an sinh xã hội tại phường Chánh Hiệp, TPHCM (ẢNH: THANH HIỀN)

    * Dự kiến đến cuối năm nay, TPHCM sẽ có bao nhiêu căn hộ được bàn giao cho người mua?

    * Việc phát triển dự án NƠXH mất nhiều thời gian vào quá trình chuẩn bị đầu tư, hoàn thiện thủ tục pháp lý đầu tư xây dựng, thường kéo dài từ 2 đến 3 năm.

    Cụ thể phải trải qua các bước như: chấp thuận chủ trương đầu tư; lập điều chỉnh quy hoạch; giao/chuyển mục đích sử dụng đất; thiết kế;… Do đó, các dự án hoàn thành trong giai đoạn đầu chủ yếu là những dự án đã được chuẩn bị từ những năm trước, trong khi các dự án mới bắt đầu thực hiện hoặc được tháo gỡ pháp lý từ năm 2026 (khởi công từ năm 2026) sẽ tập trung hoàn thành vào các năm sau (từ năm 2027 trở đi).

    Vì vậy, số lượng NƠXH hoàn thành trong các năm đầu kỳ khó có thể đạt được chỉ tiêu mà Thủ tướng giao dù thành phố đã và đang rất tập trung chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ.

    Qua rà soát, đến cuối năm 2026, NƠXH phấn đấu đưa ra thị trường 28.657 căn hộ. Trong đó, có 2 dự án, quy mô 2.024 căn dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng; còn lại 22 dự án, quy mô 26.633 căn hoàn thành phần móng và phần thô.

    * Vừa qua, lãnh đạo TPHCM và các sở ngành liên quan đã khảo sát những khu đất dự kiến đầu tư các dự án NƠXH, nhà ở cho thuê, xin ông cho biết vị trí và quy mô của những khu đất này?

    * Ông HUỲNH THANH KHIẾT: Qua rà soát, trên địa bàn thành phố hiện có 193 khu đất/dự án dự kiến phát triển NƠXH, nhà lưu trú công nhân với tổng diện tích đất là 737,168ha.

    Cụ thể, danh mục 102 khu đất/ dự án tại khu vực TPHCM trước đây với tổng diện tích đất khoảng 409,468ha; danh mục 59 khu đất/dự án tại khu vực tỉnh Bình Dương trước đây với tổng diện tích đất là 184,09ha; danh mục 32 khu đất dự án tại khu vực tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây với tổng diện tích đất là 143.61ha.

    Theo chỉ đạo của Thành ủy và UBND TPHCM, đến năm 2040 thành phố sẽ tiếp tục quy hoạch bổ sung 1.000ha đất tại các khu động lực (trên địa bàn TPHCM trước đây). Như vậy, tổng diện tích đất để phát triển NƠXH trên địa bàn TPHCM khoảng 1.740ha.

    THANH HIỀN thực hiện

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-mo-luong-xanh-cho-tat-ca-du-an-noxh-c55892481.epi

  • Thu thập thông tin số: Tạo thuận lợi trong quản lý đất đai

    Lần theo từng thông tin

    Tại nhà văn hóa thôn Trại Quan, xã Đông Phú, những tờ bản đồ giải thửa cũ được trải ra trên bàn. Ông Hỷ Quang Hòa, Trưởng thôn cùng một số người dân vừa giở từng trang bản đồ, vừa đối chiếu với những gì còn nhớ về các thửa ruộng của người dân trong thôn. Mỗi khi tìm được chủ sử dụng, họ lại cẩn thận ghi tên vào đúng vị trí trên bản đồ. Công việc tưởng đơn giản nhưng không dễ. Thôn có 208 hộ thường trú với hơn 900 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%.

    Cán bộ, người dân thôn Trại Quan, xã Đông Phú tìm thông tin thửa đất trên bản đồ.

    Đất ruộng được chia từ năm 1992, sau đó người dân nhiều lần đổi cho nhau để thuận tiện canh tác. Qua hàng chục năm, hiện trạng đã thay đổi, giấy chứng nhận của nhiều gia đình vẫn mang tên bố mẹ, có người đã qua đời, con cháu lại không nhớ chính xác vị trí thửa đất… Vậy là thôn thành lập tổ công tác gồm những người am hiểu địa bàn, nhất là những người từng tham gia chia ruộng trước đây.

    Ông Nguyễn Như Hiến, Trưởng Ban công tác Mặt trận thôn, từng là trưởng thôn và trực tiếp tham gia chia ruộng năm 1992. Những ký ức về vị trí từng khu ruộng nay trở thành “dữ liệu sống” giúp cán bộ có thêm nguồn tin. “Trước đây tôi là trưởng thôn và được tham gia chia ruộng năm 1992 nên vẫn còn nhớ nhiều vị trí, vì vậy tôi hỗ trợ anh em xác định”, ông Hiến chia sẻ.

    Bao năm qua, gia đình ông Trần A Sáng (sinh năm 1959) canh tác tại khu vực đất bãi gần suối Âu nhưng khi đối chiếu bản đồ lại không thể nhận ra đâu là thửa đất của mình bởi giấy chứng nhận không có số thửa. Cán bộ thôn phải tìm từ thửa đất gần suối nhất để xác định chủ sử dụng đầu tiên rồi tiếp tục suy ra các hộ liền kề. Nhờ vậy, những thông tin cụ thể về thửa đất của gia đình ông Sáng mới được cập nhật đầy đủ vào cơ sở dữ liệu đất đai.

    Ở thôn Trại Quan có những trường hợp chủ sử dụng đất đang sinh sống ở nước ngoài. Ban quản lý thôn tìm mọi cách kết nối liên lạc với chủ sở hữu mới thu thập được thông tin. Như trường hợp ông Lầm A Síp đang sống tại Thụy Điển, sau khi được liên hệ, ông đã giao cho anh trai ở nhà cung cấp thông tin cá nhân phục vụ quá trình làm sạch dữ liệu. Những câu chuyện như vậy cho thấy, phía sau một dòng dữ liệu trên hệ thống đôi khi là cả một hành trình tìm kiếm.

    Tại phường Bắc Giang có hơn 29,8 nghìn thửa đất cần làm sạch. Do đang buôn bán, làm việc ở nhiều nơi nên không ít chủ sử dụng đất không có mặt tại địa phương. Cán bộ các tổ công tác phải tìm cách liên hệ qua điện thoại. Trong bối cảnh các cuộc gọi lừa đảo xuất hiện ngày càng nhiều, có trường hợp cán bộ vừa giới thiệu nhiệm vụ đã bị người dân mắng vì nghĩ là lừa đảo. Lực lượng công an và các tổ an ninh tự quản được huy động phối hợp rà soát. Với những trường hợp chủ sử dụng đất ở ngoài địa phương, lực lượng công an tra cứu trên cơ sở dữ liệu dân cư, lập danh sách và đề nghị công an các địa phương khác hỗ trợ xác minh.

    Một số địa phương như xã Tân Yên, Hiệp Hòa, Phúc Hòa đã mở các kho lưu trữ để tìm lại những tài liệu, thông tin liên quan đến thửa đất. Cách làm khác nhau nhưng điểm chung là các địa phương đang tìm mọi cách để lấp những “khoảng trắng” dữ liệu còn tồn tại. Đây cũng là phần việc khó nhất của quá trình làm sạch dữ liệu đất đai.

    Khi dữ liệu trở thành nguồn lực

    Dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh được hình thành qua nhiều giai đoạn, với không ít biến động về chia tách, chuyển nhượng, thay đổi đơn vị hành chính… Trong khi đó, việc cập nhật chưa đồng bộ khiến hồ sơ giấy, hiện trạng sử dụng đất và dữ liệu dân cư ở một số trường hợp chưa thống nhất. Bởi vậy, làm sạch dữ liệu đất đai không đơn giản là nhập thông tin lên phần mềm mà là quá trình xác minh từng trường dữ liệu, tìm chủ sử dụng và đối chiếu hồ sơ để mỗi thửa đất có đầy đủ thông tin, đủ điều kiện hình thành một “danh tính số”.

    Cán bộ tổ dân phố Xuân Phú, phường Tân Tiến tuyên truyền, vận động Nhân dân cung cấp thông tin các thửa đất.

    Đến hết ngày 29/7/2026, toàn tỉnh có 3.486.004 thửa đất cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu. Trong đó, 704.156 thửa đã bảo đảm “đúng – đủ – sạch – sống”; hơn 725 nghìn thửa thuộc nhóm phải làm sạch và gần 1,2 triệu thửa cần làm giàu dữ liệu… Riêng nhiệm vụ làm sạch, cấp xã được giao thực hiện 290.094 thửa; đã thu thập, rà soát và bàn giao cho Văn phòng Đăng ký đất đai hơn 276 nghìn thửa.

    Làm sạch dữ liệu đất đai không đơn giản là nhập thông tin lên phần mềm mà là quá trình xác minh từng trường dữ liệu, tìm chủ sử dụng và đối chiếu hồ sơ để mỗi thửa đất có đầy đủ thông tin, đủ điều kiện hình thành một “danh tính số”.

    Ông Phí Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, việc xác định chính xác thông tin từng thửa đất là khâu quan trọng trong quá trình chuẩn hóa cơ sở dữ liệu. Mỗi thông tin được xác minh đầy đủ sẽ góp phần nâng độ tin cậy của dữ liệu, tạo nền tảng để kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, người dân sẽ được hưởng lợi trực tiếp khi không phải nhiều lần cung cấp thông tin nhân thân, giấy tờ quyền sử dụng đất. Nhiều quy trình có thể được kiểm tra, đối chiếu tự động, qua đó giảm thời gian và hạn chế sai sót. Với cơ quan quản lý, dữ liệu được cập nhật thường xuyên sẽ giúp theo dõi biến động đất đai, phục vụ quy hoạch, định giá đất, thu ngân sách và giải quyết thủ tục hành chính minh bạch hơn.

    “Để hoàn thiện được những thông tin đó, cán bộ cơ sở đã phải dành nhiều thời gian rà soát, xác minh từng trường hợp, tìm lại hồ sơ cũ và phối hợp với các lực lượng tìm chủ sử dụng đất. Đây là công việc đòi hỏi sự kiên trì, trách nhiệm và am hiểu địa bàn. Sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ ở cơ sở góp phần quan trọng cùng toàn tỉnh đẩy nhanh tiến độ làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và có giá trị sử dụng lâu dài”, ông Bình cho hay.

    Thời gian tới, các địa phương tiếp tục làm giàu dữ liệu đất đai bằng việc rà soát, bổ sung các trường thông tin còn thiếu, hoàn thiện hồ sơ pháp lý và cập nhật kịp thời những biến động về người sử dụng, hiện trạng thửa đất. Đây là nhiệm vụ lâu dài, bởi dữ liệu đất đai luôn phát sinh biến động. Việc duy trì cập nhật thường xuyên sẽ giúp dữ liệu không chỉ “đúng, đủ, sạch” mà thực sự “sống” cùng thực tế, qua đó nâng cao giá trị khai thác và phục vụ hiệu quả hơn công tác quản lý, phát triển kinh tế – xã hội.

    Bài, ảnh: Khôi Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/thu-thap-thong-tin-so-tao-thuan-loi-trong-quan-ly-dat-dai-c55892432.epi

  • Khẩn trương rà soát, đề xuất giải pháp tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài

    Công điện gửi bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam nêu rõ, thời gian qua, Bộ Tài chính – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 751 đã có nhiều văn bản đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện việc rà soát, cập nhật dữ liệu và đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751.

    Tính đến ngày 31-7-2026, Hệ thống 751 đã ghi nhận thông tin về tình hình khó khăn, vướng mắc đối với 4.619 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc; trong đó 3.984 dự án đã được các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện rà soát, phân loại thành 6 nhóm dự án trên Hệ thống 751 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; còn lại 635 dự án chưa được các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện rà soát, phân loại.

    Qua báo cáo của Bộ Tài chính (tổng hợp thông tin trên Hệ thống 751), việc triển khai tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài còn một số tồn tại, hạn chế như: Cập nhật thông tin dự án trên Hệ thống 751 còn chậm; số liệu thông tin báo cáo các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751 của một số địa phương chưa thống nhất với số liệu địa phương báo cáo các cơ quan có thẩm quyền; các dự án phức tạp về pháp lý, kéo dài qua các thời kỳ pháp luật khác nhau, tuy nhiên, thông tin mô tả tình huống, pháp lý, đề xuất của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương còn sơ sài, chưa đầy đủ (có thông tin còn chưa chính xác), chưa xác định rõ nguyên nhân và cơ chế, chính sách, đề xuất thuộc thẩm quyền xử lý của Chính phủ và Quốc hội (nếu có).

    Nhằm giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, kéo dài, giải phóng nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các bộ, cơ quan giao làm chủ đầu tư/quản lý dự án, các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, thủ trưởng bộ, ngành, cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn đọng, những vấn đề thuộc thẩm quyền thì phải quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo rõ vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo đúng Kết luận số 18-KL/TW ngày 2-4-2026 của Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; thực hiện việc cập nhật đầy đủ tình hình phân loại và xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài trên Hệ thống 751 theo các hướng dẫn của Bộ Tài chính, không để xảy ra trường hợp còn có dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng, kéo dài nhưng không được tổng hợp; xem xét xử lý, tháo gỡ theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 24-KL/TW ngày 13-4-2026, hoàn thành trước ngày 15-9-2026…

    Các bộ, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên ngành (Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Y tế, Tài chính, Quốc phòng, Công an, Thanh tra Chính phủ,…) chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương có liên quan để tiếp cận đầy đủ thông tin, tình hình thực hiện, phương hướng và giải pháp xử lý; thực hiện rà soát, có ý kiến về sự cần thiết tiếp tục ban hành cơ chế, chính sách tháo gỡ cho các dự án do các địa phương, cơ quan đề xuất.

    Phương Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/khan-truong-ra-soat-de-xuat-giai-phap-thao-go-vuong-mac-cho-cac-du-an-ton-dong-keo-dai-c55892296.epi

  • Tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đất đai

    Thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA, ngày 29/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an, UBND tỉnh Điện Biên ban hành Kế hoạch số 3870/KH-UBND ngày 15/5/2026 về thực hiện nhiệm vụ đo đạc, lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính và xây dựng CSDL đất đai trên địa bàn tỉnh. Yêu cầu đặt ra là dữ liệu sau khi hoàn thiện phải đạt tiêu chuẩn “đúng – đủ – sạch – sống”, đảm bảo khả năng kết nối trực tiếp với CSDL quốc gia về dân cư.

    Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có 1.684.196 thửa đất cần đo đạc, lập hồ sơ địa chính, trong đó có 818.616 thửa tương ứng với 656.318,64ha đã được đo đạc. Hiện nay, toàn tỉnh còn 865.580 thửa đất với 204.606,5ha chưa được đo đạc lập bản đồ địa chính (44/45 xã phường).

    Cán bộ Văn phòng Đăng ký đất đai (Sở Nông nghiệp và Môi trường) tập trung hoàn thiện CSDL đất đai.

    Ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: “Hoàn thiện CSDL đất đai là nhiệm vụ quan trọng, không chỉ dừng ở số hóa hồ sơ mà phải xây dựng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, có thể cập nhật, kết nối và khai thác hiệu quả, qua đó khơi thông nguồn lực đất đai, đóng góp cho tăng trưởng. Tỉnh ưu tiên làm sạch dữ liệu hiện có, đồng thời xây dựng quy trình cập nhật kịp thời mọi biến động đất đai như: Chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất… hoàn thành đến đâu, dữ liệu được đưa vào quản lý, vận hành và khai thác đến đó”.

    Triển khai nhiệm vụ, UBND tỉnh tổ chức hội nghị thống nhất quy trình đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính và xây dựng CSDL đất đai theo Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT. Các khâu được thực hiện đồng bộ, theo từng mảnh bản đồ, địa bàn và công đoạn, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn, chính quyền cấp xã, văn phòng đăng ký đất đai, đơn vị thi công, giám sát và người sử dụng đất. Dù còn nhiều khó khăn nhưng để hoàn thành mục tiêu đề ra, tỉnh Điện Biên đã xác định 3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Tiếp tục làm giàu, làm sạch dữ liệu 25.609 thửa đất; xây dựng CSDL đất đai 675.678 thửa đất; đo đạc, xây dựng CSDL mới 865.580 thửa đất.

    Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Mường Thanh thực hiện thủ tục liên quan đến hồ sơ đất đai.

    Thời điểm này, các chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai trong tỉnh tập trung rà soát, bổ sung dữ liệu không gian, hồ sơ quét và cập nhật thông tin đối với những thửa đất còn thiếu thông tin theo hướng dẫn.

    Bà Dương Thị Minh Dịu, Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: “Chúng tôi đã phân công rõ người, rõ việc, rõ tiến độ; tập trung nhân lực cho những địa bàn, nhóm hồ sơ còn nhiều tồn tại, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Hiện nay, văn phòng đăng ký đất đai tập trung biên tập lại bản đồ cho 45 xã, phường; xây dựng CSDL đất đai. Trên cơ sở kết quả đó, các xã, phường tiến hành rà soát, bổ sung vào dữ liệu và hướng dẫn người dân kê khai đăng ký”.

    Lãnh đạo UBND xã Tuần Giáo báo cáo UBND tỉnh kết quả triển khai xây dựng CSDL đất đai trên địa bàn.

    Đối với UBND cấp xã, tỉnh đề ra 2 nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, xây dựng CSDL đất đai. Đối với khu vực đã đo đạc lập bản đồ địa chính, trích đo địa chính nhưng chưa cấp giấy chứng nhận, cấp xã rà soát hiện trạng, hồ sơ, bản đồ; hướng dẫn kê khai đăng ký đất đai; thông báo kết quả đăng ký; cấp giấy chứng nhận theo thẩm quyền. Đối với khu vực chưa đo vẽ, cấp xã phối hợp đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng CSDL đồng thời với đo đạc.

    Xã Tuần Giáo có 15.281 thửa đất cần xây dựng CSDL đất đai; trong đó. 12.350 thửa đất trồng mắc ca, cao su, đất lâm nghiệp và 2.931 thửa đất cần đo đạc địa chính. Ông Quàng Văn Cương, Chủ tịch UBND xã Tuần Giáo cho biết: “Thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh, xã Tuần Giáo thành lập Ban Chỉ đạo, các tổ giúp việc và phân công nhiệm vụ theo nguyên tắc “6 rõ”; đồng thời cử cán bộ rà soát khối lượng đo đạc, lập bản đồ và hồ sơ địa chính. Xã đẩy mạnh tuyên truyền đến 28/28 thôn, bản, vận động người dân, tổ chức, doanh nghiệp phối hợp xác định ranh giới, cung cấp hồ sơ, thông tin để làm sạch, làm giàu dữ liệu đất đai. Trước khối lượng công việc lớn, thời gian gấp, xã huy động tối đa lực lượng, tăng cường phối hợp với Công an xã và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai để tháo gỡ vướng mắc, bảo đảm tiến độ”.

    Cán bộ kiểm lâm rà soát hiện trạng đất lâm nghiệp tại xã Mường Ảng.

    Việc hoàn thiện CSDL đất đai không chỉ góp phần xây dựng nền tảng cho quá trình chuyển đổi số mà còn tạo công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai theo hướng minh bạch, hiện đại. Đồng thời, góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, cải cách và giải quyết thủ tục hành chính về đất đai cho người dân, doanh nghiệp. Với lộ trình bài bản, phương pháp triển khai quyết liệt và sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành, địa phương, Điện Biên hướng tới mục tiêu hoàn thiện CSDL đất đai theo đúng kế hoạch đề ra, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    Bài, ảnh: Nhật Phương

    Nguồn https://baomoi.com/tang-toc-hoan-thien-co-so-du-lieu-ve-dat-dai-c55892194.epi

  • Quảng Ngãi: Phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công

    Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đức Tâm phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh BT.

    Cụ thể, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đức Tâm yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Dân dụng và Công nghiệp tỉnh (gọi tắt là Ban quản lý) rà soát tiến độ thực hiện các dự án, tình hình giải ngân vốn đầu tư công và chỉ đạo những nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến cuối năm. Đây xem là tiêu chí đánh giá cán bộ và căn cứ xem xét giao, bố trí các dự án tiếp theo.

    Theo báo cáo, năm 2026, Ban quản lý được giao tổng kế hoạch vốn hơn 1.267,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến ngày 7/8, lũy kế giải ngân mới đạt gần 317 tỷ đồng, tương đương 25% kế hoạch vốn được giao.

    Tỷ lệ giải ngân này chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều. Trước tình hình đó, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Tâm yêu cầu Ban quản lý phải tập trung cao độ, triển khai đồng bộ các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn.

    Theo ông Nguyễn Đức Tâm, mục tiêu đến cuối năm phải giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao. Đồng thời, kết quả giải ngân vốn đầu tư công sẽ là một trong những tiêu chí đánh giá cán bộ, cũng như là căn cứ để xem xét việc giao, bố trí các dự án tiếp theo.

    Để đạt mục tiêu đề ra, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Ban quản lý rà soát toàn bộ các dự án đang quản lý, phân loại cụ thể theo tiến độ, khả năng hoàn thành và khả năng thực hiện.

    Trên cơ sở đó, Ban quản lý phải xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết theo tuần, tháng và quý; đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân, gắn trách nhiệm với tiến độ và kết quả thực hiện.

    Đối với các dự án phấn đấu hoàn thành trong năm 2026, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu tập trung tối đa nhân lực, thiết bị, vật tư; tổ chức thi công 3 ca, 4 kíp nhằm bảo đảm tiến độ và hoàn thành toàn bộ các dự án theo kế hoạch.

    Đối với những dự án đã có khối lượng thực hiện, đầy đủ hồ sơ, thủ tục và đủ điều kiện thanh toán, phải khẩn trương hoàn tất việc thanh toán, không để phát sinh tình trạng tồn đọng hồ sơ, kéo dài thời gian giải ngân.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Ban quản lý thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ; kiên quyết chấn chỉnh, xử lý các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về tiến độ hoặc năng lực. Không để việc chậm trễ, yếu kém của nhà thầu làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án.

    Bá Tứ

    Nguồn https://baomoi.com/quang-ngai-phan-dau-giai-ngan-100-von-dau-tu-cong-c55892572.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!