Author: bachdn

  • Xem ngay lịch âm dương hôm nay 6/9

    Ngày 6/9/2026 là ngày bao nhiêu âm lịch?

    Theo cuốn Tìm hiểu văn hóa phương Đông – Âm dương đối lịch năm Ất Tị 2025 của Nhà xuất bản Thanh Hóa, hôm nay Chủ nhật ngày 6/9 dương lịch tức ngày 25/7 âm lịch. Xem ngay lịch âm dương hôm nay 6/9.

    Xem ngay lịch âm dương hôm nay 6/9

    Xem ngay lịch âm dương hôm nay 6/9

     Thông tin chi tiết ngày 6-9-2026 – Ngày âm lịch 25-7-2026

    Can chi: Ngày Quý Mùi – Tháng Bính Thân – Năm Bính Ngọ

        Ngày Hoàng Đạo: Sao Ngọc Đường

        Trực Bế :Xấu mọi việc, trừ đắp đê, hồ rãnh

        Nhị thập bát tú – Mão: (Hành: Thái Dương; Con vật: Gà) Xấu mọi việc

        Tiết khí: Giữa Xử thử – Bạch lộ

    GIỜ TỐT TRONG NGÀY (Giờ Hoàng Đạo)

    Tuất (19 – 21), Hợi (21 – 23), Dần (3 – 5), Mão (5 – 7), Tỵ (9 – 11), Thân (15 – 17)

    HƯỚNG XUẤT HÀNH

    Hướng gặp Tài Thần (TỐT): Tây Bắc

        Hướng gặp Hỉ Thần (TỐT): Đông Nam

        Hướng gặp Hạc Thần (Xấu): Tây Bắc

    CÁC TUỔI XUNG KHẮC VỚI NGÀY 6-9-2026, ÂM LỊCH 25-7-2026

    Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh Hợi, Đinh Tỵ

    CÁC SAO TỐT

    Thiên Ân Tốt mọi việc

        [Thiên Đức Hợp] Tốt mọi việc

        Tuế hợp Tốt mọi việc

        [Ngọc Đường] Hoàng đạo tốt mọi việc

        [Thiên Thành] (Ngọc đường hoàng đạo) Tốt mọi việc

        Đại hồng sa Tốt mọi việc

    CÁC SAO XẤU

    Hỏa Tinh Xấu với lợp nhà, làm bếp

        Hoang Vu Xấu mọi việc

        Ngũ Hư Kỵ giá thú, khởi tạo an táng

        Nguyệt Hư nguyệt sát Xấu giá thú, mở cửa, mở hàng

        Tứ thời cô quả Kỵ giá thú

        Địa Tặc Xấu khởi tạo, an táng, động thổ, xuất hành.

    *Thông tin chỉ mang tính tham khảo

    Trần Trung/Bnews/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/xem-ngay-lich-am-duong-hom-nay-6-9-c55987319.epi

  • Cận cảnh hai tuyến sông phía Nam TPHCM trước dự án 12.700 tỷ đồng

    TPHCM đã chấp thuận cho một liên danh nghiên cứu, lập hồ sơ đề xuất dự án chỉnh trang khu Ao Song Tân và sông Ông Lớn tại phường Tân Thuận theo phương thức đối tác công tư (PPP). Trong ảnh là khu Ao Song Tân có diện tích 31,68 ha (gồm 11,46 ha mặt nước).

    Theo khảo sát, khu vực Ao Song Tân hiện có khoảng 770 căn nhà nằm trên và ven sông. Toàn bộ các căn nhà thuộc phạm vi thực hiện dự án sẽ được di dời, giải tỏa, đồng thời triển khai phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống cho người dân.

    Theo ghi nhận của VietNamNet, hiện khu vực Ao Song Tân tồn đọng nhiều rác thải nổi giữa lòng sông và dọc theo ven kênh, sát các khu dân cư. Tình trạng ô nhiễm kéo dài khiến khu vực bốc mùi hôi, ảnh hưởng đến sinh hoạt và đời sống của người dân.

    Anh Phạm Phú Quý (phường Tân Hưng) cho biết khu vực ven Ao Song Tân nhiều năm qua bị ô nhiễm do rác thải và mùi hôi, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Anh cùng nhiều hộ dân bày tỏ sự đồng tình với chủ trương chỉnh trang khu vực, kỳ vọng dự án sớm triển khai và có chính sách bồi thường, tái định cư hợp lý cho người dân bị ảnh hưởng.

    Nhiều căn nhà tạm bợ cơi nới, lấn ra ven sông đã tồn tại nhiều năm, trong khi người dân phải sống chung với rác thải và mùi hôi. Dù thành phố và địa phương tăng cường xử phạt và lắp đặt camera giám sát nhằm ngăn chặn tình trạng xả rác xuống sông, ô nhiễm vẫn tái diễn và chưa có dấu hiệu thuyên giảm.

    Sát khu dân cư, một cây xanh bị gãy nằm chỏng chơ giữa đống rác nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Bãi rác “mini” này đã tồn tại nhiều ngày nhưng vẫn chưa được thu gom, phản ánh tình trạng ô nhiễm kéo dài tại khu vực.

    Ông Lê Văn Hoàng (phường Tân Hưng), sống gần cầu số 1, cho biết khu vực Ao Song Tân trước đây có nước trong xanh, nhiều tôm cá nhưng quá trình đô thị hóa, lấn chiếm và xả rác kéo dài khiến môi trường ngày càng ô nhiễm. Ông đồng tình với chủ trương chỉnh trang, mong dự án sớm được triển khai đồng bộ, triệt để, đồng thời có chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hợp lý để người dân ổn định cuộc sống.

    Theo ông Hoàng, dù địa phương nhiều lần tổ chức nạo vét, làm sạch dòng sông nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn tái diễn. Ông cho rằng muốn giải quyết dứt điểm cần nâng cao ý thức của người dân trong việc không xả rác xuống sông. Hơn 30 năm sống tại đây, gia đình ông đã quen với mùi hôi, ruồi muỗi và cảnh rác thải tồn đọng kéo dài.

    Người dân sống ven Ao Song Tân đã phải cùng nhau góp kinh phí dựng hàng rào dọc bờ sông nhằm hạn chế tình trạng người đi đường ngang qua cầu vứt rác xuống dòng nước. Tuy nhiên, theo người dân, việc xả rác vẫn chưa được chấm dứt hoàn toàn.

    Không chỉ Ao Song Tân, khu vực sông Ông Lớn (rộng 11,89 ha) cũng ghi nhận tình trạng rác thải nổi trên mặt nước và dọc hai bên bờ. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm tại đây được đánh giá nhẹ hơn khi lượng rác tồn đọng ít hơn so với Ao Song Tân.

    Từ trên cao có thể thấy khu vực này có mật độ dân cư dày đặc, với nhiều căn nhà san sát ven sông. Đây cũng là một trong những thách thức lớn đối với công tác giải phóng mặt bằng khi triển khai dự án.

    Dự án có tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 12.726 tỷ đồng, do nhà đầu tư thu xếp vốn. TPHCM dự kiến thanh toán bằng quỹ đất kết hợp ngân sách, với tỷ lệ cụ thể được xác định ở các bước tiếp theo.

    Dự án chỉnh trang Ao Song Tân và sông Ông Lớn là một trong những dự án trọng điểm trong chương trình cải tạo, chỉnh trang đô thị ven kênh, rạch của TPHCM, hướng đến mục tiêu cải thiện môi trường sống, nâng cấp cảnh quan đô thị và phát huy hiệu quả quỹ đất dọc các tuyến sông, kênh.

    Tại kỳ họp thứ 4 (kỳ họp chuyên đề), HĐND TPHCM, các đại biểu xác định dự án chỉnh trang đô thị khu vực rạch Ông Lớn là một trong những dự án cấp bách cần sớm triển khai, nhằm góp phần hoàn thành mục tiêu di dời nhà ven kênh rạch, chỉnh trang đô thị và đồng bộ kết nối với các dự án chỉnh trang khu vực bờ Nam kênh Đôi, rạch Ông Bé và rạch Nhánh.

    Tuấn Hùng

    Nguồn https://baomoi.com/can-canh-hai-tuyen-song-phia-nam-tphcm-truoc-du-an-12-700-ty-dong-c55987332.epi

  • Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phốtrên địa bàn thành phố Đà Nẵng

    UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 126/2026/QĐ-UBND ngày 24/8/2026 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

    Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

    Phạm vi điều chỉnh: Quy chế này quy định về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố phùhợp với tình hình thực tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gồm: tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố; nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn, quy trình bầu, cho thôi làm và mối quan hệ công tác của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Phó trưởng thôn, Tổ phó tổ dân phố; thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc tổ chức thực hiện.

    Đối tượng áp dụng:

    a) Ủy ban nhân dân cấp xã;

    b) Thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

    c) Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; Phó trưởng thôn, Tổ phó tổ dân phố;

    d) Cộng đồng dân cư tại thôn, tổ dân phố.

    Thôn, tổ dân phố

    1. Thôn, tổ dân phố là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một khu vực thuộc phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã; là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư; tổ chức để Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ do chính quyền địa phương cấp xã giao theo quy định; đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy và sự quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã.

    2. Thôn được tổ chức ở xã; dưới xã là thôn.

    3. Tổ dân phố được tổ chức ở phường; dưới phường là tổ dân phố.

    Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố

    Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố thực hiện theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:

    1. Tổ chức của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm tinh gọn, hợp lý; hoạt động hiệu quả; phù hợp với quy mô dân cư, đặc điểm địa bàn và yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương cấp xã.

    2. Bảo đảm hoạt động của cộng đồng dân cư thực hiện theo nguyên tắc tự quản; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân trong tổ chức đời sống cộng đồng; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương; bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và chấp hành sự quản lý nhànước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp xã.

    3. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; phân định rõ nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.

    4. Hoạt động của thôn, tổ dân phố phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố với Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố, các tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng tham gia bảo vệan ninh, trật tự ở cơ sở và các tổ chức tự quản trên địa bàn; phát huy vai trò của Nhân dân trong bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và phát triển cộng đồng dân cư.

    5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, tạo thuận lợi cho Nhân dân trong tiếp cận thông tin, tham gia các hoạt động cộng đồng và phối hợp với chính quyền địa phương cấp xã trong các hoạt động tại địa bàn.

    Hiệu lực thi hành

    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 9 năm 2026.

    Các Quyết định số 25/2020/QĐ-UBND ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (cũ) quy định một số nội dung về tổ chức và hoạt động của tổ dân phố, thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành.

    Toàn văn Quyết định số 126/2026/QĐ-UBND ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

    Nguồn https://baomoi.com/quy-che-to-chuc-va-hoat-dong-cua-thon-to-dan-photren-dia-ban-thanh-pho-da-nang-c55987185.epi

  • QUY ĐỊNH MỚI: Điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất, diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn TPHCM

    UBDN TPHCM bành hành Quyết định số 67/2026/QĐ-UBND ngày 28/8/2026 quy định về điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

    Phạm vi điều chỉnh: Quyết định này quy định về điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửađất và diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

    Các trường hợp không áp dụng Quyết định này, gồm:

    – Bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định pháp luật;

    – Đất hiến tặng cho Nhà nước, đất tặng cho hộ gia đình, cá nhân để xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết;

    – Tách, hợp thửa đất để thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, nhà ở; đối với khu vực đã có quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì thực hiện theo quy hoạch này;

    – Thửa đất hoặc một phần thửa đất đã có quyết định thu hồi đất của cơquan nhà nước có thẩm quyền;

    Trường hợp phân chia quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án mà việc phân chia không bảo đảm các điều kiện, diện tích, kích thước tách thửa theo quy định tại Điều 220 của Luật Đất đai và Quyết định này thì không thực hiện tách thửa, trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.

    Đối tượng áp dụng

    1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu, có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc thực hiện thủ tục tách thửa đất, hợp thửa đất.

    2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục về tách thửa đất, hợp thửa đất theo quy định của pháp luật.

    Điều kiện, nguyên tắc tách thửa đất, hợp thửa đất

    1. Việc tách thửa đất, hợp thửa đất phải bảo đảm các nguyên tắc, điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 220 Luật Đất đai; khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội.

    2. Đối với điều kiện bảo đảm có lối đi theo quy định tại điểm d khoản 1Điều 220 Luật Đất đai và khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 254/2025/QH15, Ủyban nhân dân phường, xã và Đặc khu Côn Đảo căn cứ tình hình thực tế tại địa phương để xem xét, xác nhận lối đi bảo đảm kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật khu vực, yêu cầu về thoát nạn, phòng cháy và chữa cháy và các điều kiệncó liên quan theo quy định của pháp luật.

    Phần diện tích đất được xác định làm lối đi sử dụng chung cho từ 02 thửa đất trở lên được thể hiện theo hình thức sử dụng chung trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

    Diện tích tối thiểu được tách thửa đất

    Thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại sau khi tách thửa (đã trừ phần 4diện tích thuộc quy hoạch hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, quy hoạch đường giao thông) phải bảo đảm diện tích tối thiểu như sau:

    Đối với thửa đất nông nghiệp

    – 500 m2 đối với đất trồng cây hằng năm, đất nông nghiệp khác.

    – 1.000 m2 đối với đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất chăn nuôi tập trung.

    Quy định chuyển tiếp

    Trường hợp đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ thực hiện thủ tục tách thửa đất, hợp thửa đất trước ngày Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội có hiệu lực thi hành mà chưa được giải quyết thì thực hiện theo quy định của Quyết định này. 

    Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp rà soát nguyên tắc áp dụng đối với hồ sơ đã tiếp nhận trước thời điểm pháp luật thay đổi, bảo đảm không làm bất lợi cho người đã nộp hồ sơ hợp lệ.

    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

    Quyết định này thay thế Quyết định số 24/2024/QĐ-UBND ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Quyết định số 38/2024/QĐUBND ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Quyết định số 100/2024/QĐ-UBND, ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố quy định về điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

    Toàn văn Quyết định số 67/2026/QĐ-UBND quy định điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất, diện tích tối thiểu được tách thửa trên địa bàn TPHCM

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-moi-dieu-kien-tach-thua-dat-hop-thua-dat-dien-tich-toi-thieu-duoc-tach-thua-tren-dia-ban-tphcm-c55987186.epi

  • Từ 15/9, Bộ Công Thương tiếp nhận thêm một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản

    Bộ Công Thương tiếp nhận thêm một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản từ 15/9. Ảnh minh họa

    Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP ngày 04/9/2026 về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản.

    Nghị quyết này quy định việc chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản giữa các Bộ: Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng.

    Nghị quyết này quy định việc chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản giữa các Bộ: Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng.

    Nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp

    Nghị quyết quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp của Bộ Tài chính quy định tại Luật và các Nghị định do Bộ Công Thương thực hiện, cụ thể:

    Luật Đầu tư số 143/2025/QH15: Điểm k khoản 2 Điều 44;

    Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2023/NĐ-CP, Nghị định số 129/2025/NĐ-CP, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP: Điều 7, 13, 40, 53, 57, 68.

    Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ quy định trên.

    Nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản

    Nghị quyết quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản như sau:

    Nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng quy định tại Luật và các Nghị định do Bộ Công Thương thực hiện, cụ thể:

    Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 147/2025/QH15: Khoản 4 Điều 10; điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 14; điểm c, điểm d khoản 2 và khoản 3 Điều 20; khoản 1 Điều 29; khoản 2 Điều 31; điểm b khoản 1, khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 33…

    Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP: Khoản 7 Điều 3; khoản 2 Điều 4; khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 6; khoản 3 Điều 7; khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 9…

    Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, Nghị định số 311/2026/NĐ-CP: Khoản 3 Điều 6;

    Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP, Nghị định số 290/2025/NĐ-CP: Điều 30, 31, 32, 33, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 45, 46, 47, 49, 54, 54a, 63, 65, 69, 70, 73;

    Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch: Phụ lục I;

    Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 của Chính phủ về việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024: Điểm b khoản 4 Điều 4;

    Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP ngày 09/6/2026 của Chính phủ về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia: Điều 5, 6, 7.

    Nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng quy định tại các Nghị định do Sở Công Thương thực hiện, cụ thể:

    Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 370/2025/NĐ-CP: Điều 8;

    Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP: Điều 25.

    Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ quy định tại 1 và 2 nêu trên.

    Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể ngày 15/9/2026 đến hết ngày 28/2/2027. Trường hợp Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật được gia hạn kéo dài thời gian thì thực hiện theo thời hạn được gia hạn của Nghị quyết số 206/2025/QH15…

    Điều khoản chuyển tiếp

    1- Đối với văn bản, giấy phép, quyết định và kết quả giải quyết đã ban hành trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản

    a) Giấy phép, quyết định, văn bản chấp thuận, văn bản xác nhận, kết quả công nhận, phê duyệt và các văn bản khác về địa chất và khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ trưởng hoặc cơ quan chuyên môn thuộc các bộ này và Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực tiếp tục có giá trị pháp lý cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, gia hạn, điều chỉnh, cấp đổi, cấp lại, thay thế, thu hồi, chấm dứt hiệu lực theo quy định của pháp luật;

    b) Không yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục cấp lại, đổi lại hoặc xác nhận lại giấy phép, quyết định, văn bản quy định tại điểm a mục 1 nêu trên chỉ vì lý do thay đổi cơ quan quản lý nhà nước;

    c) Kết quả thẩm định, phiếu đánh giá, biên bản họp, kết luận của Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, Hội đồng thẩm định đề án thăm dò khoáng sản, Hội đồng thẩm định đóng cửa mỏ khoáng sản, Hội đồng thẩm định kết quả xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả và các Hội đồng, tổ chức tư vấn khác do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập trước thời điểm chuyển giao tiếp tục có giá trị sử dụng và được dùng làm căn cứ giải quyết hồ sơ, không phải thẩm định lại. Đối với nội dung đã được các Hội đồng thẩm định nhưng chưa ban hành kết quả trước thời điểm chuyển giao thì được kế thừa kết quả thẩm định.

    2. Đối với hồ sơ, thủ tục hành chính đang giải quyết trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản

    a) Hồ sơ thủ tục hành chính về địa chất và khoáng sản đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, cơ quan chuyên môn trực thuộc các bộ này hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp nhận hợp lệ trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực mà chưa có kết quả giải quyết được chuyển nguyên trạng sang Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ;

    b) Tổ chức, cá nhân không phải nộp lại hồ sơ, không phải thực hiện lại các công việc đã hoàn thành và không phải nộp lại phí, lệ phí đã nộp theo quy định;

    c) Các kết quả kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ; kết quả thẩm định, kiểm tra thực địa; ý kiến của bộ, ngành, địa phương, chuyên gia; biên bản Hội đồng; kết quả lấy ý kiến; kết quả xác định nghĩa vụ tài chính và các bước xử lý hồ sơ khác đã hoàn thành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được kế thừa để tiếp tục giải quyết;

    d) Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính không được tính lại từ đầu. Bộ Công Thương tiếp tục tính thời hạn giải quyết trên cơ sở thời gian còn lại theo quy định tại thời điểm Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng bàn giao hồ sơ.

    Trường hợp việc bàn giao hồ sơ làm phát sinh khoảng thời gian cơ quan nhà nước không thể thực hiện việc xử lý hồ sơ do yêu cầu kỹ thuật của việc chuyển giao hệ thống, hồ sơ, dữ liệu thì khoảng thời gian này không tính vào thời hạn giải quyết; cơ quan tiếp nhận phải thông báo cho tổ chức, cá nhân biết.

    đ) Mọi yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện trong trường hợp nội dung hồ sơ chưa đáp ứng quy định pháp luật, không được yêu cầu bổ sung chỉ vì thay đổi tên bộ, cơ quan tiếp nhận, cơ quan thẩm định hoặc người có thẩm quyền.

    3. Đối với nghĩa vụ tài chính về khoáng sản

    a) Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản, chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả và các nghĩa vụ tài chính khác đã ban hành tiếp tục được thực hiện;

    b) Hồ sơ xác định, điều chỉnh, phê duyệt nghĩa vụ tài chính đang được giải quyết tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường được chuyến nguyên trạng sang Bộ Công Thương và tiếp tục xử lý theo mục 2 nêu trên;

    c) Việc thay đổi cơ quan quản lý nhà nước không làm phát sinh việc xác định lại nghĩa vụ tài chính đã được xác định hợp pháp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực, trừ trường hợp pháp luật quy định phải điều chỉnh.

    4. Đối với các chương trình, đề án, dự án và các nhiệm vụ khác về địa chất và khoáng sản

    Các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đối mới sáng tạo và các nhiệm vụ khác về địa chất, khoáng sản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo quyết định đã được phê duyệt. Bộ Công Thương tiếp nhận, kế thừa quyền, nghĩa vụ và thực hiện việc quản lý, tổ chức thực hiện, điều chỉnh, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.

    Xuân An

    Nguồn https://baomoi.com/tu-15-9-bo-cong-thuong-tiep-nhan-them-mot-so-nhiem-vu-quan-ly-nha-nuoc-ve-khu-cong-nghiep-dia-chat-khoang-san-c55987116.epi

  • Đề xuất quy định cấp tín dụng vượt giới hạn cho các dự án lớn tại Thủ đô

    Theo Dự thảo Thông tư, mức cấp tín dụng tối đa đề nghị đối với một khách hàng không vượt quá 38% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Ảnh: TTXVN

    Thông tư này quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị Thống đốc NHNN xem xét chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô theo quy định tại khoản 2, Điều 8 Nghị quyết số 258/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô.

    Điều kiện xem xét, chấp thuận khoản cấp tín dụng vượt giới hạn

    Khách hàng, dự án được đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 258/2025/QH15 đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg ngày 01/7/2024 và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

    Khách hàng có nhu cầu vay vốn để đầu tư các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Nghị quyết số 258/2025/QH15.

    Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2, Điều 3 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg ngày 01/7/2024 và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

    Mức cấp tín dụng tối đa đề nghị đối với một khách hàng không vượt quá 38% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đối với một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó không vượt quá 52% vốn tự có của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để cho vay các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Nghị quyết số 258/2025/QH15.

    Hồ sơ đề nghị gồm những gì?

    Hồ sơ gửi Ngân hàng Nhà nước gồm văn bản của ngân hàng đề nghị Thống đốc NHNN cho phép cấp tín dụng vượt giới hạn; các hồ sơ, tài liệu chứng minh ngân hàng đáp ứng điều kiện; các văn bản theo Quyết định số 09/2024/QĐ-TTg; hồ sơ pháp lý liên quan đến dự án và báo cáo về tình hình quan hệ tín dụng, nhu cầu cấp tín dụng vượt giới hạn.

    Đối với hồ sơ pháp lý của dự án, Dự thảo yêu cầu có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc văn bản phê duyệt, chấp thuận dự án của cấp có thẩm quyền. Với dự án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 258/2025/QH15, hồ sơ còn phải có văn bản của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ hoặc Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội, trong đó có nội dung chỉ đạo cần triển khai ngay dự án.

    Mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó được xác định theo quy định tại Điều 5 Quyết định 09/2024/QĐ-TTg và các văn bản sửa đổi, bổ sung.

    Thủ tục xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn

    Về thủ tục xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi NHNN 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 4 Thông tư này trực tiếp tại Bộ phận một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài:

    Trường hợp hồ sơ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không đáp ứng được điều kiện quy định tại Điều 3 Thông tư này, NHNN có văn bản thông báo cho ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong đó ghi rõ các điều kiện mà ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng được.

     Trường hợp hồ sơ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã hợp lệ, NHNN có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương có liên quan về các khía cạnh kinh tế – kỹ thuật – pháp lý của dự án, phương án và khách hàng đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn.

     Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xin ý kiến từ NHNN, các bộ, ngành, địa phương có ý kiến bằng văn bản về các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý của đơn vị mình gửi NHNN. Trên cơ sở ý kiến tham gia của các bộ, ngành, địa phương, NHNN yêu cầu ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, khách hàng giải trình về các vấn đề có liên quan (nếu có).

    Trong thời hạn 17 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của các bộ, ngành, địa phương hoặc ý kiến giải trình của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, NHNN kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của hồ sơ đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn do ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp:

    Trường hợp hồ sơ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 3 Thông tư này, NHNN có văn bản thông báo cho ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó ghi rõ các điều kiện mà ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng được.

    Trường hợp hồ sơ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã hợp lý, hợp lệ, Thống đốc NHNN quyết định việc cấp tín dụng vượt giới hạn của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài./.

    THÀNH ĐỨC

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-quy-dinh-cap-tin-dung-vuot-gioi-han-cho-cac-du-an-lon-tai-thu-do-c55987023.epi

  • Buộc tháo dỡ quán cà phê xây trái phép trên đất rừng phòng hộ ở An Giang

    Ngày 5/9, lãnh đạo UBND xã Tri Tôn, tỉnh An Giang cho biết, địa phương đã tống đạt quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nô Thái Hòa và ông Thạch Giang, cùng là chủ Tiệm cà phê Lưng Chừng trên đồi Tà Pạ.

    Hai cá nhân này bị xử phạt do tự ý chuyển đất rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

    Tiệm cà phê Lưng Chừng ở đồi Tà Pạ, xã Tri Tôn trước khi bị xử phạt vi phạm hành chính.

    Theo chính quyền địa phương, thời gian gần đây, Tiệm cà phê Lưng Chừng được nhiều người biết đến trên mạng xã hội, thu hút đông khách đến uống cà phê, chụp ảnh và tham quan.

    Đặc biệt trong dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, địa điểm này được nhiều du khách tìm đến bởi công trình nằm ở vị trí cao trên đồi, có tầm nhìn hướng ra hồ Soài Chek và dãy núi Cô Tô.

    Tuy nhiên, qua kiểm tra, cơ quan chức năng xác định chủ cơ sở đã xây dựng một số công trình trên đất rừng phòng hộ khi chưa được phép.

    Cụ thể, ông Nô Thái Hòa, sinh năm 1992, cư trú tại ấp An Lộc, xã Tri Tôn, bị xử phạt 4 triệu đồng về hành vi tự ý chuyển đất rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp.

    Theo quyết định xử phạt, ông Hòa đã xây dựng tum, chòi, sàn gỗ và lối đi bằng bê tông dẫn lên khu vực Tiệm cà phê Lưng Chừng với tổng diện tích vi phạm 185m² tại Lô O, Khoảnh 7, Tiểu khu 22, đồi Tà Pạ.

    Chủ tiệm cà phê Lưng Chừng được xác định tự ý chuyển đất rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp.

    Trong khi đó, ông Thạch Giang, sinh năm 1974, cư trú tại xã Bình Hòa, tỉnh Cà Mau, bị xử phạt 7,5 triệu đồng do tự ý xây dựng sàn, cất tum và làm đường bê tông tại Lô E, Khoảnh 7, Tiểu khu 22, thuộc khu rừng phòng hộ đồi Tà Pạ. Tổng diện tích vi phạm được xác định là 721,21m².

    Ngoài xử phạt bằng tiền, UBND xã Tri Tôn buộc ông Nô Thái Hòa và ông Thạch Giang tháo dỡ toàn bộ công trình vi phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận quyết định.

    Trường hợp các cá nhân không tự nguyện chấp hành, cơ quan chức năng sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.

    Chính quyền xã Tri Tôn buộc các cá nhân phải tháo dỡ công trình và khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đất.

    Tại buổi tống đạt quyết định, lãnh đạo UBND xã Tri Tôn yêu cầu chủ Tiệm cà phê Lưng Chừng chấp hành nghiêm quyết định xử phạt, đồng thời dừng ngay mọi hoạt động xây dựng, cơi nới hoặc mở rộng công trình.

    Đại diện UBND xã Tri Tôn cho biết, việc xử lý vi phạm tại Tiệm cà phê Lưng Chừng nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng và bảo vệ rừng; đồng thời ngăn chặn tình trạng sử dụng đất sai mục đích, xây dựng công trình trái phép trên đất rừng.

    Chính quyền địa phương cũng khuyến cáo các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh tại khu vực đồi Tà Pạ nghiêm túc chấp hành quy định pháp luật, không tự ý san lấp, mở đường, xây dựng hoặc mở rộng công trình khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

    Quốc Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/buoc-thao-do-quan-ca-phe-xay-trai-phep-tren-dat-rung-phong-ho-o-an-giang-c55986868.epi

  • Tháo gỡ vướng mắc, khơi thông nguồn lực từ hơn 4.600 dự án tồn đọng

    Hơn 4.600 dự án tồn đọng với tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng cho thấy quy mô rất lớn của nguồn lực đang cần được khơi thông.

    Hơn 4.600 dự án tồn đọng, kéo dài với tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng đang được Chính phủ yêu cầu khẩn trương rà soát, phân loại và tháo gỡ. Những cơ chế mới được ban hành đang mở thêm dư địa xử lý các vấn đề phức tạp về đất đai, đầu tư và dự án BT. Thực tiễn tại Khánh Hòa cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý nghiêm sai phạm mà còn phải sớm đưa đất đai, công trình và các nguồn lực hợp pháp trở lại phục vụ phát triển.

    Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 751, cả nước hiện có 4.619 dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài, liên quan khoảng 203.660ha đất, với tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng.

    Phía sau những con số này là hàng loạt dự án đã triển khai nhiều năm nhưng chưa thể hoàn thành; đất đai chưa được khai thác hiệu quả; vốn đầu tư bị đình lại; quyền lợi của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân chưa được giải quyết dứt điểm.

    Tại Khánh Hòa, một trong những trường hợp đáng chú ý là các dự án BT hạ tầng giao thông quanh khu vực sân bay Nha Trang cũ. Nhiều hạng mục đã được đầu tư, nhưng quá trình thực hiện phát sinh những vấn đề phức tạp về đất đai, giải phóng mặt bằng, thanh toán hợp đồng BT; sau đó tiếp tục liên quan quá trình thanh tra, điều tra và xét xử vụ án xảy ra tại Tập đoàn Phúc Sơn.

    Thực tiễn này cho thấy tính chất phức tạp của bài toán mà hàng nghìn dự án tồn đọng trên cả nước đang phải đối mặt: xử lý như thế nào để bảo đảm nghiêm minh pháp luật, không thất thoát tài sản nhà nước, nhưng đồng thời không để những nguồn lực có thể tiếp tục khai thác bị đình trệ kéo dài.

    Mở thêm hành lang xử lý các dự án tồn đọng

    Tại Công điện số 58, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài; xác định cụ thể nguyên nhân và thẩm quyền xử lý đối với từng dự án.

    Những vấn đề thuộc thẩm quyền phải được chủ động giải quyết; các nội dung vượt thẩm quyền cần kịp thời tổng hợp, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét.

    Yêu cầu này được đặt ra trong bối cảnh hành lang pháp lý để xử lý các dự án tồn đọng đã từng bước được bổ sung.

    Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 29 về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

    Đối với các dự án đầu tư theo hình thức xây dựng-chuyển giao (BT), Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 16 nhằm xử lý những khó khăn phát sinh từ các dự án được ký kết, triển khai trong những giai đoạn pháp luật trước đây.

    Các cơ chế này có ý nghĩa trực tiếp đối với những địa phương còn nhiều dự án BT tồn đọng như Khánh Hòa.

    Theo rà soát, có 18 dự án BT trên địa bàn tỉnh thuộc phạm vi cần xem xét, xử lý theo Nghị quyết số 16. Trong số này có ba dự án do Tập đoàn Phúc Sơn thực hiện, gồm Dự án các tuyến đường, các nút giao thông kết nối khu sân bay Nha Trang, trong đó có đường Tô Hiến Thành; Dự án nút giao Ngọc Hội và Dự án đường vành đai kết nối nút giao Ngọc Hội.

    Theo báo cáo của doanh nghiệp, tại ba dự án này, nhiều hạng mục giao thông, nút giao và khu tái định cư đã được đầu tư, một số công trình cơ bản hình thành; tuy nhiên, vẫn còn những phần việc chưa thể hoàn thành do vướng giải phóng mặt bằng, đất quốc phòng và các thủ tục liên quan.

    Việc các công trình đã được đầu tư nhưng chưa thể hoàn thiện cũng đặt ra yêu cầu phải sớm xác định rõ giá trị khối lượng đã thực hiện, nghĩa vụ của các bên và cơ chế xử lý đối với phần dự án còn lại.

    Xử lý sai phạm nhưng không để nguồn lực tiếp tục bị “treo”

    Trường hợp các dự án liên quan Tập đoàn Phúc Sơn trở nên phức tạp hơn sau khi những sai phạm liên quan được các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử.

    Tuy nhiên, quá trình xét xử cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục giải quyết những vấn đề pháp lý còn tồn tại sau vụ án.

    Tại các bản án sơ thẩm và phúc thẩm, Tòa án quân sự Quân khu 5 và Tòa án quân sự Trung ương đã kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và các cấp có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện thủ tục pháp lý, sử dụng đất sân bay Nha Trang cũ vào mục đích phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, tránh lãng phí và bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên liên quan.

    Kiến nghị này cho thấy, sau khi trách nhiệm hình sự của các cá nhân được xác định, vẫn còn hàng loạt vấn đề về dự án, đất đai, công trình và các quan hệ dân sự, kinh tế cần tiếp tục được giải quyết theo pháp luật.

    Trong các kiến nghị gửi cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa mới đây, đại diện hơn 200 khách hàng, nhà đầu tư có quyền lợi liên quan tại khu vực sân bay Nha Trang cũ cũng đề nghị sớm hoàn thiện các thủ tục cần thiết, qua đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể không liên quan hành vi vi phạm.

    Trường hợp này phản ánh một vấn đề phổ biến trong quá trình xử lý các dự án tồn đọng: trách nhiệm đối với hành vi vi phạm phải được xác định và xử lý nghiêm, nhưng việc xử lý sai phạm không đồng nghĩa với để toàn bộ dự án, tài sản và các quan hệ kinh tế liên quan tiếp tục bị đóng băng nếu pháp luật đã có cơ sở để giải quyết.

    Một công trình đã được đầu tư nhưng không thể hoàn thiện, đất đai không được đưa vào sử dụng, vốn xã hội tiếp tục bị đình lại sẽ làm hệ quả kinh tế của những sai phạm trong quá khứ kéo dài thêm nhiều năm.

    Bởi vậy, yêu cầu quan trọng là phải bóc tách rõ từng nhóm vấn đề: phần nào thuộc hậu quả của hành vi vi phạm cần xử lý; phần nào là nghĩa vụ theo hợp đồng; tài sản nào phải thu hồi; công trình, đất đai và quyền lợi nào có đủ cơ sở pháp lý để tiếp tục giải quyết.

    Từ cơ chế đến trách nhiệm tổ chức thực hiện

    Kinh nghiệm tại một số địa phương cho thấy, việc tháo gỡ chỉ có thể chuyển biến khi từng dự án được phân loại cụ thể và giao rõ cơ quan chịu trách nhiệm xử lý.

    Tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua rà soát đã xác định khoảng 1.388 dự án có khó khăn, vướng mắc. Thành phố đồng thời phân nhóm, giao các sở, ngành trực tiếp xem xét hàng trăm dự án tồn đọng kéo dài.

    Theo Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Châu, sau khi các nghị quyết và văn bản hướng dẫn mới được ban hành, nhiều cơ chế tháo gỡ đã tương đối rõ; vấn đề quan trọng hiện nay nằm ở quá trình tổ chức thực hiện.

    Yêu cầu này cũng đặt ra đối với các dự án tại Khánh Hòa. Với ba dự án BT liên quan Tập đoàn Phúc Sơn, nhiều vấn đề đã được cơ quan thanh tra, điều tra và tòa án xem xét. Công việc tiếp theo là phân định rõ hậu quả của hành vi vi phạm phải xử lý, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng BT và những phần tài sản, công trình, đất đai có thể tiếp tục được giải quyết theo quy định.

    Do các dự án được hình thành qua nhiều giai đoạn pháp luật khác nhau, việc xử lý đòi hỏi sự phối hợp giữa địa phương với các bộ, ngành Trung ương, nhất là đối với những nội dung vượt thẩm quyền hoặc liên quan đất đai, tài sản công và phương thức thanh toán dự án BT.

    Các chuyên gia pháp lý lưu ý rằng không ít dự án tồn đọng hiện nay được hình thành cách đây hàng chục năm, trải qua nhiều lần thay đổi chính sách, quy hoạch và pháp luật. Vì vậy, cần xác định chính xác quy định pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp lý, đồng thời vận dụng các cơ chế mới để xử lý những tồn tại còn kéo dài.

    Đối với các dự án BT, yêu cầu này càng quan trọng bởi loại hình đầu tư này gắn trực tiếp giữa công trình hạ tầng do nhà đầu tư thực hiện và nguồn lực Nhà nước sử dụng để thanh toán.

    Nếu không xác định rõ giá trị công trình, quỹ đất thanh toán, nghĩa vụ tài chính và các khoản phải thu hồi, việc tháo gỡ có thể phát sinh nguy cơ thất thoát. Nhưng nếu vì những phức tạp đó mà không xử lý, tài sản và nguồn lực xã hội tiếp tục bị lãng phí.

    Khơi thông nguồn lực nhưng phải bảo đảm kỷ cương pháp luật

    Hơn 4.600 dự án tồn đọng với tổng vốn đầu tư hơn 3,9 triệu tỷ đồng cho thấy quy mô rất lớn của nguồn lực đang cần được khơi thông.

    Câu chuyện của các dự án BT tại Khánh Hòa chỉ là một trường hợp trong bức tranh đó, nhưng cho thấy yêu cầu phải giải quyết đồng thời nhiều mục tiêu: xử lý nghiêm sai phạm; thu hồi đầy đủ tài sản nhà nước nếu có thất thoát; hoàn thiện những công trình đủ điều kiện; đưa đất đai vào sử dụng hiệu quả và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể không liên quan sai phạm.

    Các nghị quyết mới đã bổ sung những công cụ pháp lý cần thiết. Yếu tố quyết định tiếp theo nằm ở khâu tổ chức thực hiện.

    Với những dự án đã đủ cơ sở pháp lý, việc xử lý cần được đẩy nhanh, tránh để tình trạng đình trệ tiếp tục kéo dài. Những nội dung vượt thẩm quyền cần được kịp thời tổng hợp, báo cáo và đề xuất cơ chế giải quyết.

    Tháo gỡ các dự án tồn đọng không phải là xóa bỏ hay hợp thức hóa sai phạm. Ngược lại, việc xác định rõ sai phạm, trách nhiệm và hậu quả pháp lý là điều kiện để phần tài sản, công trình và các quan hệ hợp pháp còn lại được xử lý minh bạch.

    Từ hơn 4.600 dự án trên cả nước đến những dự án BT tại Khánh Hòa cho thấy, khi những vướng mắc của quá khứ được xử lý đúng pháp luật và dứt điểm, một lượng lớn đất đai, vốn đầu tư và tài sản xã hội có thể được đưa trở lại phục vụ phát triển.

    Đây không chỉ là yêu cầu chống lãng phí mà còn là một trong những giải pháp khơi thông nguồn lực, tạo thêm dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.

    THÁI PHONG

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-vuong-mac-khoi-thong-nguon-luc-tu-hon-4-600-du-an-ton-dong-c55986843.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!