Author: bachdn

  • Những khu vực ven sông Hồng nào sẽ thành đô thị mới của Hà Nội?

    Hà Nội kỳ vọng quy hoạch mới sẽ chuyển sông Hồng từ không gian bị chia cắt với đô thị thành trục phát triển tổng hợp về cảnh quan, văn hóa, sinh thái, kinh tế và đô thị.

    Quy hoạch định hướng xây dựng trục sông Hồng thành trục phát triển tổng hợp về cảnh quan, văn hóa, sinh thái, kinh tế và đô thị. Ảnh: Tuấn Đông

    Từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long: ưu tiên sinh thái, tái thiết

    Theo hồ sơ quy hoạch, phân đoạn 1 từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long có diện tích khoảng 3.436ha, dân số dự kiến khoảng 160.000 người. Đây không phải khu vực được xác định để phát triển đô thị tập trung mà theo hướng tái thiết đô thị, cải tạo chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và thể dục thể thao.

    Cách tiếp cận này khá khác với hình dung phổ biến về một “đại đô thị ven sông”. Trong tổng thể khu vực nghiên cứu, đất sản xuất nông nghiệp hiện vẫn chiếm khoảng 5.741ha, tương đương 50%; mặt nước khoảng 3.626ha, trong khi đất ở chỉ khoảng 1.102ha. Quy hoạch vì vậy phải đồng thời xử lý bài toán đô thị hóa, sinh thái và bảo tồn không gian hiện hữu.

    Hồ sơ cũng xác định ba mức thềm địa hình để tổ chức không gian. Khu vực cao trên 11,5m có thể xây dựng mới; từ 9,5-11,5m là không gian linh hoạt, tổ chức công trình thích ứng và duy trì dân cư hiện có; khu vực dưới 9,5m chủ yếu dành cho phục hồi sinh thái, giao thông chậm và cảnh quan đường dạo.

    Như vậy, ở đoạn này, “đô thị mới” nếu hình thành sẽ không phải là những dải nhà cao tầng liên tục, mà là sự đan xen giữa khu vực tái thiết, làng xóm được chỉnh trang, công viên và không gian sinh thái.

    Đây cũng phù hợp với định hướng mà Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội từng công bố: đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long được định hướng phát triển không gian sinh thái, bảo tồn tính tự nhiên, kết hợp công viên chuyên đề, trang trại sinh thái, nông nghiệp đô thị và các hoạt động thương mại, dịch vụ.

    Từ Thăng Long đến Thanh Trì: “phòng khách đô thị” mới

    Phân đoạn 2, từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì có sự thay đổi mạnh nhất về chức năng đô thị. Ảnh: Tuấn Đông

    Nếu phải xác định khu vực nào có sự thay đổi mạnh nhất về chức năng đô thị, câu trả lời nằm ở phân đoạn 2, từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì.

    Khu vực này rộng khoảng 4.548ha, được hồ sơ xác định là khu vực trọng tâm, gọi là “phòng khách đô thị”. Định hướng đặt ra là tái thiết đô thị tập trung, phát triển các trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn, liên kết không gian Hồ Tây – Cổ Loa.

    Khái niệm “phòng khách đô thị” trong hồ sơ được xác định khá cụ thể: khu vực phía ngoài đê hữu sông Hồng nhưng bên trong đường Vành đai II, đoạn từ cầu Nhật Tân đến cầu Vĩnh Tuy. Chính tại đây, một số làng xóm và khu dân cư hiện hữu được đặt trong quá trình tái thiết để phục vụ mục tiêu hình thành khu vực trung tâm mới.

    Hồ sơ chỉ rõ hai cụm làng thuộc diện tái thiết là Nhật Tân – Tứ Liên tại phường Hồng Hà, quy mô khoảng 96ha, và cụm làng Thống Nhất gồm Hạ Trại, Trung Thôn tại phường Long Biên, khoảng 12ha.

    Đây là chi tiết cho thấy sự thay đổi của khu vực này không đơn thuần là mở thêm đường hay xây công viên. Một phần không gian dân cư hiện hữu sẽ được tái cấu trúc để tạo ra không gian đô thị mới với các chức năng thương mại, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và công trình điểm nhấn.

    Theo định hướng của Hà Nội, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng không chỉ là tuyến giao thông mà được xác định là một trong 9 động lực phát triển của Thủ đô, đồng thời là trục không gian xanh trung tâm, trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị gắn với văn hóa sáng tạo, khoa học công nghệ dọc hai bên sông.

    Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội cũng xác định mục tiêu rộng hơn là tạo lập hình ảnh một đô thị mới, hiện đại, văn minh và sinh thái hai bên sông, kết nối với đô thị trung tâm phía Bắc và Nam sông Hồng.

    TS. KTS Đào Ngọc Nghiêm – Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam. Ảnh: Tuấn Đông

    TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội, đánh giá sông Hồng có tiềm năng trở thành “biểu tượng phát triển mới” của Thủ đô, với yêu cầu hài hòa giữa không gian sinh thái, văn hóa, lịch sử, không gian xanh và đô thị hiện đại hai bên bờ.

    Trong trao đổi gần đây về quy hoạch sông Hồng, ông Nghiêm cũng lưu ý đây là đồ án có tính chất phức tạp, liên quan nhiều ngành, vì vậy ngoài cơ sở pháp lý và khoa học cần đặc biệt quan tâm tính khả thi và đánh giá tác động trong quá trình thực hiện.

    Từ Thanh Trì đến Mễ Sở: đô thị mới gắn với Lĩnh Nam, Long Biên và Bát Tràng

    Phân đoạn 3 từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở có diện tích khoảng 3.435 ha, dân số dự kiến khoảng 499.000 người. Khác với phân đoạn 2, khu vực này được định hướng kết hợp nhiều chức năng: các cụm công viên, khu đô thị định cư và đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam, khu dịch vụ – thương mại, khu bảo tồn làng nghề Bát Tràng và không gian nông nghiệp sinh thái.

    Trong 18 dự án thành phần của Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng có 3 dự án đô thị định cư và đa mục tiêu, bên cạnh 2 dự án giao thông, 11 dự án công viên với tổng quy mô khoảng 3.513 ha và 2 dự án kè, chỉnh trị lòng sông, bờ sông.

    Đáng chú ý, các khu đô thị mới ở phía Nam không được đặt tách khỏi không gian dân cư hiện hữu. Quy hoạch đồng thời xác định các khu vực làng xóm cần cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc như Thúy Lĩnh ở Lĩnh Nam; Bát Tràng – Giang Cao – Kim Lan, Văn Đức; Yên Mỹ; Đại Lan và cụm làng Tranh Khúc – Vạn Phúc.

    Riêng với những làng xóm được giữ lại, quy hoạch yêu cầu kiểm soát mật độ xây dựng và tầng cao ở mức thấp, lựa chọn kiến trúc cảnh quan phù hợp với không gian làng xã và các di tích lịch sử.

    Điều này tạo ra một mô hình khác với “đại đô thị” thông thường: các khu đô thị mới được đặt cạnh làng nghề, không gian nông nghiệp, công viên và các khu dân cư lâu đời.

    Hà Nội cũng xác định sông Hồng phải trở thành trục xanh, trục văn hóa và cảnh quan trung tâm; phát triển đô thị phải hài hòa với bảo tồn và sinh thái sông nước, đồng thời bảo đảm an toàn phòng chống lũ, ổn định đê điều.

    Không phải toàn bộ ven sông sẽ thành đô thị cao tầng

    Điểm quan trọng cần làm rõ là quy hoạch mới không đồng nghĩa toàn bộ vùng bãi sông sẽ được xây dựng.

    Hồ sơ đề xuất khoảng 3.900ha xây dựng và tôn cao bãi sông, trên cơ sở kết quả mô hình thủy văn, thủy lực được UBND thành phố Hà Nội và Bộ Nông nghiệp và Môi trường thống nhất tại Thông báo số 467/TB-(BNNMT-UBTPHN) ngày 6.5.2026.

    Đồng thời, nguyên tắc của đồ án là không làm thay đổi, suy giảm khả năng thoát lũ, không lấn chiếm hành lang thoát lũ, mái đê, thân đê; kết hợp phát triển đô thị với bảo tồn và sinh thái sông nước.

    Khu vực Võng La – Hải Bối, hồ sơ nêu rõ không di dời toàn bộ mà chỉ di dời phần nằm trong khu vực không bảo đảm an toàn phòng chống lũ. Ảnh: Tuấn Đông

    Ngay trong khu vực dân cư, việc di dời cũng không được áp dụng đồng loạt. Hai cụm làng Võng La – Hải Bối và Bắc Cầu thuộc nhóm phải di dời theo quy định về phòng chống lũ, nhưng với Võng La – Hải Bối, hồ sơ nêu rõ không di dời toàn bộ mà chỉ di dời phần nằm trong khu vực không bảo đảm an toàn phòng chống lũ hoặc nằm trong phạm vi xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan.

    Trong khi đó, quy hoạch đặt nguyên tắc bảo tồn 123 công trình di tích, giữ khu vực lõi của các làng nghề truyền thống và các làng có giá trị kiến trúc, lịch sử, văn hóa; các làng xóm lâu đời ngoài khu vực “phòng khách đô thị” được định hướng giữ lại, cải tạo, chỉnh trang.

    Vì vậy, bức tranh đô thị mới ven sông Hồng mà Hà Nội đang đặt ra không phải một dải cao tầng kéo dài 40 km. Đó là một cấu trúc phân tầng: đoạn Hồng Hà – Thăng Long thiên về sinh thái và tái thiết; Thăng Long – Thanh Trì là lõi tái thiết đô thị, dịch vụ và đổi mới sáng tạo; Thanh Trì – Mễ Sở hình thành các khu đô thị định cư, đa mục tiêu gắn với công viên, dịch vụ, làng nghề và nông nghiệp sinh thái.

    TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm cho rằng sông Hồng có thể trở thành biểu tượng phát triển mới của Hà Nội, nhưng để hiện thực hóa cần đánh giá kỹ các tác động và bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai.

    Đây cũng là lý do Hà Nội đang tổ chức lấy ý kiến rộng rãi tại 24 phường, xã trong ranh giới và vùng ảnh hưởng của quy hoạch, đồng thời mở rộng tới cộng đồng dân cư trên toàn Thành phố. Đây là bước được Hà Nội xác định nhằm nâng cao chất lượng đồ án, tạo đồng thuận xã hội và bảo đảm quá trình triển khai công khai, minh bạch.

    TUẤN ĐÔNG

    Nguồn https://baomoi.com/nhung-khu-vuc-ven-song-hong-nao-se-thanh-do-thi-moi-cua-ha-noi-c56000537.epi

  • Già làng – điểm tựa giữ rừng

    Gương mẫu để dân làng làm theo

    Làng Bi (xã Ia O) nằm ở khu vực biên giới tiếp giáp với Vương quốc Campuchia. Việc giữ rừng ở đây vì vậy còn gắn với giữ gìn ANTT và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Hiểu rõ điều đó, già làng Ksor Bơng (SN 1948) thường xuyên nhắc nhở bà con chấp hành các quy định về bảo vệ rừng. Đồng thời, ông cùng BĐBP tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ đường biên, cột mốc.

    “Công tác tuyên truyền phải làm thường xuyên để bà con dần nâng cao nhận thức. Mình là già làng thì trước hết phải gương mẫu, làm đúng chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước, có vậy nói bà con mới nghe” – ông Bơng chia sẻ.

    Già làng Ksor Bơng (bìa trái) tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo đảm an ninh trật tự ở khu vực biên giới. Ảnh: L.N

    Hiện nay, nhận thức của người dân làng Bi về bảo vệ rừng đã có nhiều chuyển biến tích cực so với trước. Ông Bơng cho rằng, trong hoàn cảnh rừng còn ít càng phải giữ gìn diện tích rừng hiện có, không tự ý khai thác, chặt phá hoặc lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy.

    Ngoài vai trò già làng, ông Bơng còn là Tổ phó Tổ bảo vệ đường biên, cột mốc. Hằng tháng, ông cùng tổ phối hợp với BĐBP tuyên truyền, nhắc nhở người dân chấp hành quy định pháp luật khi đi lại ở khu vực biên giới.

    “Mình phải thường xuyên gần gũi, hiểu tâm tư của bà con thì tuyên truyền mới hiệu quả. Mình thường xuyên vận động bà con chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không phá rừng, không vượt biên” – ông Bơng nói.

    Còn tại làng De Chí (xã Gào), già làng Kpui Long (SN 1969) lại gắn việc giữ rừng với giữ gìn nguồn nước và sinh kế của người dân. Theo ông, rừng còn thì nguồn nước còn, người dân mới có điều kiện sản xuất, phát triển kinh tế. “Bà con trong làng xác định nếu không giữ rừng thì nguồn nước sẽ mất, cây cối không còn, môi trường cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy, mọi người cùng quyết tâm chung tay bảo vệ rừng, giữ nguồn nước để phát triển kinh tế” – ông Long chia sẻ.

    Cùng với tổ nhận khoán bảo vệ rừng của làng, già làng Kpui Long thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức giữ rừng. Anh Rơ Mah Ngoh – Tổ trưởng Tổ nhận khoán bảo vệ rừng làng De Chí – cho biết: Tổ có 6 thành viên, đang nhận bảo vệ hơn 500 ha rừng. Tiếng nói của già làng có vai trò quan trọng trong việc vận động người dân chấp hành các quy định về bảo vệ rừng.

    Già làng Kpui Long (bìa phải) tuyên truyền, vận động người dân chung tay bảo vệ rừng. Ảnh: L.N

    “Trước đây, bà con chưa hiểu nhiều về quy định bảo vệ rừng nên vẫn có trường hợp vào rừng chặt cây, lấn chiếm đất rừng. Từ khi già làng thường xuyên tuyên truyền, vận động, bà con hiểu hơn về trách nhiệm giữ rừng. Người dân không còn vào rừng chặt cây hay lấn chiếm đất rừng” – anh Ngoh cho hay.

    Giữ rừng từ truyền thống cộng đồng

    Ở làng De Chí và làng O Grang (xã Gào), việc giữ rừng còn được gắn với phong tục cúng rừng của cộng đồng.Theo già làng Kpui Long, lễ cúng thường được tổ chức vào tháng 4 hằng năm nhằm tạ ơn thần rừng đã bảo vệ, che chở cho dân làng; đồng thời cầu mong mưa thuận gió hòa, nguồn nước dồi dào, dân làng mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi. Qua đó, người dân thêm ý thức về giá trị của rừng đối với cuộc sống cộng đồng.

    “Cúng rừng là để cầu mong có mưa, có nguồn nước, bà con mạnh khỏe, làm ăn phát triển. Khi đã cúng rừng rồi thì bà con càng có ý thức giữ rừng. Mình giữ rừng cũng chính là giữ nguồn nước cho làng, giữ sinh kế cho bà con và giữ lại rừng cho con cháu” – ông Long nói.

    Không chỉ vận động giữ diện tích rừng hiện có, tại buôn Ma Giai (xã Phú Túc), già làng A Lê Xứ còn tuyên truyền người dân tham gia nhận khoán bảo vệ và trồng rừng. Theo ông, khi trực tiếp tham gia bảo vệ, chăm sóc những cánh rừng được giao, người dân sẽ nâng cao hơn trách nhiệm của mình.

    “Muốn bà con giữ rừng thì trước hết phải nói cho họ hiểu rừng quan trọng như thế nào. Có rừng thì có nước, có môi trường để sản xuất và cuộc sống của bà con cũng ổn định hơn. Vì vậy, mình vận động bà con tham gia nhận khoán bảo vệ rừng để vừa có thêm thu nhập, vừa không phá rừng, không lấn chiếm đất rừng” – ông Xứ chia sẻ.

    Theo ông Trịnh Thanh Khiết – Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Phú Túc, quá trình triển khai chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân và cộng đồng quản lý, các già làng, người có uy tín đã phát huy tốt vai trò trong công tác tuyên truyền, vận động.

    “Các già làng, người có uy tín rất hưởng ứng chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân. Họ tích cực tuyên truyền, vận động bà con mạnh dạn đăng ký nhận đất, nhận rừng, tham gia làm chủ rừng. Đây là lực lượng có tiếng nói quan trọng, giúp người dân hiểu và đồng thuận với chủ trương của địa phương.

    Xã có 10 buôn đồng bào dân tộc thiểu số; mỗi buôn đều có già làng, người có uy tín. Đây là những người gần dân, hiểu phong tục, tập quán và có tiếng nói trong cộng đồng nên thuận lợi trong tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng”, ông Khiết cho hay.

    Bằng uy tín và sự gương mẫu, các già làng, người có uy tín đang góp phần quan trọng đưa chủ trương bảo vệ rừng vào đời sống, để người dân cùng chung tay giữ rừng, bảo vệ nguồn nước, sinh kế cho hôm nay và mai sau.

    LÊ NAM

    Nguồn https://baomoi.com/gia-lang-diem-tua-giu-rung-c56000332.epi

  • Bản tiêu biểu nông thôn mới ở Mường Chanh

    Mô hình trồng cà phê của nhân dân bản Khoa.

    Đón chúng tôi tại nhà văn hóa, ông Lèo Văn Quân, Bí thư Chi bộ, Trưởng bản Khoa, thông tin: Bản có 213 hộ, 100% là đồng bào dân tộc Thái; Chi bộ có 39 đảng viên. Cuối năm 2024, bản Khoa được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Chi bộ, Ban quản lý bản xác định phải tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng từng tiêu chí để những thành quả xây dựng nông thôn mới thực sự bền vững. Chi bộ bản phân công mỗi đảng viên phụ trách từng nhóm hộ, thường xuyên tuyên truyền chủ trương, vận động nhân dân tham gia các phần việc của bản; đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, cùng bà con tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện các tiêu chí.

    Một trong những minh chứng rõ nét cho tinh thần đồng thuận ấy là phong trào làm đường giao thông nông thôn. Từ năm 2024 đến nay, nhân dân bản Khoa đã tự nguyện hiến 1,2 ha đất, đóng góp gần 1 tỷ đồng, cùng nguồn hỗ trợ của Nhà nước bê tông hóa 6 km đường nội bản, với tổng kinh phí hơn 5,1 tỷ đồng. Đến nay, 6/8,5 km đường nội bản đã được cứng hóa; gần 1 km được lắp đặt đèn chiếu sáng năng lượng mặt trời. Ở những đoạn chưa có hệ thống chiếu sáng tập trung, nhiều gia đình chủ động mắc bóng điện trước cổng để vừa phục vụ sinh hoạt, vừa góp thêm ánh sáng cho đường bản.

    Ông Hà Văn Bàn chia sẻ: Khi bản vận động mở rộng đường, gia đình ông đã tự nguyện hiến 250 m² đất. Bây giờ đường được bê tông hóa, ban đêm có điện chiếu sáng, bà con đi lại, vận chuyển nông sản thuận tiện hơn, đời sống cũng ngày càng phát triển”.

    Nông dân bản Khoa kiểm tra diện tích lúa mùa.

    Cùng với xây dựng đường giao thông, bản Khoa vận động nhân dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khai thác hiệu quả diện tích đất sản xuất. Hiện nay, toàn bản có hơn 100 ha cà phê, 19 ha lúa hai vụ; trong đó, cà phê đã trở thành cây trồng chủ lực, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều gia đình. Gia đình ông Cầm Văn Mòn có 1,2 ha cà phê. Nhờ áp dụng kỹ thuật chăm sóc đúng quy trình, năng suất bình quân đạt khoảng 20 tấn quả tươi/ha. Ngoài cà phê, gia đình còn thâm canh hơn 2.500 m² lúa nước và chăn nuôi gia súc. Mô hình kinh tế tổng hợp mỗi năm đem lại thu nhập trên 300 triệu đồng.

    Từ những mô hình sản xuất hiệu quả, nhiều hộ trong bản đã có điều kiện xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện sản xuất, đầu tư cho con em học tập và tiếp tục đóng góp xây dựng các công trình chung. Bên cạnh đó, bà con còn chủ động giữ gìn vệ sinh môi trường, chỉnh trang nhà cửa, trồng hoa, cây xanh ven đường và trong khuôn viên gia đình, góp phần xây dựng cảnh quan sáng, xanh, sạch, đẹp.

    Các tiêu chí về văn hóa, xã hội cũng được quan tâm duy trì. 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường; 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia và nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Bản duy trì 14 tổ tự quản về an ninh trật tự. Nhân dân tích cực tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, cùng nhau giữ gìn an ninh trật tự và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

    Với sự lãnh đạo của Chi bộ, vai trò gương mẫu của đảng viên và tinh thần đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân, bản Khoa đang tiếp tục vun đắp những thành quả đã đạt được, hướng tới một bản nông thôn mới ngày càng sáng, xanh, sạch, đẹp, đời sống nhân dân ngày càng ấm no.

    Trần Hiền

    Nguồn https://baomoi.com/ban-tieu-bieu-nong-thon-moi-o-muong-chanh-c56000451.epi

  • Giải phóng mặt bằng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình đạt hơn 94%

    Trong số 1,8 nghìn ha thì đất nông nghiệp là 1.256 ha, đất ở 53,4 ha, đất khác hơn 531 ha. Các xã liên quan, trong đó có xã Gia Bình đã bàn giao toàn bộ mặt bằng cho nhà đầu tư cả phần đất nông nghiệp với diện tích khoảng 800 ha.

    Diện tích đất thuộc khu dân cư xã Gia Bình đã được bàn giao cho nhà đầu tư thi công hạ tầng.

    Cùng đó, các xã Nhân Thắng, Lương Tài, Lâm Thao, diện tích đất nông nghiệp liên quan đã bàn giao toàn bộ, hiện còn vướng mắc một phần đất ở. Có được kết quả này là do thời gian qua, Bắc Ninh dồn lực, tập trung cao cho công tác giải phóng mặt bằng; huy động lực lượng, thành lập các tổ tuyên truyền, các đội tiền phương thường trực, làm việc xuyên lễ, xuyên ngày nghỉ không quản khó khăn vất vả để hoàn thành các phần việc được giao.

    Ngoài ra, với tính chất là công trình trọng điểm quốc gia và yêu cầu phải đưa vào hoạt động phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027, do vậy, để tạo sự đồng thuận của Nhân dân nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, Trung ương và tỉnh đã ban hành nhiều chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ, giao đất tái định cư, giao đất có thu tiền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân; bồi thường, hỗ trợ và giao đất sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp; bồi thường, hỗ trợ, hoàn trả các công trình tôn giáo được xem xét, vận dụng tối đa và nhận được sự đồng thuận của Nhân dân, doanh nghiệp và tổ chức tôn giáo.

    Thời gian tới, các lực lượng tiếp tục phát huy kết quả đạt được, tập trung cao giải phóng mặt bằng phần diện tích còn lại; chú trọng xác minh nguồn gốc đất, chi trả bồi thường, khép hồ sơ, phấn đấu hoàn thành bàn giao toàn bộ mặt bằng vào cuối năm nay để nhà đầu tư thuận lợi hoàn thiện dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

    Trịnh Lan

    Nguồn https://baomoi.com/giai-phong-mat-bang-cang-hang-khong-quoc-te-gia-binh-dat-hon-94-c56000386.epi

  • Diễn đàn cử tri

    Cử tri các xã Tân Phong và Kim Bon kiến nghị: Nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ cho cán bộ, công chức đi làm qua sông (dài 20 km) từ xã Nam Phong cũ đi xã Tân Phong mới, đi đường đất dài trên 30 km từ nhà (xã Phù Yên) đi Tân Phong, Kim Bon, để cán bộ, công chức yên tâm công tác.

    UBND tỉnh trả lời: Hiện nay, Bộ Nội vụ đang tiếp tục nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ ban hành các quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức và người lao động khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp. Căn cứ các Nghị định của Chính phủ, UBND tỉnh sẽ kịp thời chỉ đạo Sở Nội vụ tham mưu cụ thể hóa phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh.

    Cử tri xã Tà Xùa kiến nghị: Chỉ đạo nâng cấp các trạm BTS của các nhà mạng, phủ sóng 4G, 5G tại các khu vực lõm sóng hiện nay: Bản Làng Sáng, Háng Đồng C.

    UBND tỉnh trả lời: Tại bản Háng Đồng C: có 01 vị trí trạm thông tin di động của Mobifone Sơn La (kết quả đo kiểm theo báo cáo số 412/BC-UBND ngày 31/12/2026 của UBND xã Tà Xùa tốc độ download (tải xuống) đối với mạng Vinaphone đạt 54,7Mbps-VNPT Roamming với Mobifone Sơn La). Tại bản Làng Sáng có 1 Trạm thông tin di động VNPT Sơn La (kết quả đo kiểm theo báo cáo số 412/BC-UBND ngày 31/12/2026 của UBND xã Tà Xùa tốc độ download (tải xuống) đối với mạng Vinaphone của VNPT đạt 65Mbps). Căn cứ kết quả đo kiểm dịch vụ, 2 bản Háng Đồng C và bản Làng Sáng không phải là bản Lõm sóng. Viettel Sơn La đã khảo sát thực tế xác định vị trí và thiết kế mã trạm SLA572-12 đảm bảo phủ sóng cho khu vực bản Làng Sáng, Háng Đồng C.

    Cử tri xã Đoàn Kết kiến nghị: Khảo sát, đánh giá và có phương án di dời 66 hộ gia đình thuộc xóm Xỳ Lỳ (cũ) sang nơi ở mới. Do xóm ở sườn đồi và có các khe suối chảy qua vào mùa mưa có nguy cơ sạt lở, lũ ống là rất lớn.

    UBND tỉnh trả lời: UBND tỉnh đã ban hành Báo cáo số 846/BC-UBND ngày 29/10/2025, 369/BC-UBND ngày 11/6/2026 và Tờ trình số 686/TTr-UBND ngày 30/10/2025 trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường hỗ trợ kinh phí thực hiện dự án; đồng thời đã trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy cập nhập dự án vào danh mục các dự án trong Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 19/01/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về “rà soát, sắp xếp, ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập úng trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2025 – 2030”; đã cập nhập vào danh mục dự án ưu tiên trong phụ lục báo cáo điều chỉnh quy hoạch tỉnh Sơn La thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 586/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 của UBND tỉnh.

    Cử tri xã Lóng Sập kiến nghị: Xem xét tăng mức phụ cấp đối với người trực tiếp tham gia hoạt động ở các bản. Do hiện nay do các xã sáp nhập lại nên khoảng cách đi lại giữa các bản đến trung tâm xã cách xa, đi lại khó khăn, vất vả (trên 50 km/chiều).

    UBND tỉnh trả lời: Ngày 26/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Hiện nay, Sở Nội vụ đang nghiên cứu, xây dựng dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh về chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố theo quy định của Nghị định, gửi xin ý kiến các cơ quan, đơn vị và đối tượng chịu sự tác động đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và quy định của pháp luật hiện hành.

    Quàng Hưởng (TH)

    Nguồn https://baomoi.com/dien-dan-cu-tri-c56000388.epi

  • Tìm phương án thống nhất tuyến cao tốc Vĩnh Long – Cần Thơ

    Đơn vị tư vấn thiết kế trình bày các hướng tuyến Dự án CT.33

    Lãnh đạo Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long cho biết, căn cứ quyết định 1088, ngày 30/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Dự án đường bộ cao tốc Vĩnh Long – Cần Thơ thuộc Dự án cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Vĩnh Long – Cần Thơ – Cà Mau (Dự án CT.33) có thay đổi hướng tuyến so với các quy hoạch trước đó. Đây là lí do, hai tỉnh cần thống nhất phương án tuyến trước khi tỉnh Vĩnh Long trình Bộ Xây dựng thực hiện các thủ tục đầu tư dự án tiếp theo.

    Tại buổi làm việc, đơn vị tư vấn Dự án CT.33 thông tin sơ bộ, chiều dài toàn tuyến 283km, chia thành 3 đoạn (TP. Hồ Chí Minh – Vĩnh Long; Vĩnh Long – Cần Thơ và Cần Thơ – Cà Mau), trong đó, đoạn Vĩnh Long – Cần Thơ dài 86,4km (qua tỉnh Vĩnh Long dài 62km, Cần Thơ dài 24,4km). Sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 47.472 tỷ đồng.

    Lãnh đạo đơn vị tư vấn thiết kế trình bày Dự án CT.33

    Lãnh đạo Sở Xây dựng TP. Cần Thơ góp ý tại cuộc làm việc

    Khi Dự án CT.33 đi qua địa bàn Cần Thơ sẽ kết nối với nhiều tuyến giao thông trọng điểm của thành phố và điểm cuối giao với cao tốc CT34; Dự án có khả năng đi qua Khu Công nghiệp Đại Ngãi, Khu dân cư và nhiều khu vực đất trồng lúa và nuôi trồng thủy sản…

    Trước thực tế đó, ngành chức năng TP. Cần Thơ kiến nghị tỉnh Vĩnh Long và đơn vị tư vấn thiết kế cần chi tiết hơn những điểm giao với những công trình giao thông trọng điểm hiện hữu của thành phố, nhằm tránh xung đột và bảo đảm việc đi lại thuận tiện cho người dân cũng như không mất quá nhiều diện tích đất khi thiết kế các nút giao thông.

    Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trần Chí Hùng phát biểu tại cuộc làm việc

    Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Trần Chí Hùng cho biết, UBND thành phố luôn sẵn sàng phối hợp với UBND tỉnh Vĩnh Long để sớm hoàn thành các thủ tục để Dự án CT.33 được các cấp có thẩm quyền phê duyệt triển khai dự án.

    Tuy nhiên, Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ đề nghị tỉnh Vĩnh Long và đơn vị tư vấn thiết kế nghiên cứu kỹ để dự án không đi qua các chùa của đồng bào dân tộc Khmer. Vị trí dự án cách Khu công nghiệp Đại Ngãi và cầu Đại Ngãi cho phù hợp. Đặc biệt, với những khu vực đất trồng lúa, nuôi trồng thủy sản nên ưu tiên cầu cạn, để không ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nông dân.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn phát biểu tại cuộc làm việc

    Riêng về phương án tuyến, Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ cho biết, sau khi sở, ngành họp bàn và trình với Thường trực Thành ủy về phương án tuyến do tỉnh Vĩnh Long đề xuất, UBND thành phố sẽ có văn bản thống nhất gửi UBND tỉnh Vĩnh Long trong thời gian sớm nhất.

    Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long và đơn vị tư vấn thiết kế dự án tiếp thu các góp ý của sở, ngành TP. Cần Thơ để có bản thiết kế về Dự án CT.33 chi tiết hơn.

    Lãnh đạo tỉnh Vĩnh Long cho rằng, lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Long rất quan tâm đến Dự án CT.33, vì đây là dự án quan trọng, giúp tỉnh Vĩnh Long hoàn chỉnh hạ tầng, kết nối giao thương thuận lợi với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tạo đà phát triển kinh tế – xã hội cho tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.

    Nguyễn Hành

    Nguồn https://baomoi.com/tim-phuong-an-thong-nhat-tuyen-cao-toc-vinh-long-can-tho-c56000279.epi

  • Các tòa nhà mới ven sông Hồng chiều cao phổ biến 30-45 tầng, một tháp Kỷ nguyên mới 109 tầng

    Phối cảnh Tháp Kỷ nguyên 109 tầng. (Nguồn: Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội).

    Cổng TTĐT TP Hà Nội vừa đăng tải thông tin về việc điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng (tỷ lệ 1/5000) để thực hiện dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Phạm vi nghiên cứu trải dài 40 km theo hướng tây bắc – đông nam, đi qua giữa đô thị trung tâm, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, thuộc địa giới hành chính 16 xã, phường của Thủ đô.

    Tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418 ha. Hiện trạng gồm 3.626 ha mặt nước (chiếm tỷ lệ 30% tổng diện tích), 5.741 ha đất sản xuất nông nghiệp (50%), 1.102 ha đất ở dân cư (10%) và khoảng 949 ha các chức năng khác (8%).

    Phạm vi quy hoạch có 123 công trình di tích, trong đó có 1 di tích xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố, 61 di tích chưa xếp hạng và 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến.

    Phương án điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng (tỷ lệ 1/5000) gồm 3 phân đoạn không gian, 18 dự án thành phần.

    Phân đoạn 1 (từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long) có diện tích khoảng 3.436 ha, dân số khoảng 160.000 người. Định hướng là khu vực tái thiết đô thị, cải tạo chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và thể dục thể thao.

    Phân đoạn 2 (từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì) có diện tích khoảng 4.548 ha, dân số khoảng 455.000 người. Đây là khu vực trọng tâm – “Phòng khách đô thị”, phát triển khu vực tái thiết đô thị tập trung, trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo, công trình điểm nhấn liên kết Hồ Tây – Cổ Loa.

    Phân đoạn 3 (từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở) có diện tích khoảng 3.435 ha, dân số khoảng 499.000 người. Khu vực tập trung các cụm công viên, phát triển đô thị (khu đô thị định cư và đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam), khu dịch vụ – thương mại, khu bảo tồn làng nghề Bát Tràng và các không gian nông nghiệp sinh thái.

    Hà Nội cho biết, Trục cảnh quan ven sông Hồng được xác định là không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông và phát triển đô thị. Tư duy phát triển thay đổi theo hướng: dự án là bước đột phá nhằm chuyển đổi từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, tạo diện mạo đô thị hiện đại, văn minh.

    Bên cạnh đó, áp dụng giải pháp “thích ứng lũ” hiện đại. Dự án tập trung vào việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều và duy trì khả năng thoát lũ của sông Hồng. Nguyên tắc cốt lõi là không thu hẹp không gian thoát lũ và không đề xuất giải pháp xây đê mới nằm trong đê cũ.

    Các công trình cảnh quan sử dụng module kiến trúc có thể tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang và vườn mưa giữ phù sa, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hệ thống đê điều. Phương án hướng tuyến đường bộ được lựa chọn bám sát hệ thống đê hiện hữu để tận dụng hạ tầng sẵn có và đảm bảo an toàn phòng chống lũ.

    Về diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông, đồ án đề xuất khoảng 3.900 ha, tăng so với mức giới hạn của Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình khoảng 2.128 ha.

    Về việc khai thác không gian, thực hiện theo 3 mức thềm địa hình. Trên 11,5 m là khu vực có thể xây dựng mới. Từ 9,5 – 11,5 m thì khai thác không gian linh hoạt, tổ chức công trình thích ứng, dân cư hiện có. Dưới 9,5 m thì khai thác theo hướng khu vực phục hồi sinh thái, giao thông chậm, cảnh quan đường dạo.

    Theo phương án quy hoạch, quy mô dân số dự báo từ 800.000 – 1.200.000 người. Chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng khoảng 55 m2/người. Chỉ tiêu sử dụng đất đơn vị ở khoảng 15 m2/người.

    Mật độ xây dựng gộp của khu dịch vụ – công cộng là 60%, nhóm nhà ở từ 35 – 40%, khu công viên chuyên đề 25%, khu công viên công cộng 5%.

    Tầng cao phổ biến từ 30 – 45 tầng. Với làng xóm truyền thống, dự kiến cao 3 tầng và sẽ được đánh giá theo tiêu chí cụ thể của từng dự án trong quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500.

    Công trình điểm nhấn và biểu tượng đô thị làTháp Kỷ nguyên cao 109 tầng. Theo thông tin từ Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội, vị trí Tháp Kỷ nguyên nằm ở khu vực chân cầu Tứ Liên, gần hồ Tây. 

    Di Anh

    Nguồn https://baomoi.com/cac-toa-nha-moi-ven-song-hong-chieu-cao-pho-bien-30-45-tang-mot-thap-ky-nguyen-moi-109-tang-c56000233.epi

  • Khánh Hòa siết kỷ luật tiến độ, phát “mệnh lệnh tháng 9” tháo gỡ điểm nghẽn dự án trọng điểm

    Theo báo cáo Sở Tài chính tỉnh Khánh Hòa, tính đến cuối tháng 8/2026, dù một số công trình động lực đã vượt kế hoạch giải ngân, mặt bằng chung toàn tỉnh vẫn ghi nhận nhiều dự án chậm tiến độ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những nghẽn mạch hạ tầng kỹ thuật và pháp lý quen thuộc như vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đất đai, giá đất, vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư và năng lực tổ chức thi công. Đáng chú ý, hàng loạt nhiệm vụ được UBND tỉnh giao hoàn thành trong tháng 7 và tháng 8 đến nay vẫn chưa dứt điểm, nguy cơ gây ách tắc dòng vốn đầu tư công năm 2026.

    Để siết chặt kỷ luật tài chính và công vụ, Sở Tài chính đã tham mưu UBND tỉnh chuyển toàn bộ các phần việc tồn đọng sang cơ chế kiểm soát chặt chẽ trong tháng 9. Điểm cốt lõi trong đề xuất này là thay đổi hoàn toàn phương thức đánh giá cán bộ: loại bỏ các báo cáo giải trình hay cam kết trên giấy, lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ, bàn giao mặt bằng, tạo khối lượng thi công và giải ngân làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng.

    Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất là giải phóng mặt bằng, Sở Tài chính đề nghị xác định rõ trách nhiệm của từng cấp điều hành. Trong đó, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh phải lập tiến độ chi tiết từng tuần cho từng trường hợp, xác định rõ: đã kiểm kê – đã xác nhận nguồn gốc – đã phê duyệt phương án – đã chi trả – đã bàn giao mặt bằng. Đồng thời, chịu trách nhiệm dứt điểm các dự án tồn đọng như Chỉnh trị hạ lưu sông Tắc (giai đoạn II), Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Tỉnh lộ 6 và bàn giao toàn bộ mặt bằng trong tháng 9.

    Đối với chính quyền cấp xã, phường như Nam Nha Trang, Bắc Nha Trang hay các xã Diên Điền, Diên Lạc, Suối Hiệp, lãnh đạo địa phương phải trực tiếp chỉ đạo hoàn thành 100% công tác xác nhận nguồn gốc đất, chi trả bồi thường và hoàn thiện thủ tục cưỡng chế đối với các trường hợp cố tình chống đối.

    Bên cạnh mặt bằng, bài toán chi phí và nguồn cung vật liệu xây dựng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị nghiệm thu và thanh toán cũng được đặt dưới sự theo dõi sát sao. Sở Tài nguyên và Môi trường được đề nghị đóng vai trò đầu mối tháo gỡ, phải giải quyết dứt điểm thủ tục giá đất bồi thường (như tuyến đường Lê Duẩn – đoạn 4) và cấp phép, nâng trữ lượng mỏ vật liệu phục vụ các dự án lớn như đường từ Quốc lộ 27C đi ĐT.656, đường ven biển Vạn Lương – Ninh Hòa ngay trong tháng 9.

    Một điểm mới mang tính đột phá trong đợt cao điểm này là sự phân định trách nhiệm vô cùng rõ ràng đối với từng nhóm chủ thể. Chủ tịch UBND các xã, phường chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ giải phóng mặt bằng tại địa phương; Giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất chịu trách nhiệm về quy trình nghiệp vụ; các chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tiến độ thi công, quản lý nhà thầu và giải ngân vốn; trong khi thủ trưởng các sở, ngành chuyên môn phải giải quyết đúng hạn các thủ tục pháp lý phát sinh.

    Cuối tháng 9/2026, UBND tỉnh sẽ tổ chức đánh giá kết quả dựa trên các sản phẩm cụ thể đo đếm được tại hiện trường. Đơn vị nào không hoàn thành nhiệm vụ, không đạt mốc thời gian, không có chuyển biến thực chất phải giải trình và chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh./.

    Lạc Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/khanh-hoa-siet-ky-luat-tien-do-phat-menh-lenh-thang-9-thao-go-diem-nghen-du-an-trong-diem-c56000231.epi

  • Cần bảo đảm tiến độ, môi trường khi thi công cống thoát nước Phùng Hưng

    UBND thành phố cũng yêu cầu Ban Quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên Đà Nẵng thực hiện đầy đủ các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong quá trình thực hiện dự án.

    Đồng thời có giải pháp hạn chế tối đa việc phát sinh nước thải, bùn đất, mùi hôi và các tác động bất lợi đến khu vực dân cư, môi trường biển và khu vực xung quanh trong quá trình thi công

    HOÀNG HIỆP

    Nguồn https://baomoi.com/can-bao-dam-tien-do-moi-truong-khi-thi-cong-cong-thoat-nuoc-phung-hung-c56000112.epi

  • Hiện trạng khu vực hồ Hoàn Kiếm được nghiên cứu chỉnh trang, tái thiết

    Thời gian lấy ý kiến từ ngày 7/9 đến hết ngày 26/9. UBND phường Hoàn Kiếm chủ trì, phối hợp UBND phường Cửa Nam tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư.

    Sơ đồ tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan hồ Hoàn Kiếm và khu vực lân cận có quy mô khoảng 63,72 ha.

    Theo phương án tổ chức không gian hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận đang được lấy ý kiến cộng đồng dân cư, phạm vi nghiên cứu thuộc địa bàn các phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam.

    Điểm đáng chú ý trong phương án lần này là không gian hồ Hoàn Kiếm được đặt trong một tổng thể rộng hơn, thay vì chỉ tập trung vào khu vực mặt nước và vườn hoa quanh hồ.

    Theo Sở Xây dựng Hà Nội, ý tưởng tổng thể là nghiên cứu tổ chức hồ Hoàn Kiếm như một quảng trường lớn – biểu tượng của Thủ đô, kết nối với quảng trường Cách mạng Tháng Tám và Nhà hát Lớn, qua đó hình thành một không gian liên hoàn mang tính “lịch sử – văn hóa – nghệ thuật”.

    Tại phía bắc hồ Hoàn Kiếm, quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục được nghiên cứu mở rộng, tăng kết nối với hồ này và không gian công viên – quảng trường phía đông. Phương án nghiên cứu bố trí công trình biểu tượng “Khải hoàn môn”, lấy cảm hứng từ đôi cánh chim hạc đang vươn lên, tạo điểm nhấn kết thúc trục đô thị khu phố cổ và mở ra trục không gian mới về phía Nam.

    Khu vực phía Đông hồ Hoàn Kiếm nghiên cứu hình thành hệ thống quảng trường, công viên tại khu vực UBND Thành phố, Vườn hoa Lý Thái Tổ, Bưu điện Hà Nội và tháp Hòa Phong.

    Bên cạnh đó, tổ chức lại không gian quanh đền Bà Kiệu; bố trí công trình tưởng niệm Liệt sĩ Thủ đô; tăng cường kết nối với khu vực Đinh Lễ – Tràng Tiền và các không gian thương mại, dịch vụ phù hợp.

    Một trong những nội dung có tác động lớn đến diện mạo khu vực hồ Hoàn Kiếm là việc nghiên cứu tái cấu trúc một số khu đất, công trình hiện hữu. Đáng chú ý, tại khu vực trụ sở UBND thành phố, phương án nghiên cứu bố trí một công trình mới cao 9 tầng, có 4 tầng hầm.

    Cùng với đó là nghiên cứu hạ giải trụ sở HĐND – UBND thành phố.

    Hiện trạng Rạp Khăn quàng đỏ và khối nhà Cung Thiếu nhi.

    Ba khối kiến trúc Pháp gồm Ấu trĩ viện, Kho bạc Đông Dương và Tòa Đốc lý được nghiên cứu giữ lại.

    Tại khu vực Bưu điện Hà Nội, phương án cũng nghiên cứu hạ giải một số công trình kiến trúc chưa phù hợp. Đồng thời, nghiên cứu giải pháp gợi nhắc, tái hiện hình ảnh, hình thái kiến trúc đặc trưng của Chùa Báo Ân cũ tại không gian trung tâm khuôn viên Bưu điện.

     Trong ảnh là khu vực trụ sở Báo và Nhà in Báo Hà Nội Mới.

    Và trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội tại số 2 Tràng Thi và một số khu vực lân cận cũng được đưa vào nghiên cứu tái cấu trúc, trong đó có phương án bố trí công trình khách sạn cao cấp.

    Đối với khu vực Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và phụ cận, Hà Nội nghiên cứu gắn kết hệ thống quảng trường, vườn hoa, bảo tàng và không gian kiến trúc cảnh quan phía Đông hồ Hoàn Kiếm.

    Các công trình xây dựng mới sẽ phải được kiểm soát chặt chẽ về vị trí, tầng cao, hình khối, kiến trúc và trục nhìn, không che chắn các trục nhìn quan trọng, không làm suy giảm giá trị của các công trình lịch sử, văn hóa.

    Hiện trạng phố Tràng Tiền nhìn từ hướng bờ hồ Hoàn Kiếm về Nhà Hát Lớn.

    Về giao thông, Hà Nội nghiên cứu đồng bộ hệ thống giao thông mặt đất với không gian ngầm, kết nối hồ Hoàn Kiếm, Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và các khu vực phát triển mới.

    Tại các khu vực quảng trường, công viên, phương án dự kiến bố trí từ 3-3,5 tầng hầm, kết nối với ga ngầm C9 theo mô hình TOD, phục vụ giao thông, bãi đỗ xe, thương mại, dịch vụ, văn hóa và các chức năng công cộng phù hợp.

    Nguyễn Hữu Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/hien-trang-khu-vuc-ho-hoan-kiem-duoc-nghien-cuu-chinh-trang-tai-thiet-c56000090.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!