Author: bachdn

  • Nghị quyết 295: Mở hướng xử lý kết luận, kiến nghị tồn đọng

    Việc xử lý các kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán tồn đọng là cơ hội rà soát, hoàn thiện cơ chế pháp lý để nâng cao tính khả thi trong thực hiện. Ảnh: TL

    4 nhóm nguyên nhân khiến 15.200 tỷ đồng tồn đọng

    Theo báo cáo tổng hợp từ các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương, tổng số tiền thuộc các kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán tồn đọng kéo dài đến thời điểm báo cáo là khoảng 15.200 tỷ đồng. Số liệu này được phân chia chi tiết thành 4 nhóm nguyên nhân chính.

    Nhóm thứ nhất là các kết luận, kiến nghị truy thu thuế và các khoản thu nộp ngân sách nhà nước không có khả năng thực hiện khoảng 759,2 tỷ đồng do cơ quan, đơn vị phá sản, giải thể hoặc cá nhân đã chết, mất năng lực hành vi dân sự.

    Nhóm thứ hai là các kết luận, kiến nghị thu hồi khoản chi sai quy định, giảm trừ thanh toán, thu hồi tạm ứng, ứng trước không còn khả năng thực hiện khoảng 126 tỷ đồng. Nguyên nhân là do cơ quan, đơn vị phá sản, giải thể đã thực hiện các quy định pháp luật về phá sản, hoặc cá nhân đã chết, mất năng lực hành vi dân sự nhưng không có tài sản bao gồm cả tài sản thừa kế để thực hiện.

    Nhóm thứ ba bao gồm các kết luận, kiến nghị chưa thực hiện được khoảng 9.970 tỷ đồng do vướng mắc cơ chế, chưa có văn bản hướng dẫn, vướng mắc thủ tục, căn cứ pháp lý để hoàn trả hoặc do đơn vị, cá nhân đang gặp khó khăn chưa bố trí được nguồn hoàn trả.

    Nhóm thứ tư là các kết luận, kiến nghị khác khoảng 4.400 tỷ đồng phát sinh do sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp cần rà soát xác định lại chủ thể hoặc số liệu, cùng các kiến nghị đang tiếp tục thực hiện.

    Như vậy, nhìn vào cơ cấu số tiền tồn đọng, có thể thấy, phần lớn các kết luận, kiến nghị kiểm toán chưa thực hiện được là do vướng mắc từ cơ chế, chính sách. Những vướng mắc này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có cơ chế xử lý phù hợp.

    Vướng mắc từ thực tiễn và sự cần thiết ban hành cơ chế

    Bộ Tài chính cho biết, tại cuộc họp ngày 08/9/2026 do Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng giao Bộ Tài chính chủ trì, Kiểm toán nhà nước (KTNN) cơ bản nhất trí về sự cần thiết phải có cơ chế xử lý. Thực tế hiện nay có khoảng 10% kiến nghị kiểm toán không có khả năng thực hiện do nguyên nhân bất khả kháng. Trong khi Luật Quản lý thuế đã có cơ chế xóa nợ thuế, Luật KTNN lại chưa có quy định xử lý đối với việc thực hiện kiến nghị trong các trường hợp bất khả kháng, phá sản, giải thể hoặc tử vong. Các nội dung chi sai, tạm ứng, ứng trước không thu hồi được theo kiến nghị của KTNN cần làm rõ đối tượng thực hiện để có cơ chế xử lý.

    Thanh tra Chính phủ cũng nhất trí với việc xây dựng cơ chế xử lý do Luật Thanh tra hiện chưa có quy định cho các trường hợp không còn khả năng thực hiện. Thực tế cần bóc tách rõ giữa nhóm không còn khả năng thực hiện và nhóm cố tình không thực hiện để quy trách nhiệm. Do việc sáp nhập, hợp nhất, sắp xếp bộ máy nên nhiều kết luận của cơ quan thanh tra không còn người theo dõi, xử lý. Thanh tra Chính phủ đang rà soát khoảng 6.000 kết luận thanh tra chuyên ngành còn vướng mắc, đồng thời dự thảo trình Chính phủ Nghị quyết quy định việc sửa đổi, bổ sung kết luận, kiến nghị thanh tra.

    Bộ Tư pháp đề nghị làm rõ vướng mắc cụ thể ở quy định nào nếu cần sửa đổi để đưa vào kiến nghị.

    Giải pháp tháo gỡ căn cơ

    Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ và KTNN thống nhất rằng bên cạnh nguyên nhân khách quan thì còn có nguyên nhân chủ quan do các đối tượng chậm thực hiện, sắp xếp tổ chức bộ máy. Để xử lý vấn đề một cách căn cơ, cần tiến hành rà soát, sửa đổi các luật chuyên ngành như Luật Thanh tra và Luật KTNN.

    Đối với các khoản truy thu thuế và thu khác thuộc phạm vi cơ quan thuế, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trong đó, khoản 1 Điều 21 đã quy định cho phép xóa nợ thuế đối với các kết luận, kiến nghị truy thu không còn khả năng thực hiện.

    Đối với các kết luận thanh tra thu nộp khác, giảm chi thu hồi nộp ngân sách nhà nước do chi sai quy định, giảm trừ thanh toán, thu hồi tạm ứng, ứng trước, trong khi chưa sửa Luật Thanh tra, Chính phủ đã chỉ đạo Thanh tra Chính phủ xây dựng, trình Chính phủ ban hành 1 Nghị quyết quy định sửa đổi, bổ sung kết luận của thanh tra nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện kết luận thanh tra (Dự thảo Nghị quyết đang gửi lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp). Đối với các kiến nghị của KTNN về nội dung này, KTNN đã thống nhất với Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu bổ sung cơ chế xử lý khi sửa đổi Luật KTNN.

    KTNN đang đánh giá, tổng kết thực hiện Luật KTNN năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và sửa đổi Luật KTNN. 1 trong 17 nhóm vấn đề định hướng lớn trong sửa đổi, bổ sung Luật KTNN là phân loại rõ kết luận, kiến nghị kiểm toán: Một là những kiến nghị liên quan đến sai sót của đơn vị được kiểm toán thì có giá trị bắt buộc thực hiện; còn những kiến nghị mang tính chất khuyến nghị, tư vấn cho đơn vị được kiểm toán sẽ do cơ quan cấp có thẩm quyền và thủ trưởng đơn vị được kiểm toán xem xét quyết định có thực hiện hay không.

    Đối với các kết luận, kiến nghị chưa được thực hiện do sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp, vướng mắc về cơ chế, thủ tục, căn cứ pháp lý, chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện các kết luận, kiến nghị khác, KTNN và Thanh tra Chính phủ căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao tiếp tục đôn đốc phối hợp với các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương thực hiện theo quy định.

    Việc xử lý các kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán tồn đọng không chỉ nhằm giải quyết những khoản “nợ cũ” kéo dài qua nhiều năm, mà còn là cơ hội rà soát, hoàn thiện cơ chế pháp lý để nâng cao tính khả thi trong thực hiện. Một cơ chế rõ ràng, đầy đủ về thẩm quyền, trách nhiệm và cách thức xử lý phù hợp sẽ giúp phân định rạch ròi giữa những vướng mắc khách quan và hành vi chậm, không thực hiện. Đây cũng là giải pháp căn cơ để bảo đảm các kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán được thực hiện kịp thời, đúng quy định.

    Trên cơ sở tổng hợp ý kiến và các phương án xử lý nêu trên, Chính phủ giao Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hoàn thiện nội dung, tổng hợp toàn bộ giải pháp xử lý các kết luận, kiến nghị còn tồn đọng kéo dài vào Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội xem xét, quyết định.

    THÙY ANH – CHU THỊ NGÁT

    Nguồn https://baomoi.com/nghi-quyet-295-mo-huong-xu-ly-ket-luan-kien-nghi-ton-dong-c56220604.epi

  • TP HCM công khai loạt căn hộ đã bán cho người nước ngoài

    Sở Xây dựng TP HCM vừa công khai thông tin về việc Công ty TNHH CapitaLand Thanh Niên ký hợp đồng mua bán nhà ở cho cá nhân nước ngoài tại dự án chung cư kết hợp thương mại dịch vụ Sensation, đường Nguyễn Văn Hưởng, phường An Khánh.

    Theo thông tin được công bố, trong đợt đầu, chủ đầu tư đã ký hợp đồng mua bán 57 căn hộ cho cá nhân nước ngoài. Lũy kế đến nay, số căn hộ CapitaLand Thanh Niên bán cho khách ngoại là 57 căn, trên tổng số 81 căn hộ được phép bán cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại dự án. 

    Như vậy, chủ đầu tư đã sử dụng khoảng 70% hạn mức căn hộ được phép bán cho khách ngoại tại dự án Sensation.

    Theo văn bản của Sở Xây dựng TP HCM, xác định CapitaLand Thanh Niên vẫn đảm bảo việc bán nhà đúng số lượng theo quy định.

    Tuy nhiên, cơ quan quản lý yêu cầu doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của các thông tin đã công bố. Đồng thời, chủ đầu tư phải đảm bảo việc bán nhà đúng đối tượng và đúng điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đối với cá nhân nước ngoài.

    Vừa qua, một số dự án cũng được Sở Xây dựng công khai thông tin về số lượng nhà ở đã ký hợp đồng mua bán với cá nhân nước ngoài trong thời gian gần đây.

    Cụ thể, trong tháng 9/2026, cơ quan này công bố thông tin chủ đầu tư ký hợp đồng mua bán nhà ở cho cá nhân nước ngoài tại chung cư Chánh Nghĩa Quốc Cường – Block Sky.A, phường Thủ Dầu Một, TP HCM.

    Cùng thời gian, Sở này cũng thông tin được công bố tại Dự án cao ốc phức hợp – căn hộ chung cư Hoàng Kim Thế Gia, số 31 đường Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông đã đủ điều kiện bán cho người nước ngoài.

    Ngoài ra, Sở Xây dựng cũng đã công khai phụ lục thông tin về việc bán nhà cho cá nhân nước ngoài tại dự án Lô M6, Khu phố Phú Mỹ Hưng – Midtown và dự án chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ Z2, số 02 đường 60-TML, phường Cát Lái.

    Theo tìm hiểu, trước đó, UBND TP HCM đã công bố đợt 11 về danh sách các dự án nhà ở thương mại đủ điều kiện bán cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tính đến tháng 8/2026, toàn thành phố có 148 dự án nhà ở thương mại được phép bán nhà cho khách hàng quốc tế. 

    Theo quy định của Luật Nhà ở 2023, tổ chức, cá nhân nước ngoài được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam nhưng phải tuân thủ giới hạn về số lượng. Đối với căn hộ chung cư, tổng số lượng căn hộ mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư.

    Đối với nhà ở riêng lẻ, số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại một khu vực có quy mô dân số tương đương một đơn vị hành chính cấp phường không quá 250 căn.

    Núi Thành

    Nguồn https://baomoi.com/tp-hcm-cong-khai-loat-can-ho-da-ban-cho-nguoi-nuoc-ngoai-c56220238.epi

  • Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực II: Xuất cấp kịp thời, bảo đảm an toàn nguồn lực dự trữ quốc gia

    Chủ động, đúng quy trình về xuất, nhập và đấu giá gạo dự trữ

    Thực hiện Quyết định số 391/QĐ-CDT ngày 28/8/2026 của Cục Dự trữ Nhà nước (DTNN) về việc phê duyệt kế hoạch bán đấu giá gạo dự trữ quốc gia thuộc chỉ tiêu kế hoạch xuất năm 2026, Chi cục DTNN khu vực II đã nhanh chóng xây dựng phương án giá bán đấu giá gạo nhập kho năm 2025 cho 36 đơn vị tài sản đấu giá, với tổng khối lượng 12.387,69 tấn gạo. Kết quả mở phiên đấu giá vào ngày 17/9/2026, đợt 1 có 21 đơn vị tài sản đấu giá thành công với khối lượng 7.381,99 tấn gạo, đạt 60% so với kế hoạch. Chi cục DTNN khu vực II tiếp tục tổ chức bán đấu giá và hoàn thành 100% kế hoạch trong quý IV/2026.

    Trong công tác đấu thầu, đấu giá sự minh bạch và tính chuẩn xác trong các khâu nghiệp vụ được đơn vị đặt lên hàng đầu. Chi cục DTNN khu vực II đã tổ chức lựa chọn đơn vị bán đấu giá, giám sát các phiên đấu giá công khai, ký kết hợp đồng với các đơn vị trúng đấu giá và triển khai xuất kho bảo đảm đúng thủ tục, quy định pháp luật.

    Chi cục trưởng Chi cục Dự trữ nhà nước khu vực II Nguyễn Minh Trí kiểm tra công tác bảo quản hàng dự trữ quốc gia tại các điểm kho. Ảnh: Đức Minh

    Chi cục DTNN khu vực II cũng đã hoàn thành việc lập dự toán, tổ chức đấu thầu qua mạng gói thầu thuê nhân công phục vụ công tác xuất bán gạo DTQG năm 2026, thực hiện đóng/mở thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu đúng tiến độ vào ngày 16/9/2026. Mọi công đoạn đều tuân thủ chặt chẽ Luật Dự trữ quốc gia, Luật Đấu giá tài sản (và các luật sửa đổi, bổ sung), cùng các thông tư hướng dẫn hiện hành.

    Điểm sáng nổi bật trong công tác xuất cấp hàng hóa DTQG là trong 2 ngày (26 và 27/8/2026), Chi cục DTNN khu vực II đã hoàn thành xuất kho, áp tải và bàn giao hơn 696 tấn gạo DTQG hỗ trợ học sinh học kỳ I năm học 2026 – 2027 (đợt 1) đến 21 xã, phường (52 điểm trường) trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và TP. Đồng Nai, bảo đảm đúng đối tượng, đủ số lượng và trước thời hạn.

    Nhấn mạnh tinh thần làm việc khẩn trương của tập thể cán bộ, công chức, ông Nguyễn Minh Trí – Chi cục trưởng Chi cục DTNN khu vực II cho biết: “Ngay sau khi có Quyết định phân bổ từ Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân TP. Đồng Nai, đơn vị đã khẩn trương xây dựng kế hoạch, thành lập Tổ giao nhận và tập trung lực lượng triển khai Đợt 1. Đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo cùng chính quyền các địa phương để thống nhất lịch trình chi tiết, đảm bảo gạo hỗ trợ đến đúng đối tượng và đúng thời gian quy định”.

    Ông Nguyễn Minh Trí chia sẻ thêm, mặc dù địa bàn phân bổ rộng và thời gian gấp rút, đơn vị đã huy động tối đa nhân lực, tổ chức bốc xếp, áp tải làm việc tăng ca xuyên đêm. Toàn bộ lượng gạo trước khi xuất kho đều được kiểm tra chất lượng, lấy mẫu phân tích nghiêm ngặt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, bảo đảm tuyệt đối về tiêu chuẩn và khối lượng khi trao tới tay địa phương.

    Siết chặt quản lý, bảo quản an toàn tuyệt đối hàng hóa dự trữ quốc gia

    Bên cạnh nhiệm vụ xuất cấp, công tác bảo quản hàng hóa DTQG tại các Điểm kho luôn được chú trọng hàng đầu. Lãnh đạo đơn vị đã thường xuyên đôn đốc, kiểm tra định kỳ tại 3 Điểm kho thuộc Chi cục, bảo đảm toàn bộ hàng hóa lưu kho luôn đạt chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật quy định.

    Đơn vị đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao về công tác bảo quản hàng hóa DTQG như: kiểm tra, giám sát chất lượng gạo nhập kho năm 2026; nghiệm thu gói thầu mua sắm giá kê đa năng; hoàn thiện gói thầu mua khí Nitơ phục vụ bảo quản lần đầu; kiểm tra Thiết bị phóng dây cứu hộ trước khi hết hạn bảo hành để tổng hợp báo cáo Cục Dự trữ Nhà nước.

    Trong quý III/2026, Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực II đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm được giao. Dù khối lượng công việc lớn và yêu cầu thời gian khắt khe, đơn vị vẫn bảo đảm quản lý an toàn, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài sản, hàng hóa dự trữ quốc gia.

    Cùng với công tác chuyên môn, công tác an ninh, an toàn kho tàng luôn được duy trì ở mức cao nhất. Đơn vị đã chủ động xây dựng phương án phòng, chống khủng bố tại các Điểm kho dự trữ ĐK3.KV2, ĐK4.KV2, ĐK6.KV2; lập phương án ứng phó thiên tai theo cấp độ rủi ro; thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy, phòng chống lụt bão và bảo vệ an toàn tuyệt đối toàn bộ tài sản, hàng hóa trong dịp Lễ 2/9/2026.

    Đánh giá về công tác quản trị và bảo vệ an toàn kho tàng, lãnh đạo Chi cục DTNN khu vực II khẳng định, đơn vị luôn xác định nhiệm vụ giữ gìn an toàn tài sản, vật tư, tiền vốn của Nhà nước là ưu tiên hàng đầu. Đồng thời thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra định kỳ, duy trì chế độ trực phòng chống thiên tai, cháy nổ 24/7 và đảm bảo quản lý, sử dụng nguồn kinh phí giải ngân đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả theo đúng quy định pháp luật.

    Phấn đấu hoàn thành kế hoạch năm 2026

    Bước sang Quý IV/2026, Chi cục DTNN khu vực II đặt quyết tâm cao độ để hoàn thành 100% kế hoạch năm được Cục DTNN giao. Đơn vị tiếp tục tập trung triển khai xuất bán đấu giá gạo nhập kho năm 2025, ký kết hợp đồng với các khách hàng trúng đấu giá và thực hiện ký hợp đồng với đơn vị trúng thầu gói thuê nhân công xuất bán.

    Đặc biệt, trong công tác xuất cấp gạo hỗ trợ học sinh, Chi cục chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan xuất cấp Đợt 2 với hơn 475 tấn gạo DTQG (TP. Đồng Nai gần 445 tấn và Trường Dự bị Đại học TP. Hồ Chí Minh là 30 tấn). Đơn vị cam kết hoàn thành việc xuất cấp trước thời hạn quy định.

    Song song đó, Chi cục tổ chức kiểm tra định kỳ Quý IV/2026 tại 3 Điểm kho; thực hiện xét hao hụt gạo sau xuất kho; lập dự toán kinh phí kiểm định, sửa chữa, mua sắm công cụ dụng cụ phục vụ công tác nhập, xuất, bảo quản năm tiếp theo.

    Với tinh thần chủ động, kỷ cương và trách nhiệm, tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, người lao động Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực II quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao cả năm 2026.

    Đức Minh

    Nguồn https://baomoi.com/chi-cuc-du-tru-nha-nuoc-khu-vuc-ii-xuat-cap-kip-thoi-bao-dam-an-toan-nguon-luc-du-tru-quoc-gia-c56220118.epi

  • Quyết liệt, chủ động để kiến nghị không ‘nằm trên giấy’

    KTNN chủ động, quyết liệt đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị kiểm toán. Ảnh: N.LY

    Vẫn còn kiến nghị tồn đọng kéo dài

    Theo báo cáo của KTNN, tính đến ngày 31/7/2026, đối với các kiến nghị của niên độ ngân sách năm 2024 bằng đồng nội tệ, tổng số tiền xử lý tài chính và kiến nghị khác đã thực hiện đạt 29.942,1 tỷ đồng, tương đương 72,96% tổng số kiến nghị. Đây là mức tăng trưởng đột phá lên tới 52,06% so với cùng kỳ năm 2025 (thời điểm 31/7/2025, tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 20,9%). Đối với các kiến nghị bằng ngoại tệ, tổng giá trị đã thực hiện đạt 111,58 triệu USD, tương đương 86,33% tổng số kiến nghị.

    Không chỉ ở niên độ gần nhất, công tác thu hồi, xử lý tài chính tồn đọng từ các niên độ ngân sách năm 2023 trở về trước cũng ghi nhận kết quả tích cực khi 7 tháng đầu năm 2026 đã thực hiện thêm 4.360,84 tỷ đồng, nâng tổng số đã thực hiện từ trước đến nay lên 526.414,28 tỷ đồng, tương đương 90,94% tổng số kiến nghị sau điều chỉnh.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo của KTNN cũng cho thấy, tính đến ngày 31/7/2026, với niên độ 2024, toàn Ngành vẫn còn 11.097,17 tỷ đồng (chiếm 27,04%) và 17,66 triệu USD (chiếm 14%) chưa được thi hành. 

    Đối với các niên độ từ năm 2023 trở về trước, số tiền tồn đọng kéo dài chưa thực hiện lên tới 52.424,66 tỷ đồng. Trong đó, có tới 30.052,82 tỷ đồng (chiếm 57,33%) xuất phát trực tiếp từ đơn vị được kiểm toán gặp khó khăn về tài chính, dừng hoạt động, giải thể, phá sản, thiếu hồ sơ chứng từ thanh quyết toán hoặc cố tình trì hoãn.

    Theo KTNN khu vực I (phụ trách địa bàn Hà Nội và Sơn La), tính đến ngày 20/9/2026, dù tỷ lệ thực hiện kiến nghị niên độ 2025 của đơn vị đạt 89,2% (riêng xử lý tài chính đạt 97,3%), nhưng tổng số tiền kiến nghị còn tồn đọng lũy kế từ trước tới nay chưa thực hiện tại các địa phương vẫn ở mức rất lớn, đạt 7.798 tỷ đồng. Cụ thể, kiến nghị xử lý tài chính là 4.594 tỷ đồng và kiến nghị khác là 3.204 tỷ đồng; trong đó tập trung phần lớn tại TP. Hà Nội với 7.416 tỷ đồng, tỉnh Sơn La 334 tỷ đồng và các Tổng công ty trên địa bàn Hà Nội 48 tỷ đồng.

    KTNN khu vực I chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu khiến các kiến nghị khó giải quyết trong nhiều năm:

    Một là, đối tượng phải thực hiện kiến nghị là bên thứ ba ngoài khu vực ngân sách nhà nước, vượt ngoài tầm quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương. Điển hình như cuộc kiểm toán chuyên đề quản lý, sử dụng đất trong và sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2017 tồn đọng 903 tỷ đồng; hay Dự án Khu đô thị mới Dương Nội còn tồn đọng 539 tỷ đồng từ phía chủ đầu tư.

    Hai là, nhiều kiến nghị gắn với các đơn vị quận, huyện từ nhiều năm trước nay đã kết thúc hoạt động, giải thể hoặc hợp nhất sau khi thực hiện chính quyền 2 cấp, dẫn đến việc bàn giao tài liệu bị thất lạc, vướng mắc trong xác định chủ thể kế thừa nghĩa vụ.

    Ba là, các kiến nghị dạng giao địa phương rà soát, xác định lại có giá trị tạm tính phụ thuộc hoàn toàn vào tiến độ phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành hoặc tiến độ xác định giá đất cụ thể của chính quyền địa phương.

    Thực tiễn kiểm toán tại KTNN khu vực XII (phụ trách địa bàn Đồng Nai, Lâm Đồng) cũng cho thấy, việc chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tác động trực tiếp đến tiến độ thực hiện kiến nghị kiểm toán, nhất là trong giai đoạn đầu. Một số sở, ngành, đơn vị cấp huyện chấm dứt hoạt động, hợp nhất hoặc thay đổi chức năng; cán bộ phụ trách được điều chuyển, trong khi hồ sơ và nghĩa vụ thực hiện phải chuyển sang cơ quan kế thừa. Nếu không xác định kịp thời đầu mối chịu trách nhiệm, rất dễ phát sinh tâm lý chờ đợi, đùn đẩy hoặc làm gián đoạn quá trình thực hiện kiến nghị.

    Nhiều biện pháp mạnh để xử lý kiến nghị tồn đọng

    Nhằm chấm dứt tình trạng kiến nghị kiểm toán kéo dài, không được thực hiện hay né tránh trách nhiệm sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, KTNN đã ban hành Thông tư số 01/2026/TT-KTNN quy định chi tiết quy trình theo dõi, đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong đó, quy định rõ cơ chế phối hợp và xác định chủ thể chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sau sáp nhập, chia tách, hợp nhất, đồng thời thiết lập kỷ cương theo dõi chặt chẽ từ khâu phát hành báo cáo đến khi xử lý dứt điểm.

    Một trong những biện pháp được lãnh đạo KTNN yêu cầu triển khai ngay trong năm 2026 là công khai danh sách các tổ chức, đơn vị, cá nhân chậm thực hiện hoặc cố tình trì hoãn không thực hiện kiến nghị kiểm toán trên Cổng thông tin điện tử của KTNN và các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng thời, kết quả thực hiện kiến nghị sẽ được báo cáo công khai trước Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Hai.

    Đối với các trường hợp cố tình vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu tội phạm, KTNN sẽ áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và tài sản nhà nước.

    Đối với các trường hợp cố tình vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu tội phạm, KTNN sẽ áp dụng xử phạt vi phạm hành chính theo Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KTNN, chuyển cho cơ quan điều tra xem xét, xử lý hình sự hoặc thông báo cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để khởi kiện vụ án dân sự nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và tài sản nhà nước.

    Theo KTNN khu vực I, cần nâng cao chất lượng kiến nghị ngay từ khâu kiểm toán theo nguyên tắc “4 rõ”, gồm rõ đối tượng, rõ nội dung, rõ căn cứ và rõ tính khả thi. Mọi phát hiện kiểm toán phải chỉ rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân và địa chỉ thực hiện cụ thể. Bên cạnh đó, thống nhất thời hạn thực hiện kiến nghị trong toàn Ngành từ 3 – 6 tháng kể từ khi phát hành báo cáo kiểm toán.

    Hết thời hạn quy định, các kiến nghị thu hồi nộp ngân sách do chi sai chế độ nếu không thực hiện sẽ bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra. Đồng thời, tăng cường đối thoại trực tiếp, tổ chức hội thảo giải đáp vướng mắc với địa phương.

    Với các kiến nghị kiểm toán không có khả năng thực hiện do các nguyên nhân bất khả kháng về mặt pháp lý và thực thể, hay những vướng mắc phát sinh từ việc sáp nhập chính quyền địa phương 2 cấp khiến cơ quan cũ chấm dứt tồn tại mà không bàn giao được chủ thể kế thừa, KTNN đã có Văn bản góp ý Dự thảo Tờ trình Chính phủ của Bộ Tài chính về việc xây dựng cơ chế xử lý chung đối với các kết luận thanh tra, kiến nghị kiểm toán không còn khả năng thực hiện.

    Theo ông Mai Văn Tân – Phó Kiểm toán trưởng KTNN khu vực XII, đối với các kiến nghị tồn đọng do doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngừng hoạt động, hoặc không còn tài sản để thi hành, cần cơ chế xử lý thống nhất, quy định rõ: Tiêu chí xác định trường hợp thực sự không còn khả năng thực hiện, hồ sơ chứng minh, trình tự xác minh, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan. Việc đưa kiến nghị ra khỏi danh sách theo dõi chỉ nên được thực hiện sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu hồi, xác định chính xác nguyên nhân khách quan và loại trừ hành vi né tránh hoặc hợp thức hóa sai phạm.

    Siết chặt kỷ luật hành chính, xử lý nghiêm các vi phạm cố ý bằng chế tài phù hợp, đồng thời khơi thông thể chế đối với những trường hợp khách quan, bất khả kháng sẽ tạo nên một cơ chế thực thi nghiêm minh, thực chất. Đây là nền tảng để các kiến nghị kiểm toán được thực hiện đầy đủ, khắc phục từ gốc những lỗ hổng trong quản lý, ngăn ngừa thất thoát, lãng phí, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính công, tài sản công./.

    THÙY LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/quyet-liet-chu-dong-de-kien-nghi-khong-nam-tren-giay-c56220449.epi

  • Hà Nội: Quyết liệt xử lý vi phạm về đất đai

    Các địa phương ở Hà Nội đang quyết liệt xử lý công trình vi phạm pháp luật về đất đai. Ảnh: G.B

    Ông Đào Đức Minh – Chủ tịch UBND xã Phù Đổng cho biết, xã vừa tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch tổ chức cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với các trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại các thôn Cống Thôn, Ninh Hiệp, Tế Xuyên, Xuân Dục và Đình Vỹ.

    Các khu vực được rà soát gồm đất nông nghiệp, đất công ích do UBND xã quản lý và đất bãi bồi ven sông. Tổng diện tích rà soát vi phạm là 135.250m2, trong đó đất công 85.120m2, đất nông nghiệp 50.130m2, với 36 vị trí vi phạm. Các hành vi chủ yếu là tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chiếm đất công, tự ý xây dựng công trình, hình thành các khu vực sản xuất, kinh doanh, bến bãi khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Tại khu vực Bãi Đầm, thôn Cống Thôn, 31 vị trí đã được lập biên bản vi phạm hành chính; 21 vị trí áp dụng biện pháp ngừng cung cấp điện, song phần lớn các trường hợp vẫn chưa khắc phục triệt để. Hiện UBND xã đã lập phương án cưỡng chế chia làm 3 đợt với quyết tâm xong trước ngày 10/10.

    Tại xã Quốc Oai, ông Nguyễn Trường Sơn – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã thông báo, UBND xã đã lên phương án xử lý 33 trường hợp vi phạm đất đai tại khu vực bãi Phượng Cách, Sơn Trung. Trong số này có 19 trường hợp thuê thầu đất công và 14 trường hợp tự ý xây dựng công trình trên đất nông nghiệp, đất công. Trong 19 trường hợp thuê thầu đất công, có 1 trường hợp vẫn còn thời hạn thực hiện dự án. 18 trường hợp còn lại đã hết thời hạn thuê thầu, UBND xã đã ban hành các thông báo yêu cầu thu dọn tài sản, tháo dỡ công trình, trả lại mặt bằng; tổ chức thanh lý hợp đồng và nhiều lần tuyên truyền, vận động các hộ tự giác chấp hành. Đến nay, vẫn còn 12 trường hợp chưa di chuyển tài sản và chưa tự giác tháo dỡ nhà xưởng. UBND xã đang lập biên bản vi phạm hành chính, hoàn thiện hồ sơ để xử lý theo quy định.

    Ông Trần Văn Sơn – Phó Chủ tịch UBND xã Phú Nghĩa cho biết, xã vừa áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với hộ ông Nguyễn Duy Tiến (thôn Yên Trường 2) và hộ ông Nguyễn Văn Quang (thôn Đồi 2). Cụ thể, hộ ông Nguyễn Duy Tiến đã chiếm 531,9m2 đất trồng lúa và 100,6m2 đất do nhà nước quản lý; xây dựng nhà xưởng kiên cố diện tích 632,5m2 với nền bê tông, tường gạch, cột thép, mái và vách tôn… Còn hộ ông Nguyễn Văn Quang tự ý chuyển đất trồng lúa sang đất ở; xây dựng phần móng nhà ở diện tích 140,63m2 bằng bê tông cốt thép, tường gạch cao khoảng 2,5m khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Thời điểm tổ chức cưỡng chế, 2 hộ vi phạm đã chấp hành quyết định cưỡng chế và phối hợp với lực lượng chức năng tháo dỡ công trình, di chuyển tài sản theo phương án đã được phê duyệt.

    Tại xã Kim Anh, từ tháng 4/2026 đến nay đang nóng lên với câu chuyện nhiều villa, homestay, khu nghỉ dưỡng, biệt thự xây dựng trên đất rừng. Sự việc được Thành ủy, UBND TP Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội… có những chỉ đạo cụ thể, yêu cầu xử lý nghiêm sai phạm.

    Ông Nguyễn Văn Toàn – Phó Chủ tịch UBND xã Kim Anh xác nhận thực tế trên địa bàn xã tồn tại không ít công trình vi phạm trên đất rừng. UBND xã Kim Anh cũng vừa tiến hành tổ chức cưỡng chế 4 trường hợp vi phạm về xây dựng trên địa bàn thôn Thái Vụ. Trong số này có Solara Đồng Đò với 475m2 xây dựng phải phá dỡ gồm: Nhà 1 tầng, nhà cấp 4, bể bơi, nhà 2 tầng 1 tum, cổng sắt. Homestay Huy Hoàng với 12 hạng mục thuộc diện cưỡng chế, trong đó có 9 công trình khung sắt, bể bơi, sân bê tông…

    Theo ông Toàn, 4 công trình trên vi phạm một trong các lỗi sau: Chuyển đất rừng phòng hộ sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; hủy hoại đất khi thay đổi độ dốc bề mặt (cào cỏ bề mặt, cải tạo ao vườn, san gạt sạt lở).

    Đại tá Nguyễn Đức Long – Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội cho biết, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã khởi tố 2 vụ án và 7 bị can liên quan đến các sai phạm về mua bán, lấn chiếm đất rừng phòng hộ, về các hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ. Trong đó, ông Nguyễn Văn Thắng (chủ công trình Solara Đồng Đò) và bà Phạm Thị Thanh Bình (chủ Homestay Huy Hoàng) bị khởi tố về hành vi “đưa hối lộ”. Một cá nhân khác là Trịnh Văn Thanh bị khởi tố về tội “môi giới hối lộ”. Bên cạnh đó, cơ quan Công an cũng đã khởi tố 3 đối tượng nhận hối lộ, gồm: Lê Văn Tuấn (cựu cán bộ Đội Quản lý trật tự xây dựng huyện Sóc Sơn cũ), Đoàn Trung Kiên và Nguyễn Quốc Sơn (cùng là cựu cán bộ thuộc Hạt Kiểm lâm số 4, Chi cục Kiểm lâm TP Hà Nội).

    Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội cho biết, trong thời gian tới, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ các hành vi vi phạm của các chủ đất cũng như là các tổ chức, cá nhân khác trên khu vực rừng phòng hộ Sóc Sơn.

    Khắc Hạnh

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-quyet-liet-xu-ly-vi-pham-ve-dat-dai-c56220248.epi

  • Lâm Đồng tìm cách tháo điểm nghẽn giải ngân vốn chương trình mục tiêu quốc gia

    Năm 2026, Lâm Đồng triển khai 28 nhiệm vụ trọng tâm thuộc 3 chương trình MTQG gồm Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đến nay, 22 nhiệm vụ đã hoàn thành, 6 nhiệm vụ còn lại đang được triển khai.

    Điểm đáng chú ý là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn năm 2026 vẫn ở mức rất thấp. Trong tổng số hơn 820 tỷ đồng được phân bổ, mới có khoảng 26 tỷ đồng được giải ngân. Vốn đầu tư phát triển mới đạt dưới 4%, trong khi vốn sự nghiệp chỉ khoảng 1,5%.

    Với nguồn vốn chuyển tiếp từ năm 2025, tình hình có khả quan hơn nhưng vẫn còn khoảng cách lớn giữa các chương trình. Chương trình Xây dựng nông thôn mới mới giải ngân khoảng 26%, Giảm nghèo bền vững khoảng 18%, còn chương trình Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt hơn 40%.

    Chương trình Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt hơn 40% (Ảnh: TTXVN)

    Việc giải ngân chậm không chỉ ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành kế hoạch vốn mà còn tác động trực tiếp đến tiến độ các công trình hạ tầng, sinh kế và những chính sách hỗ trợ người dân tại khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nếu không được xử lý kịp thời, nguồn lực đã bố trí có nguy cơ không chuyển hóa thành các kết quả phát triển thực tế trong năm 2026.

    Theo đánh giá của ngành chức năng, một phần nguyên nhân đến từ các dự án tồn đọng, phức tạp kéo dài từ giai đoạn trước; nguồn vốn dôi dư chưa được xử lý; cùng với tác động của việc sắp xếp đơn vị hành chính. Bên cạnh đó, nguồn vốn năm 2026 mới được giao khiến một số địa phương còn phải hoàn thiện thủ tục, điều chỉnh danh mục và kiện toàn bộ máy thực hiện.

    Trong bối cảnh thời gian còn lại của năm không nhiều, Lâm Đồng yêu cầu tập trung xử lý các dự án còn vướng mắc thay vì tiếp tục dàn trải nguồn lực. Những công trình chưa quyết toán phải được khẩn trương hoàn thành; các dự án còn vướng thủ tục cần được tháo gỡ sớm để tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi, đẩy nhanh thi công và giải ngân.

    Đối với nguồn vốn không còn đối tượng thực hiện, các địa phương phải rà soát thực chất để xác định nhu cầu điều chỉnh. Những trường hợp vướng do quy định chồng chéo hoặc cách hiểu khác nhau cần được chỉ rõ để phân công cơ quan chủ trì xử lý, tránh tình trạng vốn đã được bố trí nhưng không thể triển khai.

    Nguồn vốn MTQG được kỳ vọng tạo thêm động lực phát triển sản xuất, cải thiện sinh kế người dân (Ảnh: C.H)

    Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo các chương trình MTQG tỉnh Lâm Đồng ngày 7/10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Phúc yêu cầu các địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp phải làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm và cam kết tiến độ cụ thể.

    Đồng thời, Phó Chủ tịch UBND cũng yêu cầu rà soát thực chất các tiêu chí nông thôn mới, ưu tiên những nội dung tạo tác động trực tiếp đến đời sống, sản xuất và sinh kế người dân. Cách tiếp cận này giúp nguồn lực MTQG không chỉ được giải ngân đúng hạn mà còn hướng vào những công trình, chính sách có khả năng tạo hiệu quả kinh tế – xã hội rõ rệt và hỗ trợ phát triển bền vững ở cơ sở.

    Một thay đổi đáng chú ý trong phương thức quản lý là Lâm Đồng sẽ chuyển từ việc chủ yếu tổng hợp báo cáo giấy sang cập nhật tiến độ trên hệ thống IOC theo tuần, theo tháng. Dữ liệu về từng địa phương, từng nguồn vốn và tiến độ thực hiện sẽ được theo dõi thường xuyên hơn, qua đó giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm điểm nghẽn và xử lý thay vì chờ đến kỳ báo cáo mới đánh giá.

    Việc số hóa theo dõi chương trình MTQG cũng mở thêm dư địa nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong sử dụng nguồn lực công. Khi tiến độ được cập nhật thường xuyên, việc đánh giá không chỉ dựa trên số tiền đã giải ngân mà có thể gắn với tiến độ công trình, đối tượng thụ hưởng và kết quả thực tế tại địa phương.

    Các nhiệm vụ còn lại của năm 2026 vì vậy được yêu cầu triển khai theo hướng rõ người, rõ việc, rõ tiến độ. Kết quả thực hiện cũng được gắn với đánh giá, thi đua của các đơn vị, địa phương, tạo thêm áp lực hoàn thành đối với những nơi có tỷ lệ giải ngân thấp.

    Cao Hiếu

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-tim-cach-thao-diem-nghen-giai-ngan-von-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-c56220089.epi

  • Sớm hoàn thiện những mái ấm nghĩa tình

    Đại diện Ban chỉ huy Quân sự xã Tây Giang và chính quyền địa phương thăm, tặng quà cho gia đình được hỗ trợ xây mới nhà ở trong chương trình. Ảnh: NA HUYNH

    Theo sát tiến độ từng căn nhà

    Toàn thành phố hiện vẫn còn 34 căn nhà trong chương trình chưa thể về đích đúng kế hoạch. Khảo sát thực tế cho thấy, mặt bằng tái định cư, khả năng cung ứng vật liệu và nhân lực hỗ trợ là những bài toán nan giải nhất.

    Tại xã Tây Giang, việc tạo dựng mặt bằng bị gián đoạn do ảnh hưởng của các đợt sạt lở đất, buộc nhiều hộ phải di dời khẩn cấp. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Tây Giang cho biết, quy trình chuẩn bị hạ tầng khu tái định cư kéo dài nên đến tháng 8 và tháng 9/2026 mới có đất bàn giao cho người dân. Đến nay, vẫn còn trường hợp vướng mặt bằng hoặc phải chờ hoàn thiện nền đất khu tái định cư mới có thể sửa chữa, xây mới. Sau khi giải quyết xong mặt bằng, thời tiết vùng cao mưa nhiều cùng việc một số gia đình chủ động huy động thêm kinh phí để mở rộng quy mô, xây nhà kiên cố hơn mức hỗ trợ ban đầu tiếp tục khiến thời gian thi công bị kéo dài.

    Công an xã Tây Giang và các lực lượng quân sự, dân quân tham gia xóa nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ thuộc chương trình. Ảnh: Công an xã Tây Giang

    Ở xã Sông Kôn, trở ngại lớn nhất lại nằm ở bài toán vật tư và lực lượng hỗ trợ tại chỗ. Ông Pơloong Jốp, Phó Chủ tịch UBND xã Sông Kôn chia sẻ, trên địa bàn hoàn toàn không có mỏ cát, sạn; việc chuyên chở từ nơi khác về khiến chi phí đội lên đáng kể. Mặt khác, lực lượng dân quân sinh sống phân tán tại các thôn xa, các đoàn thể dù rất nhiệt tình nhưng chỉ có thể giúp đỡ vận chuyển trong vài ngày chứ khó duy trì lực lượng liên tục suốt nhiều tuần liền.

    Trong khi đó, ông Nguyễn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Thu Bồn phản ánh, trong số 6/21 nhà đang còn dang dở, có trường hợp chủ hộ đau ốm phải nhập viện điều trị, cùng với phong tục chọn ngày khởi công của bà con khiến tiến độ xây dựng bị chững lại. Tương tự, tại xã Lãnh Ngọc, đại diện Ban Chỉ huy Quân sự xã cho hay, các hộ cơ bản đã cam kết tập kết vật liệu, nhưng để kịp tiến độ sửa chữa thì vẫn rất cần sự hỗ trợ chặt chẽ về khâu thi công.

    Đại tá Đinh Văn Hưng, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố yêu cầu phải đẩy nhanh tiến độ xóa nhà tạm tương tự “Chiến dịch Quang Trung” trước đây. Ảnh: T.CÔNG

    Từ thực tế trên, Đại tá Đinh Văn Hưng, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố lưu ý, việc chăm lo cho gia đình người có công không thể dừng lại ở việc giao kinh phí rồi để người dân tự xoay xở. Nhiều trường hợp nằm trong chương trình có hoàn cảnh hết sức éo le, nếu thiếu sự hỗ trợ về nhân lực và tổ chức thi công sẽ ảnh hưởng đến tiến độ lẫn chất lượng công trình. Do đó đề nghị UBND các xã làm đầu mối, có thể giúp đỡ gia đình kết nối nguồn vật liệu, mời thợ có tay nghề, huy động lực lượng phụ giúp và vận động xã hội hóa thêm các trang thiết bị sinh hoạt thiết yếu để khi trao chìa khóa nhà, gia đình được hỗ trợ có thể ổn định cuộc sống ngay. Tiến độ thực hiện phải được đẩy nhanh tương tự “chiến dịch Quang Trung” trước đây.

    Chung sức chạy đua với thời gian

    Tại cuộc họp đánh giá tiến độ triển khai Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học trên địa bàn thành phố, tổ chức sáng 7/10, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi, Trưởng ban Chỉ đạo chương trình yêu cầu các cấp, ngành và địa phương phải hành động với quyết tâm cao nhất. Đồng thời lưu ý, dù các xã đã có cam kết tiến độ cụ thể, nhưng nếu không chủ động phương án ứng phó với mưa bão thì nguy cơ trễ hẹn là rất lớn. Vì vậy, mốc thời gian phải được bám sát. Toàn bộ các căn nhà còn lại phải hoàn thành dứt điểm, bàn giao trước ngày 22/12/2026.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Anh Thi chủ trì cuộc làm việc liên quan đến tiến độ triển khai chương trình. Ảnh: T.CÔNG

    Để kiểm soát tiến độ, Phó Chủ tịch UBND thành phố thống nhất với đề xuất của Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố về việc thiết lập nhóm điều hành trực tuyến kết nối lãnh đạo thành phố, các sở, ngành và từng xã, phường có nhà đang xây dựng, để các vướng mắc phát sinh được theo dõi, chỉ đạo tháo gỡ kịp thời.

    Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố khẳng định sẵn sàng kết nối, điều động bộ đội về các địa bàn thực sự khó khăn để trực tiếp hỗ trợ nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công. Các ngôi nhà khi bàn giao phải bảo đảm chất lượng theo hướng dẫn của Sở Xây dựng. Cùng với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách và Quỹ “Vì người nghèo”, các địa phương tiếp tục kêu gọi sự chung tay của doanh nghiệp, nhà hảo tâm đóng góp thêm ngày công, vật liệu để tăng quy mô và chất lượng cho từng căn nhà.

    THÀNH CÔNG

    Nguồn https://baomoi.com/som-hoan-thien-nhung-mai-am-nghia-tinh-c56220074.epi

  • Hà Nội bước vào một thời đại mới sau ngày 10/10/1954

    Buổi sáng 10/10/1954, những đoàn quân tiến vào Hà Nội giữa rừng cờ hoa và tiếng reo mừng của người dân. Nhưng khi những bước chân đầu tiên của đoàn quân chiến thắng đặt xuống các con phố, một nhiệm vụ mới cũng bắt đầu: xây dựng lại một thành phố vừa đi qua chiến tranh, trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của miền Bắc trong một thời đại hoàn toàn khác.

    Trước hết, Hà Nội phải nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường. Đây là một nhiệm vụ không hề đơn giản. Sau nhiều năm chiến tranh và thời gian dài nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp, thành phố cần khôi phục hệ thống hành chính, giao thông, điện, nước, y tế, trường học và các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Công cuộc tiếp quản đã được chuẩn bị từ trước với yêu cầu đặc biệt là giữ cho bộ máy đô thị không bị gián đoạn. Ngày 10/10, lực lượng tiếp quản đã tiếp nhận an toàn 129 công sở, công trình công cộng, xí nghiệp, bệnh viện và trường học. Chỉ ít ngày sau, các hoạt động của thành phố từng bước trở lại bình thường.

    Ngày 4/11/1954, Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội được thành lập, do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch. Đây là một bước quan trọng trong quá trình chuyển từ cơ chế quân quản sang quản lý hành chính thành phố. Đến ngày 1/1/1955, Hà Nội tổ chức lễ chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ trở về Thủ đô. Thành phố từ đây thực sự trở thành trung tâm chính trị của một miền Bắc bước vào thời kỳ hòa bình và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Áp-phích cổ động phát triển nông nghiệp ở bờ hồ Gươm, Hà Nội cuối thập niên 1950. Ảnh: Rév Miklós.

    Nhưng Hà Nội sau năm 1954 không chỉ khôi phục những gì đã có. Thành phố bắt đầu được tổ chức lại theo những mục tiêu phát triển mới. Một trong những thay đổi lớn nhất diễn ra trong lĩnh vực kinh tế. Nếu trước đó Hà Nội chủ yếu là một đô thị thương mại, dịch vụ và hành chính với nền công nghiệp còn hạn chế, thì trong những năm sau giải phóng, công nghiệp được chú trọng xây dựng. Các khu vực phía Nam và phía Tây thành phố dần hình thành những cơ sở công nghiệp, trong khi nhiều cơ sở sản xuất được khôi phục và mở rộng.

    Sự thay đổi ấy cũng làm biến đổi diện mạo xã hội của Hà Nội. Những khu nhà tập thể bắt đầu xuất hiện, đáp ứng nhu cầu nhà ở của cán bộ, công nhân và người lao động. Phúc Tân, Mai Hương, An Dương rồi Kim Liên, Nguyễn Công Trứ trở thành những địa danh gắn với một kiểu kiến trúc và đời sống đô thị mới. Những khu tập thể không chỉ giải quyết vấn đề nhà ở mà còn tạo nên những cộng đồng cư dân mới, với trường học, cửa hàng, sân chơi và các không gian sinh hoạt chung.

    Nếu những khu tập thể làm thay đổi không gian sống thì giáo dục lại góp phần thay đổi cấu trúc trí thức của thành phố. Sau năm 1954, Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục đại học quan trọng hàng đầu của miền Bắc. Nhiều trường đại học được xây dựng hoặc phát triển, cung cấp đội ngũ cán bộ, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên và nhà nghiên cứu cho công cuộc xây dựng đất nước. Thành phố dần mang thêm một diện mạo mới: không chỉ là nơi đặt các cơ quan trung ương mà còn là một đô thị của trường học, viện nghiên cứu và những khu công nghiệp mới.

    Cùng với kinh tế và giáo dục, văn hóa cũng bước vào một giai đoạn mới. Ngay sau khi tiếp quản, một trong những nhiệm vụ được đặt ra là mở lại trường học, phát triển văn hóa, văn nghệ và đưa các hoạt động này phục vụ đông đảo quần chúng. Rạp chiếu phim, chợ, cửa hàng và các không gian công cộng nhanh chóng trở lại nhịp sống. Những hình ảnh tư liệu về Hà Nội cuối năm 1954 cho thấy một thành phố đang tìm lại nhịp sinh hoạt bình thường sau chiến tranh.

    Ngã tư Tràng Tiền – Hàng Bài bên bờ hồ Gươm, Hà Nội cuối thập niên 1950. Ảnh: Rév Miklós.

    Một biến đổi có ý nghĩa lâu dài khác là cách Hà Nội bắt đầu được nhìn nhận như một đô thị cần được quy hoạch cho tương lai. Năm 1954, thành phố có diện tích khoảng 152 km², với khoảng 370.000 người ở nội thành và 160.000 người ở ngoại thành. Trong những năm tiếp theo, vấn đề mở rộng không gian đô thị, phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư, trường học và hạ tầng ngày càng trở nên cấp thiết. Quốc hội sau đó quyết định mở rộng Hà Nội lên 584 km² với dân số khoảng 910.000 người.

    Đây là dấu hiệu cho thấy Hà Nội không còn chỉ được xây dựng như một thành phố hiện hữu mà bắt đầu được hình dung như một đô thị của tương lai. Những khu tập thể, các trục đường mới, trường đại học, nhà máy và những công trình công cộng dần tạo nên một Hà Nội khác với thành phố của những năm trước 1954. Đến năm 1959, trong quá trình nghiên cứu quy hoạch Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu phải có quy hoạch trước, tránh tình trạng làm rồi lại phá đi. Những nghiên cứu quy hoạch sau đó đặt mục tiêu phát triển Hà Nội với quy mô lớn hơn, dân số đông hơn và cấu trúc đô thị hiện đại hơn.

    Tuy nhiên, thời đại mới của Hà Nội không phải là một thời kỳ hoàn toàn yên bình. Sau năm 1954, thành phố vừa xây dựng trong hòa bình, vừa đứng trước những biến động lớn của đất nước. Khi cuộc chiến tranh chống Mỹ diễn ra, Hà Nội vừa là trung tâm chính trị của miền Bắc, đồng thời là một trung tâm kinh tế và hậu phương quan trọng phục vụ cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Thành phố phải nhiều lần sơ tán dân cư, phân tán các cơ sở sản xuất nhưng đồng thời vẫn duy trì hoạt động của một thủ đô thời chiến.

    Vì thế, nhìn lại sau ngày 10/10/1954, có thể thấy sự kiện giải phóng không đơn thuần là sự kết thúc của một giai đoạn quân sự. Nó mở đầu cho một quá trình chuyển đổi toàn diện: từ một thành phố vừa thoát khỏi chiến tranh trở thành thủ đô của một miền Bắc hòa bình; từ một đô thị có quy mô tương đối nhỏ trở thành thành phố được quy hoạch và mở rộng; từ một trung tâm hành chính, thương mại cũ trở thành nơi tập trung công nghiệp, giáo dục, khoa học và văn hóa.

    Hà Nội của hôm nay với những đại lộ, khu đô thị, trường đại học, viện nghiên cứu và những khu phố cổ xen giữa các công trình hiện đại có thể khiến người ta khó hình dung diện mạo thành phố năm 1954. Nhưng giữa hai Hà Nội ấy tồn tại một sợi dây liên tục. Ngày 10/10 đã mở ra không chỉ một trang mới trong lịch sử chính trị của Thủ đô, mà còn là điểm khởi đầu của một cuộc biến đổi đô thị kéo dài nhiều thập niên. Từ một thành phố vừa được giải phóng, Hà Nội từng bước trở thành một đô thị hiện đại của một đất nước đang thay đổi và hành trình ấy vẫn tiếp tục cho đến hôm nay.

    ———————–

    Tài liệu tham khảo:

    Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ tiếp quản (7/1954–1/1/1955) / Báo Nhân Dân

    Hình thái hai chính quyền ở Hà Nội trong những năm đầu giải phóng (1954–1960) / Báo Nhân Dân

    Quy hoạch Hà Nội hướng tới thành phố xanh, văn hiến, văn minh, hiện đại / Báo Xây Dựng.

    Xem video: Điện hóa xích lô du lịch Hà Nội có mất đi một ‘hồn phố’?

    Thanh Bình

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-buoc-vao-mot-thoi-dai-moi-sau-ngay-10-10-1954-c56220072.epi

  • Chuẩn bị kỹ để sửa Luật Kiểm toán Nhà nước

    Nhận diện nhiều điểm nghẽn pháp lý

    Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và chỉ đạo của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), tính đến 30/6/2026, KTNN đã hoàn thành rà soát 42 văn bản thuộc phạm vi quản lý. Danh mục này bao gồm 1 luật của Quốc hội; 1 pháp lệnh, 2 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 10 thông tư và 27 quyết định của Tổng KTNN và 1 thông tư liên tịch.

    Tại Tọa đàm lấy ý kiến đối với kết quả tổng rà soát VBQPPL trong lĩnh vực xây dựng, KTNN khu vực miền Nam do Bộ Tư pháp tổ chức mới đây, Phó Trưởng phòng Vụ Pháp chế (KTNN) Bùi Thanh Thủy thông tin, KTNN đã nhận diện 13 nội dung tại 7 văn bản chưa thể chế hóa kịp thời các đường lối, chủ trương mới của Đảng liên quan đến kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phân cấp, phân quyền; phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát.

    Qua rà soát 42 văn bản, KTNN phát hiện nhiều điểm nghẽn. Ảnh minh họa: N. Lộc

    Bên cạnh đó, có 3 nội dung tại 2 văn bản không phù hợp với Hiến pháp năm 2013, tập trung vào việc bổ sung nguồn lực công vào đối tượng kiểm toán và mở rộng phạm vi đơn vị được kiểm toán đối với các chủ thể có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, các đơn vị khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản.

    Đáng chú ý, KTNN đã phát hiện 59 nội dung tại 15 văn bản còn mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với hàng loạt đạo luật liên quan như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thanh tra… Đồng thời, 26 nội dung tại 13 văn bản có quy định chưa rõ ràng, dễ gây cách hiểu khác nhau và khó bảo đảm tính khả thi, nổi bật là các quy định về căn cứ ban hành quyết định kiểm toán, mối quan hệ giữa thanh tra và kiểm toán, việc xử lý các kiến nghị kiểm toán không thể thực hiện, cũng như chế độ đãi ngộ đối với kiểm toán viên nhà nước.

    Ngoài ra, đợt rà soát cũng chỉ ra 5 nội dung, lĩnh vực còn khoảng trống pháp lý hoặc cần nâng tầm điều chỉnh bằng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, tiêu biểu như quy định xử lý trường hợp phải tạm dừng cuộc kiểm toán vì lý do bất khả kháng, giải thích thuật ngữ “có điều kiện thi hành”, hay quy định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến dữ liệu điện tử.

    Từng bước hoàn thiện khung pháp lý

    Trước những bất cập trên, KTNN đề xuất bước đầu xử lý 15 văn bản; trong đó sửa đổi, bổ sung 6 văn bản và thay thế toàn bộ 9 văn bản. Việc xử lý những bất cập trên sẽ theo lộ trình.

    Theo đó, trong năm 2026, KTNN dự kiến ban hành các thông tư sửa đổi, thay thế liên quan đến quy trình kiểm toán, lập và duyệt báo cáo kiểm toán, danh mục hồ sơ, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, cũng như lập kế hoạch kiểm toán năm và trung hạn. Đến năm 2027, KTNN sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết quy định chế độ đối với cán bộ, công chức KTNN và Nghị quyết về Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

    Bước sang 2028, trọng tâm là hoàn thiện hồ sơ sửa đổi Luật Kiểm toán Nhà nước, dự kiến trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua tại kỳ họp đầu năm. Song song với đó, KTNN sẽ tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KTNN và xây dựng quy trình kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.

    Giai đoạn 2029 – 2030, KTNN dự kiến trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KTNN sửa đổi, bổ sung, đồng thời ban hành đồng bộ các văn bản dưới luật thuộc thẩm quyền của Tổng KTNN theo quy định mới.

    Khẳng định hoàn thiện pháp luật về KTNN là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và lâu dài, bà Bùi Thanh Thủy nhấn mạnh, KTNN không chỉ cần “kiểm toán đúng, phát hiện đúng và kiến nghị đúng”, mà còn phải có khuôn khổ pháp lý đủ mạnh để bảo đảm thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt là xử lý triệt để kết quả tổng rà soát, chuẩn bị kỹ lưỡng cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn cho việc sửa đổi Luật Kiểm toán Nhà nước cũng như xây dựng hệ thống văn bản dưới luật đồng bộ, minh bạch.

    Tại cuộc họp ngày 1/10, Tổng Kiểm toán Nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết, việc sửa đổi Luật Kiểm toán Nhà nước nhằm tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho đổi mới hoạt động kiểm toán và thể chế hóa Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2035, tầm nhìn 2045.Các định hướng sửa đổi tập trung vào vị thế, vai trò và chức năng giám sát của Kiểm toán nhà nước; đối tượng và kế hoạch kiểm toán; phân cấp, phân quyền; bảo vệ kiểm toán viên; kiểm toán trên môi trường số; kiểm soát chất lượng, quản trị rủi ro và thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.Dự kiến trong tháng 10, định hướng sửa đổi Luật sẽ được trình Ban Chấp hành Đảng bộ Kiểm toán nhà nước, làm cơ sở xây dựng dự thảo Luật.

    Minh Châu

    Nguồn https://baomoi.com/chuan-bi-ky-de-sua-luat-kiem-toan-nha-nuoc-c56220096.epi

  • Ngôi nhà dành một khoảng rỗng chạy suốt chiều dài để đón nắng gió

    Thay vì tận dụng tối đa diện tích để xây kín, một phần không gian được chủ động để trống. Khoảng rỗng nằm giữa khối phòng ngủ phía trên và khu vực sinh hoạt gia đình phía dưới, tạo nên vùng chuyển tiếp kết nối hai phần của ngôi nhà.

    Hệ lưới sắt bao quanh được sử dụng để bảo đảm an toàn, đồng thời trở thành nơi cây xanh có thể phát triển. Nhờ đó, khoảng trống không tách khỏi sinh hoạt mà hiện diện như một phần của không gian sống.

    Về vi khí hậu, khoảng rỗng đóng vai trò vùng đệm giữa trong và ngoài nhà. Kết hợp với lợi thế hai mặt thoáng chính nằm ở hướng đón gió mát, không gian này hỗ trợ đối lưu không khí theo cả phương ngang và phương đứng, đồng thời đưa ánh sáng tự nhiên vào các khu vực bên trong.

    Khoảng trống cũng được sử dụng cho những hoạt động thường ngày. Gia chủ có thể đọc sách, uống trà bên bộ trường kỷ Huế cũ hoặc sử dụng như một khu vực bán ngoài trời khi gia đình sum họp. Cây xanh vì thế vừa tham gia điều tiết môi trường sống, vừa tạo phông nền cho những khoảng nghỉ trong ngày.

    Bên cạnh giải pháp tạo khoảng rỗng, nhiều đồ gỗ từ ngôi nhà cũ được tiếp tục sử dụng trong không gian mới. Việc giữ lại những món đồ quen thuộc giúp căn nhà đáp ứng nhu cầu mới mà không loại bỏ hoàn toàn những dấu vết của đời sống trước đó.

    Thay vì coi phần diện tích không xây dựng là sự mất đi, ngôi nhà sử dụng chính khoảng trống này để đổi lấy ánh sáng, thông gió, cây xanh và thêm không gian cho các hoạt động của gia đình. Việc “bớt” diện tích sử dụng vì thế lại mang đến nhiều giá trị hơn cho môi trường sống bên trong.

    Thúy Hiền

    Nguồn https://baomoi.com/ngoi-nha-danh-mot-khoang-rong-chay-suot-chieu-dai-de-don-nang-gio-c56220108.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!