Author: bachdn

  • NHCSXH Đồng Nai còn tồn tại, sai sót trong hoạt động cho vay

    Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 (NHNN) thông báo kết luận thanh tra đối với Ngân hàng Chính sách Xã hội TP Đồng Nai (NHCSXH Đồng Nai), qua đó chỉ ra những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế.

    Ngân hàng Chính sách Xã hội (ảnh minh họa: markettimes).

    Kết luận thanh tra cho thấy, HNCSXH Đồng Nai còn tồn tại, sai sót trong hoạt động cho vay như, thu thập hồ sơ đề nghị vay vốn, thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm tra giám sát vốn vay, xử lý nợ, gia hạn nợ và công tác kiểm soát nội bộ chưa kịp thời phát hiện những tồn tại, sai sót trong hoạt động cho vay.

    Kết luận thanh tra có 8 kiến nghị, trong đó có yêu cầu Hội sở NHCSXH chỉ đạo NHCSXH Đồng Nai thực hiện việc chấn chỉnh những tồn tại, sai sót được nêu tại kết luận thanh tra và yêu cầu NHCSXH Đồng Nai chấn chỉnh, khắc phục, chỉnh sửa, bổ sung đối với các tồn tại, sai sót từng nội dung được nêu tại kết luận thanh tra.

    Bên cạnh những tồn tại, hạn chế, kết luận thanh tra cũng nêu những ưu điểm mà NHCSXH Đồng Nai đã đạt được.

    Cụ thể, trong thời kỳ thanh tra, thông qua các chương trình tín dụng dành cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác, NHCSXH Đồng Nai đã giúp người dân tiếp cận nguồn vốn sản xuất với chi phí thấp, qua đó tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và từng bước thoát nghèo bền vững.

    KLTT NHCSXH.

    Bên cạnh đó, nguồn vốn tín dụng chính sách góp phần thu hút, tạo việc làm, hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn trang trải chi phí học tập, xây dựng các công trình cấp nước sạch, nhà vệ sinh nông thôn, nhà ở xã hội và giúp cho người chấp hành xong án phạt tù được vay vốn.

    Quách Dương

    Nguồn https://baomoi.com/nhcsxh-dong-nai-con-ton-tai-sai-sot-trong-hoat-dong-cho-vay-c55853811.epi

  • Khởi công xây dựng công trình cần điều kiện gì?

    Luật sư Lê Hiếu – Đoàn Luật sư TP Hà Nội tư vấn:

    Căn cứ khoản 1 Điều 48 Luật Xây dựng 2025 về điều kiện khởi công xây dựng công trình có quy định:

    “Điều 48. Điều kiện khởi công xây dựng công trình

    1. Việc khởi công xây dựng công trình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

    a) Có mặt bằng xây dựng để bàn giao toàn bộ hoặc từng phần;

    b) Có giấy phép xây dựng theo quy định tại Điều 43 của Luật này;

    c) Có thiết kế bản vẽ thi công của phần công trình, hạng mục công trình, công trình khởi công đã được phê duyệt;

    d) Chủ đầu tư đã giao kết hợp đồng xây dựng với nhà thầu thực hiện các hoạt động xây dựng liên quan đến công trình được khởi công theo tiến độ thi công xây dựng;

    đ) Chủ đầu tư đã gửi thông báo khởi công xây dựng bằng văn bản hoặc trực tuyến (trừ công trình nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân) đến cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương”.

    Đồng thời, căn cứ Điều 12 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng như sau:

    “Điều 12. Điều kiện khởi công xây dựng công trình

    1. Việc khởi công xây dựng công trình phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, trừ các công trình quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 48 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15.

    2. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư công trình quy định tại khoản 1 Điều này phải gửi thông báo khởi công xây dựng trực tiếp, thông qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tuyến tới cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương theo mẫu thông báo khởi công quy định tại Phụ lục V Nghị định này. Sau khi tiếp nhận, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương có trách nhiệm cập nhật các dữ liệu cần thiết tại thông báo khởi công vào cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.

    3. Việc bàn giao toàn bộ hoặc một phần mặt bằng xây dựng trước khi khởi công xây dựng công trình thực hiện theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng trong hợp đồng xây dựng, trừ công trình nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân”.

    Như vậy, để khởi công xây dựng công trình thì chủ đầu tư phải đáp ứng các điều kiện nêu trên.

    T.Thương – Quốc Anh

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-cong-xay-dung-cong-trinh-can-dieu-kien-gi-c55853890.epi

  • Quảng Trị cần hơn 2.450 tỷ đồng giải ‘cơn khát’ nước sạch vùng cao

    Bài 1: Quảng Trị – Nguồn nước vùng cao cạn kiệt, công trình nước sinh hoạt tự chảy mất tác dụng

    Do thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô, nhiều xã miền núi ở Quảng Trị đã đề xuất xây mới và sửa chữa nhiều công trình nước sạch tự chảy. Ảnh: Phạm Tiến

    Có giải pháp cấp nước sinh hoạt nhưng thiếu nguồn lực

    Thiếu nước sinh hoạt kéo dài buộc chính quyền các xã miền núi phải tìm giải pháp ngay từ cơ sở. Nhiều phương án được đưa ra như sửa công trình nước tự chảy hư hỏng, tìm nguồn nước mới, khoan giếng.

    Tại Kim Điền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Trị đã hỗ trợ 2 tỷ đồng sửa chữa công trình nước ở bản Hóa Lương. Đây là giải pháp cấp bách nhằm khôi phục khả năng cấp nước cho người dân trong mùa khô.

    Tuy nhiên, đây chưa phải giải pháp khắc phục triệt để tình trạng thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô ở Kim Điền. Ngoài bản Hóa Lương, Kim Điền còn nhiều thôn, bản thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô.

    Ở xã miền núi Dân Hóa, hiện có 11 công trình nước sạch tự chảy bị hư hỏng do thiên tai, không còn sử dụng được. Ảnh: Phạm Tiến

    Ông Đinh Anh Tuấn – Phó Chủ tịch UBND xã Kim Điền – cho biết: Địa phương đã thành lập tổ công tác khảo sát các nguồn nước tự chảy và mạch nước ngầm để bổ sung. Tại thôn Hóa Sơn, địa phương dự kiến dẫn nước từ suối về phục vụ người dân. Phương án khoan giếng cũng được tính đến. Tuy nhiên, kinh phí thực hiện vượt quá khả năng của cấp xã.

    Tại Dân Hóa, hiện có 11 công trình nước tự chảy hư hỏng do thiên tai, không còn hoạt động. Tuy nhiên, nguồn lực cấp xã khó đáp ứng yêu cầu đầu tư. UBND xã Dân Hóa đã kiến nghị Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp các công trình nước.

    Địa phương cũng đề xuất đầu tư dự án nước Dân Hóa phục vụ khu vực trung tâm xã và vùng phụ cận. Dự án gồm công trình thu nước, bể chứa, bể xử lý nước đạt quy chuẩn và hệ thống đường ống truyền tải, phân phối đến các khu dân cư.

    Tăng cường đầu tư, hướng tới 80% hộ dân dùng nước sạch

    Trao đổi với phóng viên, ông Bùi Thái Nguyên – Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Trị – cho biết: “Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh toàn tỉnh khoảng 67%, thấp so với mặt bằng chung cả nước. Riêng vùng đồng bào DTTS, số liệu còn mang tính tương đối do các địa phương báo cáo chưa cụ thể”.

    Công trình nước tự chảy ở các xã vùng cao Quảng Trị thường bị ảnh hưởng lớn bởi thiên tai. Ảnh: Phạm Tiến

    Để nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng nước hợp vệ sinh, ngày 25/5/2026, UBND tỉnh Quảng Trị đã ký Quyết định số 1930/QĐ-UBND phê duyệt đề cương nhiệm vụ lập Đề án cung cấp nước sạch tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, Quảng Trị đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.

    Sau khi đề cương Đề án nước sạch nông thôn được phê duyệt, Quảng Trị đã rà soát, phân loại tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch nông thôn tập trung. Theo tính toán, để đảm bảo mục tiêu 80% hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, tỉnh cần tăng thêm khoảng 40.000 hộ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn trong giai đoạn 2026-2030.

    Thực hiện Công văn số 7610/BNNMT-TL ngày 13/7/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc báo cáo, tổng hợp nhu cầu đầu tư để thực hiện mục tiêu cấp nước sạch đạt quy chuẩn giai đoạn 2026-2030, ngày 24/7/2026, UBND tỉnh Quảng Trị có Công văn số 3671/UBND-NNMT gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

    Theo Phụ lục số 2, Công văn số 3671/UBND-NNMT gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhiều công trình cấp nước ở các xã miền núi tỉnh Quảng Trị đã được đưa vào danh mục sửa chữa và xây mới.

    Cụ thể, tại xã Dân Hóa, tỉnh dự kiến duy tu, sửa chữa các công trình nước sạch với tổng kinh phí 39 tỷ đồng trong giai đoạn 2027 – 2030. Xây mới nhà máy nước xã Kim Điền với tổng mức đầu tư hơn 150 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2026 – 2030. Xây dựng mới nhà máy nước Hóa Tiến (xã Tân Thành) với tổng mức đầu tư hơn 30 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2026 – 2030.

    Ngoài 3 dự án nói trên, UBND tỉnh Quảng Trị còn đưa 41 công trình nước sạch khác vào danh sách có nhu cầu đầu tư xây mới và sửa chữa trong giai đoạn 2026 – 2030. Như vậy, trong giai đoạn 2026 – 2030, ở Quảng Trị 43 công trình nước sạch được đưa vào danh sách cần đầu tư xây mới và sửa chữa với tổng mức đầu tư hơn 2.450 tỷ đồng.

    Do nước đầu nguồn công trình nước sạch tự chảy khô cạn nên nước về đến hộ gia đình chỉ chảy nhỏ giọt. Ảnh: Phạm Tiến

    Trong 41 công trình nói trên, có 22 công trình sử dụng ngân sách địa phương và nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia; 17 công trình đề nghị ngân sách Trung ương bố trí bổ sung và 4 công trình sử dụng nguồn vốn khác.

    Nếu các dự án xây mới và sửa chữa công trình nước sạch trên được triển khai đúng tiến độ, “bài toán” thiếu nước sinh hoạt ở các xã vùng cao Quảng Trị sẽ từng bước được tháo gỡ. Đây cũng là bước đi góp phần giúp Quảng Trị hoàn thành mục tiêu 80% hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn vào năm 2030.

    Tiến Phạm

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-can-hon-2-450-ty-dong-giai-con-khat-nuoc-sach-vung-cao-c55853754.epi

  • Chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 2 phòng ngủ 75m² khoảng bao nhiêu?

    Nhà mái Nhật 1 tầng diện tích 75m² là lựa chọn phù hợp với gia đình từ 2-4 thành viên. Với 75m², công năng có thể bố trí gồm phòng khách liên thông khu vực bếp – ăn, 2 phòng ngủ, 1-2 nhà vệ sinh và khu vực giặt phơi tùy diện tích đất.

    Đặc trưng của nhà mái Nhật là phần mái có độ dốc vừa phải, các khối mái cân đối, tạo cảm giác thanh thoát nhưng vẫn mang nét hiện đại, phù hợp với cả khu vực nông thôn lẫn đô thị.

    Cách tính diện tích xây dựng nhà mái Nhật 1 tầng 75m²

    Để dự toán tương đối sát, cần tính tổng diện tích xây dựng bao gồm diện tích sàn, phần móng và mái theo quy đổi. Trong đó, móng cọc thường tính từ 20-40% diện tích sàn, móng băng cao hơn, khoảng 50% diện tích sàn. Phần mái Nhật được tính khoảng 50-70% diện tích sàn.

    Nhà mái Nhật 1 tầng. (Ảnh minh họa: AI)

    Với nhà mái Nhật 1 tầng 2 phòng ngủ 75m², móng cọc, diện tích xây dựng tham khảo như sau:

    Diện tích sàn: 75 x 100% = 75m²

    Diện tích móng: 75 x 40% = 30m²

    Diện tích mái Nhật: 70 x 70% = 49m²

    Tổng diện tích xây dựng quy đổi để tính chi phí: 154m²

    Chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 2 phòng ngủ 75m² khoảng bao nhiêu?

    Công thức tính chi phí xây nhà thường áp dụng là:

    Chi phí xây nhà = Tổng diện tích xây dựng x Đơn giá/m²

    Trên thị trường, đơn giá xây dựng gồm hai hình thức chính là đơn giá xây trọn gói và đơn giá xây phần thô.

    Nếu áp dụng đơn giá xây dựng trọn gói 8 triệu đồng/m² cho mức hoàn thiện khá, tổng chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 2 phòng ngủ 75m² ước tính:

    154m² x 8 triệu đồng/m² = 1,232 tỷ đồng

    Nếu áp dụng đơn giá xây phần thô và nhân công 4,3 triệu đồng/m² cho mức hoàn thiện khá, tổng chi phí xây nhà mái Nhật 1 tầng 2 phòng ngủ 75m² ước tính:

    154m² x 4,3 triệu đồng/m² = 662,2 triệu đồng

    Lưu ý, ngoài chi phí phần thô và nhân công, gia chủ cần chuẩn bị thêm ngân sách cho phần hoàn thiện gồm lát nền, sơn tường, cửa, thiết bị vệ sinh, đèn chiếu sáng, lan can, mặt tiền và các hạng mục trang trí. Nếu lựa chọn gạch, cửa, thiết bị vệ sinh hoặc sơn cao cấp, tổng chi phí có thể tăng đáng kể.

    Trong khi đó, với đơn giá xây nhà trọn gói, chi phí thực tế vẫn có thể thay đổi tùy theo thiết kế cầu kỳ, đơn giá thi công, hoặc yêu cầu hoàn thiện…

    Hoàng Lan

    Nguồn https://baomoi.com/chi-phi-xay-nha-mai-nhat-1-tang-2-phong-ngu-75m2-khoang-bao-nhieu-c55853747.epi

  • Hà Nội đẩy nhanh bàn giao hệ thống thoát nước khu đô thị

    Bảo đảm hệ thống thoát nước khu đô thị hoạt động an toàn, thông suốt

    Theo đó, UBND TP Hà Nội yêu cầu chủ đầu tư các khu đô thị khẩn trương rà soát, tổ chức nạo vét, duy tu, khơi thông toàn bộ hệ thống thoát nước mưa, nước thải, hố ga, cống, mương, hồ điều hòa và các công trình đầu mối thuộc phạm vi quản lý; duy trì thường xuyên để bảo đảm hệ thống hoạt động an toàn, thông suốt.

    Năm 2026, Hà Nội sẽ tiếp nhận bàn giao hệ thống thoát nước của 26 khu đô thị từ chủ đầu tư.

    Các chủ đầu tư cũng phải tập trung hoàn thiện những hạng mục hạ tầng kỹ thuật còn tồn tại, khẩn trương khắc phục khiếm khuyết của hệ thống thoát nước; hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý, hồ sơ hoàn công và các tài liệu liên quan để thực hiện bàn giao theo đúng quy định.

    Đối với 26 khu đô thị thuộc kế hoạch hoàn thành tiếp nhận, bàn giao trong năm 2026 theo Nghị quyết số 39/NQ-HĐND ngày 15/7/2026 của HĐND thành phố, các chủ đầu tư phải tập trung tối đa nguồn lực để hoàn thành khắc phục tồn tại, nạo vét, duy tu hệ thống thoát nước, hoàn thiện hồ sơ và thực hiện bàn giao. Trong đó, 13 khu đô thị đã cơ bản hoàn thành đầu tư phải hoàn thành bàn giao trước ngày 10/10/2026; 13 khu đô thị còn lại hoàn thành trong quý IV/2026 (thông qua Sở Xây dựng hoặc UBND cấp xã) để tổ chức tiếp nhận theo phân cấp của thành phố.

    Đối với các khu đô thị có hệ thống thoát nước hoạt động ổn định, không xảy ra úng ngập, không phát sinh đơn thư liên quan và chủ đầu tư có đề nghị tiếp tục quản lý, duy trì bằng nguồn kinh phí của đơn vị. Chủ đầu tư phải có văn bản cam kết thực hiện công tác duy trì theo đúng quy trình kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn trong phạm vi khu đô thị.

    Việc duy trì không được làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước của khu vực lân cận. Chủ đầu tư phải phối hợp với Sở Xây dựng, chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị liên quan trong quản lý, kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các sự cố phát sinh.

    Trường hợp không thực hiện đúng cam kết hoặc để xảy ra úng ngập, ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước chung do nguyên nhân chủ quan, chủ đầu tư phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và thực hiện bàn giao hệ thống theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

    Rà soát, công khai chủ đầu tư chậm bàn giao

    Cũng tại Công văn số 4232/UBND-ĐT, UBND TP Hà Nội giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, UBND các xã, phường và các đơn vị liên quan rà soát toàn bộ các khu đô thị chưa hoàn thành đầu tư, hoàn thiện và bàn giao hệ thống thoát nước; xây dựng kế hoạch, lộ trình và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ đầu tư.

    Sở Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn UBND các xã, phường tiếp nhận hệ thống thoát nước theo phân cấp; phân định cấp quản lý và trách nhiệm quản lý, vận hành, duy tu, bảo trì các công trình thoát nước sau bàn giao.

    Đối với 26 khu đô thị thuộc kế hoạch hoàn thành tiếp nhận trong năm 2026, Sở Xây dựng tổ chức kiểm tra định kỳ hằng tháng, xác định rõ tiến độ, tồn tại, nguyên nhân chậm tiến độ và trách nhiệm của từng chủ đầu tư.

    Sở Xây dựng cũng được giao tham mưu UBND Thành phố công khai trên Cổng thông tin điện tử Thành phố danh sách các chủ đầu tư chưa hoàn thành đầu tư, hoàn thiện và bàn giao hạ tầng kỹ thuật khu đô thị theo quy định.

    Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng hướng dẫn việc tiếp nhận tài sản công là hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu đô thị phải bàn giao; đồng thời nghiên cứu, tham mưu UBND thành phố xem xét không giao các dự án đầu tư phát triển đô thị khác đối với trường hợp chậm thực hiện bàn giao hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng thoát nước, cho cơ quan quản lý nhà nước theo quy định.

    UBND các xã, phường chủ động phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện của chủ đầu tư; tổ chức tiếp nhận, quản lý, vận hành hệ thống thoát nước theo phân cấp. Đồng thời, rà soát tổng thể các khu đô thị, khu nhà ở trên địa bàn, đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước và tình hình bàn giao, xác định rõ những khu đã hoàn thành, chưa hoàn thành cùng các tồn tại, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và trách nhiệm liên quan.

    Đối với 26 khu đô thị phải hoàn thành bàn giao trong năm 2026, UBND các xã, phường nơi có dự án phải phối hợp với Sở Xây dựng đôn đốc các chủ đầu tư đã hoàn thành đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng nhưng chưa bàn giao hệ thống thoát nước khẩn trương hoàn thiện các tồn tại, hồ sơ và thực hiện bàn giao theo thời hạn được thành phố yêu cầu.

    Tâm Vũ

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-day-nhanh-ban-giao-he-thong-thoat-nuoc-khu-do-thi-c55853694.epi

  • Quy hoạch không gian đa tầng thống nhất

    Tầng hầm ga Bến Thành của tuyến metro số 1 (ẢNH: HOÀNG HÙNG)

    Nền tảng cho chiến lược thống nhất về phát triển đô thị

    Theo dự thảo luật, quy hoạch tổng thể thành phố được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển của quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng. Việc thiết kế quy hoạch tổng thể thành phố không đơn thuần tập hợp những quy hoạch hiện có, mà còn là tích hợp khối lượng lớn thông tin, dữ liệu vào một hệ thống đồng bộ và hợp lý, làm nền tảng cho chiến lược thống nhất về phát triển đô thị.

    Dự thảo luật khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư những dự án khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao. Việc quy hoạch, phân vùng chức năng cũng được đặt ra nhằm quản lý, đầu tư xây dựng, sử dụng không gian đa tầng một cách bài bản.

    Cách tiếp cận này mở ra không gian phát triển mới cho đô thị, cho phép khai thác những không gian chưa được sử dụng hoặc chưa được quản lý đầy đủ. Các tầng không gian có mối liên hệ mật thiết với nhau trong tổng thể đô thị nên không thể quản lý riêng rẽ. Trong đó, ở tầng không gian ngầm, hệ thống metro, bãi giữ xe ngầm… phải được đặt trong mối liên hệ với các công trình khác. Với không gian trên mặt đất, nhà ở và các công trình nên được bố trí hài hòa với cảnh quan, phục vụ tốt cho đô thị.

    Ở không gian tầm thấp, hoạt động của thiết bị bay không người lái (drone) và những dịch vụ logistics đòi hỏi phân luồng, xác định độ cao, hành lang bay và được quản lý bằng công nghệ thông minh. Mục tiêu cuối cùng của việc kết nối những tầng không gian này là vừa nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác thêm nguồn lực, vừa phục vụ tốt hơn cuộc sống người dân.

    Kết nối các công trình trong không gian ngầm

    Phát triển không gian ngầm là xu hướng tất yếu khi quỹ đất ngày càng hạn hẹp, trong khi nhu cầu về giao thông, thương mại và không gian công cộng không ngừng gia tăng. Trung tâm TPHCM đã có một số không gian ngầm như tuyến metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) và tầng hầm của nhiều cao ốc, văn phòng, trung tâm thương mại.

    Tuy nhiên, từng công trình này hoạt động chưa có sự liên thông. Nếu hình thành những tổ hợp ngầm với tính kết nối cao, người dân có thể đi từ nhà ga metro đến tầng hầm các tòa nhà một cách thuận tiện, an toàn. Để hiện thực hóa ý tưởng này, ngay từ khâu thiết kế, nên tính toán sẵn khả năng kết nối tầng hầm các công trình cao tầng trong khu vực trung tâm với hệ thống không gian ngầm chung.

    Cải thiện cách thức quản lý

    Cơ chế quản lý và quyền sử dụng đối với từng tầng không gian cũng nên được xác lập rõ ràng. Chẳng hạn, quy định cụ thể hơn về độ sâu, mức độ cho phép sử dụng không gian ngầm; xác định rõ phạm vi, quyền, trách nhiệm và điều kiện khai thác không gian tầm thấp, tầm cao…

    Bên cạnh đó, cơ chế huy động nguồn lực phù hợp cũng là một trong những vấn đề cần quan tâm. Mô hình đối tác công – tư (PPP) cùng nhiều cơ chế đặc thù có thể giúp thu hút nguồn lực xã hội bổ trợ cho ngân sách công; khắc phục tình trạng dự án kéo dài, chậm triển khai, làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và niềm tin của người dân, doanh nghiệp.

    Dòng vốn tư nhân có thể tham gia vào nhiều cấu phần hạ tầng và dịch vụ đô thị như giao thông kết nối, logistics, tái phát triển các khu vực có tiềm năng. Khi được đặt trong một khung quy hoạch rõ ràng, sự tham gia này đem lại lợi ích chung cho các bên, giúp tăng hiệu quả khai thác quỹ đất đô thị, giảm áp lực cho nguồn lực công vốn có giới hạn.

    Để quy hoạch tổng thể đi vào thực tiễn, nên tiếp tục cải thiện cách thức quản lý phù hợp với quy hoạch tích hợp – vốn đòi hỏi cơ chế phối hợp đa ngành. Mỗi dự án không còn là công việc riêng của một sở, ngành, đơn vị mà cần sự tham gia, phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa nhiều cơ quan. Các sở, ngành, đơn vị có nhiệm vụ cập nhật dữ liệu vào một hệ thống để sử dụng chung và chuẩn bị nhân lực đủ năng lực về công nghệ.

    Ông ĐỖ ĐỨC HIỂN, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội:

    Chủ động xây dựng chính sách phát triển nhà ở

    Trong nhiều năm qua, việc mở rộng không gian đô thị của TPHCM chưa thực sự đồng bộ với chỉnh trang đô thị. TPHCM vẫn phải giải quyết hàng loạt vấn đề như nhà ở, cải tạo chung cư cũ, ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Những vấn đề này tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân. Dự thảo Luật Phát triển đô thị có bước tiến đáng chú ý khi hướng tới xây dựng một quy hoạch tổng thể, thống nhất cho thành phố, qua đó cụ thể hóa các mục tiêu, định hướng phát triển trong dài hạn.

    Trên cơ sở quy hoạch tổng thể, thành phố được chủ động hơn trong việc ban hành cơ chế, chính sách khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao, đảm bảo hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

    Dự thảo luật cũng tạo thêm cơ sở để thành phố chủ động xây dựng các chính sách phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà lưu trú công nhân; cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ; chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị, khu dân cư và hệ thống kênh rạch.

    Đây là những vấn đề thành phố đã triển khai trong nhiều năm nhưng tiến độ còn chậm, một phần do thiếu cơ chế đủ mạnh và chính sách đủ hấp dẫn để huy động nguồn lực xã hội. Song song với việc trao quyền chủ động lớn hơn, dự thảo luật cũng đặt ra cho thành phố trách nhiệm lớn hơn. Nếu được Quốc hội thông qua, hiệu quả của luật phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền thành phố. Khi các quy định mới được triển khai hiệu quả, TPHCM sẽ có thêm công cụ để tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm, huy động tốt hơn các nguồn lực để cải thiện rõ rệt chất lượng sống của người dân.

    Ông HOÀNG MINH TRÍ, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM:

    Tích hợp quy hoạch, giảm chồng chéo

    Việc tích hợp quy hoạch thành phố và quy hoạch chung thành phố vào quy hoạch tổng thể TPHCM, như dự thảo Luật Phát triển đô thị đề xuất, sẽ phần nào khắc phục được sự chồng chéo nội dung; hình thành cách nhìn thống nhất, khoa học hơn về mối quan hệ giữa định hướng phát triển kinh tế – xã hội và tổ chức không gian đô thị.

    Dự thảo luật cũng trao thẩm quyền cho HĐND thành phố quy định nội dung, thành phần hồ sơ, định mức chi phí, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch tổng thể và điều chỉnh quy hoạch tổng thể.

    Để quy hoạch tổng thể và điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố phù hợp với thực tế cũng như khả thi hơn, dự thảo luật yêu cầu lấy ý kiến của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND tỉnh liền kề, cộng đồng dân cư, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trước khi phê duyệt.

    Đây là giải pháp quản lý chặt chẽ, khoa học; vừa đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, vừa đảm bảo việc thực hiện thẩm quyền được kiểm soát trong khuôn khổ pháp luật. Dự thảo luật cũng đề xuất quy định cụ thể việc quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao phù hợp với quy hoạch tổng thể thành phố. Việc điều chỉnh quy hoạch những không gian này cũng phải lấy ý kiến của các bộ, ngành, cộng đồng dân cư, các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan.

    Đồ án quy hoạch tổng thể TPHCM dự kiến xác định rõ nhiều không gian đô thị với chức năng khác nhau: không gian ngầm gồm hệ thống metro, tầng hầm của các công trình; không gian cây xanh công cộng; không gian cây xanh ven sông; không gian công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị; khu vực dự trữ…

    Việc đưa vào dự thảo Luật Phát triển đô thị nội dung khuyến khích đầu tư vào nhiều loại không gian, hạ tầng kỹ thuật đô thị và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân là cơ sở để thành phố cụ thể hóa cơ chế quản lý, khai thác từng loại không gian.

    Khi triển khai đồng bộ các quy định, quy hoạch tổng thể thành phố có thể trở thành công cụ kết nối giữa định hướng phát triển kinh tế – xã hội với tổ chức không gian đô thị, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hạ tầng và các nguồn lực phát triển.

    TSKH-KTS NGÔ VIẾT NAM SƠN

    Nguồn https://baomoi.com/quy-hoach-khong-gian-da-tang-thong-nhat-c55853540.epi

  • Chi hơn 1 tỷ đồng mua 8 biệt thự bỏ hoang 40 năm, người phụ nữ thu lợi bất ngờ

    Sara McDaniel chuyển đến Minden, bang Louisiana (Mỹ) vào năm 2016 và nhanh chóng yêu mến thành phố này. Cô cũng nhận thấy nơi đây có nhiều tiềm năng để mở rộng hoạt động đầu tư bất động sản.

    Hồi sinh 8 căn nhà bị bỏ hoang 40 năm

    Năm 2020, một người bạn liên hệ với McDaniel và ngỏ ý mời chào cô mua lại bất động sản của họ. Đó là 8 căn biệt thự bị bỏ hoang gần 40 năm. Trong đó, 2 căn có diện tích khoảng 70m², 6 căn rộng khoảng 46,5 m².

    Thời điểm đó, McDaniel đã sở hữu hơn 20 bất động sản ở khu vực Minden, bao gồm nhà cho thuê ngắn hạn, nhà cho thuê dài hạn và đất trống. Trước đó, từ những năm 30 tuổi, cô bắt đầu tiết kiệm khoảng 50% thu nhập với mục tiêu đầu tư vào bất động sản và nghỉ hưu sớm.

    Năm 2021, McDaniel quyết định dùng số tiền tiết kiệm để mua khu bất động sản này với giá 51.306 USD (khoảng 1,3 tỷ đồng).

    Những căn nhà xuống cấp trầm trọng sau khi bị bỏ hoang 40 năm. (Ảnh: Sara McDaniel)

    McDaniel nói: “Tôi nhìn thấy tiềm năng mà bất động sản có thể mang lại cho mình một cuộc sống tự do”.

    Tuy nhiên, sự tự tin nhanh chóng biến thành lo lắng. Không lâu sau khi hoàn tất giao dịch, McDaniel thậm chí bắt đầu lên cơn hoảng loạn vì không biết mình đã thực sự mua phải thứ gì. Khi McDaniel tiếp quản, trần của các căn hộ đã mục nát, nhiều vị trí có nguy cơ sập xuống. Một số cửa sổ còn có dấu vết đạn bắn.

    Đáng chú ý, sau khi hoàn tất thương vụ, McDaniel mới phát hiện mình mắc sai lầm lớn khi không đánh giá các nguy cơ môi trường đối với bất động sản. Kết quả kiểm tra cho thấy các căn hộ chứa amiăng và sơn có chì, những chất có thể gây nguy cơ đối với sức khỏe nếu không được xử lý đúng cách.

    Những căn nhà đã bị bỏ hoang suốt 40 năm. (Ảnh: Sara McDaniel)

    Không biết phải bắt đầu từ đâu, McDaniel tìm kiếm thông tin trên Google. Sau đó, cô biết đến Brownfield Cleanup Revolving Loan Fund của Sở Chất lượng Môi trường Louisiana. Quỹ này cung cấp các khoản vay lãi suất thấp với điều khoản linh hoạt để hỗ trợ việc làm sạch môi trường cho các khu đất bỏ trống và không được sử dụng hiệu quả.

    McDaniel được phê duyệt khoản vay 46.731 USD (khoảng 1,2 tỷ đồng) với lãi suất 0% từ LDEQ.

    Để có thêm tiền phục vụ quá trình cải tạo, cô bán một bất động sản tại Texas với giá 175.354 USD (4,5 tỷ đồng) và dành thêm 8.000 USD (hơn 200 triệu đồng) từ các nguồn thu nhập khác cho dự án.

    Bên cạnh đó, McDaniel vay 202.725 USD (5,3 tỷ đồng) từ một ngân hàng địa phương dưới hình thức khoản vay xây dựng tạm thời. Sau đó, cô được cấp khoản thế chấp dài hạn trị giá 290.710 USD (7,6 tỷ đồng) để tất toán khoản vay xây dựng và hoàn thiện công trình.

    Sau 18 tháng, 8 căn villa được phục hồi và cải tạo hoàn toàn. Tổng chi phí cuối cùng lên tới 729.885 USD (19,1 tỷ đồng).

    McDaniel phải trả khoản thế chấp hàng tháng 3.298 USD (86 triệu đồng) và khoản vay từ LDEQ được thanh toán với mức 400 USD (tương đương 10,4 triệu đồng)/tháng.

    Khu nhà chính thức mở cửa trở lại vào tháng 2/2023. (Ảnh: Treat Miller)

    Bất ngờ “gà đẻ trứng vàng”

    Tháng 2/2023, khu nhà chính thức mở cửa trở lại. McDaniel đưa các căn biệt thự lên Airbnb và triển khai hình thức đặt phòng trực tiếp thông qua website riêng. Cô muốn mỗi căn có phong cách khác nhau và mang đến cho du khách không chỉ một nơi nghỉ mà còn là một trải nghiệm.

    8 căn nhà được trang trí với nhiều điểm nhấn màu sắc. McDaniel cũng cố gắng giữ lại những nét kiến trúc nguyên bản của công trình, trong đó có các mái vòm và nhiều chi tiết được xây dựng từ những năm 1930. Phòng tắm cũng giữ lại phần lớn gạch lát nguyên bản.

    Mỗi căn nhà đều được trang trí với những điểm nhấn màu sắc nổi bật. (Ảnh: Rob Senseka)

    Bên ngoài, cô bố trí ghế ngồi, hệ thống đèn trang trí và bếp lửa Solo Stove để khách có thể tận hưởng không gian ngoài trời.

    Kết quả kinh doanh nhanh chóng cho nguồn thu lớn. Năm 2023, 8 căn biệt thự được đặt trước khoảng 1.000 đêm. Một năm sau, con số tăng lên 1.300 đêm, với giá thuê trung bình 143 USD (3,7 triệu đồng)/đêm. Riêng năm 2024, khu biệt thự mang về 224.133 USD (5,8 tỷ đồng) doanh thu.

    Không gian lãng mạn bên ngoài căn biệt thự. (Ảnh: Rob Senseka)

    Kiến trúc mái vòm từ những năm 1930 được giữ lại, tạo nên vẻ đẹp cổ điển. (Ảnh: Rob Senseka)

    McDaniel cho biết, hiện tại, toàn bộ thu nhập đều được đưa trở lại hoạt động kinh doanh. Cô đặt mục tiêu đưa khu biệt thự đạt lợi nhuận trong vòng 5 năm.

    Bằng Lăng

    Nguồn https://baomoi.com/chi-hon-1-ty-dong-mua-8-biet-thu-bo-hoang-40-nam-nguoi-phu-nu-thu-loi-bat-ngo-c55853561.epi

  • Hà Nội: Triển khai các khoản thu từ khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD

    Ngày 17/8, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP Hà Nội Dương Đức Tuấn đã ký ban hành Kế hoạch số 324/KH-UBND về triển khai thực hiện Nghị quyết số 67/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 của HĐND TP quy định về các khoản thu từ việc khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD.

    Hà Nội triển khai các khoản thu từ khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD.

    Kế hoạch nhằm cụ thể hóa và tổ chức triển khai kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù quy định về các khoản thu từ việc khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD theo Nghị quyết số 67/2026/NQ-HĐND.

    Triển khai thực hiện hiệu quả quy định tại Luật Thủ đô, tạo nguồn lực bổ sung ngân sách. Phân công rõ trách nhiệm, tiến độ của từng sở, ban, ngành, UBND các xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan; bảo đảm việc tổ chức thực hiện Nghị quyết thống nhất, thông suốt, kịp thời và khả thi.

    Đồng thời, yêu cầu triển khai nghiên cứu, xây dựng các chính sách quy định cụ thể (mức thu; chính sách miễn, giảm) của các khoản thu từ việc khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD theo Nghị quyết số 67/2026/NQ-HĐND trình UBND TP xem xét, trình HĐND TP ban hành Nghị quyết về hệ số lợi thế TOD;

    Triển khai tham mưu, trình UBND TP ban hành quy trình, trình tự, thủ tục thu, nộp quản lý và sử dụng các khoản thu, phí từ việc khai thác giá trị tăng thêm trong khu vực TOD.

    UBND TP giao Sở Tài chính là cơ quan thường trực, chủ trì với các Sở, ngành TP có liên quan xây dựng, tham mưu trình ban hành mức thu (tỷ lệ phần trăm thu) từ việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt địa phương trong khu vực TOD theo quy định.

    Chủ trì phối hợp với các Sở, ngành TP có liên quan xây dựng, tham mưu trình ban hành quy trình, trình tự, thủ tục thu, nộp quản lý và sử dụng; chính sách miễn, giảm của khoản thu từ việc khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt địa phương trong khu vực TOD theo quy định Luật Thủ đô và các văn bản pháp luật chuyên ngành.

    Chủ trì phối hợp với các Sở, ngành TP có liên quan tham mưu bố trí nguồn kinh phí thực hiện chính sách; hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng, thanh quyết toán kinh phí theo quy định.

    Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị liên quan xây dựng, tham mưu trình ban hành quy định mức thu (Tỷ lệ phần trăm (%) thu): Phí cải thiện hạ tầng; phí kết nối giao thông công cộng.

    Ban Quản lý đường sắt đô thị Hà Nội, Thuế TP, doanh nghiệp quản lý, khai thác tài sản đường sắt địa phương và các đơn vị được giao quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông: Phối hợp cung cấp dữ liệu, thông tin có liên quan và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền; báo cáo kết quả thực hiện định kỳ hoặc đột xuất.

    UBND các xã, phường chủ động tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tại địa bàn; phối hợp tuyên truyền, lấy ý kiến, công khai chính sách và thực hiện các nhiệm vụ có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ.

    Tiến Hào

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-trien-khai-cac-khoan-thu-tu-khai-thac-gia-tri-tang-them-trong-khu-vuc-tod-c55853690.epi

  • Hiện trạng 4 bãi xe ngầm nghìn tỷ ở TPHCM vẫn dang dở sau 1 thập kỷ

    Các dự án bãi xe ngầm này từng được xem là công trình hạ tầng quan trọng của khu trung tâm TPHCM. Lớn nhất là công trình tại công viên Lê Văn Tám, quy mô 4 tầng ngầm, vốn đầu tư ban đầu khoảng 1.700 tỷ đồng, sức chứa gần 1.300 ô tô và hơn 2.000 xe máy, động thổ từ năm 2010.

    Sau nhiều năm khu đất đến nay vẫn bỏ trống. Ba dự án còn lại cũng rơi vào tình trạng tương tự. Hiện TPHCM vẫn tiếp tục lên nhiều phương án thiết kế những bãi xe ngầm khu vực trung tâm.

    Phước Sáng

    Nguồn https://baomoi.com/hien-trang-4-bai-xe-ngam-nghin-ty-o-tphcm-van-dang-do-sau-1-thap-ky-c55853577.epi

  • TP. Hồ Chí Minh tận dụng đất đá, bê tông, bùn nạo vét từ các công trình

    Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành hướng dẫn tạm thời việc quản lý, phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn xây dựng, vật chất nạo vét và một số loại bùn thải phát sinh trên địa bàn. Đây là giải pháp nhằm tháo gỡ tình trạng thiếu nơi tiếp nhận, xử lý trong bối cảnh Thành phố đang đẩy mạnh xây dựng hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải tạo kênh rạch.

    Tại TP. Hồ Chí Minh, bài toán chất thải xây dựng không đơn thuần là chuyện thu gom, vận chuyển và xử lý. Hiện TP. Hồ Chí Minh chưa có nhiều đơn vị có đủ chức năng, thiết bị, công nghệ và địa điểm để đáp ứng kịp thời nhu cầu thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn xây dựng. Các chủ nguồn thải cũng còn lúng túng trong phân định, phân loại một số loại bùn; việc tìm kiếm địa điểm tiếp nhận vật chất nạo vét cho các công trình, dự án còn khó khăn.

    Trong khi đó, quy mô các công trình chỉnh trang đô thị đang được mở rộng nhanh với mục tiêu đến năm 2030, di dời khoảng 41.540 căn nhà trên và ven sông, kênh, rạch; triển khai 117 dự án phục vụ mục tiêu này. Nhiều dự án cải tạo, nạo vét kênh rạch quy mô hàng nghìn tỷ đồng cũng đang được triển khai, như dự án bờ Bắc kênh Đôi có tổng mức đầu tư hơn 7.300 tỷ đồng, chiều dài khoảng 4,7 km.

    Vì vậy, khối lượng đất đào, bùn nạo vét, đất đá, bê tông, gạch và các loại chất thải xây dựng phát sinh theo đó dự kiến tiếp tục tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về phương án tiếp nhận và xử lý phù hợp.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, trong hướng dẫn lần này, điểm đáng chú ý là Thành phố chuyển mạnh sang cách tiếp cận phân định để tìm đúng đầu ra, thay vì mặc định toàn bộ vật chất phát sinh từ công trường đều là chất thải phải xử lý.

    Đất, đá, bê tông, gạch, vật liệu đào đắp và một số loại chất thải rắn xây dựng có khả năng tái sử dụng, tái chế được yêu cầu phân loại riêng để tận dụng. Việc sử dụng làm vật liệu xây dựng, san lấp hoặc mục đích khác phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các quy định pháp luật liên quan.

    Đối với những địa bàn phát sinh chất nạo vét, chất thải xây dựng nhưng không có quỹ đất công để lưu giữ tạm thời, UBND xã, phường có thể liên hệ với địa phương khác để tìm khu đất phù hợp. Thành phố ưu tiên các vị trí có khả năng tiếp nhận đất, đá, bê tông, gạch, vật liệu đào đắp, chất thải xây dựng có khả năng tái sử dụng, tái chế và bùn, đất nạo vét đã được phân định an toàn.

    Tuy nhiên, việc lưu giữ tạm thời không đồng nghĩa với hình thành các bãi đổ thải tự phát. UBND cấp xã có trách nhiệm kiểm tra thông tin, phương án lưu giữ, theo dõi quá trình tiếp nhận, lưu giữ và di chuyển vật chất, nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng địa điểm tập kết để đổ thải trái phép hoặc sử dụng đất không đúng mục đích. Trường hợp địa điểm có nguy cơ gây tác động xấu, ảnh hưởng đến các đối tượng xung quanh thì có thể được xác định không đủ điều kiện tiếp nhận.

    Đối với bùn, vật chất nạo vét từ kênh, mương, công trình thủy lợi, chủ đầu tư hoặc đơn vị quản lý phải xác định nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần thông qua lấy mẫu, phân tích; đồng thời đánh giá dấu hiệu ô nhiễm và lịch sử khu vực nạo vét trước khi lựa chọn phương án tái sử dụng, tập kết hoặc xử lý.

    Các loại chất thải cũng phải được phân loại riêng ngay tại nơi phát sinh. Trường hợp để lẫn chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế với chất thải phải xử lý thì toàn bộ khối lượng phải được quản lý như chất thải cần xử lý, vừa làm gia tăng chi phí, vừa lãng phí nguồn vật chất có khả năng sử dụng lại.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, hướng dẫn tạm thời được xây dựng trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các sở, ngành, Công an Thành phố và UBND các xã, phường, đặc khu, nhằm thống nhất cách thức quản lý, phân loại, thu gom và xử lý, tạo thuận lợi cho chủ đầu tư, chủ nguồn thải, chính quyền cơ sở và người dân trong quá trình thực hiện.

    Với tốc độ phát triển hạ tầng và chỉnh trang đô thị hiện nay, quản lý đất đào, bùn nạo vét và chất thải xây dựng đang trở thành một phần của bài toán sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Thành phố. Việc phân loại, tái sử dụng đúng quy định, đồng thời hình thành các địa điểm tiếp nhận phù hợp sẽ góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý, hạn chế nguy cơ đổ thải trái phép và tháo gỡ một trong những “nút thắt” đối với tiến độ các công trình đang triển khai./.

    Thành Đạt/Vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-tan-dung-dat-da-be-tong-bun-nao-vet-tu-cac-cong-trinh-c55853681.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!