Author: bachdn

  • Khơi thông nguồn lực, quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số

    UBND thành phố yêu cầu các đơn vị tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm: xử lý dứt điểm tồn đọng, thống kê toàn bộ giấy phép, dự án vướng mắc tính đến ngày 15/8/2026; làm rõ nguyên nhân và đề xuất phương án xử lý gửi về Sở Tài chính trước ngày 20/8/2026. Các sở, ban, ngành tham mưu UBND thành phố kiến nghị Trung ương xử lý các bất cập pháp lý trong tháng 8/2026; chủ động điều chỉnh hoặc ban hành văn bản hướng dẫn đối với quy định cấp thành phố.

    Các đơn vị đề nghị UBND thành phố phân cấp, ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực phụ trách nghiên cứu, tham mưu UBND thành phố ban hành quyết định phân cấp, ủy quyền theo quy định, hoàn thành trong tháng 9/2026; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, tăng cường chuyển đổi số và kết nối dữ liệu dùng chung.

    Sở Nội vụ rà soát biên chế phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đánh giá cán bộ định kỳ. UBND cấp xã đẩy mạnh giải quyết thủ tục trực tuyến, phối hợp giải phóng mặt bằng và chuẩn hóa dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”.

    MINH LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-thong-nguon-luc-quyet-tam-dat-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-c55862431.epi

  • Nhà đầu tư dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng tại TPHCM bị phạt liên quan trái phiếu

    Thanh tra Chứng khoán Nhà nước vừa ban hành quyết định xử phạt Công ty cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam (Trungnam Group) do vi phạm quy định về thời hạn công bố thông tin trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

    Theo đó, Trungnam Group bị xác định chậm công bố từ 10 ngày làm việc trở lên đối với nhiều tài liệu liên quan đến hoạt động phát hành trái phiếu và nghĩa vụ với người sở hữu trái phiếu.

    Trong số các tài liệu chậm công bố có kết quả chào bán trái phiếu mã TNGCB22224003; các báo cáo về tình hình thực hiện cam kết của doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu từ năm 2022 đến 2025; cùng nhiều báo cáo tài chính, báo cáo tình hình tài chính và báo cáo về việc sử dụng nguồn tiền từ phát hành trái phiếu.

    Dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng tại TPHCM do Trungnam Group đầu tư. Ảnh: Nguyễn Huế

    Trungnam Group cũng chậm công bố thông tin dưới 10 ngày làm việc đối với các báo cáo về việc sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu, báo cáo tài chính và tình hình thanh toán gốc, lãi trái phiếu trong các năm 2021-2022, cùng kết quả chào bán trái phiếu mã TNGCH2224005.

    Với các hành vi vi phạm nói trên, Trungnam Group bị Thanh tra Chứng khoán Nhà nước xử phạt hành chính với số tiền 92,5 triệu đồng. 

    Dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng do Trungnam Group làm nhà đầu tư, doanh nghiệp thực hiện là Công ty TNHH Trung Nam BT 1547.

    Đây là dự án nhóm A, được thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT), với phương thức thanh toán bằng quỹ đất và ngân sách TPHCM.

    Khởi công từ tháng 6/2016, dự kiến hoàn thành sau 2 năm xây dựng nhằm mục đích kiểm soát ngập do triều cường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng diện tích 570km2 với khoảng 6,5 triệu dân thuộc khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TPHCM. 

    Dự án gồm xây dựng 6 cống lớn kiểm soát triều có bề rộng từ 40-160m, 3 trạm bơm và 7,8 km đê/kè bao ven sông Sài Gòn từ Vàm Thuật đến Sông Kinh ở các đoạn xung yếu…

    Đến nay, sau hơn 10 năm kể từ khi khởi công, dự án vẫn chưa thể về đích, dù đã hoàn thành hơn 90% khối lượng công việc.

    Anh Phương

    Nguồn https://baomoi.com/nha-dau-tu-du-an-chong-ngap-10-000-ty-dong-tai-tphcm-bi-phat-lien-quan-trai-phieu-c55862577.epi

  • Trình Quốc hội định hướng chính sách sửa đổi Luật đất đai

    Theo tờ trình của Chính phủ, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Chủ tọa điều hành phiên làm việc sáng 19-8. Ảnh: media.quochoi.vn

    Trên cơ sở quan điểm, định hướng được Trung ương thông qua tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách, gồm: Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng kết hợp giữa phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất với tổ chức không gian phát triển, phân vùng sử dụng đất và khoanh định các khu vực cần bảo vệ; xác định chức năng sử dụng đất của từng khu vực; sắp xếp hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng tinh gọn, giảm số lượng tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính.

    Hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực và sử dụng đất hiệu quả. Quy định rõ các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; quy định đầy đủ căn cứ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với từng phương thức tiếp cận đất đai; hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất để phát triển nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách, nhà ở thương mại và nhà ở phục vụ tái định cư; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày tờ trình. Ảnh: media.quochoi.vn

    Hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng quy định rõ hơn tiêu chí dự án, phạm vi thu hồi đất. Bổ sung quy định thu hồi đất, phát triển quỹ đất vùng phụ cận, các công trình kết cấu hạ tầng; chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”; ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ; không quy định cứng là việc thu hồi đất chỉ thực hiện sau khi đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hoàn thành bố trí tái định cư.

    Đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch, kết nối liên thông giữa dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành có liên quan; không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo; điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất… Chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người có thu nhập thấp, người có nhà ở duy nhất, gia đình người có công với cách mạng.

    Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo hướng khơi thông nguồn lực tài nguyên đất thông qua mở rộng cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích nhưng có cơ chế quản lý, kiểm soát. Phát triển thị trường quyền sử dụng đất và bổ sung chế độ sử dụng đất đối với một số loại đất, mô hình phát triển mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; xử lý các tồn tại lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận; đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với nâng cao trách nhiệm của địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát của trung ương.

    Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Hữu Toàn thẩm tra tờ trình tại kỳ họp. Ảnh: media.quochoi.vn

    Đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; khắc phục bằng được tình trạng không sử dụng đất, để đất hoang hóa, ô nhiễm, suy thoái; các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất… Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

    Cho ý kiến về nội dung này, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội tán thành với sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật song song với quá trình hoàn thiện chính sách để vừa bảo đảm chính sách phù hợp và đủ rõ ràng, vừa bảo đảm chất lượng hồ sơ dự án, dự thảo Luật trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai; ngoài 7 nhóm chính sách theo Tờ trình số 528/TTr-CP, tiếp tục nghiên cứu các chính sách khác, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 21-NQ/TW và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận khác có liên quan để bảo đảm đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Vân Hà

    Nguồn https://baomoi.com/trinh-quoc-hoi-dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-c55862586.epi

  • Sân bay Lai Châu được quy hoạch ra sao?

    Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến đối với hồ sơ quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Lai Châu thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Bộ Xây dựng cho biết đã giao Cục Hàng không Việt Nam phối hợp với các đơn vị tư vấn nghiên cứu lập quy hoạch chi tiết các Cảng hàng không Lai Châu thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đến nay, hồ sơ quy hoạch chi tiết đã được Cục Hàng không Việt Nam hoàn thành.

    Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm kiểm tra thông tin, kết quả tiếp nhận hồ sơ và kịp thời gửi bổ sung tài liệu đến các cơ quan; đồng thời chủ động tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý (nếu có) và hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Bộ Xây dựng.

    Theo Thuyết minh Báo cáo giữa kỳ do Tổng công ty Tư vấn thiết kế Giao thông vận tải (TEDI) lập, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 648 ngày 7/6/2023 xác định sân bay Lai Châu là cảng hàng không nội địa cấp 3C, công suất dự kiến đến năm 2030 đạt 0,5 triệu hành khách/năm, tầm nhìn đến năm 2050 đạt 1,5 triệu hành khách/năm.

    Tại Quyết định số 1140 ngày 1/7/2026 của Bộ Xây dựng về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, sân bay Lai Châu được định hướng là cảng hàng không nội địa cấp 4C, công suất dự kiến đến năm 2030 đạt 0,3 triệu hành khách/năm và đến năm 2050 đạt 1,5 triệu hành khách/năm.

    Sân bay Lai Châu được định hướng là sân bay quốc nội, công suất 0,3 triệu hành khách/năm

    Đơn vị tư vấn đánh giá, vấn đề quy hoạch sân bay Lai Châu phù hợp với quy hoạch mạng cảng hàng không toàn quốc và triển khai đầu tư xây dựng nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng, an ninh, khẩn nguy cứu trợ của tỉnh Lai Châu nói riêng và vùng núi phía Bắc nói chung là việc hết sức cần thiết, cấp bách hiện nay.

    Theo đề xuất, sân bay Lai Châu được quy hoạch tại xã Tân Uyên và xã Mường Khoa, tỉnh Lai Châu; có vị trí, chức năng trong mạng cảng hàng không dân dụng toàn quốc là cảng hàng không nội địa; sân bay dùng chung dân dụng và quân sự.

    Trong thời kỳ 2021-2030, sân bay được quy hoạch đạt cấp 4C (theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế – ICAO); công suất 0,3 triệu hành khách/năm và 1.000 tấn hàng hoá/năm; có đủ năng lực khai thác loại tàu bay A320/A321, B737 và tương đương.

    Về các công trình khu bay, phương án quy hoạch đề xuất xây dựng đường cất hạ cánh với kích thước 2600x45m, lề vật liệu mỗi bên rộng 7,5m.

    Cùng với đó là đoạn đường lăn song song cách tim đường cất hạ cánh 158m, chiều dài khoảng 595m, chiều rộng mặt đường 15m, lề vật liệu mỗi bên rộng 5m đảm bảo khai thác tàu bay code C.

    Sân đỗ máy bay được quy hoạch đáp ứng 3 vị trí đỗ tàu bay code C và có dự trữ quỹ đất để mở rộng sân đỗ tàu bay theo nhu cầu.

    Thời kỳ này, nhà ga hành khách được quy hoạch với công suất 0,3 triệu hành khách/năm.

    Tầm nhìn đến năm 2050, sân bay Lai Châu được định hướng nâng công suất lên 1,5 triệu hành khách/năm và 4.000 tấn hàng hóa/năm.

    Ở giai đoạn này, đường cất hạ cánh và hệ thống đường lăn được tiếp tục khai thác theo quy hoạch của thời kỳ 2021-2030.

    Đáng chú ý, sân đỗ tàu bay được quy hoạch mở rộng đáp ứng 6 vị trí đỗ tàu bay code C, đồng thời tiếp tục dự trữ để mở rộng khi có nhu cầu.

    Theo hồ sơ quy hoạch, nhu cầu sử dụng đất của sân bay Lai Châu được đề xuất khoảng hơn 171ha gồm hơn 18ha do hàng không dân dụng quản lý, hơn 11ha thuộc phạm vi quản lý của quân sự và hơn 142ha là khu vực dùng chung do phía dân dụng quản lý.

    Ngân Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/san-bay-lai-chau-duoc-quy-hoach-ra-sao-c55862395.epi

  • Sửa đổi Luật Nhà ở: Phân cấp triệt để, hướng tới mọi người dân đều có chỗ ở ổn định

    Nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược dài hạn

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc sửa đổi Luật Nhà ở nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhất là các định hướng mới về phát triển nhà ở; đồng thời hoàn thiện môi trường pháp lý, tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Quan điểm xuyên suốt của dự thảo là phát triển nhà ở hướng tới mục tiêu mọi người dân đều có chỗ ở ổn định, bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời phát triển đa dạng các loại hình nhà ở.

    Đáng chú ý, dự thảo xác định nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược dài hạn, phục vụ đông đảo người dân. Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, định hướng này nhằm mở rộng lựa chọn về chỗ ở, nhất là đối với người lao động, người có thu nhập chưa cao và những nhóm dân cư chưa có điều kiện sở hữu nhà ở.

    Dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi cũng bổ sung định hướng phát triển 4 nhóm nhà ở gồm nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách, kèm theo các chính sách tương ứng.

    Trong đó, đề xuất riêng một chương mới về phát triển nhà ở cho thuê, quy định rõ đối tượng được thuê, các hình thức phát triển bằng nguồn vốn Nhà nước và ngoài Nhà nước, yêu cầu đối với dự án, trình tự thủ tục đầu tư, chính sách ưu đãi chủ đầu tư, giá cho thuê và quản lý, sử dụng nhà ở cho thuê.

    Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung quy định về nhà lưu trú cho chuyên gia và người lao động ngoài khu công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thực tế đang ngày càng gia tăng tại các địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị nhanh.

    Phân cấp mạnh, đưa 20/21 thủ tục về địa phương

    Một trong những điểm nhấn quan trọng của dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, gắn với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính.

    Theo Bộ trưởng Trần Hồng Minh, dự thảo rà soát, phân quyền, phân cấp triệt để cho chính quyền địa phương, trong đó 20/21 thủ tục thuộc thẩm quyền địa phương.

    Cùng với đó, dự thảo đề xuất cắt giảm 3/4 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa 7/7 thủ tục hành chính.

    Theo tờ trình, cách tiếp cận này nhằm giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, đồng thời xác định rõ hơn trách nhiệm của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện chính sách nhà ở.

    Mặt khác, việc sửa luật không chỉ nhằm bổ sung quy định mới mà còn phải loại bỏ những quy định không còn phù hợp, những nội dung trùng lặp với pháp luật liên quan và những thủ tục không còn cần thiết.

    Theo đó, dự thảo cũng lược bỏ 7 nội dung quy định về thi hành, hành vi bị nghiêm cấm không còn phù hợp với thực tiễn, một số nội dung trùng lặp với một số luật liên quan và bỏ quy định về sở hữu nhà ở riêng lẻ tại Việt Nam của tổ chức cá nhân tại nước ngoài.

    Dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi bổ sung hình thức BT trong cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư. (Ảnh: Quang Thái).

    Mở thêm nguồn lực phát triển nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ

    Bên cạnh đó, dự thảo Luật Nhà ở sửa đổi cũng luật hóa các nội dung đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong các nghị quyết về phát triển nhà ở xã hội.

    Trong đó luật hóa một số nội dung của Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội về giao chủ đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư không thông qua đấu thầu đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân không sử dụng vốn đầu tư công; thủ tục đầu tư xây dựng nhà ở xã hội; xác định giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội; điều kiện về nhà ở để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội; thuê nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp; Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, tạo quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.

    Đồng thời, luật hóa một số nội dung của Nghị quyết số 66.15/NQ-CP về loại hình nhà ở xã hội; đối tượng được ưu tiên mua, thuê mua nhà ở xã hội; đối tượng được mua, thuê mua, thuê nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.

    Đáng chú ý, dự thảo bổ sung hình thức BT trong cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, góp phần bổ sung phương thức huy động nguồn lực để thực hiện cải tạo xây dựng lại nhà chung cư.

    Bổ sung mô hình thuê đơn vị chuyên nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ Ban quản trị nhà chung cư nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà chung cư, giảm tải khối lượng công việc cho Ban quản trị.

    Đặc biệt, dự thảo sửa đổi bổ sung quy định để tháo gỡ khó khăn thực tiễn về sở hữu nhà, phát triển nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở riêng lẻ của cá nhân, cải tạo xây dựng lại nhà chung cư, tài chính cho phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà ở, quản lý sử dụng nhà chung cư, giao dịch về nhà ở để nhằm bảo đảm phù hợp thống nhất với các luật mới được ban hành và phù hợp với thực tiễn.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Kiểm soát chặt, ngăn trục lợi chính sách nhà ở

    Trình bày thẩm tra định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (UB PLTP) Phan Chí Hiếu cho biết, UB PLTP tán thành với sự cần thiết xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi).

    UB PLTP cũng nhất trí với 6 nhóm chính sách đã xác định; đồng thời đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, thể chế hóa đầy đủ các chỉ đạo của Đảng về định hướng phân loại phát triển nhà ở theo 4 nhóm, phân định rõ khái niệm về “nhà ở chính sách” và “nhà ở xã hội”; nghiên cứu, làm rõ chính sách “ưu tiên” phát triển loại hình nhà ở cho thuê so với các loại hình nhà ở khác; rà soát, đề xuất chính sách để bảo đảm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn đã được chỉ ra trong báo cáo tổng kết thi hành và thực tiễn triển khai Luật Nhà ở năm 2023.

    Về chính sách đối với các loại hình nhà ở cho thuê, UB PLTP đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để xác định rõ các đối tượng được ưu tiên thụ hưởng chính sách nhà ở cho thuê; nghiên cứu, rà soát quy định về nguồn vốn của quỹ nhà ở; rà soát các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở cho thuê (được đầu tư xây dựng bằng vốn của nhà nước) và các quy định về quản lý, sử dụng nhà ở thuộc tài sản công.

    Đồng thời, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn của việc đề xuất chính sách về nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp và các điều kiện, đối tượng, hình thức hỗ trợ… đối với dự án, chủ đầu tư dự án; nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm ưu tiên phát triển loại hình nhà ở cho thuê…

    Về chung cư có thời hạn, dự thảo Luật đã đưa ra khái niệm mới là “chung cư có thời hạn”. Tuy nhiên, UB PLTP đề nghị cân nhắc việc bổ sung khái niệm “chung cư có thời hạn” trong dự thảo Luật để tránh có cách hiểu khác nhau liên quan đến thời hạn sử dụng nhà chung cư.

    UB PLTP cũng đề nghị tiếp tục nghiên cứu, có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, minh bạch các trường hợp được hưởng chính sách ưu tiên về nhà ở, không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách; kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở.

    Cùng đó, đề nghị tiếp tục rà soát, đề xuất chính sách để bảo đảm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn đã được chỉ ra, đặc biệt là những bất cập trong quản lý, sử dụng nhà chung cư như: Tranh chấp về phần sở hữu chung – sở hữu riêng của nhà chung cư, hoạt động của Ban quản trị, Ban quản lý nhà chung cư…

    Yến Chi

    Nguồn https://baomoi.com/sua-doi-luat-nha-o-phan-cap-triet-de-huong-toi-moi-nguoi-dan-deu-co-cho-o-on-dinh-c55862399.epi

  • Cân nhắc khái niệm ‘chung cư có thời hạn’ khi sửa đổi Luật Nhà ở

    Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày tờ trình. Ảnh: media.quochoi.vn

    Trình bày tờ trình, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, dự thảo Luật bổ sung mới quy định về 4 loại hình nhà ở và chính sách pháp luật tương ứng đối với từng loại hình nhà ở gồm: các loại nhà ở thương mại (trong đó có nhà ở thương mại theo dự án, nhà ở riêng lẻ của cá nhân); nhà ở cho thuê (gồm nhà ở cho thuê được đầu tư, tạo lập bằng vốn nhà nước, vốn ngoài nhà nước; nhà lưu trú cho công nhân trong khu công nghiệp, nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp); nhà ở công vụ; nhà ở chính sách (bao gồm nhà ở cho cán bộ cao cấp của Đảng, nhà ở xã hội, nhà cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà ở hỗ trợ thông qua chương trình mục tiêu quốc gia, nhà ở phục vụ tái định cư).

    Về sở hữu nhà ở, quy định “chung cư có thời hạn” theo thời hạn sử dụng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật xây dựng, gắn với bảo đảm quyền tài sản, chủ sở hữu căn hộ chung cư được quyền thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới chung cư theo quy định khi hết thời hạn.

    Định hướng dự thảo Luật cũng bổ sung hình thức BT (xây dựng – chuyển giao) thực hiện cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, góp phần bổ sung nguồn vốn để thực hiện dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư; bổ sung mô hình thuê đơn vị chuyên nghiệp thực hiện một số nhiệm vụ Ban quản trị nhà chung cư nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà chung cư, giảm tải khối lượng công việc cho Ban quản trị.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: media.quochoi.vn

    Cho ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, về yêu cầu chung về phát triển nhà ở, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định về quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển nhà ở, làm rõ mối quan hệ giữa chiến lược, chương trình phát triển nhà ở với các loại quy hoạch có liên quan để bảo đảm thực hiện yêu cầu rút ngắn các thủ tục về đầu tư, quy hoạch, giao đất, cấp phép xây dựng…, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với quy định của các luật có liên quan.

    Về chung cư có thời hạn, dự thảo Luật đã đưa ra khái niệm mới là “chung cư có thời hạn”. Tuy nhiên, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng, các điều còn lại của dự thảo Luật không sử dụng thuật ngữ này mà chỉ quy định về “thời hạn sử dụng nhà chung cư”. Khái niệm về “thời hạn sử dụng nhà chung cư” và các chính sách về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư tại dự thảo Luật về cơ bản là kế thừa các quy định tại Luật Nhà ở năm 2023. Do đó, đề nghị cân nhắc việc bổ sung khái niệm “chung cư có thời hạn” trong dự thảo Luật để tránh có cách hiểu khác nhau liên quan đến “thời hạn sử dụng nhà chung cư”.

    Về nhà ở chính sách, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ, minh bạch các trường hợp được hưởng chính sách ưu tiên về nhà ở, không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách; kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở”.

    Về quản lý, sử dụng nhà chung cư, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục rà soát, đề xuất chính sách để bảo đảm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn đã được chỉ ra, đặc biệt là những bất cập trong quản lý, sử dụng nhà chung cư như tranh chấp về phần sở hữu chung – sở hữu riêng của nhà chung cư, hoạt động của Ban quản trị, Ban quản lý nhà chung cư….

    Mai Hữu

    Nguồn https://baomoi.com/can-nhac-khai-niem-chung-cu-co-thoi-han-khi-sua-doi-luat-nha-o-c55862584.epi

  • Lực cầu bất động sản phía Nam giảm, thời bán hàng ồ ạt đã qua

    Tại Diễn đàn “Bất động sản khu vực phía Nam – Mở dư địa tăng trưởng mới” vừa diễn ra, ông Nguyễn Văn Đính, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, cho biết thị trường đang xuất hiện một nghịch lý đáng chú ý. Theo ông, trong khi nguồn cung bất động sản đầu năm 2026 tăng khoảng 30% so với cùng kỳ nhờ nhiều dự án được tháo gỡ pháp lý, tỷ lệ giao dịch thành công lại giảm mạnh. 

    Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cũng cho biết, theo số liệu của đơn vị nghiên cứu, những năm trước, nhiều dự án có tỷ lệ hấp thụ 80-90%, thậm chí bán hết trong ngày, thì 6 tháng đầu năm nay tỷ lệ giao dịch thành công đã xuống dưới 50%.

    Vị Phó Chủ tịch Hiệp hội cho rằng, nguyên nhân quan trọng nằm ở sự thay đổi của lực cầu. Dòng tiền đầu cơ đang rút khỏi thị trường, thay vào đó là lực cầu thực với yêu cầu ngày càng cao về khả năng ở, khai thác kinh tế và tạo dòng tiền ổn định. “Lực cầu đang bị ‘thuần hóa’ mạnh mẽ và có tính chọn lọc rất cao”, ông Đính nhận định.

     Ông Nguyễn Văn Đinh chia sẻ tại Diễn đàn “Bất động sản khu vực phía Nam – Mở dư địa tăng trưởng mới”. (Ảnh: DĐDN)

    Theo các báo cáo nghiên cứu, tại khu vực ven TP HCM cũ, giá căn hộ bình quân khoảng 108 triệu đồng/m², trong khi một số khu vực phía Đông và Đông Bắc TP HCM có nguồn cung quanh 55-60 triệu đồng/m².

    Các chuyên gia cũng nhìn nhận, một trong những thay đổi đáng chú ý của thị trường là cách người mua đánh giá vị trí bất động sản.

    Ông Nguyễn Thái Bình, Phó Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, cho rằng dòng tiền đang rời khu vực trung tâm để bám theo các trục hạ tầng và không gian đô thị mới. Người mua hiện không còn quá chú trọng số kilomet từ dự án đến trung tâm mà quan tâm nhiều hơn đến thời gian di chuyển thực tế. Điều này tạo dư địa cho các đô thị vệ tinh và khu vực vùng ven, nhất là nơi được đầu tư mạnh về vành đai, cao tốc, metro và các tuyến kết nối liên vùng.

    Tuy nhiên, ông Bình lưu ý hạ tầng mới chỉ là “điều kiện cần”. Không ít dự án nằm cạnh cao tốc, metro hoặc sân bay vẫn thiếu người mua nếu thiếu quy hoạch đồng bộ, tiện ích và năng lực vận hành. Giá trị cuối cùng phải được quyết định bởi nội lực của dự án, khả năng thu hút cư dân và hình thành hoạt động kinh tế thực chất.

    “Xu hướng tương lai sẽ không còn thuộc về những dự án phân lô đơn lẻ mà nghiêng về các đại đô thị tích hợp, nơi cư dân có thể sinh sống, làm việc và sử dụng dịch vụ ngay tại chỗ”, ông Bình cho hay.

    Ở góc độ dữ liệu thị trường, ông Đinh Minh Tuấn, Giám đốc khu vực phía Nam Batdongsan, cho biết nhu cầu tìm kiếm hiện tập trung mạnh vào căn hộ. Tại TP HCM, căn hộ chiếm 40% lượng tìm kiếm, trong khi tỷ lệ này tại Hà Nội là 49%.

    Đáng chú ý, 60% người tiêu dùng được khảo sát đặt tiêu chí bất động sản phải có khả năng ở được hoặc tạo dòng tiền cho thuê. Trong khi đó, 80% nguồn cung mới có giá trên 50 triệu đồng/m², trái ngược với nhu cầu lớn của người mua đang tìm kiếm sản phẩm dưới ngưỡng này.

    “Đây chính là điểm nghẽn khiến nhu cầu có thật nhưng giao dịch chưa thể bứt lên. Trên thị trường thứ cấp, giá đã bắt đầu điều chỉnh. Giá bán thứ cấp tại Hà Nội giảm khoảng 5-14%, còn TP HCM giảm 5-7%”, ông Tuấn đưa ra thống kê.

    Đồng thời ông Tuấn cho rằng bên mua vẫn có nhu cầu nhưng bên bán và bên mua chưa gặp nhau do khoảng cách về giá.

    Trong khi đó, lãi suất tiếp tục là biến số quan trọng. Dữ liệu 5 năm của Batdongsan.com.vn cho thấy mỗi khi lãi suất tăng, giá căn hộ TP HCM chịu áp lực giảm khoảng 5-7%. Ngược lại, khi lãi suất hạ nhiệt trong năm 2025-2026, giá căn hộ đã tăng nhanh, riêng năm vừa qua tăng 22,5%.

    Ông Tuấn đánh giá thị trường đã bắt đầu phát đi tín hiệu tạo đáy khi lượng tìm kiếm bất động sản trong tháng 7 ngừng giảm và đi ngang. Tuy nhiên, sự phục hồi được dự báo diễn ra chậm và chọn lọc, tập trung vào các dự án phục vụ nhu cầu ở thực, nằm dọc những trục hạ tầng lớn hoặc tại các trung tâm đô thị mới.

    Trong khi đó, bà Trần Thị Cẩm Tú, Tổng Giám đốc EXIMRS đưa ra góc nhìn, việc TP HCM hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đang thúc đẩy thị trường vận hành theo logic vùng thay vì địa giới hành chính. Nhà đầu tư cũng ngày càng khắt khe về pháp lý và ưu tiên sản phẩm có nhu cầu thực hoặc khả năng cho thuê.

    Theo bà Tú, để kích hoạt thanh khoản, doanh nghiệp cần định giá sát giá trị thực ngay từ đầu và đưa ra giải pháp tài chính giảm áp lực dòng tiền, thay vì dựa vào các chương trình khuyến mãi mang tính hình thức.

    Ở góc nhìn chính sách, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, nhìn nhận thị trường bất động sản năm 2026 đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ sau thời gian dài lệch pha về phân khúc. Nguồn cung từng tập trung quá lớn vào cao cấp, siêu sang, trong khi nhà ở bình dân và nhà ở xã hội thiếu hụt.

    Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, cho rằng thị trường bất động sản đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ. (Ảnh: DĐDN)

    Theo ông Châu, nhu cầu nhà ở thực vẫn rất lớn. Riêng TP HCM được khảo sát có khoảng 974.000 người có nhu cầu về nhà ở xã hội. Một dự án chỉ cung cấp 750 căn nhưng nhận tới 15.000 hồ sơ đăng ký.

    Đáng chú ý, trong 7 tháng đầu năm, TP HCM có 37 dự án nhà ở đủ điều kiện huy động vốn, cung ứng hơn 27.000 căn hộ, cao hơn đáng kể mức bình quân khoảng 15.000 căn/năm của giai đoạn trước. Tuy nhiên, nguồn cung tăng chưa đồng nghĩa thanh khoản tăng khi người mua vẫn thiếu niềm tin và doanh nghiệp thiếu dòng tiền.

    Bức tranh này cho thấy thị trường bất động sản phía Nam đang bước vào một cuộc sàng lọc sâu hơn. Dòng tiền không biến mất, nhưng đang tìm đến những sản phẩm có giá trị sử dụng thật, pháp lý rõ ràng, kết nối tốt và có khả năng tạo dòng tiền. 

    Núi Thành

    Nguồn https://baomoi.com/luc-cau-bat-dong-san-phia-nam-giam-thoi-ban-hang-o-at-da-qua-c55862367.epi

  • Vĩnh Long: Điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên nguồn lực cho phân khúc nhà ở xã hội

    Theo Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long, đến đầu tháng 8/2026, toàn tỉnh có 26 dự án nhà ở xã hội đã, đang triển khai và mời gọi đầu tư với quy mô khoảng 9.269 căn. (Ảnh minh họa: Quang Cường/TTXVN)

    Tỉnh Vĩnh Long đã chỉ đạo các ngành, đơn vị chức năng và địa phương tập trung triển khai các mặt công tác để thực hiện hiệu quả Quyết định số 4765/QĐ-UBND, ngày 30/7/2026 của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030.

    Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Trúc Sơn, mục tiêu của chương trình là giải quyết căn bản nhu cầu an cư cho người thu nhập thấp, công nhân lao động, góp phần tích cực đảm bảo an sinh xã hội gắn liền với tiến trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp bền vững.

    Chương trình phát triển nhà ở của tỉnh không chỉ hướng tới số lượng mà còn đặc biệt chú trọng đến chất lượng và khả năng chi trả của người dân. Trong đó, tỉnh dành sự đầu tư lớn cho nhà ở xã hội cho đối tượng trong diện chính sách được thụ hưởng nhằm giúp người có thu nhập thấp an cư yên tâm lao động sản xuất.

    Qua rà soát từ Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long, nhu cầu về nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh rất lớn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc rà soát, sắp xếp bộ máy sau sáp nhập, khiến lưu lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động từ các địa phương lân cận về Vĩnh Long sinh sống và làm việc tăng thêm gần 3.600 người.

    Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh quy hoạch và thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu – cụm công nghiệp, mở rộng quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, khiến gia tăng nhu cầu về chỗ ở từ phía công nhân, sinh viên và người lao động thu có nhập thấp. Đây chính là động lực cấp thiết để tỉnh điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên nguồn lực cho phân khúc nhà ở xã hội.

    Trong Chương trình phát triển nhà ở, Vĩnh Long phấn đấu hoàn thành khoảng 1,34 triệu m2 sàn, tương đương khoảng 20.508 căn hộ; trong đó tỉnh dành hơn 19.500 căn cho nhóm đối tượng thu nhập thấp; gần 1.000 căn cho lực lượng vũ trang và khoảng 2.000 căn nhà lưu trú cho công nhân thuê.

    Ngoài ra, địa phương dự kiến hoàn thành 549 căn nhà ở công vụ, cam kết đáp ứng 100% nhu cầu phát sinh của các đối tượng thụ hưởng theo qui định pháp luật.

    Các dự án nhà ở, khu đô thị mới tại Vĩnh Long giai đoạn này sẽ được quy hoạch theo hướng thông minh, nhà ở xanh và ứng dụng công nghệ số.

    Tỉnh ưu tiên phát triển các dự án gắn liền với các vùng động lực đô thị-công nghiệp-dịch vụ trung tâm, các vùng nông nghiệp công nghệ cao và dọc theo các trục giao thông huyết mạch.

    Theo Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Long, đến đầu tháng 8/2026, toàn tỉnh có 26 dự án nhà ở xã hội đã, đang triển khai và mời gọi đầu tư với quy mô khoảng 9.269 căn. Tỉnh đã triển khai 10 dự án nhà ở xã hội với 1.199 căn đã hoàn thành và hơn 1.063 căn được khởi công.

    Từ nay đến cuối năm 2026, địa phương dự kiến hoàn thành thêm 470 căn và khởi công mới 1.581 căn bao gồm các dự án trọng điểm như: Khu tái định cư – dân cư Bắc Mỹ Thuận giai đoạn 2, Khu công nghiệp Hòa Phú và khu vực phường Long Châu…

    Để thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển nhà ở, Vĩnh Long đang xúc tiến công tác rà soát, bố trí quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội đồng bộ với các thiết chế công đoàn. Tỉnh đã có kế hoạch bố trí và công khai danh mục 38 khu vực xây dựng nhà ở, với tổng diện tích hơn 300ha đất để mời gọi đầu tư. Vĩnh Long đã xúc tiến thành lập Quỹ nhà ở địa phương để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, tạo quỹ nhà cho thuê. Công tác cải cách thủ tục hành chính sẽ được tỉnh đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi số, liên thông dữ liệu quốc gia.

    Ước tính nhu cầu vốn phát triển nhà ở của tỉnh giai đoạn 2021-2030 khoảng 332.213 tỷ đồng. Trong đó, nguồn vốn ngoài ngân sách là chủ yếu với hơn 331.000 tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh và các nguồn vốn hợp pháp khác sẽ được tập trung để xóa nhà tạm, hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu nâng cấp nhà ở theo tiêu chuẩn “3 cứng”: nền cứng, khung – tường cứng và mái cứng.

    Tỉnh cam kết cắt giảm tối đa thời gian thực hiện các thủ tục về đất đai, quy hoạch, môi trường, phòng cháy, chữa cháy; đồng thời tháo gỡ vướng mắc để người dân và doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ nhà ở xã hội, đảm bảo an cư cho người dân, tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/vinh-long-dieu-chinh-quy-hoach-uu-tien-nguon-luc-cho-phan-khuc-nha-o-xa-hoi-c55862347.epi

  • Những định hướng chính sách lớn trong sửa đổi Luật Đất đai năm 2024

    Sáng 19/8/2026, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến điều hành phiên họp. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết

    Trình bày Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết: Qua gần 2 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, quan trọng, góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất. 

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số Nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp nhưng chỉ mang tính tạm thời. Bên cạnh đó, sau khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành, Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận mới về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế, đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

    Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho rằng, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết, nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, việc sửa đổi Luật lần này hướng tới ba mục tiêu:

    Thứ nhất, thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới chính sách, pháp luật đất đai; cụ thể hóa các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

    Thứ hai, giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Đất đai; tháo gỡ căn bản các điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn mới. 

    Cuối cùng là xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả thông qua đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng chính sách là bám sát các chủ trương của Đảng, xuất phát từ thực tiễn, luật hóa các cơ chế đã được kiểm nghiệm, chỉ quy định trong Luật những nội dung mang tính nguyên tắc, ổn định; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và phát huy tối đa nguồn lực đất đai cho phát triển đất nước. 

    7 nhóm chính sách lớn

    Trên cơ sở quan điểm, định hướng được Trung ương thông qua tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách.

    Đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng kết hợp giữa phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất với tổ chức không gian phát triển, phân vùng sử dụng đất và khoanh định các khu vực cần bảo vệ; xác định chức năng sử dụng đất của từng khu vực; sắp xếp hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng tỉnh gọn, giảm số lượng tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính; nâng cao chất lượng quy hoạch, kiểm soát chặt việc điều chỉnh quy hoạch.

    Hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực và sử dụng đất hiệu quả; quy định rõ các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; quy định đầy đủ căn cứ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với từng phương thức tiếp cận đất đai; hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất để phát triển nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách, nhà ở thương mại và nhà ở phục vụ tái định cư; khai thác quỹ đất cơ quan, trụ sở dôi dư; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất; tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

    Hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng quy định rõ hơn tiêu chí dự án, phạm vi thu hồi đất; bổ sung quy định thu hồi đất, phát triển quỹ đất vùng phụ cận, các công trình kết cấu hạ tầng; chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”; ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ; không quy định cứng là việc thu hồi đất chỉ thực hiện sau khi đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hoàn thành bố trí tái định cư.

    Đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch, kết nối liên thông giữa dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành có liên quan; không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo; điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất; chính sách hợp lý về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất sản xuất kinh doanh, đất phát triển dự án nhà ở cho thuê với giá phù hợp; chính sách ưu đãi thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phù hợp với lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người có thu nhập thấp, người có nhà ở duy nhất, gia đình người có công với cách mạng.

    Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo hướng khơi thông nguồn lực tài nguyên đất thông qua mở rộng cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích nhưng có cơ chế quản lý, kiểm soát; hoàn thiện quy định về công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ hoạt động lấn biển, thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai; phát triển thị trường quyền sử dụng đất và bổ sung chế độ sử dụng đất đối với một số loại đất, mô hình phát triển mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. 

    Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; xử lý các tồn tại lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận; đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với nâng cao trách nhiệm của địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương.

    Đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; khắc phục bằng được tình trạng không sử dụng đất, để đất hoang hóa, ô nhiễm, suy thoái; các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất, trong đó bao gồm đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. 

    Tiếp tục làm rõ những vấn đề lớn của Luật

    Cho ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Ủy ban Kinh tế và Tài chính (UBKTTC) tán thành với sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 như đã nêu tại Tờ trình số 528/TTr-CP của Chính phủ.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa Nguyễn Ngọc Bảo cho biết: Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chỉ tiêu sử dụng đất (Chính sách 1), phân loại đất (trong nội dung Chính sách 5), UBKTTC nhận thấy, nội dung thể chế chính sách và quy định cụ thể tại dự thảo Luật chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới theo quan điểm “chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai” và mục tiêu “đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới” theo Nghị quyết số 21-NQ/TW. Đề nghị rà soát kỹ lưỡng, đề xuất phương án thực sự đột phá, khả thi, có sự đổi mới thực chất để thực hiện được mục tiêu giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn, cụ thể:

    Tiếp tục nghiên cứu theo hướng đổi mới mạnh mẽ về phân loại đất, chỉ phân loại đất thành các loại đất hợp lý, thực sự cần thiết để quản lý theo chỉ tiêu, bao gồm đất trồng lúa, đất rừng, đất quốc phòng, đất an ninh; đối với các loại đất còn lại thì không quản lý theo chỉ tiêu cứng về sử dụng đất mà quản lý theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội.

    Làm rõ nội dung “quy hoạch thống nhất của đơn vị hành chính cấp tỉnh” là một quy hoạch mới bên cạnh hay thay thế quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung thành phố. Làm rõ phương pháp “tích hợp quy hoạch” để bảo đảm tính khả thi do các chỉ tiêu, yêu cầu kinh tế – kỹ thuật của các loại quy hoạch không tương thích với cách thức phân loại đất, chỉ tiêu sử dụng đất; đồng thời, bảo đảm nội dung đất đai không phải một cấu phần “riêng rẽ”, “độc lập”, “phép cộng vật lý” đơn thuần với các cấu phần định hướng phát triển khác trong quy hoạch; nêu rõ nội dung chính sách có điểm gì mới, tiến bộ so với Luật Quy hoạch năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung 37 luật có liên quan đến quy hoạch để bảo đảm thể chế đúng yêu cầu đổi mới theo Nghị quyết số 21-NQ/TW. Báo cáo rõ về phương án sửa đổi Luật Quy hoạch, Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn để bảo đảm hiệu lực thi hành của Luật Đất đai (sửa đổi) từ ngày 1/3/2027.

    Hoàn thiện quy định về Kế hoạch sử dụng đất cấp xã bảo đảm thực sự đơn giản, rõ nội dung, không gây chồng lấn hoặc xung đột với các quy hoạch khác, không tiếp tục “chẻ nhỏ” các chỉ tiêu tại quy hoạch sử dụng đất, bảo đảm đúng tính chất của kế hoạch không có giá trị pháp lý bắt buộc phải thực hiện, không phải là một “hình thức khác của quy hoạch”, mà chỉ mang tính chất tổng hợp nhu cầu sử dụng đất, không làm phát sinh thủ tục hành chính hoặc tạo rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Tiếp tục nghiên cứu định hướng sửa đổi các quy định về chuyển mục đích sử dụng đất thống nhất với nguyên tắc về phân loại đất nêu trên, tránh làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết, làm giảm hiệu quả sử dụng đất. Tiếp tục hoàn thiện nội dung chính sách về đất đa mục đích để bảo bảo tính khả thi và góp phần phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đất.

    Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (Chính sách 2). Việc đề xuất thành lập đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện các chức năng của tổ chức phát triển quỹ đất là hết sức đáng quan ngại do chưa rõ về cơ sở chính trị, cơ sở thực tiễn cũng như chưa phù hợp với pháp luật có liên quan chưa phù hợp với với chủ trương cơ cấu lại đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

    UBKTTC đề nghị báo cáo làm rõ đối với trường hợp nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở và quy mô dự án chưa đạt đến khu đô thị thì tiếp tục thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 171/2024/QH15 hay đã được luật hóa tại điều khoản nào của dự thảo Luật; cung cấp thông tin về thực tiễn về trường hợp này.

    Về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Chính sách 3). Điều 35 dự thảo Luật quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; tuy nhiên, một số trường hợp chưa thể hiện rõ và thuyết phục về tính chất “thật cần thiết” theo khoản 3 Điều 32 Hiến pháp, tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng như: dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, dự án thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất, dự án tạo quỹ đất để thanh toán dự án theo hợp đồng BT… Đối với trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án tái định cư, nếu như nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng thành dự án thành phần độc lập thì có thể dẫn đến thu hồi đất 2 lần, 2 khu vực mà chỉ để triển khai 1 dự án đầu tư.

    UBKTTC đề nghị báo cáo làm rõ về sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí để đề xuất các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với các dự án đầu tư kinh doanh mới được bổ sung. Quy định rõ ràng về tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo yêu cầu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW. Đánh giá, tổng kết việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết 254/2025/QH15 để làm rõ cơ sở luật hóa các cơ chế mang tính đặc thù thành các cơ chế chính thức, áp dụng chung trên phạm vi cả nước.

    UBKTTC đề nghị rà soát kỹ lưỡng những trường hợp cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư bảo đảm thật sự cần thiết, cấp bách, vì lợi ích chung do chưa rõ cơ chế để bảo đảm lợi ích hợp pháp và giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng đất trong trường hợp này. Một số ý kiến đề nghị phải quy định rõ trình tự, thủ tục thu hồi đất tại Luật vì đây là những quy định rất quan trọng, tác động lớn đối với người dân, đòi hỏi sự minh bạch, rõ ràng và có tính ổn định cao. 

    Đề nghị bổ sung các quy định tương ứng với chính sách về cơ chế thực hiện dự án vùng phụ cận các điểm kết nối giao thông và các tuyến giao thông có tiềm năng phát triển; rà soát, tổng kết kỹ lưỡng, làm rõ cơ sở của việc luật hóa cơ chế thí điểm tại Nghị quyết số 188/2025/QH15 ngày 19/2/2025 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại Thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh; bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các luật có liên quan.

    Về tài chính về đất đai, giá đất (Chính sách 4), UBKTTC đề nghị tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế xác định giá đất cho sản xuất, kinh doanh bảo đảm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; cần quy định rõ, khả thi về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và các tỷ lệ đều có thể điều chỉnh tăng hoặc điều chỉnh giảm để phù hợp với mục tiêu huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. 

    Tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ quy định tại Luật những nội dung mang tính nguyên tắc về giá đất, giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ trong quá trình tổ chức thực hiện.

    V.T/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/nhung-dinh-huong-chinh-sach-lon-trong-sua-doi-luat-dat-dai-nam-2024-c55862385.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!