Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia: Chuyển từ quản lý theo quy trình sang kết quả

    Đổi mới phương thức phân bổ vốn

    Sáng 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, sau khi tích hợp, chương trình vẫn giữ nguyên tổng nguồn lực dự kiến khoảng 808.558 tỷ đồng. Chính phủ kiến nghị Quốc hội giao Chính phủ rà soát, quyết định cơ cấu từng nguồn vốn, cơ cấu chi đầu tư và chi thường xuyên của ngân sách Trung ương, bảo đảm triệt để tiết kiệm chi thường xuyên.

    Chương trình gồm 7 nhóm nhiệm vụ lớn: Phát triển hạ tầng thiết yếu, bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế nông thôn, sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, việc làm và thu nhập; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

    Bên cạnh đó là nhóm nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa; thực hiện chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó ưu tiên nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt, tái định cư, đất sản xuất, chuyển đổi nghề, vùng dược liệu; quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyển đổi số, kiểm tra, đánh giá và truyền thông.

    Chính phủ đề xuất đổi mới phương thức phân bổ vốn, chuyển từ “phân bổ theo nhu cầu đăng ký” sang kết hợp giữa nhu cầu với kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, năng lực và điều kiện sẵn sàng.

    Đối với kế hoạch trung hạn, nguồn lực sẽ được phân bổ theo nhóm tiêu chí chung như dân số, diện tích, mức độ khó khăn, khả năng cân đối ngân sách, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các tiêu chí riêng theo từng nhóm mục tiêu để xác định mức trần hỗ trợ.

    Hằng năm, việc phân bổ sẽ gắn với nhu cầu thực tế, kết quả thực hiện, khả năng giải ngân và vốn đối ứng. Chính phủ cũng đề xuất cho phép điều chuyển vốn từ nhiệm vụ chậm triển khai sang nhiệm vụ có khả năng hoàn thành tốt hơn.

    Đối với địa phương, ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ theo mức độ cân đối ngân sách. Địa phương nhận bổ sung cân đối hoặc không nhận bổ sung cân đối nhưng không điều tiết về ngân sách Trung ương được xem xét theo khung tỷ lệ; trong đó, địa phương nhận bổ sung cân đối từ 60% tổng chi cân đối ngân sách địa phương trở lên được xác định mức hỗ trợ cao hơn. Địa phương tự cân đối ngân sách chủ động bố trí nguồn lực thực hiện chương trình.

    Theo dự thảo, nguồn lực cũng được ưu tiên ở mức cao nhất cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo; đồng thời thực hiện lồng ghép các nguồn vốn có cùng mục tiêu.

    Tại tờ trình, Chính phủ đề xuất Quốc hội cho phép Chính phủ quyết định cơ cấu các nguồn vốn trong tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng; ban hành một nghị quyết quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện chương trình theo hướng đơn giản hóa thủ tục, rõ tiêu chí đầu ra, phân cấp mạnh và xử lý đầy đủ các vấn đề chuyển tiếp.

    Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Không để tích hợp làm giảm nguồn lực cho các nhóm yếu thế

    Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn cho biết, Hội đồng Dân tộc thống nhất với Chính phủ về sự cần thiết tích hợp thực chất 4 chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành thành một chương trình tổng thể.

    Theo Hội đồng Dân tộc, việc tích hợp nhằm sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, đầu tư đồng bộ, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương, chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra; đồng thời khắc phục tình trạng nhiều đầu mối, khó lồng ghép nguồn lực, chậm phân bổ và giải ngân.

    Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 cho thấy, giải ngân ngân sách Trung ương mới đạt 76,8%, kinh phí thường xuyên đạt 70,2%. Đối với nguồn vốn kéo dài sang năm 2026, đến ngày 31/7/2026 mới giải ngân khoảng 23%.

    Vì vậy, Hội đồng Dân tộc cho rằng cùng với việc tích hợp, cần xử lý đồng bộ những hạn chế về thiết kế chính sách, chuẩn bị nhiệm vụ, khả năng hấp thụ vốn, thủ tục và công tác phối hợp.

    Theo báo cáo thẩm tra, tổng nguồn lực của 4 chương trình trước khi hợp nhất là 808.558 tỷ đồng, gồm 345.000 tỷ đồng ngân sách Trung ương; 395.392 tỷ đồng ngân sách địa phương; 23.000 tỷ đồng thực hiện tín dụng chính sách; 20.429 tỷ đồng vốn đối ứng của cơ sở giáo dục và 24.737 tỷ đồng nguồn huy động hợp pháp khác.

    Hội đồng Dân tộc thống nhất không áp dụng cơ học tỷ lệ 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị Nghị quyết của Quốc hội xác định tổng vốn, cơ cấu vốn đầu tư công – kinh phí thường xuyên và giới hạn giao Chính phủ.

    Theo đó, Chính phủ được chủ động cơ cấu chi tiết trong phạm vi, giới hạn Quốc hội quyết định, nhưng không làm thay đổi tổng vốn đầu tư, mục tiêu, đối tượng, mức độ ưu tiên và các nội dung thuộc chủ trương đầu tư do Quốc hội quyết định.

    Đặc biệt, việc cơ cấu lại nguồn vốn không được làm giảm nguồn lực dành cho hỗ trợ trực tiếp, sinh kế, phát triển sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, đào tạo nghề và chính sách dân tộc.

    Hội đồng Dân tộc cũng lưu ý, vốn đối ứng của địa phương phải phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, không để các địa phương khó khăn mất khả năng tiếp cận nguồn vốn Trung ương. Trường hợp vượt phạm vi được giao, Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

    Đối với đề xuất áp dụng ngưỡng ưu tiên ngân sách Trung ương cho các địa phương nhận bổ sung cân đối từ 60% tổng chi cân đối ngân sách địa phương trở lên, Hội đồng Dân tộc cơ bản tán thành.

    Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiêu chí về cân đối ngân sách không được thay thế các tiêu chí về đối tượng, mức thiếu hụt dịch vụ cơ bản và định mức chuyên ngành. Đặc biệt, xã, thôn đặc biệt khó khăn phải được xác định trọng số đủ lớn trong phân bổ nguồn lực.

    Đối với đề nghị giao Chính phủ quyết định cơ cấu từng nguồn vốn trong tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng, Hội đồng Dân tộc cho rằng do cơ cấu từng nguồn lực đã được Quốc hội quyết nghị tại 4 nghị quyết hiện hành, cần quy định rõ phạm vi chủ động của Chính phủ.

    Theo đó, Chính phủ được rà soát, cơ cấu lại trong tổng nguồn lực và theo dự toán, kế hoạch được cấp có thẩm quyền quyết định, nhưng không làm thay đổi tổng vốn đầu tư, mục tiêu, đối tượng, mức độ ưu tiên và các nội dung thuộc chủ trương đầu tư do Quốc hội quyết định.

    Trường hợp việc cơ cấu lại vượt quá phạm vi này, Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

    Yến Chi

    Nguồn https://baomoi.com/tich-hop-4-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-chuyen-tu-quan-ly-theo-quy-trinh-sang-ket-qua-c55863676.epi

  • Sửa Luật Đất đai: Tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, phát triển đô thị và nhà ở

    Sáng 19/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất (đợt 2), Quốc hội nghe Tờ trình và báo cáo về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Đề xuất 7 nhóm chính sách sửa đổi Luật Đất đai

    Trình bày tóm tắt định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, qua gần 2 năm thi hành, Luật và các văn bản quy định chi tiết có nhiều nội dung mới, góp phần hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày Tờ trình. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung. Các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn mới mang tính tạm thời.

    Việc sửa đổi Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt Nghị quyết số 21-NQ/TW; bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

    Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, việc sửa đổi Luật hướng tới 3 mục tiêu: Thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng về đổi mới chính sách, pháp luật đất đai; giải quyết những vấn đề cấp bách từ thực tiễn, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu tăng trưởng “hai con số”; xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả thông qua phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.

    Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW và kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách.

    Theo đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được đổi mới theo hướng kết hợp phân bổ chỉ tiêu với tổ chức không gian phát triển, phân vùng sử dụng đất, khoanh định khu vực cần bảo vệ; tinh gọn hệ thống quy hoạch, tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính.

    Cơ chế giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực; quy định rõ các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất và hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất phát triển các loại hình nhà ở.

    Các đại biểu tham dự phiên họp sáng 19/8. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Đối với thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chính sách mới quy định rõ tiêu chí, phạm vi thu hồi đất; bổ sung quy định thu hồi đất, phát triển quỹ đất vùng phụ cận, công trình hạ tầng; chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”.

    Về tài chính đất đai, giá đất, định hướng là giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch; ngăn ngừa thao túng, hình thành giá ảo và điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất.

    Chính sách cũng mở rộng sử dụng đất kết hợp đa mục đích có kiểm soát; hoàn thiện quy định về công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ lấn biển; thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai và phát triển thị trường…

    Cùng với đó, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, xử lý tồn tại trong cấp Giấy chứng nhận và đơn giản hóa thủ tục phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp.

    Chính phủ cũng định hướng luật hóa các quy định tại các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ; sửa đổi thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp, tiếp tục phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương.

    Đổi mới thực chất trong quản lý, sử dụng đất

    Trình bày báo cáo về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo thông tin, Ủy ban đã có Báo cáo số 879/BC-UBKTTC16 cho ý kiến về định hướng chính sách theo Tờ trình số 528/TTr-CP của Chính phủ.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo. (Ảnh: Media Quốc hội).

    Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024; đề nghị tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật song song với quá trình hoàn thiện chính sách, bảo đảm chất lượng hồ sơ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai.

    Đáng chú ý, Ủy ban nhận thấy nội dung thể chế chính sách và quy định cụ thể tại dự thảo Luật chưa đáp ứng yêu cầu “chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai”. Vì vậy, đề nghị rà soát, đề xuất phương án thực sự đột phá, khả thi, có sự đổi mới thực chất.

    Về phân loại đất, Ủy ban đề nghị chỉ phân loại những loại đất thực sự cần thiết để quản lý theo chỉ tiêu, gồm đất trồng lúa, đất rừng, đất quốc phòng, đất an ninh; các loại đất còn lại không quản lý theo chỉ tiêu cứng mà quản lý theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội.

    Đối với “quy hoạch thống nhất của đơn vị hành chính cấp tỉnh”, cần làm rõ đây là quy hoạch mới hay thay thế quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung thành phố; làm rõ phương pháp “tích hợp quy hoạch” và nội dung mới, tiến bộ so với Luật Quy hoạch năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung 37 luật có liên quan đến quy hoạch.

    Ủy ban cũng đề nghị hoàn thiện kế hoạch sử dụng đất cấp xã theo hướng đơn giản, rõ nội dung, không chồng lấn hoặc xung đột với quy hoạch khác, không tiếp tục “chẻ nhỏ” chỉ tiêu và không làm phát sinh thủ tục hành chính, tạo rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Đối với giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, Ủy ban cho rằng, đề xuất thành lập đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã để thực hiện chức năng của tổ chức phát triển quỹ đất là vấn đề đáng quan ngại do chưa rõ cơ sở chính trị, cơ sở thực tiễn và chưa phù hợp với pháp luật có liên quan.

    Đối với dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất hoặc trường hợp nhà đầu tư đang có quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở và quy mô dự án chưa đạt đến khu đô thị, Ủy ban đề nghị làm rõ tiếp tục thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 171/2024/QH15 hay đã được luật hóa tại dự thảo Luật.

    Về thu hồi đất, Ủy ban nhận thấy một số trường hợp chưa thể hiện rõ tính chất “thật cần thiết”, tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng như dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, dự án thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất, dự án tạo quỹ đất để thanh toán dự án theo hợp đồng BT.

    Do đó, Ủy ban đề nghị làm rõ sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí đối với các trường hợp thu hồi đất mới được bổ sung; quy định rõ tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; đánh giá, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 để làm rõ cơ sở luật hóa các cơ chế đặc thù.

    Đồng thời, cần rà soát những trường hợp cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trước khi hoàn thành bố trí tái định cư, bảo đảm thật sự cần thiết, cấp bách, vì lợi ích chung; làm rõ cơ chế bảo đảm lợi ích hợp pháp và giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng đất.

    Về tài chính đất đai, giá đất, Ủy ban đề nghị tiếp tục nghiên cứu cơ chế xác định giá đất cho sản xuất, kinh doanh bảo đảm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng.

    Ngoài ra, cần quy định rõ, khả thi về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và các tỷ lệ có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm; tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Linh Đan

    Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-dat-dai-thao-go-vuong-mac-ve-quy-hoach-phat-trien-do-thi-va-nha-o-c55863686.epi

  • Quốc hội nghe báo cáo định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

    Khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội

    Trình bày Tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, qua gần 2 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, quan trọng góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số Nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp nhưng chỉ mang tính tạm thời.

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng trình bày Tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Quang Khánh

    Bên cạnh đó, sau khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành, Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận mới về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

    Do đó, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, trên cơ sở quan điểm, định hướng được Trung ương thông qua tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách, gồm: đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất; hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất; hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyền trong quản lý đất đai; đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.

    Làm rõ về sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí để đề xuất các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

    Báo cáo tóm tắt ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 do Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo trình bày nêu rõ, cơ quan thẩm tra cơ bản tán thành với sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Nguyễn Ngọc Bảo trình bày Báo cáo tóm tắt ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Phạm Thắng

    Về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, Điều 35 dự thảo Luật quy định các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; tuy nhiên, một số trường hợp chưa thể hiện rõ và thuyết phục về tính chất “thật cần thiết” theo khoản 3 Điều 32 Hiến pháp.

    Cơ quan thẩm tra đề nghị, báo cáo làm rõ về sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí để đề xuất các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với các dự án đầu tư kinh doanh mới được bổ sung. Quy định rõ ràng về tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo yêu cầu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW. Đánh giá, tổng kết việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết 254/2025/QH15 để làm rõ cơ sở luật hóa các cơ chế mang tính đặc thù thành các cơ chế chính thức, áp dụng chung trên phạm vi cả nước.

    Đồng thời, rà soát kỹ lưỡng những trường hợp cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư bảo đảm thật sự cần thiết, cấp bách, vì lợi ích chung. Một số ý kiến đề nghị phải quy định rõ trình tự, thủ tục thu hồi đất tại Luật vì đây là những quy định rất quan trọng, tác động lớn đối với người dân, đòi hỏi sự minh bạch, rõ ràng và có tính ổn định cao.

    Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

    Bên cạnh đó, Ủy ban đề nghị bổ sung các quy định tương ứng với chính sách về cơ chế thực hiện dự án vùng phụ cận các điểm kết nối giao thông và các tuyến giao thông có tiềm năng phát triển; rà soát, tổng kết kỹ lưỡng, làm rõ cơ sở của việc luật hóa cơ chế thí điểm tại Nghị quyết số 188/2025/QH15 ngày 19/2/2025 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các luật có liên quan.

    Liên quan tới tài chính đất đai, giá đất, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, cơ quan soạn thảo cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế xác định giá đất cho sản xuất, kinh doanh bảo đảm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; cần quy định rõ, khả thi về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và các tỷ lệ đều có thể điều chỉnh tăng hoặc điều chỉnh giảm để phù hợp với mục tiêu huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Ngoài ra, cơ quan thẩm tra đề nghị, tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ quy định tại Luật những nội dung mang tính nguyên tắc về giá đất, giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Thanh Chi

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-nghe-bao-cao-dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-c55863595.epi

  • Khánh thành dự án nâng cấp sân bay Liên Khương

    Sáng 19-8, UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), Cảng hàng không quốc tế Liên Khương tổ chức lễ khánh thành dự án “Sửa chữa đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng hàng không quốc tế Liên Khương”.

    Người dân làm thủ tục tại sân bay Liên Khương sáng 19-8. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Dự án khởi công ngày 4-3-2026, có tổng mức đầu tư 1.032 tỷ đồng. Sau gần 6 tháng thi công, toàn bộ đường cất hạ cánh dài 3.250m, rộng 45m và hệ thống đường lăn được xây dựng lại; các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, thiết bị bảo đảm hoạt động bay cũng được nâng cấp đồng bộ.

    Sau nâng cấp, sân bay Liên Khương dự kiến khai thác bình quân 36-40 lượt chuyến/ngày, kết nối Lâm Đồng với TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh, Cần Thơ và Hải Phòng.

    Nhân viên sân bay Liên Khương hướng dẫn người dân làm thủ tục sinh trắc học. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Tại nhà ga sân bay Liên Khương, khu vực phục vụ hành khách được sắp xếp lại với nhiều quầy phục vụ hơn trước.

    Nhiều quầy thông tin mới được trang bị phục vụ hành khách tại sân bay Liên Khương. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Mỗi năm, Lâm Đồng đón hàng triệu lượt khách trong nước và quốc tế, trong khi Đà Lạt ngày càng là điểm đến của nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, hội nghị và nghỉ dưỡng, kéo theo nhu cầu vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tăng.

    Nhà ga sân bay Liên Khương. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Việc dự án hoàn thành trước các kỳ nghỉ kéo dài giúp người dân và du khách thuận lợi hơn khi di chuyển đến và đi Đà Lạt – Lâm Đồng.

    Theo ACV, việc hoàn thành khối lượng công việc lớn, yêu cầu kỹ thuật cao trong thời gian ngắn là cơ sở để đơn vị tiếp tục triển khai các dự án hạ tầng hàng không có quy mô, yêu cầu kỹ thuật và tiến độ cao hơn trong thời gian tới.

    Các đơn vị nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng sau khi hoàn thành dự án nâng cấp sân bay Liên Khương. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười cho biết, việc sân bay Liên Khương hoạt động trở lại không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tăng của người dân và du khách mà còn khơi thông một dòng chảy quan trọng đối với kinh tế Lâm Đồng; tạo điều kiện mở rộng thị trường khách, thúc đẩy du lịch, thương mại, dịch vụ, thu hút đầu tư và tăng cường kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười phát biểu tại lễ khánh thành. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

    Sự kiện càng có ý nghĩa trong những tháng cuối năm 2026, khi Lâm Đồng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, du lịch và thể thao quan trọng, trong đó có Tháng Du lịch Lâm Đồng năm 2026 và Festival Hoa Đà Lạt lần thứ XI. Đây là dịp thuận lợi để tỉnh đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến, kích cầu du lịch, thu hút du khách và mở rộng thị trường khách.

    ĐOÀN KIÊN

    Nguồn https://baomoi.com/khanh-thanh-du-an-nang-cap-san-bay-lien-khuong-c55863674.epi

  • Sân bay Liên Khương đón chuyến bay trở lại sau hơn 5 tháng

    Chuyến bay khai trương mang số hiệu VN1380 được chào đón bằng nghi thức phun vòi rồng tại Cảng HKQT Liên Khương sáng ngày 19/8. Ảnh: Cục Hàng không Việt Nam

    Theo thông tin từ Cục Hàng không Việt Nam, sáng ngày 19/8, UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) tổ chức chương trình đón chuyến bay đầu tiên khi Cảng hàng không quốc tế Liên Khương (Đà Lạt, Lâm Đồng) hoạt động trở lại.

    Gần 200 hành khách và thành viên tổ bay thuộc chuyến bay mang số hiệu VN1380 từ TP HCM đến Đà Lạt đã hạ cánh an toàn tại sân bay. Chuyến bay được chào đón bằng nghi thức phun vòi rồng trang trọng.

    Theo Cục Hàng không Việt Nam, dự án sửa chữa đường cất hạ cánh và đường lăn tại sân bay Liên Khương được triển khai cấp bách do kết cấu hạ tầng khu bay sau thời gian dài sử dụng đã xuống cấp. Việc nâng cấp này là bắt buộc nhằm khôi phục sức chịu tải của đường băng, nâng cao năng lực phục vụ và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các hoạt động khai thác hàng không.

    Trước đó, sân bay Liên Khương tạm đóng cửa từ ngày 4/3/2026 để thực hiện dự án nâng cấp hạ tầng khu bay với tổng vốn đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng. Dự án gồm sửa chữa toàn bộ đường cất hạ cánh, đường lăn, dải bảo hiểm đầu đường băng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Trong đó, đường cất hạ cánh 09 – 27 được sửa chữa toàn diện, thay thế kết cấu bê tông nhựa hiện hữu bằng bê tông xi măng nhằm nâng cao độ bền và năng lực khai thác.

    Việc khôi phục hoạt động của sân bay Liên Khương đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vận tải hàng không đang tăng, đồng thời tạo động lực thúc đẩy giao thương, du lịch và thu hút đầu tư cho tỉnh Lâm Đồng cũng như toàn vùng Tây Nguyên.

    Tại buổi lễ, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam Uông Việt Dũng cho biết: “Việc đưa Cảng hàng không quốc tế Liên Khương trở lại khai thác không chỉ nâng cao năng lực phục vụ vận tải hàng không của khu vực mà còn tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, thương mại, đầu tư và hội nhập quốc tế”.

    Ông Dũng cũng yêu cầu các đơn vị quản lý cảng, doanh nghiệp dịch vụ và các hãng bay tuân thủ nghiêm quy định về an ninh, an toàn hàng không, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ hành khách.

    Theo quy hoạch hiện hành, sân bay Liên Khương có quy mô cấp sân bay 4E, đủ tiêu chuẩn đáp ứng khai thác các dòng máy bay thân hẹp như Airbus A320, A321 và nhiều loại máy bay thân rộng như Boeing 787, Airbus A350.

    Trong giai đoạn 2021 – 2030, sân bay được định hướng phát triển đạt công suất 5 triệu hành khách/năm và tầm nhìn đến năm 2050 sẽ nâng lên mức 7 triệu hành khách/năm. Nền tảng hạ tầng mới này là cơ sở để các hãng hàng không nghiên cứu đưa máy bay lớn vào khai thác và mở rộng thêm các đường bay dài kết nối trực tiếp đến Lâm Đồng.

    Vũ Miên

    Nguồn https://baomoi.com/san-bay-lien-khuong-don-chuyen-bay-tro-lai-sau-hon-5-thang-c55863538.epi

  • Cân nhắc việc lấy kết quả giải ngân làm tiêu chí quyết định mức vốn hỗ trợ

    Tán thành Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia trên cơ sở tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 – 2035, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh nhấn mạnh, thực tiễn cho thấy yêu cầu tích hợp là cấp thiết nhằm giảm giao thoa, trùng lặp; phân bổ nguồn lực linh hoạt hơn, tăng tính chủ động và trách nhiệm của địa phương, đồng thời tạo điều kiện để người dân được tiếp cận đồng bộ các chính sách.

    Đại biểu dẫn thực tế, trong giai đoạn vừa qua đã phải ban hành tới 45 văn bản quy phạm pháp luật và gần 200 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, trong khi đến hết năm 2025 mới giải ngân được 76,8% kế hoạch và dự toán đã giao. Nhiều đầu mối hướng dẫn, thủ tục lòng vòng khiến địa phương lúng túng, vừa sợ sai, vừa chậm giải ngân.

    Toàn cảnh thảo luận tại Tổ 3 (Đoàn ĐBQH các tỉnh Thanh Hóa, Tây Ninh). Ảnh: Lâm Hiển

    Không làm mờ nhạt các mục tiêu đặc thù

    Một trong những đề xuất được ĐBQH Phan Thị Thùy Linh nhấn mạnh là việc tích hợp các chương trình không được làm mờ nhạt những mục tiêu văn hóa – xã hội vốn mang tính đặc thù. Bởi, mỗi mục tiêu của 4 chương trình hiện hành đều đã được xác định trong các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị. Vì vậy, tích hợp là để thống nhất mục tiêu chung, cơ chế quản lý và nguồn lực, nhưng những nội dung đặc thù về văn hóa, y tế, giáo dục, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải tiếp tục được giữ nguyên.

    Theo đại biểu, nếu không có cơ chế theo dõi cụ thể, có thể xuất hiện nguy cơ địa phương ưu tiên những công trình lớn, dễ giải ngân, trong khi các nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến đời sống người dân như hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo, y tế cơ sở, dinh dưỡng học đường hay thiết chế văn hóa cơ sở lại bị xếp sau.

    Từ đó, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh tán thành việc hệ thống mục tiêu được thể hiện thành phụ lục chi tiết theo từng nhóm lĩnh vực; đồng thời đề nghị quy định nguyên tắc thống kê nguồn vốn và kết quả đầu ra theo từng nhóm mục tiêu ngay trên hệ thống dữ liệu.

    ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

    Theo đại biểu, cách làm này sẽ bảo đảm dù quản lý theo một chương trình tích hợp nhưng vẫn có thể theo dõi riêng phần đầu tư cho giáo dục, y tế – dân số, văn hóa cũng như vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

    Liên quan đến điều khoản chuyển tiếp, đại biểu đề nghị quy định rõ ngay trong nghị quyết để tránh xáo trộn trong quá trình chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế mới.

    Cụ thể, năm 2026 cần tiếp tục thực hiện kế hoạch, dự toán đã được phê duyệt; tập trung giải ngân nguồn vốn cho chính sách dân tộc, hỗ trợ sinh kế, thanh quyết toán các công trình, dự án đang dở dang theo cơ chế cũ. Từ năm 2027 mới lập dự toán và giao kế hoạch vốn theo cơ chế mới.

    Đồng thời, cần có cơ chế xử lý số dư kinh phí và phần vốn chưa giải ngân hết của 4 chương trình hiện hành khi chuyển sang chương trình tổng thể, bảo đảm không để dự án bị đứt gãy hoặc phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản.

    Các ĐBQH Đoàn Thanh Hóa tại thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

    Phân bổ vốn phải ưu tiên nơi khó khăn, không chạy theo tỷ lệ giải ngân

    Về phân cấp, đầu mối điều phối và cơ chế giám sát, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh tán thành định hướng chuyển từ phân bổ theo từng dự án chi tiết sang giao vốn trọn gói theo mục tiêu.

    Theo đó, Trung ương ban hành mục tiêu đầu ra, tiêu chí, định mức; HĐND cấp tỉnh được quyền điều hòa vốn giữa các dự án thành phần theo nhu cầu thực tế của địa bàn mà không phải trình các bộ, ngành thẩm định lại.

    Đi cùng với phân cấp, đại biểu cho rằng phải chuyển mạnh sang quản lý theo kết quả đầu ra, trong đó mục tiêu phải rõ ràng, kết quả có thể đo lường, nguồn lực gắn với kết quả; đồng thời trao quyền chủ động cho đơn vị thực hiện, tăng cường theo dõi bằng dữ liệu và đề cao trách nhiệm giải trình.

    Để việc tích hợp thực chất hơn, đại biểu đề nghị chỉ duy trì một Ban Chỉ đạo và một Văn phòng điều phối chung; đồng thời rà soát, chấm dứt các ban quản lý chuyên trách riêng rẽ còn tồn tại ở các bộ. Nếu không thực hiện đồng bộ, theo đại biểu, việc gom đầu mối sẽ chỉ mang tính cơ học.

    Cùng với đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu giám sát số hóa, cập nhật theo thời gian thực thay cho các báo cáo giấy định kỳ và có một bộ tiêu chí đánh giá đầu ra thống nhất, tránh chồng chéo với tiêu chí chuyên ngành của các bộ.

    Các ĐBQH Đoàn Tây Ninh tham gia thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

    Đáng chú ý, đại biểu Phan Thị Thùy Linh đề nghị cân nhắc kỹ việc lấy kết quả giải ngân làm tiêu chí quyết định mức vốn được hỗ trợ.

    Theo đại biểu, thực tế cho thấy nhiều địa bàn càng khó khăn thì năng lực chuẩn bị và triển khai dự án càng hạn chế, kéo theo tỷ lệ giải ngân không cao. Nếu lấy tỷ lệ giải ngân làm căn cứ quan trọng để phân bổ vốn, chính những địa phương đang cần nguồn lực hỗ trợ nhất lại có thể gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn.

    Vì vậy, đại biểu đề nghị nguyên tắc phân bổ trước hết phải bảo đảm nguồn lực theo mục tiêu, mức độ khó khăn và đối tượng ưu tiên; sau đó mới sử dụng kết quả thực hiện để điều chỉnh và khuyến khích những nơi làm tốt.

    Theo đại biểu, việc tích hợp chỉ thực sự có ý nghĩa khi có thể đo lường được hiệu quả thông qua những kết quả cụ thể như giảm đầu mối, giảm thủ tục, rút ngắn thời gian giao vốn, giảm vốn phải chuyển nguồn và quan trọng nhất là giúp người dân tiếp cận chính sách tốt hơn.

    Do đó, đại biểu đề nghị ngay trong nghị quyết cần giao Chính phủ xác định một số chỉ tiêu định lượng đối với các nội dung này để sau một đến hai năm, Quốc hội có căn cứ đánh giá hiệu quả của cơ chế mới; đồng thời giao Hội đồng Dân tộc chủ trì, phối hợp với các Ủy ban của Quốc hội giám sát chương trình theo một đầu mối thống nhất.

    Đào Cảnh

    Nguồn https://baomoi.com/can-nhac-viec-lay-ket-qua-giai-ngan-lam-tieu-chi-quyet-dinh-muc-von-ho-tro-c55863636.epi

  • Cảng hàng không Liên Khương hoạt động trở lại, ngày đầu tiên đón 28 chuyến bay

    Phía trước nhà ga hành khách của Sân bay Liên Khương đã hoàn thành chỉnh trang. (Ảnh: Nguyễn Dũng/TTXVN)

    Sáng 19/8, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) tổ chức “Lễ khánh thành Dự án sửa chữa đường cất hạ cánh, đường lăn Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương,” đồng thời chào đón chuyến bay Đà Lạt-Cần Thơ chính thức được khôi phục trở lại sau gần 6 năm dừng khai thác.

    Sau gần 6 tháng tạm dừng để sửa chữa, Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương chính thức khai thác trở lại từ 0 giờ ngày 19/8, đánh dấu bước khôi phục quan trọng của hạ tầng giao thông hàng không, tạo thêm động lực cho du lịch, giao thương và phát triển kinh tế-xã hội của Lâm Đồng.

    Ngay trong ngày mở cửa trở lại, sân bay dự kiến phục vụ 28 lượt chuyến. Chuyến bay khai trương VN1380 của Vietnam Airlines từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Đà Lạt hạ cánh lúc 7 giờ 5 phút, mở đầu cho việc khôi phục hoạt động hàng không tại Lâm Đồng.

    Tại Lễ khánh thành, ông Hồ Văn Mười, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh Cảng hàng không quốc tế Liên Khương từ lâu đã được xác định là “mạch máu” giao thông then chốt của tỉnh Lâm Đồng, giữ vai trò cửa ngõ hàng không kết nối cao nguyên Lâm Viên với các trung tâm kinh tế lớn trong nước và quốc tế.

    Những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch và dịch vụ, sản lượng hành khách thông qua cảng có thời điểm đạt gần 3 triệu lượt/năm, vượt công suất thiết kế hiện hữu. Điều đó khẳng định sức hút và vị thế ngày càng cao của Lâm Đồng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đầu tư nâng cấp hạ tầng khu bay nhằm bảo đảm an toàn khai thác tuyệt đối, ổn định và bền vững.

    Theo ông Hồ Văn Mười, trong 7 tháng đầu năm 2026, mặc dù Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương phải tạm dừng hoạt động để sửa chữa, nâng cấp, nhưng du lịch Lâm Đồng vẫn duy trì sức hút mạnh mẽ, toàn tỉnh đã đón khoảng 14,2 triệu lượt khách, với tổng doanh thu du lịch đạt trên 40 nghìn tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2025.

    Những kết quả đó cho thấy sức hấp dẫn của Lâm Đồng và đặc biệt cho thấy nhu cầu kết nối, nhu cầu đến với Lâm Đồng của du khách là rất lớn.

    Đường dẫn tàu bay từ khu vực đường cất hạ cánh vào sân đỗ trước nhà ga hành khách của Sân bay Liên Khương sau thi công, nâng cấp. (Ảnh: Nguyễn Dũng/TTXVN)

    Trong khi đó, trước thời điểm tạm dừng hoạt động, Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương phục vụ bình quân khoảng 36 chuyến bay mỗi ngày, với khoảng 6.000 lượt hành khách đi và đến. Theo kế hoạch khai thác trở lại, sản lượng dự kiến đạt khoảng 6.800 lượt hành khách mỗi ngày, riêng 4 tháng cuối năm có thể phục vụ trên 800.000 lượt hành khách.

    Trong thời gian sân bay đóng cửa, ước tính khoảng 1 triệu lượt khách bị ảnh hưởng, phải chuyển sang đường bộ hoặc trung chuyển qua các sân bay lân cận.

    Như vậy, việc Cảng hàng không quốc tế Liên Khương hoạt động trở lại không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tăng của người dân và du khách, mà còn khơi thông một dòng chảy quan trọng đối với kinh tế Lâm Đồng; tạo điều kiện để mở rộng thị trường khách, thúc đẩy du lịch, thương mại, dịch vụ, thu hút đầu tư và tăng cường kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế.

    Theo lãnh đạo Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam – CTCP, Dự án có tổng mức đầu tư hơn 1.032,8 tỷ đồng, tập trung sửa chữa đường cất hạ cánh 09/27 dài 3.250m, rộng 45m cùng hệ thống đường lăn, khu vực an toàn, thoát nước, đèn hiệu, đèn tiếp cận và các hạng mục bảo đảm hoạt động bay.

    Điểm đáng chú ý là sau nâng cấp, sức chịu tải đường cất hạ cánh được nâng lên mức 830/R/C/W/T, chấm dứt tình trạng hạn chế tải trọng, cho phép sân bay tiếp nhận các dòng tàu bay Code C và Code D như B737, B757, A320, A321, A300 và ATR72 với tải trọng tối đa. Đây là điều kiện quan trọng để Liên Khương nâng cao năng lực khai thác và mở rộng mạng đường bay trong thời gian tới.

    Theo kế hoạch, giai đoạn đầu Cảng Hàng không Quốc tế Liên Khương sẽ khai thác khoảng 36-40 chuyến/ngày, phục vụ khoảng 6.800 lượt hành khách/ngày. Trong 4 tháng cuối năm 2026, sản lượng hành khách qua cảng dự kiến đạt khoảng 816.000 lượt.

    Đáng chú ý, mạng bay nội địa kết nối Đà Lạt với các trung tâm lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh, Hải Phòng và Cần Thơ đã được khôi phục. Trên mạng bay quốc tế, đường bay Đà Lạt-Kuala Lumpur dự kiến khai thác 4 chuyến/tuần; đường bay Đà Lạt-Singapore dự kiến mở lại từ tháng 12/2026 với tần suất 3 chuyến/tuần.

    Việc nối lại các đường bay có ý nghĩa đặc biệt đối với một địa phương có du lịch là ngành kinh tế quan trọng như Lâm Đồng. Khả năng tiếp cận bằng đường hàng không được khôi phục sẽ tạo thuận lợi cho du khách từ các thị trường lớn đến Đà Lạt, đồng thời rút ngắn thời gian di chuyển của người dân, doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy giao thương và thu hút đầu tư.

    Sự kiện càng có ý nghĩa khi Lâm Đồng chuẩn bị tổ chức nhiều hoạt động quy mô lớn vào cuối năm, trong đó có Festival Hoa Đà Lạt-Lâm Đồng lần thứ XI, Lễ hội Văn hóa Thổ cẩm Việt Nam lần thứ 3 và Festival Âm nhạc quốc tế Langbiang 2026. Việc sân bay hoạt động trở lại giúp địa phương có thêm điều kiện đón lượng lớn du khách, đại biểu và nhà đầu tư đến tham dự các sự kiện này.

    Về lâu dài, hạ tầng được nâng cấp được xem là nền tảng để Lâm Đồng mở rộng mạng bay, tăng năng lực kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế, hướng tới mục tiêu đưa Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương đạt cấp 4E vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/cang-hang-khong-lien-khuong-hoat-dong-tro-lai-ngay-dau-tien-don-28-chuyen-bay-c55863570.epi

  • Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước

    Toàn cảnh phiên thảo luận sáng 19/8.

    Sáng 19/8, tiếp tục chương trình đợt 2 Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại tổ về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) và việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia.

    Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia thảo luận tại tổ số 9 cùng các đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu, TP Cần Thơ.

    Tham dự buổi thảo luận có các đồng chí: Nguyễn Duy Ngọc – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương (Đoàn ĐBQH TP Cần Thơ); Phạm Gia Túc – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh).

    Đồng chí Đỗ Thanh Bình – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn ĐBQH TP Cần Thơ chủ trì phiên thảo luận.

    Thống nhất cơ chế quản lý ngân sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công

    Thảo luận về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), các đại biểu khẳng định: Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 và Luật Đầu tư công năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) dù đã được hoàn thiện nhưng vẫn còn giao thoa về thẩm quyền, trình tự, hồ sơ, thời hạn và một số quy định về phân bổ, giao dự toán, kế hoạch vốn, chuyển nguồn. Do đó, việc nghiên cứu hợp nhất 2 luật là cần thiết nhằm tạo cơ chế quản lý tài chính công thống nhất, giảm thủ tục, chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.

    Đại biểu cho rằng, việc hợp nhất 2 luật cần được đặt trong yêu cầu rà soát, hoàn thiện đồng bộ chính sách thu, chi ngân sách nhà nước, cơ chế phân bổ nguồn lực, quản lý đầu tư công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước; bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, chủ trương của Đảng về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, tính chủ động của ngân sách địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý ngân sách và đầu tư công.

    Bên cạnh đó, cần đánh giá đầy đủ tồn tại, bất cập trong thực tiễn để hoàn thiện cơ chế kiểm soát, đánh giá hiệu quả đầu tư công, gắn phân bổ vốn với hiệu quả chương trình, dự án và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu; tập trung khắc phục hạn chế về chất lượng lập dự toán, phân bổ, giao dự toán, chuyển nguồn, giải ngân vốn đầu tư công, chuẩn bị dự án và phân cấp, phân quyền trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

    Đại biểu Trần Đình Gia – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh tham gia thảo luận.

    Đại biểu Trần Đình Gia – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh đề nghị bổ sung quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về căn cứ xác định “số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp” để làm cơ sở tính giới hạn dư nợ vay của chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, làm rõ cơ chế bố trí ngân sách để hoàn trả vốn ứng quỹ phát triển đất, xác định rõ khoản chi này thuộc nhóm chi phù hợp trong hệ thống ngân sách nhà nước, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về ngân sách, đất đai và đầu tư công; tạo thuận lợi cho địa phương trong quá trình lập dự toán, tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách.

    Đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ.

    Tham gia thảo luận, đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội (Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị rà soát, quy định rõ việc tích hợp kế hoạch đầu tư công trung hạn vào kế hoạch tài chính 5 năm, việc phân bổ kế hoạch đầu tư công hằng năm vào quy trình dự toán ngân sách; làm rõ trình tự, thẩm quyền phân bổ, điều chỉnh và theo dõi vốn đầu tư công, tránh khoảng trống pháp lý. Đồng thời, cần rà soát phạm vi các khoản thu, các quy định về chi đầu tư, công khai ngân sách và hỗ trợ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách để bảo đảm thống nhất, chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn và quy định pháp luật.

    Tích hợp các chương trình mục tiêu quốc gia, nâng cao hiệu quả nguồn lực

    Đối với việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia, các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh, việc tổ chức lại cấu trúc các chương trình là cần thiết nhằm thu gọn đầu mối quản lý, giảm thủ tục phối hợp, tạo điều kiện lồng ghép nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước; bảo đảm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ đã được Quốc hội quyết nghị.

    Nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát, làm rõ cơ chế phân bổ nguồn lực, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm; quy định rõ cơ chế lồng ghép các nguồn vốn, khả năng cân đối và mức đối ứng của ngân sách địa phương. Cần xây dựng bộ chỉ tiêu đầu ra, hệ thống dữ liệu và chế độ báo cáo thống nhất, quản lý chương trình theo kết quả; làm rõ cơ quan đầu mối điều phối, trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương; bảo đảm việc hợp nhất các chương trình không làm gián đoạn chính sách, quyền lợi của người dân, nhất là các đối tượng thụ hưởng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và các địa bàn khó khăn.

    Trong quá trình triển khai cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng mục tiêu, đúng đối tượng, tránh dàn trải, lãng phí; đồng thời, phát huy tính chủ động, trách nhiệm của địa phương trong lựa chọn, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, dự án phù hợp với điều kiện thực tế.

    Các đại biểu Quốc hội Đoàn Hà Tĩnh đề nghị nghiên cứu xác định định hướng, dự kiến nguồn lực cho cả giai đoạn 5 năm làm cơ sở để trung ương chủ động cân đối ngân sách; từ đó, giúp các địa phương có đối tượng thụ hưởng chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch đầu tư và tổ chức thực hiện.

    Tiến Nam – Thuý An – Thuỳ Dương

    Nguồn https://baomoi.com/nang-cao-hieu-qua-quan-ly-su-dung-nguon-luc-ngan-sach-nha-nuoc-c55863622.epi

  • Khơi thông dòng vốn, thúc đẩy tiến độ dự án Aqua City

    Tập đoàn Novaland vừa làm việc với các ngân hàng, định chế tài chính và nhà thầu chiến lược về kế hoạch triển khai Aqua City trong giai đoạn 2026 – 2027, trong bối cảnh một số vướng mắc pháp lý của dự án từng bước được xử lý.

    Các đối tác tài chính, ngân hàng, nhà thầu và đại diện Tập đoàn Novaland trong buổi gặp mặt tại sự kiện “Aqua City tổng lực hoàn thiện – Kiến tạo đô thị biểu tượng”

    Theo doanh nghiệp, đến giữa tháng 8/2026, các định chế tài chính đã cam kết tài trợ hơn 20.000 tỷ đồng phục vụ thi công, hoàn thiện dự án; trong đó khoảng 5.400 tỷ đồng đã được giải ngân.

    Việc nguồn vốn được khơi thông sau những chuyển biến về pháp lý là điều kiện quan trọng đối với quá trình tái triển khai các dự án bất động sản quy mô lớn. Dòng vốn không chỉ quyết định khả năng duy trì thi công mà còn gắn trực tiếp với tiến độ hoàn thiện sản phẩm, bàn giao và thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.

    Đến nay, dự án cũng đã bàn giao 1.300 nhà phố, biệt thự, liên tục đón cư dân về sinh sống. Nhiều tiện ích được đưa vào vận hành phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, mua sắm, ẩm thực và chăm sóc sức khỏe của cư dân.

    Cột mốc đáng chú ý là cuối tháng 7/2026, những cư dân đầu tiên tại Aqua City đã được bàn giao sổ hồng. Bên cạnh đó, hai dự án thành phần tại Aqua City vừa có thêm hơn 1.000 căn nhà đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, tạo cơ sở để dự án tiếp tục triển khai các hoạt động trong thời gian tới.

    Aqua City đang bước vào giai đoạn thi công cao điểm với hơn 4.000 kỹ sư, công nhân cùng hàng trăm nhà thầu, đơn vị tư vấn và đối tác tham gia triển khai

    Theo Tổng Giám đốc Tập đoàn Novaland Dương Văn Bắc, những chuyển động tại dự án có được sau khi một số vướng mắc pháp lý từng bước được tháo gỡ, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp khơi thông nguồn lực, tiếp tục thi công và thực hiện các cam kết với khách hàng.

    Cùng với tín dụng, việc các dự án quy mô lớn tăng tốc trở lại kéo theo nhu cầu về xây dựng, vật liệu, thiết bị, tư vấn và nhiều dịch vụ liên quan, qua đó tạo tác động đến các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng.

    Tại cuộc làm việc, các ngân hàng cho biết tiếp tục xem xét các giải pháp tài chính, tín dụng phù hợp với tiến độ triển khai dự án. Nhà thầu cũng cam kết huy động nhân lực, kỹ sư và năng lực thi công để đáp ứng kế hoạch đề ra.

    Các nhà thầu cam kết tập trung cao độ để đưa Aqua City hoàn thiện theo kế hoạch

    Ở góc độ thị trường, việc dòng vốn trở lại những dự án đã có chuyển biến về pháp lý và đang triển khai thực tế có ý nghĩa không chỉ đối với chủ đầu tư. Khi công trình được đẩy nhanh, nguồn lực có thể tiếp tục luân chuyển tới các nhà thầu xây dựng, doanh nghiệp vật liệu, thiết bị và các mắt xích liên quan.

    Tuy nhiên, lượng vốn được cam kết mới là một điều kiện. Khả năng chuyển nguồn lực tài chính thành khối lượng thi công, sản phẩm hoàn thành và bàn giao đúng tiến độ mới là thước đo thực chất đối với quá trình phục hồi của dự án.

    Ngọc Vân

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-thong-dong-von-thuc-day-tien-do-du-an-aqua-city-c55863559.epi

  • Hải Phòng: Sớm quy tập mộ tập thể 8 liệt sĩ tại khu vực Mả Chìa

    Theo thông tin từ UBND thành phố Hải Phòng, toàn thành phố hiện còn 65 liệt sĩ chưa được đưa về an nghỉ tại các nghĩa trang, tập trung chủ yếu tại xã Vĩnh Bảo và khu vực huyện Kiến Thụy cũ. Đáng chú ý, qua rà soát và xác minh thông tin, các cơ quan chức năng xác định tại khu vực Mả Chìa (thôn Mai Sơn, xã Vĩnh Bảo) có mộ chôn tập thể 8 liệt sĩ nhưng đến nay chưa được quy tập.

    Khu mộ tập thể 8 liệt sĩ tại Mả Chìa, Vình Bảo. Ảnh: Tiến Sinh

    Để đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đào Trọng Đức yêu cầu UBND xã Vĩnh Bảo khẩn trương hoàn thiện việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch, lập hồ sơ dự án xây dựng Khu di tích tại khu vực Mả Chìa. Công trình không chỉ phục vụ công tác chuẩn bị, tổ chức khai quật, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ thuận lợi mà còn góp phần lưu giữ “địa chỉ đỏ”, giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố cũng giao Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 515 thành phố tiếp tục chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương tham mưu, đề xuất các phương án triển khai cụ thể, trình UBND thành phố xem xét, quyết định.

    Ông Đào Trọng Đức, Phó Chủ tịch UBND thành phố phát biểu tại Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm tại Hải Phòng – Ảnh: Nguyễn Lan

    Thực hiện Chiến dịch “500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin”, đến nay thành phố đã tổ chức lấy mẫu tại 213 nghĩa trang thuộc 88 xã, phường, đặc khu; thực hiện khai quật 2.426 mộ, thu thập 1.861 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ và tiến hành bàn giao cho Viện Pháp y Quân đội theo đúng quy định.

    Hiện nay, thành phố đang tập trung tối đa nhân lực, phương tiện, phấn đấu hoàn thành toàn bộ việc lấy mẫu sinh phẩm trước ngày 24/8/2026. Tiến độ này vượt mốc thời gian Ban Chỉ đạo 515 Quân khu 3 giao khoảng 3 tháng.

    Thùy Dung

    Nguồn https://baomoi.com/hai-phong-som-quy-tap-mo-tap-the-8-liet-si-tai-khu-vuc-ma-chia-c55863532.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!