Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh

    Phối cảnh dự án. (Nguồn: hatinh.gov.vn)

    UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 32/QĐ-UBND chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với Dự án Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh. Dự án do Công ty Cổ phần Tập đoàn Onsen Fuji thực hiện, được UBND tỉnh Hà Tĩnh chấp thuận chủ trương đầu tư lần đầu tại Quyết định số 08/QĐ-UBND ngày 24/3/2022.

    Theo quyết định, dự án được đổi tên từ Khu du lịch biển cao cấp Wyndham Costa Hà Tĩnh thành Khu du lịch biển cao cấp Lynn Times Costa Hà Tĩnh; triển khai tại xã Đồng Tiến, tỉnh Hà Tĩnh.

    Dự án được định hướng phát triển tổ hợp thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng, gồm khu khách sạn du lịch với các căn hộ du lịch cao cấp, khu biệt thự du lịch nghỉ dưỡng, khu thương mại dịch vụ tổng hợp, vui chơi, giải trí, nhà hàng, bar, coffee, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, công viên cây xanh, bãi đỗ xe và hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

    Theo quy mô được điều chỉnh, tại các lô đất DVT-01, DVT-02, dự án dự kiến đầu tư khu khách sạn du lịch khoảng 1.000 phòng, cùng các khu thương mại, dịch vụ vui chơi, giải trí, nhà hàng, bar, coffee và chăm sóc sức khỏe. Dự án cũng có khoảng 500 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng.

    Tại các lô DVS-01, DVS-02, DVS-03, dự án có khu biệt thự du lịch nghỉ dưỡng cao cấp với hơn 300 căn, cùng khoảng 200 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng. Ngoài ra là các khu thương mại, dịch vụ vui chơi, giải trí, nhà hàng, coffee, spa, công viên cây xanh, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật.

    Tại nhóm lô DV-01 đến DV-06, DT-01 và DT-02, dự án được điều chỉnh với khoảng hơn 600 lô công trình thương mại, dịch vụ kết hợp lưu trú, du lịch nghỉ dưỡng, cùng các hạng mục hạ tầng phụ trợ.

    Dự án không có đất ở, nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở. Nhà đầu tư chỉ được khai thác công trình đúng mục tiêu hoạt động và mục đích sử dụng đất được phê duyệt; không hình thành đơn vị ở, không tự ý chuyển đổi công năng sử dụng đất và công trình sang đất ở, nhà ở.

    Thời hạn hoạt động của dự án được xác định là 50 năm kể từ ngày nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất lần đầu.

    Về tiến độ, từ quý III/2026 – I/2027, nhà đầu tư sẽ hoàn thành thủ tục thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, tiếp nhận và bàn giao phần diện tích đất sạch đã hoàn thành bồi thường đợt 1, tổ chức khởi công, triển khai thi công hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục công trình trên phần diện tích được bàn giao; từ quý IV/2026 – II/2027, dự án tiếp tục hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và thủ tục giao đất đối với phần diện tích còn lại, triển khai thi công đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và các hạng mục công trình trên toàn bộ diện tích.

    UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu Công ty Cổ phần Tập đoàn Onsen Fuji tập trung huy động nguồn vốn, bố trí đủ nhân lực để đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục, sớm khởi công xây dựng và thực hiện dự án theo đúng tiến độ được chấp thuận; tuân thủ các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, kinh doanh bất động sản, môi trường và pháp luật liên quan trong suốt quá trình triển khai. Dự án chỉ được đưa vào kinh doanh khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

    Đối với công trình được bán, cho thuê hoặc cho thuê mua, thời hạn sử dụng đất và quyền sở hữu công trình gắn liền với đất phải tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với thời hạn hoạt động của dự án. Nhà đầu tư có trách nhiệm thông báo đầy đủ nội dung này và đưa điều khoản về thời hạn vào hợp đồng ký với khách hàng.

    Trúc Ninh

    Nguồn https://baomoi.com/dieu-chinh-chu-truong-dau-tu-du-an-khu-du-lich-bien-cao-cap-wyndham-costa-ha-tinh-c55866090.epi

  • Mỗi địa điểm sẽ có mã định danh 12 chữ số, hiển thị trên VNeID

    Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

    Nghị định này quy định về việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước); việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. 

    Mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất gồm 12 chữ số

    Nghị định nêu rõ các nguyên tắc định danh địa điểm. Theo đó, mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.

    Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng áp dụng như đối với đường giao thông, theo đó địa điểm của đối tượng sẽ gồm địa chỉ điểm đầu, địa chỉ điểm cuối, địa chỉ tại các nút giao, điểm giao cắt trên tuyến hoặc điểm giao cắt với địa giới hành chính cấp tỉnh.

    Định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.

    Đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.

    Cơ quan quản lý định danh địa điểm là cơ quan được Bộ Công an giao thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

    Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện định danh địa điểm phải đảm bảo tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

    Cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.

    Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

    Theo Nghị định, cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, được chuẩn hóa, lưu trữ và quản lý thông tin về địa điểm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

    Thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, bao gồm: Mã định danh địa điểm; đối tượng định danh địa điểm; địa chỉ của địa điểm; lối tiếp cận; mã bưu chính; thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên); các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm; tên địa điểm; thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có); cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức); đấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ; các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

    Khai thác dữ liệu định danh địa điểm từ Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm

    Dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ, khai thác phục vụ quản lý nhà nước và phát triển kinh tế xã hội. Việc chia sẻ, khai thác dữ liệu định danh địa điểm phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền; không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.

    Đối tượng, phương thức khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm được quy định như sau:

    a) Tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu công khai về định danh địa điểm trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);

    b) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy định của pháp luật về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước;

    c) Tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin của mình trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thông qua ứng dụng định danh quốc gia.

    Trường hợp khai thác thông tin của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ; trường hợp người bị tuyên bố mất tích phải được sự đồng ý của người đang quản lý tài sản của người đó; trường hợp người đã chết phải được sự đồng ý của người thừa kế;

    d) Người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người dưới 14 tuổi khai thác thông tin của mình thông qua người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ. Việc khai thác thông tin của người bị tuyên bố mất tích do người quản lý tài sản của người đó quyết định;

    đ) Tổ chức, cá nhân không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản này được khai thác dữ liệu về định danh địa điểm qua tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử và phải nộp phí khai thác và sử dụng thông tin.

    Trường hợp có nhu cầu khai thác thông tin khác trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm, phải được sự đồng ý của chủ sở hữu, quản lý địa điểm đó.

    Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026./.

    Nguồn https://baomoi.com/moi-dia-diem-se-co-ma-dinh-danh-12-chu-so-hien-thi-tren-vneid-c55866017.epi

  • Nhà Khang Điền (KDH) lập công ty vốn 2.500 tỷ đồng, tham gia dự án Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo

    CTCP Đầu tư và Kinh doanh Nhà Khang Điền (mã ck: KDH) vừa thông qua chủ trương thành lập pháp nhân mới để ký kết và thực hiện hợp đồng BT đối với Dự án Chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo trên địa bàn phường Cầu Ông Lãnh và phường Bến Thành, TP.HCM theo phương thức đối tác công tư (PPP).

    Theo đó, doanh nghiệp dự kiến thành lập Công ty TNHH MTV Đầu tư Khang Phúc An, với vốn điều lệ 2.500 tỷ đồng. Nhà Khang Điền sẽ sở hữu 100% vốn tại công ty này. Trụ sở chính của Khang Phúc An được đặt tại phòng 1C, tầng 12, Saigon Centre, 67 Lê Lợi, phường Sài Gòn, TP.HCM.

    Trước đó, Nhà Khang Điền đã lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc tham gia Dự án Chỉnh trang đô thị khu Mả Lạng và Chợ Gà – Gạo và phương án này đã được thông qua.

    Theo tờ trình, dự án gồm hai khu vực. Khu thứ nhất là khu Mả Lạng, có phạm vi thực hiện được giới hạn bởi các tuyến đường Nguyễn Trãi, Trần Đình Xu và Nguyễn Cư Trinh, thuộc phường Cầu Ông Lãnh, TP.HCM. Quy mô dự kiến tại khu vực này là chỉnh trang đô thị, bao gồm đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và xây dựng khu nhà ở phục vụ tái định cư.

    Trong đó, hạ tầng xã hội gồm trường học liên cấp 1-2. Phần nhà ở gồm một khu chung cư là nhà ở xã hội cao khoảng 38 tầng, với khoảng 1.400 căn hộ, cùng khoảng 93 căn nhà ở thấp tầng theo quy hoạch.

    Khu thứ hai là khu Chợ Gà – Gạo, có phạm vi thực hiện được giới hạn bởi các tuyến đường Nguyễn Thái Học, Võ Văn Kiệt, Yersin và Hẻm 3 Yersin, thuộc phường Bến Thành, TP.HCM. Tại khu vực này, dự án dự kiến đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và xây dựng khu nhà ở phục vụ tái định cư.

    Theo quy hoạch, khu nhà ở gồm một tòa chung cư là nhà ở xã hội cao khoảng 35 tầng, với khoảng 760 căn hộ.

    Tổng nhu cầu sử dụng đất của toàn dự án khoảng 42.090,5 m2. Trong đó, khu Mả Lạng chiếm khoảng 37.740,5 m2 và khu Chợ Gà – Gạo khoảng 4.350 m2. Dự án được dự kiến triển khai xây dựng trong giai đoạn 2026-2029. Theo tiến độ dự kiến, dự án sẽ khởi công trong quý III/2026, hoàn thành xây dựng vào quý IV/2028 và bàn giao, đưa vào khai thác, vận hành trong năm 2029.

    Thời hạn hợp đồng dự án dự kiến là 5 năm kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.

    Sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án khoảng 16.369,5 tỷ đồng. Dự án được thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP), theo loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT), với phương án thanh toán bằng quỹ đất kết hợp ngân sách Nhà nước.

    Cụ thể, giá trị thanh toán bằng quỹ đất tương ứng khoảng 10.734,7 tỷ đồng. Phần giá trị thanh toán bằng ngân sách Thành phố khoảng 5.634,8 tỷ đồng và chỉ được sử dụng trong trường hợp giá trị quỹ đất dự kiến không đủ để thanh toán cho nhà đầu tư.

    Hà Anh

    Nguồn https://baomoi.com/nha-khang-dien-kdh-lap-cong-ty-von-2-500-ty-dong-tham-gia-du-an-ma-lang-va-cho-ga-gao-c55866048.epi

  • Từ 1/10, áp dụng định mức mới trong khảo sát, đo sâu hàng hải

    Hệ thống định mức khoa học và toàn diện

    Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư quy định định mức kinh tế – kỹ thuật khảo sát đo sâu trong lĩnh vực hàng hải sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/10.

    Định mức kinh tế – kỹ thuật khảo sát đo sâu quy định mức hao phí về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công việc (Ảnh minh hoạ).

    Theo đó, định mức mới quy định cụ thể mức hao phí cần thiết để thực hiện công tác khảo sát, đo sâu hàng hải, từ vật liệu, nhân công đến máy móc, thiết bị. Đây là cơ sở để các đơn vị lập dự toán, quản lý chi phí và triển khai các công việc khảo sát bằng nguồn vốn ngân sách.

    Định mức được xây dựng trên cơ sở điều kiện khảo sát thực tế, yêu cầu kỹ thuật, quy trình nghiệm thu và mức độ trang bị máy móc, thiết bị. Các phương pháp thi công và tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực khảo sát đo sâu cũng được tính đến nhằm bảo đảm phù hợp với thực tế.

    Mỗi định mức xác định rõ tên công việc, đơn vị tính, phạm vi công việc và các yêu cầu áp dụng, kèm mức hao phí tương ứng.

    Trong đó, chi phí vật liệu được tính theo lượng vật liệu cần thiết để hoàn thành công việc; chi phí nhân công được xác định theo số ngày công của kỹ sư, công nhân và nhân sự vận hành thiết bị; chi phí máy thi công được tính theo thời gian sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ khảo sát.

    Việc ban hành định mức mới được kỳ vọng tạo cơ sở thống nhất trong lập dự toán, quản lý chi phí và tổ chức thực hiện các dự án khảo sát, đo sâu hàng hải sử dụng ngân sách Nhà nước, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình triển khai.

    Phân cấp 4 mức độ khó khăn khi lập hải đồ

    Một điểm đáng chú ý trong Thông tư là công tác thành lập hải đồ giấy và hải đồ điện tử được phân thành 4 mức độ khó khăn, từ đơn giản đến phức tạp, làm cơ sở xác định định mức phù hợp với từng điều kiện khảo sát.

    Trong đó, mức I áp dụng tại những khu vực có địa hình, dân cư, hệ thống giao thông và sông ngòi tương đối thưa, các yếu tố trên bản đồ ít và dễ thể hiện.

    Mức II dành cho những khu vực có mật độ dân cư, đường sá, sông ngòi và các yếu tố địa hình ở mức trung bình, yêu cầu xử lý thông tin trên hải đồ cao hơn.

    Mức III áp dụng tại các khu vực phức tạp hơn như vùng đồi, núi cao, địa hình bị chia cắt, sông ngòi tự nhiên và giao thông thưa thớt.

    Mức IV là mức độ khó khăn cao nhất, chủ yếu tại vùng ven biển, cửa sông có nhiều bãi sú, vẹt và lạch thủy triều; các khu vực đô thị, khu công nghiệp lớn hoặc nơi có hệ thống giao thông, thủy hệ dày đặc, phức tạp.

    Việc phân cấp này giúp xác định định mức khảo sát phù hợp với từng điều kiện thực tế, đồng thời tạo cơ sở thống nhất cho việc lập dự toán, quản lý chi phí và triển khai các dự án khảo sát hàng hải sử dụng ngân sách Nhà nước.

    Hồ An

    Nguồn https://baomoi.com/tu-1-10-ap-dung-dinh-muc-moi-trong-khao-sat-do-sau-hang-hai-c55865856.epi

  • Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng

    Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 8368/VPCP-CN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.

    Theo đó, xét báo cáo của Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS về việc rà soát, điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng, Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, xử lý kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 8992/BNNMT-ĐCKS nêu trên theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền các nội dung vượt thẩm quyền, trong đó cần tập trung một số nhiệm vụ.

    Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp dữ liệu về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng, khả năng điều phối và cập nhật thường xuyên để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối nguồn vật liệu xây dựng liên vùng và liên tỉnh trong tháng 10 năm 2026, bảo đảm ưu tiên cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.

    Hằng năm, Bộ này phải công bố Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và hỗ trợ địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng vật liệu.

    Cùng với đó, xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu xây dựng, cơ chế điều phối theo vùng kinh tế với lộ trình cụ thể; xây dựng hệ thống dự báo cung – cầu theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển.

    Định kỳ hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải tổng hợp, đánh giá tình hình cung – cầu vật liệu xây dựng trên phạm vi cả nước, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất điều chỉnh phương án điều phối khi cần thiết.

    Địa phương phải chủ động quỹ mỏ vật liệu xây dựng

    Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn lực tài chính cho công tác điều tra địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản tại các địa phương còn khó khăn theo quy định pháp luật.

    UBND các tỉnh, thành phố được yêu cầu hoàn thành việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước quý II/2027 theo thẩm quyền.

    Các địa phương phải bố trí đầy đủ kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản theo quy định.

    Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan. Trong đó, cần rà soát, bổ sung những khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng. Các mỏ đang khai thác cũng phải được rà soát để xem xét điều chỉnh công suất đối với những mỏ đủ điều kiện theo thẩm quyền và quy định pháp luật, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm.

    Đặc biệt, các địa phương phải chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án trong giai đoạn 2030 – 2045, tránh tình trạng bị động khi triển khai các dự án quy mô lớn.

    Các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm các nội dung nêu trên; tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án trọng điểm thuộc phạm vi quản lý.

    Thanh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-co-so-du-lieu-quoc-gia-ve-nguon-cung-vat-lieu-xay-dung-c55866386.epi

  • TP Hồ Chí Minh tăng tốc để về đích

    Không để nguồn lực “nằm chờ”

    Theo báo cáo sơ bộ của Kho bạc Nhà nước khu vực II, đến hết ngày 29/7/2026, thành phố đã giải ngân 60.750,061 tỷ đồng, đạt 41,2% kế hoạch vốn năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ giao và thành phố triển khai là 147.599,166 tỷ đồng.

    Nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công ngân sách địa phương, tương đương 7.203,9 tỷ đồng được thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, tỷ lệ giải ngân đạt 43,3% trên tổng kế hoạch vốn còn lại 140.395,266 tỷ đồng. Bộ Tài chính đánh giá TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có khối lượng giải ngân lớn, tỷ lệ giải ngân tốt, nằm trong nhóm 20 địa phương có tỷ lệ giải ngân cao hơn mức bình quân chung cả nước, khi mức bình quân tại thời điểm báo cáo là 38,5%.

    Một góc khu đô thị An Phú- An Khánh, TP Hồ Chí Minh.

    Tuy nhiên, nhìn ở chiều ngược lại, tỷ lệ 41,2% cũng cho thấy phần việc còn lại là rất lớn. Thành phố đặt mục tiêu đến hết quý III đạt 70% và cả năm đạt 100% kế hoạch vốn được giao. Những tháng cuối năm, khối lượng vốn cần đưa vào nền kinh tế sẽ còn rất lớn.

    Đây không chỉ là bài toán về tốc độ giải ngân. Với TP Hồ Chí Minh, đầu tư công được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số. Vì vậy, yêu cầu được đặt ra không phải là tìm mọi cách để “chi cho hết vốn”, mà phải bảo đảm đồng tiền ngân sách được đưa đúng vào những công trình có khả năng triển khai, tạo ra hiệu quả và sức lan tỏa cho nền kinh tế.

    Một trong những giải pháp đáng chú ý là rà soát tiến độ từng dự án để chủ động điều chuyển vốn từ những dự án chưa có khả năng giải ngân ngay sang các dự án đã bảo đảm thủ tục đầu tư, có khối lượng thực hiện và nhu cầu bổ sung vốn để thanh toán. Cách làm này nhằm hạn chế tình trạng một bên vốn bị “đóng băng”, trong khi bên khác có công trình, có khối lượng nhưng lại thiếu nguồn lực.

    Thành phố cũng yêu cầu tập trung nguồn vốn cho các dự án lớn, trọng tâm, trọng điểm, có tác động lan tỏa; tuyệt đối tránh đầu tư dàn trải.

    Theo yêu cầu của UBND TP Hồ Chí Minh, thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các phường, xã, đặc khu phải trực tiếp chỉ đạo việc giải ngân từng dự án, thường xuyên theo dõi, giám sát, đôn đốc. Hằng tháng phải đánh giá cụ thể tiến độ thực hiện nhiệm vụ, số vốn và tỷ lệ giải ngân, tình hình hoàn tất thủ tục đầu tư, tổ chức thi công và thanh toán vốn.

    Với công tác giải phóng mặt bằng, các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị tại địa phương, tăng cường vận động, thuyết phục người dân đồng thuận, sớm bàn giao mặt bằng. Cùng với đó là đẩy nhanh thủ tục giải ngân vốn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn các địa phương xác định giá đất cụ thể, áp dụng đúng quy định pháp luật trong bồi thường, giải phóng mặt bằng; kịp thời tham mưu tháo gỡ những vướng mắc, không để dự án phải chờ mặt bằng.

    Đường Vành đai 3 một công trình trọng điểm ở TP Hồ Chí Minh.

    Sở Xây dựng được giao nghiên cứu, tham mưu phương án bảo đảm nguồn cung vật liệu cho các dự án, nhất là dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về giá vật liệu.

    Trong khi đó, công tác quy hoạch phải được xử lý nhanh hơn, nhất là việc điều chỉnh quy hoạch để đẩy nhanh thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư và giải ngân đối với những dự án có kế hoạch thực hiện trong năm 2026.

    Đặc biệt, thành phố nghiên cứu cơ chế cảnh báo “thẻ vàng”, “thẻ đỏ” đối với các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ giải ngân thấp, gắn kết quả giải ngân với trách nhiệm người đứng đầu. Đây là một tín hiệu cho thấy áp lực hoàn thành nhiệm vụ đang được chuyển từ trách nhiệm tập thể chung chung sang trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, từng cá nhân.

    Tăng tốc thu ngân sách, khai thông nguồn lực từ đất đai

    Cùng với giải ngân đầu tư công, một “mặt trận” khác cũng đang bước vào giai đoạn nước rút là thu ngân sách.

    Sau 7 tháng đầu năm 2026, TP Hồ Chí Minh đã thu ngân sách khoảng 576.000 tỷ đồng, tương đương 72% dự toán Thủ tướng Chính phủ giao và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy nguồn thu đang có những tín hiệu tích cực, nhưng thành phố vẫn nhìn nhận chưa tương xứng với tiềm năng, quy mô và dư địa phát triển của một đầu tàu kinh tế. Mục tiêu mà thành phố đặt ra là đạt và vượt 1.010.000 tỷ đồng thu ngân sách nhà nước trong năm 2026. Như vậy, trong 5 tháng cuối năm, nhiệm vụ đặt ra là phải thu hơn 400.000 tỷ đồng. Đây là con số không nhỏ, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân.

    Ban Chỉ đạo thúc đẩy nhanh tiến độ đấu giá đất công được yêu cầu khẩn trương hoàn tất hồ sơ, thủ tục pháp lý, bảo đảm các khu đất theo kế hoạch phải được hoàn thành đấu giá trước ngày 30/9/2026.

    Thành phố yêu cầu tuyệt đối không để chậm tiến độ do nguyên nhân chủ quan làm mất cơ hội tạo nguồn thu.

    Một đoạn rạch Xuyên Tâm đang được cải tạo.

    Các sở, ngành liên quan được giao tập trung xử lý những dự án tồn đọng, kéo dài do vướng thủ tục đất đai, quy hoạch, nghĩa vụ tài chính. Mỗi nhóm vướng mắc phải được phân loại, xác định rõ trách nhiệm, thời hạn xử lý và kết quả đầu ra.

    Thành phố ưu tiên xử lý dứt điểm những dự án có khả năng phát sinh nguồn thu lớn ngay trong năm 2026, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm, không để nguồn lực đất đai bị lãng phí hoặc phát sinh thất thu ngân sách.

    Một hướng khác là tăng cường quản lý thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh, nhất là hoạt động thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số. Cơ quan thuế phối hợp với địa phương rà soát việc áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, tăng cường kiểm tra thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn, chuyển nhượng bất động sản, qua đó ngăn chặn tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại.

    Để hoàn thành mục tiêu này,thành phố áp dụng nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Với nhiệm vụ thu ngân sách, sơ đồ Gantt chi tiết đến từng nhiệm vụ, từng mốc thời gian được xác định là công cụ để kiểm soát tiến độ. Thành phố không chấp nhận tình trạng “đạt kế hoạch trên giấy” nhưng nguồn lực thực tế không tương xứng.

    Kết quả thu ngân sách sẽ là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, bình xét thi đua, khen thưởng cuối năm 2026.

    Phương Tuyền

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-tang-toc-de-ve-dich-c55865848.epi

  • Quốc hội nghe Tờ trình, Báo cáo ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024

    Khơi thông, phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển

    Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, qua gần 2 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, quan trọng góp phần vào mục tiêu hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất.

    Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn phát sinh khó khăn, vướng mắc; một số quy định chưa đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và các luật mới được sửa đổi, bổ sung; Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một số Nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp nhưng chỉ mang tính tạm thời.

    Bên cạnh đó, sau khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành, Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiệu nghị quyết, kết luận mới về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và hoàn thiện thể chế, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

    Việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý, sử dụng đất, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Việc sửa đổi Luật lần này hướng tới ba mục tiêu chủ yếu. Thứ nhất, thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới chính sách, pháp luật đất đai; cụ thể hóa các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

    Đồng thời, giải quyết kịp thời những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Đất đai; tháo gỡ căn bản các điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn mới.

    Thứ 3, xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả thông qua đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

    Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng chính sách là bám sát các chủ trương của Đảng, xuất phát từ thực tiễn, luật hóa các cơ chế đã được kiểm nghiệm, chỉ quy định trong Luật những nội dung mang tính nguyên tắc, ổn định; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và phát huy tối đa nguồn lực đất đai cho phát triển đất nước.

    Về nội dung chính sách, trên cơ sở quan điểm, định hướng được Trung ương thông qua tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, kết quả tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2024, Chính phủ đã thông qua 7 nhóm chính sách.

    Một là đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng kết hợp giữa phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất với tổ chức không gian phát triển, phân vùng sử dụng đất và khoanh định các khu vực cần bảo vệ; xác định chức năng sử dụng đất của từng khu vực; sắp xếp hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng tinh gọn, giảm số lượng tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính; nâng cao chất lượng quy hoạch, kiểm soát chặt việc điều chỉnh quy hoạch.

    Hai là hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư có đủ năng lực và sử dụng đất hiệu quả; quy định rõ các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; quy định đầy đủ căn cứ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với từng phương thức tiếp cận đất đai; hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất để phát triển nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước…

    Ba là hoàn thiện cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng quy định rõ hơn tiêu chí dự án, phạm vi thu hồi đất; bổ sung quy định thu hồi đất, phát triển quỹ đất vùng phụ cận, các công trình kết cấu hạ tầng; chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”; ưu tiên cho người có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tại chỗ; không quy định cứng là việc thu hồi đất chỉ thực hiện sau khi đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hoàn thành bố trí tái định cư.

    Bốn là đổi mới cơ chế tài chính đất đai và giá đất theo hướng giá đất do Nhà nước quyết định dựa trên dữ liệu, phương pháp khoa học, công khai, minh bạch, kết nối liên thông giữa dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành có liên quan; không để bị thao túng giá, hình thành giá ảo; điều tiết hợp lý giá trị tăng thêm từ đất; chính sách hợp lý về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất sản xuất kinh doanh, đất phát triển dự án nhà ở cho thuê với giá phù hợp…

    Năm là hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chế độ sử dụng đất theo hướng khơi thông nguồn lực tài nguyên đất thông qua mở rộng cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích nhưng có cơ chế quản lý, kiểm soát; hoàn thiện quy định về công trình trên không, công trình ngầm, đất hình thành từ hoạt động lấn biển, thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai; phát triển thị trường quyền sử dụng đất và bổ sung chế độ sử dụng đất đối với một số loại đất, mô hình phát triển mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

    Sáu là đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và phân cấp, phân quyềntrong quản lý đất đai; hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; xử lý các tồn tại lịch sử trong cấp Giấy chứng nhận; đơn giản hóa trình tự, thủ tục hành chính phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương hai cấp gắn với nâng cao trách nhiệm của địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương.

    Bảy là đổi mới, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; khắc phục bằng được tình trạng không sử dụng đất, để đất hoang hóa, ô nhiễm, suy thoái; các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất, trong đó bao gồm đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.

    Quy định rõ ràng về tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất

    Trình bày báo cáo ý kiến về định hướng sửa Luật Đất đai năm 2024, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Nguyễn Ngọc Bảo cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính tán thành với sự cần thiết, cấp bách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.

    Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Nguyễn Ngọc Bảo trình bày báo cáo ý kiến về định hướng sửa Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Quochoi.vn

    Theo Kết luận số 150/KL-UBTVQH16, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, các vị đại biểu Quốc hội (ĐBQH) thảo luận về Hồ sơ do Chính phủ trình và phát hiện, góp ý các nội dung vướng mắc từ thực tiễn để Chính phủ chỉ đạo các cơ quan tổng hợp, nghiên cứu và hoàn thiện Hồ sơ dự án Luật hoàn chỉnh trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2.

    Vì vậy, Ủy ban Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội cho ý kiến về định hướng chính sách, có so sánh, đối chiếu với dự thảo Luật để phân tích, làm rõ và góp ý hoàn thiện. Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật song song với quá trình hoàn thiện chính sách để vừa bảo đảm chính sách phù hợp và đủ rõ ràng, vừa bảo đảm chất lượng Hồ sơ dự án Luật, dự thảo Luật trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2.

    Ngoài 7 nhóm chính sách theo Tờ trình số 528/TTr-CP, tiếp tục nghiên cứu các chính sách khác, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 21-NQ/TW và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận khác có liên quan để bảo đảm đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Về một số nội dung cụ thể, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chỉ tiêu sử dụng đất (Chính sách 1), phân loại đất (trong nội dung Chính sách 5), Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận thấy, nội dung thể chế chính sách và quy định cụ thể tại dự thảo Luật chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới theo quan điểm “chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai” và mục tiêu “đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới” theo Nghị quyết số 21-NQ/TW.

    Đề nghị rà soát kỹ lưỡng, đề xuất phương án thực sự đột phá, khả thi, có sự đổi mới thực chất để thực hiện được mục tiêu giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn.

    Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (Chính sách 2), Cơ quan thẩm tra đề nghị báo cáo làm rõ, đối với trường hợp nhà đầu tư thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở và quy mô dự án chưa đạt đến khu đô thị thì tiếp tục thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 171/2024/QH15 hay đã được luật hóa tại điều khoản nào của dự thảo Luật; cung cấp thông tin về thực tiễn về trường hợp này.

    Về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Chính sách 3), Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị báo cáo làm rõ về sự cần thiết, căn cứ, tiêu chí để đề xuất các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với các dự án đầu tư kinh doanh mới được bổ sung.

    Đồng thời, quy định rõ ràng về tiêu chí dự án thuộc phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo yêu cầu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.

    Đánh giá, tổng kết việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết 254/2025/QH15 để làm rõ cơ sở luật hóa các cơ chế mang tính đặc thù thành các cơ chế chính thức, áp dụng chung trên phạm vi cả nước.

    Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đề nghị rà soát kỹ lưỡng những trường hợp cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư bảo đảm thật sự cần thiết, cấp bách, vì lợi ích chung do chưa rõ cơ chế để bảo đảm lợi ích hợp pháp và giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng đất trong trường hợp này. Một số ý kiến đề nghị phải quy định rõ trình tự, thủ tục thu hồi đất tại Luật vì đây là những quy định rất quan trọng, tác động lớn đối với người dân, đòi hỏi sự minh bạch, rõ ràng và có tính ổn định cao.

    Về tài chính về đất đai, giá đất (Chính sách 4), đề nghị tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế xác định giá đất cho sản xuất, kinh doanh bảo đảm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thúc đẩy đầu tư, phát triển doanh nghiệp, tạo việc làm và đóng góp tăng trưởng, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; cần quy định rõ, khả thi về bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và các tỷ lệ đều có thể điều chỉnh tăng hoặc điều chỉnh giảm để phù hợp với mục tiêu huy động nguồn lực đất đai cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Tách bạch xác định giá đất với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng và chỉ quy định tại Luật những nội dung mang tính nguyên tắc về giá đất, giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ trong quá trình tổ chức thực hiện.

    Minh Khôi

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-nghe-to-trinh-bao-cao-y-kien-ve-dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-nam-2024-c55865821.epi

  • Thẩm tra dự thảo nghị quyết về chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh

    Tham dự có các đồng chí: Lã Hoài Nam, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Hoàng Văn Thạch, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, lãnh đạo một số sở, ngành liên quan và đại diện lãnh đạo 2 xã Thông Nông, Phục Hòa.

    Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Dương Hùng Dũng phát biểu kết luận cuộc họp.

    Các đại biểu thảo luận, phân tích tính pháp lý, sự cần thiết ban hành cũng như tính khả thi của dự thảo Nghị quyết về chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh năm 2026 (bổ sung đợt 3).

    Theo đó, chuyển mục đích sử dụng rừng thực hiện các dự án: Dự án bố trí ổn định dân cư vùng thiên tai cấp bách xóm Lũng Lừa, Sơn Hà, xã Thông Nông; Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tại mỏ đá vôi Khuổi Quân, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, nay thuộc xã Nguyễn Huệ; Dự án khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tại mỏ Lũng Nà (phần mở rộng) xóm Lũng Cọ, xã Phục Hòa; Dự án khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường tại mỏ đá vôi Tàng Cải, xã Nam Tuấn; Dự án sửa chữa đột xuất nền mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km0 – Km 17, Quốc lộ 34B.

    Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách Dương Hùng Dũng nhất trí cao với sự cần thiết ban hành nghị quyết và báo cáo. Đồng thời, đề nghị cơ quan soạn thảo và các đơn vị chuyên môn tiếp thu đầy đủ ý kiến đóng góp, khẩn trương bổ sung, giải trình các nội dung theo yêu cầu để hoàn thiện hồ sơ dự thảo, đảm bảo chất lượng cao nhất trình Kỳ họp thứ 6 (chuyên đề).

    Vũ Tiệp – Ánh Phượng

    Nguồn https://baomoi.com/tham-tra-du-thao-nghi-quyet-ve-chu-truong-chuyen-muc-dich-su-dung-rung-sang-muc-dich-khac-tren-dia-ban-tinh-c55865789.epi

  • Dòng tiền bất động sản rời vùng lõi, tìm những ‘trung tâm mới’

    Nếu trước đây khoảng cách từ một dự án đến quận 1 hay chợ Bến Thành thường được quy đổi bằng số kilomet để định giá, thì hiện nay câu hỏi được nhà đầu tư quan tâm hơn là: mất bao lâu để đến đó?

    Theo ông Nguyễn Thái Bình, Tổng giám đốc Đông Tây Land, khi các tuyến vành đai, cao tốc, metro và những trục giao thông liên vùng từng bước hoàn thiện, thời gian kết nối giữa các khu vực sẽ được rút ngắn đáng kể. Khi đó, ranh giới đô thị không còn đơn thuần được đo bằng khoảng cách địa lý.

    Một khu vực có thể nằm xa trung tâm về mặt địa lý nhưng nhờ kết nối thuận tiện, thời gian di chuyển ngắn lại trở nên hấp dẫn hơn nơi gần trung tâm nhưng thường xuyên đối mặt với ùn tắc.

    “Hạ tầng vì thế không chỉ mở đường cho dòng xe, mà còn mở rộng biên độ của đô thị, tái định hình giá trị bất động sản và kéo theo sự dịch chuyển của dòng vốn”, ông Bình nhấn mạnh tại diễn đàn “Bất động sản khu vực phía Nam – Mở dư địa tăng trưởng mới”, do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức mới đây.

    Ông Nguyễn Thái Bình, Tổng giám đốc Đông Tây Land. Ảnh: BTC

    Khi dòng tiền chuyển trục theo ‘logic vùng’

    Sự thay đổi về cách nhìn vị trí cũng đang kéo theo một cách tiếp cận mới với dòng tiền bất động sản tại TP.HCM. Theo ông Bình, thay vì chỉ xoay quanh khu vực trung tâm hiện hữu, nhà đầu tư ngày càng nhìn thị trường theo “logic vùng” – nơi giá trị được hình thành từ mối liên kết giữa đô thị, hạ tầng, việc làm và các cực phát triển.

    Đây không đơn thuần là sự dịch chuyển vốn từ khu vực này sang khu vực khác, mà là quá trình phân bổ lại nguồn lực theo tầm nhìn dài hạn. Bởi lẽ, khi quỹ đất nội đô ngày càng khan hiếm, mặt bằng giá đã ở mức cao, dư địa tăng trưởng tại các khu vực lõi thu hẹp, dòng tiền có xu hướng tìm đến những nơi còn dư địa phát triển và được hưởng lợi từ các công trình hạ tầng lớn.

    Thực tế, theo số liệu của Đông Tây Land, bất động sản tại lõi trung tâm TP.HCM hiện có giá khoảng 200 – 500 triệu đồng/m2. Tại những vị trí đặc biệt đắt giá quanh chợ Bến Thành, giá bán của một số dự án cao cấp thậm chí có thể chạm 1 tỷ đồng/m². Mặt bằng giá này phần nào phản ánh độ khan hiếm của quỹ đất trung tâm, đồng thời cho thấy mức kỳ vọng rất lớn của chủ đầu tư vào giá trị vị trí và thương hiệu. Nhưng ở chiều ngược lại, nó cũng đang đẩy thị trường lõi vào một cuộc chơi ngày càng thu hẹp về nhóm khách hàng.

    Khi giá căn hộ đã lên tới hàng trăm triệu đồng mỗi mét vuông, khả năng tiếp cận của phần đông người mua ở thực và nhà đầu tư phổ thông bị giới hạn đáng kể. Dòng tiền vì thế buộc phải tìm những tọa độ mới, nơi mặt bằng giá còn hợp lý nhưng vẫn có dư địa tăng trưởng.

    “Đó cũng là lúc vùng ven và các đô thị vệ tinh không còn là lựa chọn thay thế, mà trở thành một phần quan trọng của bản đồ đầu tư mới”, ông đánh giá.

    Tuy nhiên, ông Bình lưu ý, hạ tầng giao thông chỉ là điều kiện cần, chưa phải “tấm vé” bảo đảm thành công cho một dự án.

    Thực tế thị trường từng có không ít dự án nằm sát cao tốc, metro hay sân bay nhưng vẫn rơi vào cảnh thưa vắng. Một tuyến đường mới có thể rút ngắn thời gian di chuyển, nhưng không thể tự tạo ra cư dân, việc làm hay sức sống đô thị.

    Nói cách khác, hạ tầng có thể kích hoạt giá trị, nhưng chính nội lực của dự án mới quyết định giá trị ấy có được duy trì và gia tăng hay không. Bởi lẽ, một dự án nếu thiếu quy hoạch đồng bộ, tiện ích, dịch vụ và năng lực vận hành sẽ khó tránh khỏi cảnh “đô thị trên giấy”, dù bên ngoài đã được bao quanh bởi những tuyến giao thông hiện đại.

    “Điều kiện đủ để một dự án thành công là năng lực triển khai thực tế của chủ đầu tư, hệ thống tiện ích dịch vụ đi kèm và khả năng hình thành một cộng đồng cư dân đông đúc”, ông Bình nhấn mạnh.

    Theo ông, phần lớn nguồn cung mới trên thị trường đang bám theo các trục giao thông huyết mạch, những tuyến đường mới mở hoặc mô hình đô thị sân bay. Tuy nhiên, mở đường chỉ mới là bước đầu, muốn hình thành một đô thị sống được, hạ tầng kỹ thuật phải đi cùng hạ tầng xã hội, dịch vụ và cộng đồng cư dân.

    Bà Trần Thị Cẩm Tú, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Bất động sản EximRS. Ảnh: BTC

    Góp thêm góc nhìn từ thực tiễn thị trường, bà Trần Thị Cẩm Tú, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Bất động sản EximRS, cho rằng bất động sản phía Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn khi TP.HCM hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, hình thành một không gian đô thị mới với quy mô và sức liên kết chưa từng có.

    Theo bà Tú, khi ranh giới hành chính dần mất vai trò như một “đường biên” của dòng vốn, nhà đầu tư cũng thay đổi cách nhìn thị trường. Thay vì bó hẹp trong từng địa phương, họ bắt đầu tư duy theo “logic vùng”, quan tâm nhiều hơn đến khả năng kết nối, dư địa phát triển và mối liên kết giữa các cực kinh tế.

    Tuy nhiên, bà Tú cũng nhấn mạnh, dù không gian đầu tư mở rộng, nhưng điều đó không có nghĩa người mua sẽ dễ xuống tiền hơn. Trái lại, tiêu chuẩn lựa chọn đang được nâng lên, với trọng tâm là pháp lý, khả năng khai thác và giá trị thực của sản phẩm.

    Theo bà Tú, những dự án đáp ứng nhu cầu ở thực, có thể cho thuê hoặc tạo dòng tiền ổn định đang ngày càng được ưu tiên. Khi dòng tiền đầu cơ không còn dễ dàng như trước, khả năng tạo ra giá trị sử dụng và dòng tiền thật trở thành yếu tố then chốt quyết định sức hấp dẫn cũng như thanh khoản của một dự án.

    Để khơi thông giao dịch, bà Tú cho rằng doanh nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận ngay từ khâu định giá. Sản phẩm cần được đưa ra thị trường với mức giá tiệm cận giá trị thực ngay từ đầu, thay vì neo giá cao rồi dùng chiết khấu, khuyến mãi để tạo cảm giác hấp dẫn.

    Cùng với đó, các chủ đầu tư cần thiết kế giải pháp tài chính phù hợp, giúp giảm áp lực vốn và kéo dài “sức chịu đựng” dòng tiền cho người mua.

    “Trong một thị trường ngày càng tỉnh táo, khuyến mãi có thể kéo khách đến, nhưng giá trị thực mới giữ được giao dịch. Khi dòng tiền chuyển sang tư duy ‘logic vùng’, những dự án có pháp lý rõ ràng, giá hợp lý, khả năng khai thác tốt và được đặt trong một hệ sinh thái đô thị thực chất sẽ có nhiều cơ hội chiếm lợi thế trong chu kỳ mới”, bà Tú nhấn mạnh.

    Ranh giới đô thị không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý thuần túy. Một khu vực cách xa trung tâm nhưng có kết nối giao thông tốc độ cao hoàn toàn có thể trở nên hấp dẫn hơn một địa điểm cận lõi nhưng thường xuyên ùn tắc.

    Ông Nguyễn Thái Bình

    Tổng giám đốc Đông Tây Land

    Ở góc nhìn nghiên cứu thị trường, ông Đinh Minh Tuấn, Giám đốc khu vực phía Nam của Batdongsan.com.vn, nhận định, sự khắt khe của người mua trong chu kỳ mới đang thể hiện ngày càng rõ khi giá và vị trí không còn đủ để thuyết phục họ xuống tiền. Thay vào đó, người mua đánh giá toàn diện hơn từ chất lượng dự án, hệ tiện ích đến năng lực triển khai của chủ đầu tư.

    Khảo sát từ đơn vị này cho thấy, 60% người mua đặc biệt quan tâm đến chất lượng xây dựng và năng lực thực hiện của chủ đầu tư, trong khi 27% đặt nặng chất lượng hệ thống tiện ích xung quanh dự án.

    “Khi chấp nhận rời xa khu vực trung tâm, người mua cũng đòi hỏi một ‘phần bù’ xứng đáng: một môi trường sống đồng bộ, tiện ích đầy đủ và đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu thiết yếu trong đời sống hằng ngày”, ông Tuấn đánh giá.

    Đáng chú ý, có tới 90% khách hàng sẵn sàng trả cao hơn cho những dự án nằm gần ga metro hoặc các tuyến vành đai huyết mạch. Đây là tín hiệu cho thấy hạ tầng đang ngày càng trở thành một biến số trực tiếp trong bài toán định giá bất động sản.

    Tuy nhiên, theo chuyên gia này, bám hạ tầng không đồng nghĩa với có giá trị. Một dự án chỉ thực sự có sức hút khi giao thông thuận tiện được cộng hưởng với chất lượng xây dựng, tiện ích, dịch vụ và một cộng đồng cư dân đủ lớn để tạo nên sức sống đô thị.

    Ba mũi nhọn để mở dư địa tăng trưởng

    Ông Nguyễn Văn Đính, Phó chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, cho hay thanh khoản bất động sản đang chững lại trên diện rộng, trong đó một số thị trường ghi nhận mức sụt giảm đáng kể.

    Theo số liệu từ các đơn vị nghiên cứu, một năm trước, nhiều dự án mở bán đạt tỷ lệ hấp thụ 80% – 90%, thậm chí có dự án gần như bán hết ngay trong ngày. Nhưng trong 6 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ giao dịch thành công đã giảm xuống dưới 50%.

    “Sự đảo chiều diễn ra khá rõ, dù nền kinh tế vẫn duy trì đà tăng trưởng”, ông Đính nhận định. Theo ông, đây là nghịch lý đáng chú ý của thị trường hiện nay: kinh tế đi lên nhưng sức mua nhà ở không tăng tương ứng.

    Theo ông Đính, nguyên nhân không nằm ở quy mô nguồn cung mà ở sự thay đổi của lực cầu. Nhu cầu bất động sản vẫn tăng cùng quá trình đô thị hóa và phát triển hạ tầng. Tuy nhiên, người mua ngày càng thận trọng, tập trung vào những sản phẩm phục vụ nhu cầu ở thực, có thể cho thuê hoặc tạo dòng tiền ổn định.

    “Lực cầu đang bị ‘thuần hóa’ mạnh mẽ và có tính chọn lọc rất cao. Sự biến mất của dòng vốn đầu cơ là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ hấp thụ chung của thị trường sụt giảm”, ông Đính nói.

    Tại phía Nam, mặt bằng giá bất động sản đang có xu hướng đi ngang. Giá căn hộ bình quân khoảng 108 triệu đồng/m², mức được ông Đính đánh giá là khá cao so với thu nhập và khả năng chi trả của người dân, dù thị trường đã cải thiện đáng kể so với giai đoạn khó khăn cuối năm 2024 và đầu năm 2025.

    Trong bức tranh này, khu vực phía Đông và Đông Bắc TP.HCM nổi lên như một điểm sáng khi có nguồn cung căn hộ tương đối dồi dào, giá khoảng 55 – 60 triệu đồng/m², bình quân khoảng 58 triệu đồng/m². Đây là khoảng giá dễ tiếp cận hơn, mở thêm cơ hội cho nhu cầu ở thực.

    Ông Nguyễn Văn Đính, Phó chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam. Ảnh: BTC

    Tuy nhiên, theo chuyên gia này, giá nhà chỉ là một phần của bài toán, doanh nghiệp còn chịu sức ép từ dòng tiền và chi phí vốn. Việc lãi suất tăng khiến chi phí vay vốn nặng hơn, tác động đồng thời đến cả chủ đầu tư lẫn người mua. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã làm việc với hệ thống ngân hàng để tìm giải pháp giảm lãi suất cho vay, qua đó cải thiện khả năng tiếp cận vốn và hỗ trợ sức cầu.

    Dù vậy, để thị trường vượt qua giai đoạn chuyển tiếp, theo ông, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp.

    Thứ nhất, tăng tốc hạ tầng, hình thành đô thị đa cực. Theo ông, hạ tầng giao thông liên vùng là chìa khóa mở rộng không gian phát triển của TP.HCM. Vì thế, cần đẩy nhanh các dự án vành đai 3, vành đai 4, các tuyến cao tốc hướng tâm, cao tốc liên vùng và những trục kết nối với sân bay quốc tế Long Thành.

    Khi mạng lưới này hoàn thiện, thời gian di chuyển giữa các khu vực được rút ngắn, tạo điều kiện để dân cư và dòng vốn dịch chuyển từ khu vực nội đô chật hẹp sang các đô thị vệ tinh.

    Thứ hai, tháo gỡ pháp lý, đa dạng hóa giải pháp tài chính. Theo ông, việc xử lý nhanh các vướng mắc pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian triển khai, giảm chi phí và sớm đưa sản phẩm ra thị trường. Cùng với đó, chủ đầu tư cần phối hợp với ngân hàng để thiết kế các giải pháp tài chính phù hợp hơn, từ hỗ trợ lãi suất, giãn tiến độ thanh toán đến giảm chi phí vốn cho người mua.

    Thứ ba, tái cấu trúc sản phẩm theo nhu cầu thực. Thay vì tiếp tục tập trung vào phân khúc cao cấp, ông Đính cho rằng doanh nghiệp cần điều chỉnh biên lợi nhuận, phát triển sản phẩm phù hợp hơn với khả năng chi trả của người dân, đồng thời gia tăng nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở có giá phù hợp. Đây không chỉ là câu chuyện giúp người dân dễ mua nhà hơn, mà còn là bài toán dòng tiền của doanh nghiệp.

    “Sản phẩm vừa túi tiền, đáp ứng nhu cầu thực thường có thanh khoản tốt hơn, giúp chủ đầu tư rút ngắn vòng quay vốn và thị trường sớm tìm lại điểm cân bằng”, ông nhấn mạnh.

    Bên cạnh bài toán giá, ông Đính cho rằng doanh nghiệp cũng phải thay đổi cách phát triển dự án. Bởi, cuộc đua trong chu kỳ mới không còn đơn thuần là bán được bao nhiêu sản phẩm, mà phải hướng đến chất lượng công trình, thiết kế xanh, vật liệu thân thiện môi trường và năng lực vận hành sau bàn giao.

    “Trong chu kỳ mới, khách hàng không đánh giá dự án chỉ tại thời điểm mua. Họ quan tâm đến trải nghiệm thực tế, chất lượng tiện ích, khả năng vận hành và dòng tiền có thể tạo ra sau đầu tư”, ông Đính nhấn mạnh.

    Ở góc nhìn thực chiến, ông Nguyễn Thái Bình cho rằng điểm khác biệt của chu kỳ bất động sản mới nằm ở cách nhìn về vùng ven. Đây không còn đơn thuần là phần nối dài của đô thị lõi, mà có thể trở thành những trung tâm phát triển mới.

    Theo ông, khi một khu vực hội đủ giao thông thuận tiện, việc làm, thương mại, trường học, y tế và không gian sống chất lượng, nơi đó có đủ điều kiện để hình thành một cực đô thị riêng.

    Khi ấy, cư dân không còn phải mất hàng chục kilomet mỗi ngày để vào trung tâm làm việc, mua sắm hay giải trí. Vùng ven dần hình thành đời sống kinh tế, dịch vụ và cộng đồng riêng, qua đó giảm áp lực lên khu vực nội đô.

    “Đây cũng là hướng đi phù hợp với bài toán giãn dân của TP.HCM khi không gian đô thị ngày càng mở rộng”, ông Bình đánh giá.

    Từ đó, thị trường cũng đang chuyển từ những dự án đơn lẻ sang các đại đô thị tích hợp – nơi người dân có thể sống, làm việc, học tập, mua sắm và sử dụng các dịch vụ thiết yếu trong cùng một không gian.

    Sự thay đổi này cũng làm khác đi cách thị trường định giá bất động sản. Một dự án không còn chỉ được xem xét qua khoảng cách đến trung tâm hay mức độ gần một tuyến đường lớn, mà quan trọng hơn là khả năng biến một khu đất thành một đô thị có sức sống. Bởi theo ông, thiết kế đẹp hay nằm gần hạ tầng có thể tạo lợi thế ban đầu, nhưng để giá trị được duy trì trong dài hạn, dự án phải có quy hoạch đồng bộ, chất lượng xây dựng, hệ tiện ích đủ tốt, cộng đồng cư dân và năng lực vận hành sau bàn giao.

    “Vì vậy, cơ hội của bất động sản phía Nam trong chu kỳ mới có thể không nằm ở những nơi gần trung tâm nhất, mà ở những vùng đất đủ tiềm năng để trở thành trung tâm tiếp theo”, ông nói thêm.

    Quốc Hải

    Nguồn https://baomoi.com/dong-tien-bat-dong-san-roi-vung-loi-tim-nhung-trung-tam-moi-c55865896.epi

  • Lấy mức độ thụ hưởng của người dân làm thước đo

    Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An Thái Thị An Chung điều hành phiên thảo luận Tổ 7

    Rõ cấu phần nguồn lực, đánh giá bằng kết quả chính sách

    Tán thành chủ trương tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia nhằm giảm đầu mối, tăng phân cấp và khắc phục tình trạng quản lý phân mảnh, chồng lấn, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) cho rằng, 4 chương trình đều hướng tới phát triển con người, cung cấp dịch vụ cơ bản và hỗ trợ địa bàn khó khăn nên việc thống nhất có cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn.

    Về tổng nguồn lực, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội mới nêu mức dự kiến 808.558 tỷ đồng và giao Chính phủ quyết định cơ cấu từng nguồn. Đại biểu đề nghị ghi trực tiếp trong Nghị quyết 5 cấu phần, gồm: ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư công 244.200 tỷ đồng và kinh phí thường xuyên 100.800 tỷ đồng; ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng; vốn ngân sách nhà nước cấp để thực hiện tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; vốn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng 20.429 tỷ đồng và nguồn huy động hợp pháp khác 24.737 tỷ đồng.

    ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) phát biểu .

    Số vốn đã bố trí năm 2026 cho 4 chương trình được tính trong tổng nguồn lực và không bố trí trùng. Chính phủ phân bổ chi tiết trong từng cấu phần; những điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, đối tượng, tổng vốn đầu tư công, tổng mức hỗ trợ của ngân sách trung ương hoặc làm thay đổi lớn cơ cấu nguồn lực phải thực hiện theo Điều 37 Luật Đầu tư công và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Đại biểu cũng đề nghị làm rõ quan hệ giữa 4 nhóm nhiệm vụ trong dự thảo Nghị quyết của Quốc hội với 7 nhóm nhiệm vụ trong dự thảo Nghị quyết của Chính phủ. Để tránh bố trí trùng vốn, bỏ sót nhiệm vụ hoặc không xác định được cơ quan chịu trách nhiệm, cần tổ chức lại theo 7 nhóm, bảo đảm mỗi nhiệm vụ có một nhóm chủ trì, một sản phẩm chính và một nguồn vốn chủ trì.

    Chính sách đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi cần vừa được xác định thành nhóm riêng, vừa là ưu tiên xuyên suốt trong 6 nhóm còn lại. Nhóm nông thôn mới, giảm nghèo và vùng đồng bào DTTS, miền núi cũng cần phân định giữa hạ tầng – môi trường; sản xuất – sinh kế – việc làm – thu nhập và chính sách đặc thù; không bỏ sót các vấn đề thiết yếu như đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, bố trí dân cư và bảo vệ rừng.

    ĐBQH Thái Thị An Chung (Nghệ An) phát biểu .

    Về đánh giá kết quả đầu ra, đại biểu đề nghị tách kết quả chính sách với tiến độ, giải ngân và tuân thủ. Địa phương giải ngân nhanh không thể được xếp hạng cao nếu chất lượng dịch vụ hoặc mức thụ hưởng của người dân thấp. Các chỉ số về tiến độ, tuân thủ không được bù trừ cho việc không đạt mục tiêu chính sách. Dữ liệu đánh giá phải được phân tách theo nhiệm vụ, nguồn vốn, địa bàn và nhóm thụ hưởng, trong đó có giới tính, dân tộc, nhóm tuổi, tình trạng khuyết tật và mức sống.

    Đối với Điều 7 dự thảo Nghị quyết của Chính phủ, đại biểu đề nghị chuyển từ hỗ trợ đầu vào sang hỗ trợ để tạo kết quả. Các dự án phải gắn với sản phẩm đầu ra, khả năng tiêu thụ, tạo việc làm hoặc tăng thu nhập; không coi việc cấp giống, vật tư, thiết bị là đã hoàn thành khi chưa đo được thu nhập của người dân.

    Phần đối ứng của hộ nghèo, người DTTS và nhóm yếu thế cần được thực hiện linh hoạt bằng tiền, ngày công, vật tư, đất đai hoặc tài sản hợp pháp khác; trường hợp đặc biệt, HĐND cấp tỉnh được quyết định giảm hoặc không yêu cầu đối ứng. Đồng thời, cần ưu tiên sản phẩm bản địa, dược liệu quý, kinh tế nông – lâm nghiệp dưới tán rừng và sinh kế gắn với bảo vệ rừng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Các ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tổ

    Về bảo tồn và phát triển văn hóa, đại biểu cho rằng, dự thảo đã bao quát 9 nhóm nội dung nhưng còn thiếu cơ chế chi cho công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, phát triển nhân lực và hội nhập quốc tế. Do đó, cần làm rõ đối tượng, phương thức và căn cứ xác định mức hỗ trợ; tránh trùng với các ưu đãi theo Nghị quyết số 28/2026/QH16 và pháp luật có liên quan.

    Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cũng đề nghị bảo lưu hoặc giao lại thẩm quyền cho HĐND cấp tỉnh quy định cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cộng đồng, nghệ nhân và người thực hành di sản; bổ sung định mức cho bảo tồn di sản phi vật thể, truyền dạy, số hóa dữ liệu và quảng bá văn hóa ở nước ngoài. Việc bảo tồn phải gắn với phát huy giá trị, phát triển kinh tế – xã hội và vai trò chủ thể của cộng đồng; chuyển đổi số phải sử dụng cơ sở dữ liệu, nền tảng dùng chung, tránh đầu tư trùng lặp.

    Tránh phân bổ cào bằng, bảo đảm nguồn lực cho địa bàn khó khăn

    ĐBQH Cil Bri (Lâm Đồng) đánh giá, việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia sẽ khắc phục tình trạng nguồn lực manh mún, phân tán qua nhiều đầu mối, có chương trình liên quan từ 8 đến 20 đầu mối và gần 250 văn bản hướng dẫn; đồng thời tăng quyền chủ động cho địa phương. Tuy nhiên, phân cấp mạnh hơn có thể khiến nguồn lực tập trung vào những công trình hạ tầng dễ thực hiện, dễ giải ngân tại địa bàn thuận lợi, làm giảm mức độ ưu tiên dành cho khu vực khó khăn.

    Đại biểu Cil Bri (Lâm Đồng) phát biểu

    Vì vậy, đại biểu đề nghị dành khoảng 35 – 40% tổng nguồn vốn ngân sách trung ương của chương trình để thực hiện các chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi; đồng thời quy định tỷ lệ tối thiểu bắt buộc cho hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế trực tiếp đối với hộ gia đình.

    Đối với cơ cấu 75% vốn đầu tư công và 25% kinh phí thường xuyên, đại biểu đề nghị làm rõ đây là định hướng chung hay áp dụng thống nhất cho mọi địa phương. Nhiều nhiệm vụ về giảm nghèo, đào tạo nghề, y tế cơ sở, trợ giúp pháp lý, bảo tồn văn hóa phi vật thể và hỗ trợ sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào kinh phí thường xuyên. Do đó, cần giao HĐND cấp tỉnh căn cứ thực tế để điều chỉnh linh hoạt cơ cấu hai nguồn vốn trong một biên độ phù hợp.

    Tính đến tháng 7/2026, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn năm 2025 kéo dài sang năm 2026 mới đạt 31% đối với vốn đầu tư công và 19,4% đối với kinh phí thường xuyên. Đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế xử lý tình trạng “vốn chờ thủ tục”, thành lập một ban điều phối chung có đủ thẩm quyền và phân định rõ trách nhiệm giữa Bộ Tài chính với các bộ quản lý chuyên ngành.

    Các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng tại phiên thảo luận tổ

    Theo đại biểu Cil Bri, phân cấp theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” phải gắn với năng lực thực hiện. Các tỉnh nghèo, miền núi cần được cung cấp quy trình hướng dẫn mẫu và có cơ chế bảo vệ cán bộ, tránh tâm lý sợ sai, không dám làm.

    Đại biểu cũng đề nghị nâng hạn mức dự án đặc thù giao cộng đồng tự thực hiện tại xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS từ dưới 500 triệu đồng lên dưới 1 tỷ đồng; áp dụng thanh toán khoán theo sản phẩm đầu ra đối với mô hình sinh kế quy mô hộ gia đình; bổ sung chức sắc, chức việc, nhà tu hành vào nhóm đối tượng thụ hưởng một số chính sách. Những dự án chậm giải ngân do thiên tai, địa hình hoặc vướng mắc về thủ tục đất đai không bị cắt giảm trần vốn trung hạn.

    Cùng quan tâm đến hiệu quả phân bổ nguồn lực, ĐBQH Huỳnh Ngọc Liêm (Lâm Đồng) cho rằng, việc thống nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia là cần thiết để khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán qua nhiều đầu mối, cấp quản lý, gây khó khăn cho kiểm soát và điều phối. Đại biểu nêu thực tế có nơi chú trọng đẩy nhanh giải ngân nhưng người dân chưa được thụ hưởng tương xứng, như đường điện đi qua địa bàn nhưng chưa được đấu nối đến từng hộ.

    ĐBQH Huỳnh Ngọc Liêm (Lâm Đồng) phát biểu

    Từ hơn 25 năm công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vùng đồng bào DTTS, đại biểu đề nghị cơ chế mới phải tránh phân bổ cào bằng, không sát điều kiện thực tế. Chủ thể thụ hưởng cuối cùng phải là người dân, nhất là tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào DTTS. Đối với các địa bàn chiến lược như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, việc thực hiện chương trình còn phải gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

    Về phân cấp, đại biểu tán thành định hướng địa phương quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả; đồng thời chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và điều chỉnh nguồn lực trong khuôn khổ mục tiêu của chương trình. Trung ương tập trung quản lý mục tiêu, tiêu chuẩn, tiêu chí, định mức, kiểm tra và đánh giá.

    Tuy nhiên, phân cấp phải giúp chính sách đến gần người dân hơn, chứ không chỉ chuyển hồ sơ từ cấp trên xuống cấp dưới. Những nhiệm vụ kỹ thuật đơn giản, sát cộng đồng có thể giao cho cấp xã; còn vấn đề phức tạp, liên ngành, tác động lớn đến đất đai, môi trường, dân cư và dữ liệu phải được thẩm định, kiểm soát phù hợp.

    Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tại phiên thảo luận tổ

    Đối với phân bổ nguồn lực, bên cạnh các tiêu chí về dân số, diện tích, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ đồng bào DTTS, khả năng cân đối ngân sách, mức độ hoàn thành mục tiêu và kết quả giải ngân, cần xác định trước nhu cầu, mức độ cần thiết của người dân rồi mới tính toán nguồn lực; tránh phân bổ bình quân từ trên xuống mà không làm rõ người dân thực tế được thụ hưởng những gì.

    Về điều phối, đại biểu lưu ý, nhu cầu của người dân không chia theo lĩnh vực quản lý của từng bộ, ngành. Vì vậy, dự thảo phải xác định rõ quy trình xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm khi mục tiêu, nguồn lực và nhu cầu địa phương không thống nhất; đồng thời bổ sung cơ chế phối hợp liên vùng, nhất là giữa các địa phương trong cùng không gian phát triển như Lâm Đồng, Đắk Lắk và Gia Lai.

    Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

    Nguồn https://baomoi.com/lay-muc-do-thu-huong-cua-nguoi-dan-lam-thuoc-do-c55865849.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!