Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Sửa Luật Đất đai: Khơi thông nguồn lực đất đai phải đi cùng bảo đảm quyền lợi người dân

    Quốc hội thảo luận ở hội trường về sửa đổi Luật Đất đai sáng 21/8 (Ảnh VPQH)

    Bảng giá đất và hệ số điều chỉnh: Đơn giản thủ tục nhưng phải sát thực tế

    Một trong những vấn đề thu hút nhiều ý kiến là thay đổi cơ chế định giá đất. Theo đại biểu Hoàng Minh Hiếu, so với Luật Đất đai năm 2024, dự thảo không còn quy định cơ chế giá đất cụ thể. Bảng giá đất và hệ số điều chỉnh vì thế trở thành cơ sở chủ yếu để xác định nghĩa vụ tài chính và bồi thường, trừ trường hợp đấu giá đất. Cách tiếp cận này đơn giản hơn nhưng đồng thời làm tăng đáng kể vai trò của hai công cụ trên, bởi chúng tác động trực tiếp đến nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và quyền lợi của hộ gia đình.

    Vấn đề được đại biểu đặt ra là dự thảo chưa quy định tiêu chí, nguyên tắc, phương pháp xác định hệ số điều chỉnh, chu kỳ điều chỉnh cũng như cơ chế giám sát tương ứng. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc bắt buộc khi xây dựng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh theo hướng khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu và có khả năng kiểm chứng; đồng thời công khai phương pháp, nguồn dữ liệu và kết quả tính toán ở mức cần thiết.

    Đáng chú ý, đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề xuất phải có chu kỳ rà soát bắt buộc và “ngưỡng kích hoạt” rà soát tự động. Khi giá giao dịch thực tế biến động vượt một ngưỡng nhất định, cơ quan nhà nước phải rà soát, điều chỉnh hệ số mà không phụ thuộc vào chu kỳ cố định. Đây cũng là cách bảo đảm tính dự báo cho nhà đầu tư và hạn chế độ trễ của chính sách so với thị trường.

    Cùng tiếp cận vấn đề từ quyền lợi người bị thu hồi đất, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần tách bạch chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi người dân. Khi giá đất được sử dụng như công cụ kinh tế, Nhà nước có thể cần điều tiết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất; nhưng khi Nhà nước bắt buộc thu hồi đất, mức bồi thường lại liên quan trực tiếp đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống.

    Đại biểu cho rằng không nhất thiết phải xây dựng hai bảng giá, nhưng đề nghị có cơ chế áp dụng khác nhau để việc giảm chi phí cho nền kinh tế không đồng thời làm giảm mức độ bảo vệ người bị thu hồi đất. Đặc biệt, khi dự thảo bỏ giá đất cụ thể và cơ chế tư vấn xác định giá đất, yêu cầu về công khai dữ liệu, kiểm soát, phản biện và trách nhiệm giải trình càng phải chặt chẽ.

    Đại biểu Tạ Văn Hạ tiếp tục đặt vấn đề ở tầm nguyên tắc. Theo đại biểu, nếu bỏ nguyên tắc thị trường, chuyển sang bảng giá đất cộng hệ số điều chỉnh nhưng những hạn chế về dữ liệu, tính minh bạch của thị trường, đầu cơ và thổi giá chưa được khắc phục thì có nguy cơ quay trở lại cơ chế “giá hành chính”, tái lập khoảng cách giữa giá Nhà nước và giá thị trường.

    Điều cốt lõi, theo đại biểu Hạ, không chỉ nằm ở con số mà là cách phân phối giá trị địa tô, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Nếu giá bồi thường không sát giá trị thực tế, những vấn đề liên quan đến tranh chấp, khiếu nại và sinh kế người dân vẫn khó được giải quyết căn cơ.

    Thu hồi đất phải đi cùng “tái thiết cuộc sống”

    Một mạch thảo luận nổi bật khác là yêu cầu chuyển từ tư duy bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng cho rằng, việc xác định rõ các trường hợp Nhà nước thu hồi đất sẽ góp phần bảo đảm minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, cùng với thu hồi đất phải đặc biệt quan tâm đến cuộc sống và sinh kế của người dân. Chính sách cần hướng tới bảo đảm người dân có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ; ưu tiên đất cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở, đất ở tái định cư. Bồi thường bằng tiền chỉ nên thực hiện khi không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người dân.

    Từ thực tiễn tái định cư, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh chỉ ra một nghịch lý đáng chú ý: có trường hợp hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ đất ở, phải di chuyển nhưng tiền bồi thường không đủ thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với một lô đất tái định cư, kể cả khi chỉ nhận suất tối thiểu. Sau đó, người dân còn phải bỏ thêm kinh phí xây dựng nhà, di chuyển tài sản và ổn định cuộc sống.

    Đại biểu đề xuất nghiên cứu cơ chế riêng đối với đất tái định cư đầu tư bằng ngân sách phục vụ trực tiếp dự án đầu tư công, cho phép xác định giá thu tiền sử dụng đất theo suất đầu tư thực tế. Cơ chế này được kỳ vọng giảm khoảng cách giữa tiền bồi thường nơi đi và nghĩa vụ tài chính tại nơi đến, qua đó giảm áp lực cho người dân và góp phần đẩy nhanh giải phóng mặt bằng.

    Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm nhấn mạnh tái thiết cuộc sống không thể chỉ dừng ở một khẩu hiệu chính sách. Khu tái định cư có đủ đường, điện, nước chưa đồng nghĩa đời sống người dân đã được phục hồi. Vì vậy, cơ quan thực hiện tái định cư cần có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống sau tái định cư, từ khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu đến việc làm, sinh kế và thu nhập; kịp thời hỗ trợ nếu cuộc sống chưa ổn định.

    Đại biểu Nguyễn Duy Minh cũng đề nghị không coi trách nhiệm của Nhà nước kết thúc ngay khi tiền bồi thường được chi trả, mà chính sách hỗ trợ phải gắn với một giai đoạn phục hồi sinh kế. Người bị thu hồi đất cần được bày tỏ nguyện vọng về địa điểm tái định cư, nhất là tái định cư tại chỗ, và nguyện vọng đó phải được xem xét thực chất trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Đặc biệt, với đề xuất cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với một số dự án đặc thù, đại biểu Tạ Văn Hạ đề nghị phải đánh giá kỹ. Theo đại biểu, yêu cầu đẩy nhanh đầu tư công phải được đặt ngang hàng với việc bảo đảm chỗ ở, sinh kế và ổn định cuộc sống của người dân; đồng thời phải quy định chặt để “ngoại lệ” không trở thành phổ biến.

    Gỡ điểm nghẽn dự án nhưng phải kiểm soát quyền lực và minh bạch dữ liệu

    Ranh giới giữa cơ chế thỏa thuận và quyền thu hồi đất của Nhà nước cũng được nhiều đại biểu phân tích. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị cân nhắc kỹ phương án khi nhà đầu tư thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi phần còn lại.

    Theo đại biểu, khi Nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ dựa vào hai tỷ lệ 75%, mà phải xem xét quy mô dự án, số người chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở, và mức độ ảnh hưởng tới nơi ở, sinh kế.

    Đại biểu Dương Khắc Mai đồng tình cần cơ chế xử lý các dự án đã thỏa thuận được phần lớn diện tích nhưng bị ách tắc ở phần còn lại, tránh lãng phí nguồn lực. Tuy nhiên, điều kiện thu hồi phải được quy định chặt chẽ, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi; đồng thời làm rõ cách xác định tỷ lệ diện tích, số người đạt thỏa thuận, thời hạn, hồ sơ và căn cứ xác định kết quả thỏa thuận.

    Một điểm nghẽn khác được đại biểu Trần Nhật Minh nêu là xử lý dự án chậm tiến độ. Có dự án đã đầu tư 80-90% công trình nhưng thuộc trường hợp phải thu hồi; nếu buộc thanh lý, tháo dỡ tài sản sẽ gây lãng phí lớn. Đại biểu đề nghị thiết kế rõ cơ chế xử lý dự án không sử dụng hoặc chậm sử dụng đất, bao gồm tài sản gắn liền với đất và chi phí đầu tư còn lại.

    Song song với tháo gỡ thủ tục, nhiều ý kiến coi dữ liệu là nền tảng để quản trị đất đai minh bạch. Đại biểu Lê Văn Thế đề nghị mọi thao tác tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa dữ liệu phải xác định được chủ thể, lưu lại lịch sử để kiểm tra, giám sát và truy vết trách nhiệm. Một hệ thống hiện đại phải trả lời được ai tạo dữ liệu, ai sửa, sửa nội dung gì, vào thời điểm nào và căn cứ hồ sơ nào.

    Đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề xuất xác định mã định danh thửa đất là mã nền tảng, từ đó liên kết mã bất động sản, công trình, căn hộ và dự án theo quan hệ thứ bậc, tránh tình trạng mỗi hệ thống tạo một mã độc lập cho cùng tài sản. Người sử dụng đất cũng cần có quyền tiếp cận, yêu cầu sửa dữ liệu sai và cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm khắc phục.

    Trần Hương

    Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-dat-dai-khoi-thong-nguon-luc-dat-dai-phai-di-cung-bao-dam-quyen-loi-nguoi-dan-c55879460.epi

  • Nghệ An chi hơn 10.000 tỉ đồng mở rộng không gian ven sông

    Khơi lại dòng sông

    Sông Vinh dài khoảng 7,3km, nối kênh Nhà Lê với sông Lam, gần chân cầu Bến Thủy. Dòng sông từng gắn với hoạt động giao thương, buôn bán sầm uất của chợ Vinh, với hình ảnh “trên bến dưới thuyền” một thời. Cùng với quá trình đô thị hóa, nhiều đoạn sông và không gian hai bên bờ dần xuống cấp. Một số khu vực bị bỏ trống, cây cối mọc um tùm, trong khi không gian ven sông chưa được khai thác tương xứng với vị trí giữa đô thị.

    Toàn cảnh sông Vinh và khu vực đô thị hai bên bờ, ưu tiên góc rộng thể hiện sự tương phản giữa dòng sông và khu dân cư. (Ảnh: T. Cường)

    Một trong những dự án được kỳ vọng thay đổi diện mạo khu vực này là Dự án Hạ tầng ưu tiên và phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu đô thị Vinh, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2021. Trong đó, hạng mục cải tạo sông Vinh và không gian công cộng hai bên bờ có tổng vốn khoảng 194,5 triệu USD, từ vốn vay Ngân hàng Thế giới và vốn đối ứng của địa phương.

    Tháng 6/2026, dự án bắt đầu triển khai gói thầu xây dựng cầu mới và mở rộng đường Cao Xuân Huy nối dài. Cây cầu cũ hiện chỉ đủ cho hai xe máy tránh nhau, ô tô không thể qua lại.

    Ông Nguyễn Văn Bình, một người dân gần sông Vinh cho biết, nhiều năm qua việc đi lại qua cây cầu cũ gặp nhiều khó khăn. “Người dân chúng tôi rất kỳ vọng dự án sớm hoàn thành để đi lại thuận tiện hơn, khu vực này cũng khang trang, đẹp hơn”, ông Bình nói.

    Sông Vinh đoạn qua khu vực trung tâm Vinh, nơi dự kiến được cải tạo, chỉnh trang và phát triển không gian công cộng hai bên bờ. (Ảnh: Song Hoàng)

    Theo quy hoạch, khu vực cải tạo rộng gần 103ha, được chia thành 5 phân khu gồm làng sinh thái, khu di sản, chợ nổi, nút giao Lê Mao và khu du lịch tâm linh. Mỗi phân khu được định hướng một chức năng riêng, kết hợp chỉnh trang đô thị với bảo tồn các giá trị văn hóa và phát triển dịch vụ, du lịch. Tại khu làng sinh thái, đoạn từ ngã ba sông Vinh đến cầu đường sắt, dự án dự kiến hình thành công viên nông nghiệp, đường dạo ven sông, điểm chèo kayak, tuyến du lịch trải nghiệm và không gian nghệ thuật ngoài trời. Dự án cũng đầu tư hệ thống trạm bơm tiêu úng, góp phần giảm ngập cho khu vực trung tâm Vinh.

    Theo Ban quản lý dự án nông nghiệp và môi trường Nghệ An, 6 gói thầu của dự án sẽ được triển khai trong giai đoạn 2026-2027, mục tiêu hoàn thành trước năm 2030 theo cam kết với Ngân hàng Thế giới.

    Mở trục đô thị ven sông Lam

    Cùng với việc cải tạo sông Vinh, Nghệ An đang chuẩn bị đầu tư gần 4.971 tỉ đồng xây dựng tuyến đường ven sông Lam, từ cầu Bến Thủy 2 đến Cửa Hội. Dự án được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Tuyến đường dài khoảng 21,5km, đi qua các phường Cửa Lò, Vinh Lộc và Trường Vinh.

    Phối cảnh sông Vinh sau khi nâng cấp. (Ảnh: CSCC)

    Tuyến đường được quy hoạch với 4 làn xe cơ giới, kết hợp dải phân cách, vỉa hè và không gian cảnh quan ven sông. Một số đoạn sẽ có tường chắn kết hợp chỉnh trang cảnh quan. Không chỉ bổ sung một tuyến giao thông, dự án còn mở thêm hướng phát triển đô thị về phía sông Lam.

    Khi tuyến đường hình thành, các khu vực ven sông đang còn thưa thớt, bãi bồi và những vùng chưa được khai thác sẽ được kết nối tốt hơn với mạng lưới giao thông đô thị. Đây được kỳ vọng là điều kiện để phát triển các không gian dịch vụ, du lịch và cảnh quan ven sông.

    Hạ tầng kết nối khu vực này cũng đang tiếp tục được bổ sung. Trong thời gian tới, cầu Bến Thủy 3 dự kiến được xây dựng, nối phường Trường Vinh, Nghệ An, với xã Đan Hải, Hà Tĩnh.

    Công trình dài khoảng 3,5km, gồm cầu vượt sông Lam dài 1,3km và đường dẫn dài 2,2km, quy mô mặt đường rộng 23,5m. Khi hoàn thành, cầu Bến Thủy 3 sẽ tăng thêm một hướng kết nối qua sông Lam, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông giữa Nghệ An và Hà Tĩnh, đồng thời mở rộng không gian đô thị Vinh về phía đông.

    Với khu vực đô thị Vinh, đây không chỉ là câu chuyện xây thêm đường hay cải tạo một dòng sông. Đó còn là cách đô thị này tìm lại những không gian từng bị bỏ quên bên các dòng sông, để từ đó mở thêm dư địa phát triển trong những năm tới.

    Song Hoàng

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-chi-hon-10-000-ti-dong-mo-rong-khong-gian-ven-song-c55879317.epi

  • Giá đất cần minh bạch, không làm giảm quyền lợi người bị thu hồi

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (TP Hải Phòng) đề cập ranh giới giữa quyền thu hồi đất của Nhà nước và cơ chế thỏa thuận dân sự về quyền sử dụng đất. Bà cho rằng cần phân biệt rõ thẩm quyền quyết định một dự án với căn cứ để Nhà nước sử dụng quyền lực công thu hồi quyền sử dụng đất của người dân.

    “Một dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội hoặc Thủ tướng quyết định đương nhiên là dự án quan trọng, nhưng không nên chỉ từ chủ thể quyết định dự án mà mặc nhiên suy ra việc thu hồi đất đã đáp ứng yêu cầu thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, công cộng” – đại biểu phân tích. 

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga. Ảnh: Phạm Hải

    Theo bà Nga, dự thảo luật cần rà soát theo hướng dự án vẫn phải đáp ứng tiêu chí về mục tiêu, tính chất và mức độ cần thiết của việc thu hồi đất, còn quyết định chủ trương đầu tư là căn cứ để triển khai thu hồi, không nên để tự nó trở thành một trường hợp thu hồi đất độc lập.

    Dự thảo quy định người bị thu hồi được bảo đảm mức bồi thường không thấp hơn mức trung bình của giá đất đã thỏa thuận. Với nội dung này, bà đề nghị phải làm rõ “mức trung bình” được xác định theo phương pháp nào, để chính cơ chế bảo vệ người dân không trở thành nguồn tranh chấp mới.

    Đại biểu cũng đề nghị tách bạch chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi người dân khi Nhà nước thu hồi đất. Theo bà, sử dụng giá đất để giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy sản xuất kinh doanh là một mục tiêu, trong khi bồi thường khi thu hồi đất lại trực tiếp liên quan đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống của người dân. Hai mục tiêu này không hoàn toàn đồng nhất.

    “Không nhất thiết phải xây dựng hai bảng giá đất nhưng luật nên có cơ chế áp dụng khác nhau để việc điều tiết giá đất không đồng thời làm giảm mức bảo vệ đối với người bị thu hồi đất” – bà nêu quan điểm.

    Quyền của từng người sử dụng đất phải được tôn trọng

    Trong khi đó, đại biểu Lê Văn Thế (Ninh Bình) đề nghị xử lý việc thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển.

    Ông phân tích: Khi Nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc một công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích cho công trình. Nếu chỉ thu hồi đúng phần đất nằm trong ranh giới dự án thì sau khi công trình hoàn thành có thể để lại những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận, đất sản xuất bị chia cắt hoặc không hiệu quả đối với việc canh tác đất nông nghiệp.

    Do vậy, đại biểu tỉnh Ninh Bình đề nghị công tác giải phóng mặt bằng phải tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án.

    Đại biểu Lê Văn Thế. Ảnh: Phạm Hải

    Dự thảo luật quy định khi người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ. Với nội dung này, đại biểu đặc biệt quan tâm đến các khía cạnh: khi người dân có nhu cầu hoặc không có nhu cầu, hay người này có nhu cầu nhưng người khác lại không.

    Cụ thể, ông cho rằng quy định này tôn trọng quyền lựa chọn của người dân, nhưng trong cùng một dự án có thể phát sinh tình huống những phần đất còn lại có thửa đất nhỏ, méo hoặc không còn khả năng sử dụng hiệu quả. Trong khi đó, có người đề nghị thu hồi, có người lại không đề nghị thu hồi. Nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ thì bài toán không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ.

    Ông cũng lưu ý dự thảo luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

    Nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Nhưng nếu cần thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng. Việc này không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể.

    “Quyền của từng người sử dụng đất phải được tôn trọng, nhưng bài toán không gian của cả dự án cũng phải được giải quyết bằng một cơ chế pháp lý thống nhất” – đại biểu khẳng định.

    Đại biểu Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) thì nhận định so với luật năm 2024, dự thảo không còn quy định về cơ chế giá đất cụ thể. Vì vậy, bảng giá đất và hệ số K trở thành cơ sở gần như duy nhất để xác định giá đất phục vụ nghĩa vụ tài chính và bồi thường, trừ trường hợp đấu giá đất.

    Đại biểu Hoàng Minh Hiếu. Ảnh: Phạm Hải

    Ông Hiếu nhìn nhận cách tiếp cận này đơn giản hơn nhưng cũng làm tăng đáng kể vai trò của bảng giá đất và hệ số K. Đây là những con số cơ bản quyết định nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và quyền lợi của các hộ gia đình.

    Tuy nhiên, dự thảo luật không quy định về tiêu chí, nguyên tắc, phương pháp xác định hệ số K, cũng không quy định chu kỳ điều chỉnh và không giao Chính phủ quy định chi tiết. Trong khi đó, Nghị quyết số 21 đã yêu cầu các cơ quan Trung ương xây dựng tiêu chí khung, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế giám sát, để giao địa phương quyết định giá đất. 

    Từ đây, đại biểu đề xuất bổ sung các nguyên tắc bắt buộc trong xây dựng bảng giá đất và hệ số K như: bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu, có khả năng kiểm chứng và quy định cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình định giá đất; đồng thời giao Chính phủ quy định tiêu chí khung, phương pháp định giá, trong đó có yêu cầu công khai phương pháp, nguồn dữ liệu và kết quả tính toán ở mức cần thiết. 

    Việc sửa Luật Đất đai cần đồng thời đạt 3 yêu cầu: khơi thông nguồn lực cho phát triển, kiểm soát chặt việc sử dụng quyền lực Nhà nước và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Ảnh: Hoàng Hà

    Khi Nhà nước thu hồi đất, cần bảo đảm tính nhất quán về thời điểm và hệ số áp dụng đối với các trường hợp tương đồng trong cùng một phương án hoặc cùng một giai đoạn bồi thường.

    Theo đại biểu tỉnh Nghệ An, việc quy định như vậy sẽ tránh các trường hợp phát sinh chênh lệch chỉ vì thời điểm xử lý hồ sơ khác nhau, có thể dẫn đến việc người dân, doanh nghiệp cảm thấy bất công và phát sinh các khiếu kiện.

    Trần Thường

    Phạm Hải

    Nguồn https://baomoi.com/gia-dat-can-minh-bach-khong-lam-giam-quyen-loi-nguoi-bi-thu-hoi-c55879328.epi

  • Định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai: Thu hồi đất phải gắn với tái thiết cuộc sống

    Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay, 21/8,dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận

    Tại phiên thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao tinh thần khẩn trương, trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan liên quan trong việc nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Việc sửa đổi Luật lần này là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

    Thu hồi đất không chỉ là “lấy đủ đất” cho dự án

    Liên quan thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm sinh kế cho người có đất bị thu hồi, ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) cho rằng đây là nội dung đã được Tổng Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt. Nghị quyết số 21-NQ/TW thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, bảo đảm cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất bị thu hồi.

    ĐBQH Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) phát biểu

    Đại biểu cơ bản đồng tình với Điều 35 dự thảo Luật về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, cho rằng việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu khác nhau.

    Tuy nhiên, cùng với việc xác định rõ trường hợp thu hồi đất, đại biểu lưu ý cần đặc biệt quan tâm bảo đảm đời sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất. Đây cần là nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Với Điều 42 về thứ tự ưu tiên bồi thường về đất, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị tiếp tục hoàn thiện theo hướng cụ thể hóa yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Cần làm rõ thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở, đất ở tái định cư.

    Theo đại biểu, bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất; đồng thời cần có tiêu chí cụ thể đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

    “Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với việc tiếp tục sản xuất và yêu cầu chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người bị thu hồi đất được bồi thường về tài sản nhưng sau đó gặp khó khăn trong ổn định cuộc sống”, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề xuất.

    ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) phát biểu

    ĐBQH Lê Văn Thế (Ninh Bình) bổ sung, thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển.

    Theo đại biểu, khi Nhà nước đầu tư tuyến đường hoặc công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ diện tích cho công trình. Nếu chỉ thu hồi phần đất trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể còn những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận; đất sản xuất bị chia cắt hoặc không còn hiệu quả canh tác.

    Vì vậy, giải phóng mặt bằng không chỉ là lấy đủ đất cho công trình, mà phải tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian sau dự án.

    Đối với khoản 6 Điều 42 quy định trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, đại biểu đặt vấn đề: “Vậy nếu người dân không có nhu cầu, hoặc người có, người không thì sao?”.

    Đặt vấn đề như vậy, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng, nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ thì bài toán không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ. Do đó, dự thảo Luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

    Toàn cảnh phiên thảo luận

    “Nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Nhưng nếu thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng; không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể”, đại biểu Lê Văn Thế nêu.

    Dữ liệu đất đai phải truy được trách nhiệm

    Về thiết kế pháp lý của hệ thống thông tin quốc gia về đất đai, ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) đề nghị cần làm rõ mối quan hệ giữa Luật Đất đai và Luật Dữ liệu. Theo đại biểu, Điều 4 dự thảo Luật quy định hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về đất đai được ưu tiên áp dụng theo Luật Đất đai, trong khi Luật Dữ liệu yêu cầu luật ban hành sau có quy định khác phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo Luật Dữ liệu.

    ĐBQH Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) phát biểu

    Qua rà soát, dự thảo Luật chưa quy định rõ nội dung này. Do đó, đại biểu đề nghị xác định rõ những nội dung đặc thù về dữ liệu đất đai do Luật Đất đai điều chỉnh; còn việc quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu thực hiện theo pháp luật chung về dữ liệu, giao dịch điện tử và chuyển đổi số, trừ trường hợp đặc thù.

    Cũng theo đại biểu Hoàng Minh Hiếu, dự thảo Luật mới liệt kê các cơ sở dữ liệu thành phần nhưng chưa xác định dữ liệu nào là dữ liệu chủ theo yêu cầu của pháp luật về giao dịch điện tử. Vì vậy, cần xác định cụ thể các dữ liệu chủ như ranh giới không gian, loại và mục đích sử dụng đất, tình trạng pháp lý của thửa đất…, nhằm hạn chế sai lệch, không thống nhất dữ liệu giữa các lĩnh vực thuế, đất đai, xây dựng, bất động sản và dân cư. Đồng thời, cần quy định rõ quyền của người sử dụng đất đối với dữ liệu của mình.

    Đồng tình với định hướng xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thống nhất, dùng chung, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng dữ liệu đất đai không chỉ gồm tọa độ thửa đất hay bản số hóa Giấy chứng nhận mà còn bao gồm thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, biến động quyền sử dụng đất và nhiều lớp dữ liệu quản lý khác.

    “Những thay đổi về người sử dụng đất, ranh giới, mục đích sử dụng, giá đất, đặc biệt là thông tin quy hoạch, đều có thể tác động trực tiếp đến quyền và giá trị tài sản của tổ chức, người dân, doanh nghiệp”.

    Vì vậy, theo đại biểu, vấn đề không chỉ là dữ liệu ban đầu có chính xác hay không mà trong suốt quá trình tồn tại của dữ liệu, mỗi lần thay đổi đều phải có căn cứ và truy được trách nhiệm.

    Các đại biểu tham gia phiên thảo luận tại hội trường

    Cùng với đó, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị bổ sung tại Điều 79 dự thảo Luật nguyên tắc: việc tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt và khai thác dữ liệu đất đai phải xác định được chủ thể thực hiện; mọi thao tác làm thay đổi dữ liệu phải được ghi nhận, lưu giữ lịch sử để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết và xác định trách nhiệm. Đối với dữ liệu có nhiều lần thay đổi, phải quản lý được lịch sử và phiên bản dữ liệu tương ứng.

    Đồng thời, dữ liệu đất đai phải được bảo vệ trước nguy cơ truy cập, can thiệp hoặc sửa đổi trái phép; hệ thống phải có khả năng phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và truy vết các hành vi xâm nhập, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin.

    Đại biểu Lê Văn Thế nhấn mạnh: các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể giao Chính phủ quy định, nhưng cần xác lập ngay trong dự thảo Luật hai nguyên tắc cơ bản nói trên.

    Đan Thanh; Ảnh: Thủy Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/dinh-huong-chinh-sach-sua-doi-luat-dat-dai-thu-hoi-dat-phai-gan-voi-tai-thiet-cuoc-song-c55879359.epi

  • Trước APEC 2027, Phú Quốc có thêm lợi thế từ hệ sinh thái nghỉ dưỡng và giải trí tích hợp

    Trong 7 tháng đầu năm 2026, Phú Quốc đã đón hơn 6,8 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế vượt 1,5 triệu lượt, tăng hơn 53% so với cùng kỳ năm trước. Đảo Ngọc cũng tiếp tục được Expedia đưa vào danh sách 10 hòn đảo hấp dẫn nhất thế giới năm 2026, bên cạnh nhiều điểm đến nổi tiếng như Saint Lucia, Porto Santo, Praslin hay Palawan.

    Chỉ trong 7 tháng đầu năm 2026, Phú Quốc đã đón hơn 6,8 triệu lượt khách

    Để chuẩn bị cho APEC 2027, Phú Quốc đang tập trung hoàn thiện nhiều hạng mục hạ tầng trọng điểm, trong đó có mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc, xây dựng Trung tâm Hội nghị APEC và nâng cấp hệ thống giao thông kết nối. Những thay đổi này không chỉ phục vụ sự kiện quốc tế quy mô lớn mà còn tạo nền tảng dài hạn để nâng cao năng lực tiếp cận, tổ chức sự kiện và phát triển du lịch của đảo.

    Khi năng lực hạ tầng được nâng cấp, bài toán tiếp theo của Phú Quốc là xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch vụ đủ đa dạng để tương xứng với vị thế của một điểm đến quốc tế. Bởi với các nhóm khách như đại biểu, doanh nhân, khách MICE hay du khách quốc tế, một chuyến đi không chỉ xoay quanh lưu trú và cảnh quan mà ngày càng bao gồm nhiều nhu cầu như ẩm thực, hội họp, sự kiện, mua sắm và giải trí.

    Toàn cảnh đại công trường APEC Phú Quốc

    Đây cũng là bối cảnh làm nổi bật vai trò của mô hình nghỉ dưỡng tích hợp (Integrated Resort). Tại khu vực Bãi Dài, Corona Resort & Casino được phát triển theo mô hình này, kết hợp nhiều nhóm dịch vụ trong cùng một quần thể, từ lưu trú, ẩm thực, hội họp, sự kiện đến các hoạt động giải trí và vui chơi có thưởng.

    Với cách tiếp cận tích hợp, du khách có thể đáp ứng nhiều nhu cầu trong cùng một hành trình thay vì phải di chuyển giữa nhiều điểm đến. Mô hình này cũng tạo thêm lựa chọn cho các dòng khách quốc tế và khách MICE, đồng thời góp phần mở rộng thời gian hoạt động của điểm đến sang buổi tối.

    Kinh tế đêm đang trở thành một cấu phần ngày càng quan trọng trong hệ sinh thái du lịch của nhiều thành phố trên thế giới. Khi du khách có thêm lựa chọn về ẩm thực, mua sắm, giải trí và các hoạt động về đêm, điểm đến có thể kéo dài thời gian trải nghiệm và tạo thêm giá trị cho mỗi chuyến đi. Với Phú Quốc, sự phát triển của các mô hình nghỉ dưỡng và giải trí tích hợp có thể góp phần bổ sung lớp trải nghiệm này.

    Bên cạnh thị trường quốc tế, hành lang pháp lý mới cũng mở rộng dư địa cho thị trường trong nước. Từ ngày 26/11/2025, theo Nghị quyết số 08/2025/NQ-CP, công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi, có thu nhập thường xuyên từ 10 triệu đồng mỗi tháng trở lên và đáp ứng các điều kiện theo quy định được tham gia chơi casino tại một số dự án được cấp phép, trong đó có Phú Quốc. Corona Resort & Casino chính thức là đơn vị đầu tiên được phép đón người Việt Nam đủ điều kiện tham gia theo quy định hiện hành.

    Corona Resort & Casino chính thức là đơn vị đầu tiên được phép đón người Việt Nam đủ điều kiện tham gia theo quy định hiện hành.

    Công dân Việt Nam từ đủ 21 tuổi đáp ứng điều kiện pháp luật được phép chơi casino tại Phú Quốc

    APEC 2027 vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng phục vụ một sự kiện quốc tế, mà còn tạo động lực để Phú Quốc nâng cấp toàn diện năng lực điểm đến. Cùng với sân bay, giao thông và các công trình phục vụ APEC, sự hiện diện của những hệ sinh thái nghỉ dưỡng và giải trí tích hợp cho thấy Đảo Ngọc đã có thêm những sản phẩm sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách.

    P.V

    Nguồn https://baomoi.com/truoc-apec-2027-phu-quoc-co-them-loi-the-tu-he-sinh-thai-nghi-duong-va-giai-tri-tich-hop-c55879174.epi

  • ĐBQH: Cụ thể hóa tiêu chí ‘tái thiết cuộc sống’, bảo đảm sinh kế cho người bị thu hồi đất

    Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không đủ quỹ đất, quỹ nhà

    Sáng 21/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng (đoàn Hưng Yên). Ảnh: Media Quốc hội.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng (đoàn Hưng Yên) cho biết việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi là vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách.

    “Nghị quyết 21 của Trung ương đã thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy chỉ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi”, đại biểu nhấn mạnh.

    Theo đại biểu, Điều 42 dự thảo Luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà khi địa phương có quỹ đất, quỹ nhà và người bị thu hồi đất có nhu cầu.

    Đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    Theo đó, cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở tại nơi tái định cư. Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi không đủ quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.

    Đồng thời, cần xây dựng các tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, tiện ích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế tại nơi tái định cư.

    Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp cận hạ tầng hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân được bồi thường về tài sản nhưng lại gặp khó khăn trong quá trình ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

    Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn TP Cần Thơ) và đại biểu Tạ Văn Hạ (đoàn TP Đà Nẵng). Ảnh: Media Quốc hội.

    Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (đoàn TP Cần Thơ) cho rằng, dự thảo đã đặt ra yêu cầu cao hơn khi chuyển từ tư duy bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất.

    Theo đó, hiệu quả tái định cư không thể chỉ được đánh giá qua việc khu tái định cư có đường, điện, nước hay không, mà cần xem xét đồng bộ chỗ ở, hạ tầng, sinh kế, việc làm, thu nhập và mức độ ổn định của người dân sau khi chuyển đến nơi ở mới.

    Đại biểu nhấn mạnh, đây không nên chỉ dừng ở định hướng chính sách mà cần được cụ thể hóa thành nghĩa vụ pháp lý.

    Do đó, đại biểu Ngọc Diễm đề nghị bổ sung quy định cơ quan tổ chức thực hiện tái định cư có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống của người được tái định cư sau khi bố trí chỗ ở.

    Nội dung đánh giá cần bao gồm khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu, việc làm, sinh kế và thu nhập; đồng thời có biện pháp hoặc đề xuất hỗ trợ bổ sung kịp thời đối với những trường hợp chưa bảo đảm điều kiện ổn định cuộc sống.

    Đại biểu Tạ Văn Hạ (đoàn TP Đà Nẵng) cho rằng, mục tiêu đẩy nhanh tiến độ dự án, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công là cần thiết, nhưng phải được đặt ngang hàng với yêu cầu ổn định đời sống, chỗ ở và sinh kế của người dân.

    Bởi khi một gia đình bị thu hồi đất mà chưa được bố trí nơi ở mới, những vấn đề phát sinh không chỉ liên quan đến số tiền bồi thường. Người dân còn phải đối mặt với việc học hành của con cái, sinh kế, việc làm, cuộc sống của người già, trẻ nhỏ và những thành viên có hoàn cảnh đặc thù.

    “Vấn đề không phải chỉ là bồi thường bao nhiêu tiền mà là ổn định cuộc sống cho gia đình người dân như thế nào”, đại biểu Hạ nhấn mạnh.

    Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (đoàn Phú Thọ). Ảnh: Media Quốc hội.

    Khu tái định cư không nên chịu tác động của giá thị trường

    Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (đoàn Phú Thọ) cho rằng, trong quá trình triển khai các dự án đầu tư công, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải phóng mặt bằng và thực hiện dự án.

    Qua thực tiễn, đại biểu nhận thấy còn nhiều vướng mắc liên quan đến việc xác định giá bồi thường tại nơi có đất thu hồi và giá đất để thực hiện nghĩa vụ tài chính tại nơi bố trí tái định cư.

    Mặc dù cùng nằm trong một phương án thu hồi đất, bồi thường và tái định cư của dự án, thực tế đang hình thành hai mặt bằng giá: giá trị quyền sử dụng đất tại nơi người dân phải di chuyển đi và giá đất tại nơi Nhà nước bố trí để người dân di chuyển đến.

    Theo đại biểu, tình trạng này vẫn có thể xảy ra ngay cả khi người dân chỉ nhận một suất tái định cư có diện tích tối thiểu. Đối với các hộ thu nhập thấp, khó khăn càng lớn khi ngoài khoản tiền phải nộp để nhận đất tái định cư, người dân còn phải bố trí kinh phí xây dựng lại nhà ở, di chuyển tài sản và ổn định cuộc sống tại nơi ở mới.

    Bên cạnh áp lực tài chính, chênh lệch giá đất còn gây khó khăn cho công tác vận động giải phóng mặt bằng, kéo dài thời gian thực hiện thủ tục dự án. Từ đó có thể phát sinh kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan đến giá đất; người dân chưa đồng thuận với phương án bồi thường, chậm bàn giao mặt bằng hoặc đề nghị xem xét lại giá đất tại khu tái định cư, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư công.

    Từ thực tế trên, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh đề nghị nghiên cứu cơ chế riêng đối với đất tái định cư được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước để phục vụ trực tiếp các dự án đầu tư công.

    Theo đó, có thể xác định giá thu tiền sử dụng đất tái định cư dựa trên suất đầu tư thực tế của dự án tái định cư. Giá đất tái định cư bình quân được xác định bằng giá quyết toán được duyệt của dự án khu tái định cư chia cho tổng diện tích đất ở được bố trí tại khu tái định cư.

    Đại biểu phân tích, đối với các dự án tái định cư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, mục tiêu chủ yếu là tạo quỹ đất và hạ tầng để bố trí chỗ ở cho các hộ dân phải di chuyển do Nhà nước thu hồi đất, không phải dự án đầu tư kinh doanh.

    Vì vậy, việc xác định giá đất theo chi phí đầu tư thực tế sẽ phản ánh phù hợp hơn bản chất của các khu tái định cư, đồng thời giảm khoảng cách giữa giá trị bồi thường tại nơi người dân bị thu hồi đất và số tiền phải nộp tại nơi ở mới.

    Theo đại biểu, cơ chế này có thể mang lại nhiều lợi ích, trước hết là giảm áp lực tài chính cho người dân; bảo đảm tính minh bạch do chi phí đầu tư được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu, quyết toán; đồng thời hạn chế việc người dân phải gánh toàn bộ phần giá trị gia tăng do vị trí và hạ tầng của khu tái định cư tạo ra.

    Qua đó, chính sách sẽ góp phần tạo đồng thuận, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, tiến độ thực hiện dự án và giải ngân vốn đầu tư công.

    Để tránh bị lợi dụng, đại biểu đề nghị có thể giới hạn cơ chế tính giá theo suất đầu tư đối với một suất đất tái định cư trong hạn mức hoặc suất tái định cư tối thiểu mà hộ gia đình, cá nhân được hưởng theo phương án đã được phê duyệt.

    Yến Chi

    Nguồn https://baomoi.com/dbqh-cu-the-hoa-tieu-chi-tai-thiet-cuoc-song-bao-dam-sinh-ke-cho-nguoi-bi-thu-hoi-dat-c55879144.epi

  • Bỏ giá đất cụ thể, cần ‘ngưỡng kích hoạt’ tự động rà soát hệ số K định kỳ

    Bắt buộc rà soát hệ số K theo định kỳ

    Sáng 21/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Tại phiên thảo luận, đại biểu Hoàng Minh Hiếu (Nghệ An) nhận định, so với Luật năm 2024, dự thảo lần này không còn quy định về cơ chế giá đất cụ thể. Vì vậy, bảng giá đất và hệ số K trở thành cơ sở gần như duy nhất để xác định giá đất phục vụ nghĩa vụ tài chính và bồi thường, trừ trường hợp đấu giá đất.

    Đại biểu Hoàng Minh Hiếu. (Ảnh: Như Ý)

    Từ phân tích trên, ông đề nghị bổ sung các nguyên tắc bắt buộc trong xây dựng bảng giá đất và hệ số K như bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, dựa trên dữ liệu, có khả năng kiểm chứng và quy định cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình định giá đất.

    Ngoài ra, ông cũng đề nghị bổ sung quy định bắt buộc rà soát hệ số K theo định kỳ. Đồng thời, cần quy định ngưỡng kích hoạt rà soát tự động. Theo đó, trong trường hợp biên độ biến động giá giao dịch thực tế trên thị trường vượt quá một khoảng nhất định thì cơ quan nhà nước phải tự động rà soát, điều chỉnh Hệ số K, mà không phụ thuộc vào chu kỳ cố định.

    “Cơ chế này là điều kiện để hệ số K trở thành công cụ điều tiết thị trường hiệu quả, đồng thời bảo đảm tính dự báo cho các nhà đầu tư”, ông Hiếu nói.

    Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) đề nghị tách bạch rõ hơn chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi của người dân khi Nhà nước thu hồi đất.

    Theo đại biểu, khi giá đất được sử dụng như một công cụ kinh tế, Nhà nước có thể cần điều tiết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất. Nhưng khi Nhà nước bắt buộc thu hồi đất thì mức bồi thường lại trực tiếp liên quan đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống của người dân.

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga. (Ảnh: Như Ý)

    “Tôi không cho rằng nhất thiết phải xây dựng hai bảng giá đất, nhưng Luật nên có cơ chế áp dụng khác nhau, bảo đảm việc điều tiết giá đất để giảm chi phí cho nền kinh tế không đồng thời làm giảm mức bảo vệ đối với người bị thu hồi đất”, bà Nga nêu quan điểm.

    Đặc biệt, theo đại biểu, khi dự thảo bỏ giá đất cụ thể và bỏ cơ chế tư vấn xác định giá đất, thì yêu cầu công khai dữ liệu, kiểm soát, phản biện và trách nhiệm giải trình trong xây dựng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh càng phải chặt chẽ hơn.

    Phải bảo đảm sinh kế cho người dân bị thu hồi đất

    Nêu ý kiến, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Hưng Yên) quan tâm đến chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Về nội dung này, dự thảo luật đã quy định cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

    Cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, ông lưu ý, cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi. “Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, ông nói.

    Bên cạnh đó, dự thảo luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng. Trường hợp không có đất, bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà ở khi địa phương có quỹ đất, quỹ nhà và người có đất bị thu hồi có nhu cầu.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng. (Ảnh: Như Ý)

    “Tôi đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa hơn nhu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”, ông Thắng nêu.

    Cùng mối quan tâm, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị phân biệt rõ thẩm quyền quyết định một dự án với căn cứ để Nhà nước sử dụng quyền lực công thu hồi quyền sử dụng đất của người dân.

    “Một dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội hoặc Thủ tướng quyết định đương nhiên là dự án quan trọng, nhưng không nên chỉ từ chủ thể quyết định dự án mà mặc nhiên suy ra việc thu hồi đất đã đáp ứng yêu cầu “thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, công cộng””, đại biểu lưu ý.

    Nữ đại biểu đoàn Hải Phòng cũng đề nghị cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư đã thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi phần còn lại.

    “Khi Nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào hai tỷ lệ 75%, mà cần tính thêm quy mô dự án, số người tuyệt đối còn chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở, và mức độ ảnh hưởng đến nơi ở, sinh kế của người dân”, bà Nga nêu quan điểm.

    Luân Dũng – Trường Phong

    Nguồn https://baomoi.com/bo-gia-dat-cu-the-can-nguong-kich-hoat-tu-dong-ra-soat-he-so-k-dinh-ky-c55879262.epi

  • Quốc hội nghe đề xuất giảm thuế TNCN, thuế TNDN với hộ kinh doanh, doanh nghiệp

    Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, sáng nay, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 và biểu quyết thông qua việc bổ sung Chương trình Kỳ họp. Sau đó, Quốc hội nghe các Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về 03 nội dung: cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế TNCN, thuế TNDN đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp; việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.

    Quốc hội họp sáng 21/8.

    Đầu giờ sáng, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Sau đó, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

    Tiếp tục nội dung làm việc buổi sáng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Tờ trình về việc bổ sung Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

    Sau đó, Quốc hội biểu quyết thông qua việc bổ sung Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

    Tiếp đó, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về 03 nội dung: cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế TNCN, thuế TNDN đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp; việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.

    Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.

    Đại diện Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế TNCN, thuế TNDN đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp.

    Buổi chiều, Quốc hội tiếp tục họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    An Nhiên

    Nguồn https://baomoi.com/quoc-hoi-nghe-de-xuat-giam-thue-tncn-thue-tndn-voi-ho-kinh-doanh-doanh-nghiep-c55879138.epi

  • Đổi mới TXCT để gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn Bài cuối: Để mỗi kiến nghị rõ đường đi, tạo chuyển biến thực chất

    Từ “nhớ” sang “quản lý kiến nghị”

    Một trong những nguyên nhân khiến kiến nghị của cử tri dễ bị “chìm” sau tiếp xúc là việc ghi nhận còn dừng ở danh sách tổng hợp, trong khi đại biểu chưa có cách theo dõi riêng. Muốn đeo bám đến cùng, mỗi đại biểu cần có dữ liệu về những kiến nghị mình tiếp nhận, từ nội dung, địa bàn, cơ quan có thẩm quyền, thời điểm chuyển đến kết quả giải quyết và những phần việc còn vướng mắc. Với kiến nghị phức tạp, có thể lưu kèm hình ảnh, tài liệu, số liệu để thuận tiện kiểm chứng.

    Thường trực HĐND tỉnh Ninh Bình tổ chức phiên họp giám sát kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri từ kỳ họp cuối năm 2025 HĐND tỉnh. Ảnh: H. Giang

    Cách làm này giúp đại biểu chuyển từ “nhớ kiến nghị” sang “quản lý kiến nghị”; nhận diện được vấn đề đã giải quyết, đang xử lý, trả lời chưa rõ hoặc kéo dài qua nhiều kỳ. Đại biểu cũng cần chủ động liên hệ cơ quan có thẩm quyền, đề nghị cung cấp thông tin, trao đổi trực tiếp, kiểm tra thực tế và phản hồi lại với cử tri thay vì chỉ chờ báo cáo. Theo đại biểu Nguyễn Thị Ngọc, HĐND xã Xuân Lộc (Hà Tĩnh), muốn theo sát kiến nghị của cử tri, đại biểu phải có cách ghi chép, theo dõi riêng từng vụ việc, nhất là những kiến nghị chưa được giải quyết dứt điểm. Khi nắm rõ nội dung, cơ quan xử lý và tiến độ, đại biểu mới có cơ sở hỏi lại, đôn đốc và phản ánh đúng vấn đề.

    Tinh thần này cũng được cụ thể hóa tại Điều 55 Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: đại biểu có trách nhiệm xem xét, đánh giá kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri và gửi kết quả đánh giá đến Thường trực HĐND qua Tổ đại biểu để tổng hợp, phối hợp giám sát. Đại biểu đồng thời có thể đề nghị báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin; khi cần thiết xác minh, trao đổi với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

    Như vậy, đại biểu là một “mắt xích” trực tiếp của quy trình giám sát. Một văn bản trả lời chưa đồng nghĩa kiến nghị đã được giải quyết. Điều quan trọng là phải kiểm tra: nội dung đã được xử lý đúng chưa, kết quả thực tế thế nào, nếu chưa thể giải quyết thì nguyên nhân, lộ trình và thời hạn ra sao. Cùng với đó, cần tận dụng nhiều kênh kết nối với cử tri như” điện thoại, nhóm liên lạc, mạng xã hội hoặc nền tảng số của HĐND để tiếp nhận và kiểm chứng thông tin. Tuy nhiên, mọi phản ánh vẫn phải được chuẩn hóa, xác minh và đưa vào hệ thống theo dõi chính thức, bảo đảm không bỏ sót, không trùng lặp và quan trọng nhất là không để kiến nghị rơi vào khoảng trống trách nhiệm.

    Đánh giá chất lượng giải quyết

    Trách nhiệm đeo bám của đại biểu chỉ phát huy hiệu quả khi đặt trong cơ chế giám sát nhiều tầng, với vai trò rất rõ của Thường trực HĐND, các Ban, Tổ đại biểu và từng đại biểu. Thường trực HĐND tổ chức, theo dõi, đôn đốc; các Ban xem xét, thẩm tra, xác minh; Tổ đại biểu tổng hợp, đánh giá; đại biểu trực tiếp theo dõi những kiến nghị mình tiếp nhận. Mục tiêu không chỉ là có văn bản trả lời mà phải làm rõ kiến nghị đã được giải quyết thực chất đến đâu.

    Tổ đại biểu là cầu nối trực tiếp giữa việc theo dõi của đại biểu với hoạt động giám sát của HĐND, có thể yêu cầu cung cấp thông tin, báo cáo, giải trình, xác minh những vấn đề còn vướng mắc. Đặc biệt, quy trình giám sát cần chuyển từ “có trả lời” sang đánh giá chất lượng giải quyết, phân biệt rõ giữa văn bản trả lời và kết quả thực tế. Khi còn hạn chế, bất cập hoặc cần khắc phục, Thường trực HĐND có thể trình HĐND xem xét, thảo luận và ban hành nghị quyết về việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri. Theo Điều 51 Nghị quyết 114, nghị quyết của HĐND phải xác định rõ hạn chế, nguyên nhân, trách nhiệm; đồng thời đề ra giải pháp, thời hạn khắc phục, trách nhiệm thi hành và báo cáo kết quả.

    Theo ông Trương Công Nam, Phó Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND xã Ia Krêl (Gia Lai): Nghị quyết của HĐND về kết quả giải quyết, trả lời kiến nghị sẽ tạo cơ sở để xác định rõ trách nhiệm, thời hạn và yêu cầu khắc phục. Nhưng ban hành nghị quyết chưa phải là kết thúc, cần tiếp tục theo dõi, giám sát việc thực hiện để kiến nghị của cử tri thực sự có kết quả.

    Đây chính là điểm “chốt” để chuyển từ “hỏi – trả lời” sang “xác định trách nhiệm – yêu cầu khắc phục – theo dõi kết quả”. Một kiến nghị chỉ thực sự khép lại khi được giải quyết đúng nội dung, có kết quả kiểm chứng và cử tri được thông tin kết quả giải quyết đầy đủ, không còn tiếp tục kiến nghị. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, càng cần xác định ngay từ đầu đúng chủ thể, thẩm quyền, đúng trách nhiệm, để mỗi kiến nghị rõ đường đi, tạo chuyển biến thực chất trên thực tế.

    Tân Hoà

    Nguồn https://baomoi.com/doi-moi-txct-de-gan-dan-phuc-vu-nhan-dan-tot-hon-bai-cuoi-de-moi-kien-nghi-ro-duong-di-tao-chuyen-bien-thuc-chat-c55878040.epi

  • Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông trước kỳ tái thẩm định

    Nhiều việc cần làm

    Thời gian qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng phối hợp với các chuyên gia Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam khảo sát toàn bộ các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông.

    Trong 4 ngày, đoàn khảo sát 3 tuyến du lịch với hơn 40 điểm di sản, các mô hình du lịch cộng đồng và không gian văn hóa bản địa. Mục tiêu là rà soát hiện trạng, đánh giá việc thực hiện các khuyến nghị của UNESCO và xác định những vấn đề cần tiếp tục khắc phục trước kỳ tái thẩm định năm 2027.

    Sau 6 năm gia nhập mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu Unesco, Công viên địa chất Đắk Nông đã hình thành 3 tuyến du lịch với 41 điểm di sản. Nhiều điểm đã được đầu tư, nâng cấp, bổ sung biển chỉ dẫn, biển diễn giải và sản phẩm trải nghiệm; các giá trị địa chất, văn hóa, lịch sử và đa dạng sinh học từng bước được kết nối trong các tuyến du lịch.

    Đoàn chuyên gia khảo sát các điểm di sản tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

    Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế, từ hệ thống biển bảng chưa đồng bộ, khả năng kết nối giữa các điểm đến chưa hiệu quả đến việc sản phẩm du lịch cần tiếp tục đa dạng hóa.

    Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông có diện tích khoảng 4.760 km², trải rộng trên 22 xã, phường phía Tây tỉnh Lâm Đồng mới. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, đa số các điểm di sản được phân cấp cho chính quyền cấp xã quản lý, bảo vệ.

    Qua khảo sát, nhiều địa phương còn lúng túng trong việc tiếp nhận cơ sở vật chất, hồ sơ bàn giao, cơ chế quản lý, vận hành và trách nhiệm trực tiếp đối với từng điểm di sản. Trong khi đó, bộ máy chính quyền cơ sở mới được kiện toàn, khối lượng công việc lớn, đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản, địa chất, du lịch và Công viên địa chất còn thiếu. Hầu hết các điểm di sản do xã, phường quản lý cũng chưa có đủ đội ngũ thuyết minh, diễn giải.

    Tại xã Thuận An, địa phương có 2 điểm di sản thuộc tuyến du lịch số 2 “Bản giao hưởng của làn gió mới”. Việc bàn giao, xác định trách nhiệm quản lý và phương án phát huy giá trị các điểm này đang được địa phương rà soát, tháo gỡ.

    Phó Giám đốc Trung tâm dịch vụ tổng hợp xã Thuận An Ngô Văn Khoa cho biết: “Khó khăn hiện nay của địa phương là việc phân định vai trò giữa cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và đơn vị trực tiếp phối hợp quản lý. Bên cạnh việc xác định rõ trách nhiệm, không có cán bộ chuyên trách lĩnh vực này cũng là thách thức cho công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các điểm di sản. Điều này khiến địa phương còn bị động trong xây dựng phương hướng hoạt động”.

    Nhiều “điểm nghẽn” trong quy hoạch, vận hành

    Hạ tầng và khả năng vận hành các điểm đến cũng là một trong những “điểm nghẽn” được nhận diện. Với Công viên địa chất, một công trình hoàn thành về mặt xây dựng chưa đồng nghĩa với việc điểm di sản đã sẵn sàng đón khách. Quan trọng hơn là phải có nội dung diễn giải, sản phẩm trải nghiệm và phương án vận hành phù hợp để kể được câu chuyện về di sản.

    Qua rà soát, một số công trình đầu tư công quy mô lớn như “Nơi gặp gỡ Đỏ và Trắng” (phường Bắc Gia Nghĩa), Trung tâm thông tin Krông Nô (xã Nam Đà), Trung tâm thông tin Đắk Song (xã Trường Xuân) mới cơ bản hoàn thiện phần xây dựng, nhưng nội dung trưng bày, diễn giải, trang thiết bị phục vụ tham quan và trải nghiệm chưa được đầu tư đồng bộ.

    Điểm di sản số 4 “Nơi gặp gỡ Đỏ và Trắng” (Phường Bắc Gia Nghĩa) đã hoàn thành nhưng chưa thể vận hành

    Một số công trình, hạng mục đã xuống cấp do thiếu nguồn lực bảo trì, bảo dưỡng hoặc chưa được khai thác thường xuyên. Một số điểm di sản địa chất còn chịu tác động bởi hoạt động xâm hại, lấn chiếm hoặc khai thác tài nguyên chưa phù hợp.

    Đáng chú ý, dự án “Khoanh vùng bảo vệ di sản địa chất, tự nhiên trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông” đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai. Điều này gây khó khăn cho công tác quy hoạch, quản lý, bảo vệ và xử lý các hành vi xâm hại di sản.

    Đoàn chuyên gia khảo sát tại điểm di sản số 11, Trung tâm thông tin Krông Nô, xã Nam Đà

    Theo Phó Chủ tịch UBND xã Nam Đà Nguyễn Trí Quang, địa phương có lợi thế nằm trong vùng lõi Công viên địa chất, với nhiều giá trị về văn hóa, cảnh quan và địa mạo. Vì vậy, xã xác định phát triển du lịch gắn với Công viên địa chất là một hướng đi quan trọng.

    Tuy nhiên, ông Quang cho rằng, việc chưa hoàn thiện công tác quy hoạch Công viên địa chất đang là một thách thức đối với địa phương trong việc xác định không gian vùng lõi, vừa bảo tồn, phát huy giá trị di sản, vừa gắn với phát triển kinh tế – xã hội.

    6/7 khuyến nghị của UNESCO chưa được đáp ứng

    Sau kỳ tái thẩm định năm 2023, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông được Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO đưa ra 7 nhóm khuyến nghị cần tiếp tục thực hiện.

    Qua khảo sát hiện trạng, mới có một phần của một nhóm được đáp ứng; 6 nhóm còn lại vẫn chưa đáp ứng hoặc mới ở mức hạn chế. Những nội dung còn nhiều việc phải làm liên quan đến cơ sở hạ tầng, hệ thống nhận diện, phát triển du lịch địa chất, nguồn nhân lực và mạng lưới đối tác. Đây là áp lực lớn khi kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào năm 2027.

    PGS.TS Trần Tân Văn, Chủ tịch Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam cho rằng, sau sắp xếp đơn vị hành chính, khối lượng công việc cần cập nhật là rất lớn. Theo ông, toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng trong vùng Công viên địa chất như biển bảng, tour tuyến, vị trí, điểm đến, bản đồ… đều cần được rà soát, cập nhật theo tình hình mới; nội dung thuyết minh cũng cần được điều chỉnh.

    Để xây dựng và phát triển Công viên địa chất đúng theo yêu cầu của UNESCO, khối lượng công việc rất khổng lồ. Nếu chúng ta không bắt đầu ngay, tôi e ngại sẽ bị chậm, không đạt được tiến độ, yêu cầu đề ra.

    PGS.TS Trần Tân Văn, Chủ tịch Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam

    Không chỉ là vấn đề hạ tầng, yêu cầu đối với Công viên địa chất hiện nay còn đặt nặng hơn vai trò của cộng đồng. Giá trị Công viên địa chất không chỉ được đánh giá bằng số lượng điểm di sản hay cơ sở vật chất, mà còn ở việc người dân được hưởng lợi và trở thành chủ thể của quá trình bảo tồn, phát triển.

    Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông hội tụ nhiều giá trị đặc biệt, với hơn 180 di chỉ địa chất, gần 50 hang động núi lửa cùng khoảng 60 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Chính sự đa dạng này tạo nên giá trị riêng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy.

    Sau sắp xếp, Công viên địa chất thuộc tỉnh Lâm Đồng mới, mở ra không gian liên kết giữa núi rừng Tây Nguyên với vùng duyên hải Nam Trung Bộ và các trung tâm du lịch như Đà Lạt, Phan Thiết – Mũi Né. Đây là lợi thế để phát triển du lịch, nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản lý di sản phải đồng bộ hơn.

    Vẻ đẹp kỳ vĩ của vòm hang núi lửa C8

    Một số địa phương đã bắt đầu chủ động khảo sát lại các điểm di sản, xây dựng phương án quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị gắn với phát triển kinh tế – xã hội.

    Về phía ngành chuyên môn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Thị Trúc Linh cho biết, Sở sẽ tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí, nguồn lực triển khai các nhiệm vụ phục vụ tái thẩm định năm 2027; trước mắt tập trung khắc phục các khuyến nghị của UNESCO, chỉ đạo các địa phương rà soát, hoàn thiện và vận hành hiệu quả các công trình, trung tâm thông tin, không gian trưng bày và hạ tầng phục vụ hoạt động Công viên địa chất.

    Chúng tôi đã tham mưu UBND tỉnh, tập trung nguồn lực, nỗ lực hoàn thiện và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho kỳ tái thẩm định sắp tới, với mục tiêu giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông.

    Bà Lê Thị Trúc Linh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng

    Thời gian chuẩn bị không còn nhiều. Việc chuyển từ “rà soát” sang “hành động” đang là yêu cầu cấp thiết, trong đó trách nhiệm không chỉ thuộc cơ quan chuyên môn mà phải được cụ thể hóa đến từng địa phương, từng điểm di sản.

    Giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO không chỉ là giữ một “thương hiệu”. Quan trọng hơn, đó là giữ gìn một không gian di sản, để những giá trị địa chất, văn hóa, lịch sử và thiên nhiên tiếp tục được bảo tồn, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho sự phát triển bền vững của Lâm Đồng.

    Phan Trang – Đức Hải

    Nguồn https://baomoi.com/cong-vien-dia-chat-toan-cau-unesco-dak-nong-truoc-ky-tai-tham-dinh-c55878486.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!