Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Rõ đối tượng, rõ thẩm quyền, hạn chế kẽ hở để trục lợi chính sách về nhà ở

    Hoàn thiện chính sách nhà ở, ngăn kẽ hở

    Tham gia thảo luận về sửa đổi Luật Nhà ở, đại biểu (ĐB) Siu Hương – Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, cho rằng quy định đối với dự án sử dụng đất kết hợp đa mục đích, có diện tích xây dựng nhà ở nhưng phải xác định “mục tiêu xây dựng nhà ở chính” cần được làm rõ bằng các tiêu chí cụ thể.

    Quang cảnh phiên thảo luận tại tổ chiều 19-8. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

    Theo đại biểu, nếu không có tiêu chí định lượng, quá trình thực hiện có thể phát sinh cách hiểu khác nhau trong việc xác định đâu là dự án nhà ở, khu đô thị hay dự án thương mại, dịch vụ có nhà ở. Điều này liên quan trực tiếp đến việc lựa chọn nhà đầu tư, nghĩa vụ phát triển nhà ở xã hội, quản lý đất đai và kinh doanh sản phẩm.

    Do đó, đại biểu đề nghị quy định ngay trong Luật các tiêu chí xác định dự án có mục tiêu nhà ở chính dựa trên tỷ lệ đất ở, diện tích sàn nhà ở và mục tiêu đầu tư; đồng thời giao Chính phủ hướng dẫn phương pháp xác định.

    Đối với thẩm quyền của Ban Quản lý khu công nghiệp trong các dự án nhà lưu trú công nhân, ĐB Siu Hương cho rằng: Dự án đầu tư xây dựng nhà lưu trú công nhân phải được Ban Quản lý khu công nghiệp chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư theo quy định áp dụng đối với dự án đầu tư xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật về đầu tư; quản lý, kiểm soát về chất lượng, tiêu chuẩn, diện tích, giá cho thuê nhà lưu trú công nhân.

    Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét đối với nội dung “quản lý, kiểm soát về chất lượng, tiêu chuẩn, diện tích, giá cho thuê”. Quy định theo hướng Ban Quản lý thực hiện quản lý, kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền và phối hợp với các cơ quan chuyên môn có liên quan, tránh giao thẩm quyền chung đối với các nội dung thuộc pháp luật chuyên ngành về xây dựng, giá và các lĩnh vực khác.

    ĐB Siu Hương đề nghị quy định ngay trong Luật các tiêu chí xác định dự án có mục tiêu nhà ở chính dựa trên tỷ lệ đất ở, diện tích sàn nhà ở và mục tiêu đầu tư. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

    Góp ý về đối tượng hưởng chính sách nhà ở xã hội, ĐB Siu Hương cho rằng việc đưa doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp vào cùng nhóm với cá nhân có thể gây khó khăn khi áp dụng các điều kiện về nhà ở, thu nhập và nguyên tắc mỗi đối tượng chỉ được mua, thuê một căn nhà.

    Đại biểu đề nghị tách nhóm tổ chức thành một diện riêng, theo hướng tổ chức được thuê nhà ở xã hội để bố trí cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Đồng thời, cần quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và nguồn kinh phí thuê, bảo đảm chính sách được thực hiện đúng đối tượng.

    Về ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, ĐB Siu Hương lưu ý quy định cho phép chuyển nhượng một phần dự án đối với phần đất dành cho nhà ở thương mại cần được kiểm soát chặt chẽ. Nếu thiếu điều kiện cụ thể, chính sách ưu đãi dành cho nhà ở xã hội có thể bị lợi dụng để tạo quỹ đất thương mại.

    Vì vậy, phần dự án được chuyển nhượng phải bảo đảm tính độc lập về quy hoạch, đất đai, hạ tầng và nghĩa vụ tài chính; không làm giảm quy mô, tiến độ thực hiện nhà ở xã hội. Việc chuyển nhượng cũng cần được công khai và khoản tiền thu được không nên tính vào chi phí xác định giá bán nhà ở xã hội.

    Phân định rõ nhà lưu trú, tránh “núp bóng” kinh doanh bất động sản

    ĐB Nguyễn Thị Mai Phương đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, phân định rõ phạm vi giữa chính sách nhà ở và hoạt động kinh doanh bất động sản, nhất là đối với nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp, nhằm bảo đảm đúng mục tiêu an sinh, tránh chồng chéo và không để chính sách bị lợi dụng để kinh doanh thương mại.

    ĐB Nguyễn Thị Mai Phương đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, phân định rõ phạm vi giữa chính sách nhà ở và hoạt động kinh doanh bất động sản. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

    Theo ĐB Phương, một trong những vấn đề đáng quan tâm là phạm vi điều chỉnh giữa Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Một số nội dung mới trong dự thảo như xây dựng nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp; quy định về phát triển nhà ở thương mại; cho phép căn hộ chung cư cho thuê, lưu trú ngắn hạn có nguy cơ chồng chéo với các quy định của Luật Kinh doanh bất động sản.

    Đại biểu đặc biệt lưu ý đề xuất xây dựng nhà lưu trú cho công nhân, người lao động ngoài khu công nghiệp. Cần làm rõ đây là chính sách an sinh xã hội hay hoạt động kinh doanh bất động sản, bởi ranh giới giữa hai lĩnh vực này rất dễ bị làm mờ.

    “Nếu không phân định rõ, chính sách rất dễ bị biến tướng, bị lợi dụng, đồng thời có thể làm ảnh hưởng đến các chính sách khác về nhà ở xã hội, nhà lưu trú cho công nhân trong khu công nghiệp”, ĐB Phương phân tích.

    Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc kỹ chế định nhà lưu trú cho công nhân, người lao động ngoài khu công nghiệp, bảo đảm đúng mục tiêu chính sách và tránh lợi dụng để kinh doanh thương mại.

    Một nội dung khác được ĐB Nguyễn Thị Mai Phương lưu ý là khái niệm “chung cư có thời hạn”.

    Theo đại biểu, pháp luật hiện hành đã quy định về thời hạn sử dụng nhà chung cư gắn với niên hạn sử dụng của công trình. Tuy nhiên, việc đưa khái niệm “chung cư có thời hạn” vào dự thảo có thể khiến người dân hiểu nhầm thành thời hạn sở hữu căn hộ, từ đó tạo tâm lý hoang mang.

    Đại biểu cho rằng chủ trương cần được thể hiện theo hướng quy định về thời hạn sử dụng nhà chung cư, thay vì sử dụng khái niệm “chung cư có thời hạn”, nhằm tránh cách hiểu không chính xác và không cần thiết phải tạo ra một khái niệm mới khi pháp luật hiện hành đã có quy định.

    Về chính sách nhà ở cho thuê, ĐB Phương đề nghị nghiên cứu quy định đối với nhà ở được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước theo hướng chỉ sử dụng để cho thuê.

    Theo đại biểu, nguồn lực Nhà nước dành cho nhà ở còn hạn chế, trong khi mục tiêu quan trọng là bảo đảm quyền có chỗ ở cho người dân. Nếu nhà ở được xây dựng bằng vốn Nhà nước chỉ phục vụ cho thuê sẽ góp phần hạn chế nguy cơ tư hữu hóa, đầu cơ hoặc sử dụng không đúng đối tượng.

    Đồng thời, cách làm này cũng giúp bảo đảm đúng mục tiêu của các chính sách nhà ở xã hội, hạn chế tình trạng người không thuộc diện được hưởng chính sách nhưng vẫn chiếm dụng hoặc trục lợi từ nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước.

    Từ những vấn đề trên, ĐB Nguyễn Thị Mai Phương đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ ranh giới giữa các chính sách nhà ở và kinh doanh bất động sản, bảo đảm chính sách mới vừa đáp ứng nhu cầu thực tế, vừa không tạo kẽ hở để lợi dụng.

    Luật Kinh doanh bất động sản phải quản lý thị trường bằng dữ liệu

    Góp ý định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị cơ quan soạn thảo chuyển các chủ trương lớn thành quy phạm, tiêu chí, thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát cụ thể; đồng thời tránh tình trạng luật chỉ nêu nguyên tắc chung rồi giao quá nhiều nội dung cho Chính phủ.

    Theo đại biểu, việc sửa luật cần được đặt trong tổng thể các Nghị quyết 21, 57 và 66, bảo đảm đồng bộ với Luật Đất đai, Luật Nhà ở, pháp luật về thuế, đầu tư, quy hoạch và các luật liên quan.

    Theo ĐB Lê Hoàng Anh, cần phân định rõ vai trò của từng luật trong kiểm soát đầu cơ, găm giữ đất và nâng cao tính minh bạch của thị trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai

    Theo đó, đại biểu đề nghị định hướng sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản phải được thể hiện cụ thể, tránh chỉ lặp lại các chủ trương trong nghị quyết bằng những quy định mang tính chung chung. Theo đó, mỗi chủ trương cần được cụ thể hóa thành quy phạm pháp luật, thẩm quyền, tiêu chí, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát rõ ràng, tạo cơ sở để tổ chức thực hiện và giám sát.

    Liên quan yêu cầu xây dựng pháp luật theo hướng quy định khung tại Nghị quyết 66, ĐB Anh cho rằng, quy định là “khung” không đồng nghĩa với việc giao toàn bộ chính sách cho Chính phủ ở văn bản dưới luật. Những vấn đề tác động trực tiếp đến quyền tài sản, quyền kinh doanh và chi phí tuân thủ như huy động vốn, bảo lãnh, nghĩa vụ công khai thông tin, tiêu chí điều tiết thị trường, mã định danh điện tử… cần được Luật quy định các nguyên tắc, tiêu chí, giới hạn và trách nhiệm pháp lý cơ bản.

    Đồng thời, cần rà soát, loại bỏ những thủ tục đăng ký hoặc xác nhận hành chính không thực sự cần thiết. Theo hướng này, Luật quy định nguyên tắc, giới hạn và trách nhiệm; văn bản dưới luật chỉ quy định các nội dung kỹ thuật, chi tiết, qua đó vừa bảo đảm tính minh bạch, ổn định của pháp luật, vừa hạn chế tình trạng phát sinh thêm thủ tục trong quá trình thực thi.

    Theo ĐB Lê Hoàng Anh, cần phân định rõ vai trò của từng luật trong kiểm soát đầu cơ, găm giữ đất và nâng cao tính minh bạch của thị trường. Theo đó, Luật Kinh doanh bất động sản không nên cố định hay định danh chủ thể đầu cơ bằng những tiêu chí cứng, mà tập trung xây dựng hệ thống thông tin minh bạch, quy định nghĩa vụ công khai, báo cáo, truy xuất dữ liệu, đồng thời xác định các chỉ báo và ngưỡng cảnh báo để nhận diện những diễn biến bất thường của thị trường.

    Trong khi đó, các công cụ làm tăng chi phí đối với hành vi găm giữ đất, bỏ hoang, chậm đưa đất vào sử dụng hay điều tiết địa tô cần được thiết kế trong Luật Đất đai và pháp luật về thuế. Theo đại biểu, định hướng của Luật Kinh doanh bất động sản là quản lý thị trường bằng dữ liệu, tăng minh bạch và tạo căn cứ cho các luật về đất đai, thuế, xử lý đầu cơ, nhưng không biến yêu cầu chống đầu cơ thành những thủ tục, giấy phép mới.

    Đáng chú ý, ĐB Hoàng Anh cho rằng: Luật Kinh doanh bất động sản không nên tạo ra chế độ quyền về đất đai mới thông qua các giao dịch mua, thuê, thuê mua nhà ở, công trình hoặc diện tích sàn. Luật cần xác định rõ phạm vi quyền được giao dịch trên thị trường; quyền sử dụng đất phải tuân thủ Luật Đất đai, quyền sở hữu nhà thống nhất với Luật Nhà ở.

    Cùng với đó, cần có cơ chế đăng ký, thống kê, giám sát tỷ lệ và phạm vi sở hữu, nhất là tại các khu vực liên quan đến quốc phòng, an ninh. Việc mở cửa thị trường phải nằm trong phạm vi chính sách cho phép, không để quy định về kinh doanh bất động sản vô tình mở rộng quyền sử dụng đất…

    MAI LÂM

    Nguồn https://baomoi.com/ro-doi-tuong-ro-tham-quyen-han-che-ke-ho-de-truc-loi-chinh-sach-ve-nha-o-c55879821.epi

  • Chính sách đất đai cần đồng bộ từ thu hồi, tái định cư đến phân cấp, hậu kiểm

    Quốc hội thảo luận về Luật Đất đai sáng 21/8. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

    Sáng 21/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển

    Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) cho biết, khi Nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc một công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích đất cho công trình.

    “Tôi đề nghị giải phóng mặt bằng không chỉ lấy đủ đất cho công trình mà phải đồng thời tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án”, đại biểu nói thêm: “Luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.

    Theo đại biểu, nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân.

    Nhưng nếu thu hồi đất để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng. Không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể.

    Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình).

    Nói cách khác, quyền của từng người sử dụng đất phải được tôn trọng nhưng bài toán không gian của cả dự án cũng phải được giải quyết bằng một cơ chế pháp lý nhất quán.

    Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (Đoàn Phú Thọ) đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu một cơ chế riêng đối với đất tái định cư được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước để phục vụ trực tiếp cho các dự án đầu tư công.

    Theo đó, có thể cho phép xác định giá thu tiền sử dụng đất tái định cư theo suất đầu tư thực tế của dự án tái định cư. Giá đất tái định cư bình quân bằng giá trị quyết toán được duyệt của dự án khu tái định cư chia cho tổng diện tích đất ở bố trí của khu tái định cư.

    Đối với các dự án tái định cư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, mục tiêu chủ yếu là tạo quỹ đất và hạ tầng để bố trí chỗ ở cho các hộ dân phải di chuyển do Nhà nước thu hồi đất, không phải là dự án đầu tư kinh doanh. Vì vậy, việc xác định giá đất nêu trên sẽ là cơ sở chi phí để tính toán; chi phí thực tế sẽ phản ánh đúng hơn bản chất của khu tái định cư.

    Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (Đoàn Phú Thọ).

    Theo đại biểu, điều này sẽ giảm khoảng cách lớn giữa giá trị bồi thường tại nơi đất thu hồi với số tiền phải nộp ở nơi tái định cư, qua đó giảm áp lực tài chính cho người dân. Bên cạnh đó, sẽ bảo đảm minh bạch, rõ ràng vì giá trị đầu tư của dự án sau khi hoàn thành được cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu và quyết toán. Điều này cũng giúp hạn chế tình trạng người dân phải chịu toàn bộ giá trị gia tăng về vị trí và hạ tầng của khu vực tái định cư, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công.

    “Để bảo đảm chính sách không bị lợi dụng, có thể quy định cơ chế giá theo suất đầu tư chỉ áp dụng đối với một suất đất tái định cư trong hạn mức hoặc suất tái định cư tối thiểu mà hộ gia đình, cá nhân được hưởng theo phương án đã được phê duyệt”, đại biểu đề xuất.

    Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên) cho biết, cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi.

    Đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng theo hướng cụ thể hóa hơn yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    “Cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở tái định cư; bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện trong trường hợp không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.

    Đồng thời, cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ và bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế của người có đất bị thu hồi”, đại biểu Nguyễn Đại Thắng nói.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên).

    Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp tục sản xuất hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân có đất bị thu hồi được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

    Phân cấp, phân quyền và trình tự, thủ tục hành chính về đất đai

    Theo đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng), trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp với 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nếu mỗi địa phương tự ban hành trình tự, thủ tục hành chính đối với những vấn đề quan trọng như giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì nguy cơ hình thành 34 cách thức thực hiện khác nhau là rất rõ.

    Điều này đặc biệt bất lợi đối với những dự án liên tỉnh, liên vùng. Nhà đầu tư không chỉ phải tuân thủ pháp luật chung mà còn có thể phải nghiên cứu nhiều bộ quy trình khác nhau, làm tăng chi phí tuân thủ và tạo ra sự thiếu thống nhất trong môi trường đầu tư.

    Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng).

    Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành khung trình tự, thủ tục hành chính thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Địa phương được quyền quy định cơ chế phối hợp nội bộ giữa các cơ quan để rút ngắn thời gian xử lý nhưng không nên tự đặt thêm những thành phần hồ sơ, điều kiện hay thủ tục hành chính ngoài khung chính sách của pháp luật.

    “Về các phương án phân cấp tại Điều 18, tôi lựa chọn phương án 1 theo hướng xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tôi cho rằng chưa nên vội vàng giao trực tiếp cho cấp xã những thẩm quyền phức tạp như thu hồi đất, giao đất trong khi cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện và năng lực chuyên môn, điều kiện thực thi giữa các địa bàn còn chưa đồng đều”, đại biểu nói.

    Cùng quan điểm này, đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Đoàn Lạng Sơn) cho rằng, việc phân cấp, phân quyền và trình tự, thủ tục hành chính về đất đai cần phân định cụ thể hơn thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời vẫn linh hoạt để địa phương tiếp tục phân cấp, ủy quyền phù hợp với năng lực thực tế của bộ máy và con người ở cấp xã.

    Cách thiết kế này vừa bảo đảm mặt bằng thẩm quyền tương đối thống nhất trong thực hiện pháp luật đất đai trên phạm vi cả nước, vừa giữ được tính chủ động, linh hoạt của địa phương.

    Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Đoàn Lạng Sơn).

    Đại biểu đề nghị bổ sung ngay vào luật nguyên tắc phân cấp phải xác định rõ chủ thể, thời hạn, trách nhiệm giải trình và cơ chế kiểm tra; đồng thời giao Chính phủ quy định điều kiện bảo đảm về nhân lực, dữ liệu, kinh phí và hỗ trợ chuyên môn cho cấp xã.

    ‘Không thể để phân cấp trở thành nỗi lo rủi ro, tâm lý sợ trách nhiệm, né tránh việc, dẫn đến nhiều việc phải xin ý kiến cấp trên hoặc kéo dài thời gian, làm giảm hiệu quả công việc của một bộ phận cán bộ trực tiếp ở cơ sở”, đại biểu nói.

    THIÊN LAM

    Nguồn https://baomoi.com/chinh-sach-dat-dai-can-dong-bo-tu-thu-hoi-tai-dinh-cu-den-phan-cap-hau-kiem-c55879734.epi

  • Gỡ nút thắt để nhà, đất dôi dư sinh giá trị

    Trụ sở Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Giang cũ bị bỏ không, xuống cấp đã lâu, hiện đã có phương án xử lý.

    Bố trí lại, tận dụng cơ sở dôi dư

    Theo Sở Tài chính, sau sắp xếp tổ chức bộ máy, toàn tỉnh có 6.159 cơ sở nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; trong đó, 1.022 cơ sở được xác định dôi dư cần xử lý. Để đẩy nhanh tiến độ xử lý cơ sở nhà, đất dôi dư, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, địa phương rà soát, phân loại, lập phương án xử lý đối với các trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả hoặc không đúng mục đích. Sở Tài chính thành lập các nhóm hỗ trợ trực tiếp và trực tuyến, hướng dẫn địa phương kiểm tra hiện trạng, hoàn thiện hồ sơ, tháo gỡ khó khăn phát sinh.

    Đến nay, sở đã trực tiếp hỗ trợ 20 xã, phường hoàn thiện hồ sơ xử lý tài sản; đồng thời thành lập các tổ công tác hỗ trợ 68/99 xã, phường rà soát hiện trạng, hoàn thiện hồ sơ nhà, đất dôi dư. Kết quả, 587 cơ sở đã được xử lý, còn 435 cơ sở đang tiếp tục hoàn thiện phương án.

    Trong 587 cơ sở đã xử lý, 473 cơ sở được giao, điều chuyển cho các đơn vị quản lý, sử dụng; 54 cơ sở chuyển giao cho UBND xã, phường quản lý theo quy định của pháp luật đất đai; 57 cơ sở xử lý tài sản trên đất, giao đất cho UBND xã, phường quản lý. Ngoài ra, có 2 cơ sở thu hồi đất để thực hiện Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và một cơ sở đã ký hợp đồng thuê theo Nghị định số 108/2024/NĐ-CP của Chính phủ.

    Tại phường Bắc Giang, việc xử lý nhà, đất dôi dư được gắn với nhu cầu sử dụng thực tế, ưu tiên bố trí lại, chuyển đổi công năng các cơ sở còn khả năng sử dụng. Qua rà soát, địa phương xác định 3 cơ sở dôi dư sau sắp xếp gồm Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn (cơ sở Nguyễn Doãn Địch), trụ sở cũ Liên minh Hợp tác xã tỉnh và trụ sở cũ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    Cả 3 cơ sở đã được cấp có thẩm quyền quyết định phương án xử lý; trong đó, Trường Mầm non Trần Nguyên Hãn được chuyển đổi công năng cho Trung tâm Quan trắc tài nguyên và Môi trường làm trụ sở; trụ sở cũ Liên minh Hợp tác xã tỉnh được giao Trường THCS Trần Phú; trụ sở cũ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được điều chuyển cho Trường Tiểu học Ngô Sĩ Liên. Hai cơ sở bố trí cho giáo dục đã hoàn thành thu hồi, chuyển giao về địa phương; phường đang đề xuất đưa dự án xây dựng mới Trường THCS Trần Phú vào Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030, dự kiến khởi công năm 2027.

    Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh cũ bị bỏ không, xuống cấp, nhiều hạng mục hư hỏng nặng.

    Phó Chủ tịch UBND phường Bắc Giang Nguyễn Duy Hùng cho biết, địa phương xác định xử lý nhà, đất dôi dư không chỉ là giải quyết các cơ sở không còn nhu cầu mà quan trọng là lựa chọn phương án phù hợp để phát huy giá trị tài sản. Vì vậy, phường đối chiếu hiện trạng, nhu cầu sử dụng và quy hoạch để đề xuất phương án, hạn chế phải đầu tư mới khi vẫn còn cơ sở vật chất có thể tận dụng. Ngoài 3 cơ sở phát sinh sau sắp xếp, phường còn Trường Mầm non Hoa Sen – khu lẻ Vĩnh Ninh, là cơ sở dôi dư từ trước, đã được bàn giao Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý từ năm 2019. Phường tiếp tục rà soát, đề xuất phương án xử lý phù hợp.

    Không chỉ phường Bắc Giang, nhiều địa phương trong tỉnh cũng chủ động bố trí lại cơ sở vật chất ngay sau khi tổ chức bộ máy mới đi vào hoạt động. Tại phường Nam Sơn, một số trụ sở, trường học cũ cũng được điều hòa, chuyển đổi công năng để phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Trụ sở UBND phường Nam Sơn cũ được bố trí làm nơi làm việc của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các đoàn thể; Trường Tiểu học Nam Sơn số 1 cũ được sử dụng làm trụ sở Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và Ban Chỉ huy quân sự phường; Trường THCS Nam Sơn cũ được giao Công an phường quản lý, sử dụng… Theo lãnh đạo phường, việc tận dụng các cơ sở hiện có giúp địa phương hạn chế đầu tư mới trụ sở, trường học, đồng thời tạo điều kiện để bộ máy sau sắp xếp nhanh chóng ổn định nơi làm việc.

    Tháo gỡ điểm nghẽn trong khai thác

    Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh cũ được treo biển cho thuê.

    Hiện, Bắc Ninh còn 435 cơ sở cần tiếp tục xử lý, phần lớn là những cơ sở đang được nghiên cứu phương án khai thác, cho thuê hoặc phải hoàn thiện thêm các thủ tục về quy hoạch, đất đai; trong đó, 419 cơ sở dự kiến giao tổ chức kinh doanh nhà quản lý, khai thác, cho thuê nhưng chưa cho thuê được; 4 cơ sở đang thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất để đấu giá; 3 cơ sở được dự kiến giao tổ chức phát triển quỹ đất quản lý để thực hiện dự án nhà ở xã hội cho lực lượng Công an nhân dân; 9 cơ sở mới tiếp nhận từ các cơ quan Trung ương chuyển về hoặc các đơn vị không còn nhu cầu sử dụng.

    Theo Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh, đến nay, Trung tâm và các chi nhánh được giao quản lý, khai thác, xử lý tổng số 583 cơ sở nhà, đất dôi dư; trong đó, 406 cơ sở đã được UBND tỉnh phê duyệt phương án quản lý, khai thác theo Nghị định số 108/2024/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc đưa tài sản vào khai thác thực tế còn chậm; mới có 13 cơ sở được phê duyệt đơn giá và thông báo cho thuê, trong đó chỉ một cơ sở được cho thuê là trụ sở Kho bạc Nhà nước Lương Tài cũ.

    Theo Sở Tài chính, một trong những nguyên nhân khiến việc khai thác tài sản còn chậm là hồ sơ pháp lý về đất đai, tài sản của nhiều cơ sở được hình thành và quản lý qua nhiều thời kỳ chưa đầy đủ, đồng bộ. Một số công trình có nhiều hạng mục nhưng khi quyết toán chỉ xác định giá trị chung, chưa tách được giá trị từng công trình, gây khó khăn trong xác định giá trị tài sản để quản lý, khai thác. Bên cạnh đó, một số cơ sở có phương án sử dụng chưa phù hợp với quy hoạch được phê duyệt, phải tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện thủ tục. Nhiều cơ sở có quy mô nhỏ, nằm xen kẹt trong khu dân cư như nhà văn hóa thôn, điểm trường lẻ, đội thuế… nên giá trị khai thác thấp, khó thu hút tổ chức, cá nhân thuê hoặc chuyển đổi công năng theo hướng thương mại.

    Thực tế tại các địa phương cho thấy, không phải cơ sở dôi dư nào cũng phù hợp để đưa vào khai thác, cho thuê. Với những cơ sở còn khả năng sử dụng, việc bố trí lại cho giáo dục, y tế, văn hóa, hoạt động cộng đồng hoặc các cơ quan, đơn vị có nhu cầu được xem là phương án phù hợp hơn, vừa tận dụng được tài sản hiện có, vừa hạn chế phát sinh đầu tư mới.

    Trụ sở Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Giang cũ bị bỏ không.

    Theo Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Phạm Hoàng Sơn, để đẩy nhanh tiến độ xử lý nhà, đất dôi dư, tỉnh sẽ tập trung hoàn thiện dữ liệu, hồ sơ của từng cơ sở, trong đó làm rõ hiện trạng, pháp lý, quy hoạch và nhu cầu sử dụng. Sở Tài chính phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh và các xã, phường rà soát, cập nhật đầy đủ thông tin, làm cơ sở lựa chọn phương án quản lý, khai thác, cho thuê hoặc đấu giá phù hợp với từng cơ sở. Những thủ tục thuộc thẩm quyền cần được giải quyết kịp thời, tránh tình trạng hồ sơ kéo dài qua nhiều khâu, làm chậm quá trình đưa tài sản vào sử dụng.

    Đối với những cơ sở đủ điều kiện khai thác, tỉnh yêu cầu các đơn vị triển khai ngay việc cho thuê, đấu giá. Với các cơ sở nhỏ lẻ, giá trị khai thác thấp hoặc khó chuyển đổi công năng, cần tiếp tục phân loại để có phương án xử lý phù hợp; những cơ sở đủ điều kiện thì hoàn thiện thủ tục bàn giao cho xã, phường quản lý, sử dụng theo quy định. Việc xử lý phải gắn với nhu cầu thực tế của từng địa bàn, ưu tiên bố trí các cơ sở còn khả năng sử dụng cho hoạt động cộng đồng, giáo dục, y tế, văn hóa, hạn chế phải đầu tư mới trong khi vẫn còn tài sản có thể tận dụng.

    Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Hoàng Sơn yêu cầu các xã, phường chủ động rà soát nhu cầu, đề xuất phương án tiếp nhận, sử dụng tài sản; đồng thời phối hợp với các sở, ngành liên quan, nhất là Sở Xây dựng và Sở Tài chính, để tháo gỡ những vướng mắc về quy hoạch, đất đai, tập trung xử lý các nội dung thực sự ảnh hưởng đến việc đưa tài sản vào sử dụng. Tỉnh sẽ gắn tiến độ xử lý với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; thường xuyên theo dõi, cập nhật biến động tài sản trên phần mềm quản lý. Những đơn vị không bảo đảm tiến độ sẽ được xem xét trách nhiệm trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, hướng tới xử lý dứt điểm tài sản dôi dư, phát huy hiệu quả tài sản công, hạn chế lãng phí.

    Bài và ảnh: Đồng Thúy (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/go-nut-that-de-nha-dat-doi-du-sinh-gia-tri-c55879842.epi

  • Thu hồi đất cần tránh tạo thửa đất nhỏ, méo mó, khó tiếp cận

    Sáng 21/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Thu hồi đất cần đặt trong tổng thể tổ chức lại không gian phát triển

    Tham gia thảo luận về chính sách thu hồi đất, đại biểu Lê Văn Thế (đoàn Ninh Bình) cho rằng, việc thu hồi đất để thực hiện các dự án hạ tầng cần được đặt trong tổng thể bài toán tổ chức lại không gian phát triển, thay vì chỉ dừng ở việc thu hồi đủ diện tích đất nằm trong ranh giới công trình.

    Theo đại biểu, khi Nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc công trình hạ tầng lớn, nếu chỉ thu hồi đúng phần diện tích cần thiết cho dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể xuất hiện những phần đất nhỏ, méo mó, khó tiếp cận. Với đất nông nghiệp, phần diện tích còn lại bị chia cắt không còn hiệu quả đối với hoạt động canh tác.

    Vì vậy, việc giải phóng mặt bằng không nên chỉ nhằm bảo đảm đủ đất cho công trình mà cần đồng thời tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian được hình thành sau dự án.

    Đại biểu Lê Văn Thế phát biểu (Ảnh: Media Quốc hội).

    Đề cập khoản 6 Điều 42 của dự thảo luật, quy định trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, đại biểu Lê Văn Thế cho biết ông đặc biệt quan tâm đến yếu tố “khi người dân có nhu cầu”.

    Theo ông Thế, quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Tuy nhiên, trong cùng một dự án có thể phát sinh tình huống những phần đất còn lại là các thửa đất nhỏ, méo hoặc không còn khả năng sử dụng hiệu quả, trong khi có người đề nghị thu hồi nhưng cũng có người không đề nghị. 

    “Nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ dân thì bài toán tổ chức không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ”, ông nói.

    Từ đó, đại biểu đề nghị dự thảo luật cần bổ sung các tiêu chí khách quan để đánh giá phần diện tích đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

    Theo quan điểm của đại biểu, nếu phần đất còn lại vẫn có thể tiếp tục sử dụng hiệu quả thì cần tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thu hồi đất để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải có căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp với quy hoạch, đồng thời xác định rõ dự án, phạm vi và phương án thực hiện.

    “Không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể”, đại biểu Lê Văn Thế nêu quan điểm. Theo ông, quyền của từng người sử dụng đất cần được tôn trọng, nhưng bài toán không gian của cả dự án cũng phải được giải quyết bằng một cơ chế pháp lý thống nhất.

     Một cơ chế thu hồi đất minh bạch sẽ góp phần giảm khiếu kiện  

    Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Văn Huy (đoàn Hưng Yên) đồng tình với cách tiếp cận của dự thảo luật khi chuyển từ tư duy chủ yếu bồi thường đối với tài sản bị thu hồi sang quan điểm bảo đảm ổn định cuộc sống, sinh kế và điều kiện phát triển lâu dài cho người dân sau khi Nhà nước thu hồi đất.

    Một nội dung khác được đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị xem xét là cách diễn đạt tại khoản 3 Điều 36, đặc biệt là cụm từ “theo tiến độ của dự án đầu tư hoặc theo tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”.

    Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Ảnh: Media Quốc hội).

    Theo ông Huy, không nên để tiến độ của dự án đầu tư trở thành căn cứ độc lập để thúc đẩy việc thu hồi đất. Bởi về bản chất, tiến độ dự án là yêu cầu của nhà đầu tư và cơ quan quản lý dự án, trong khi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là nghĩa vụ, trách nhiệm nhằm bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi.

    Từ đó, đại biểu đề nghị sửa theo hướng: “Việc quyết định thu hồi đất được thực hiện theo tiến độ của dự án nhưng phải bảo đảm phù hợp với tiến độ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đối với trường hợp phải bố trí tái định cư, chỉ được thực hiện thu hồi đất sau khi đã hoàn thành việc bố trí chỗ ở theo quy định của luật”.

    “Tinh thần của đề xuất không phải là làm chậm quá trình thu hồi đất hay tạo thêm thủ tục cho các dự án. Ngược lại, một cơ chế thu hồi đất minh bạch, có thể dự liệu trước và bảo đảm được chỗ ở, sinh kế cho người dân sẽ góp phần giảm khiếu kiện, giảm cưỡng chế, giảm chi phí xã hội và tạo sự đồng thuận cao hơn. Qua đó, cũng có thể góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án”, ông Huy nói.

    Đại biểu Thạch Phước Bình phát biểu (Ảnh: Media Quốc hội).

    Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long) cho rằng giá đất bồi thường là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi đây là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sự đồng thuận của người có đất bị thu hồi.

    Theo đại biểu, khoản 2 Điều 72 quy định căn cứ tính tiền bồi thường bao gồm giá đất theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Điều 76 quy định bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất được sử dụng để tính tiền bồi thường, do UBND cấp tỉnh xây dựng, trình HĐND cấp tỉnh quyết định.

    Đại biểu đánh giá cách tiếp cận này có ưu điểm là có thể rút ngắn quá trình xác định giá. Tuy nhiên, khi bảng giá đất và hệ số điều chỉnh trở thành căn cứ trực tiếp để tính tiền bồi thường thì yêu cầu về tính chính xác, minh bạch và khả năng giải trình cũng phải cao hơn.

    Từ đó, ông đề nghị bổ sung tại Điều 76 trách nhiệm công khai các thông tin chủ yếu liên quan đến việc xác định giá, như nguồn dữ liệu, kỳ dữ liệu, căn cứ xác định hệ số điều chỉnh và các yếu tố chính hình thành mức giá.

    “Người có đất bị thu hồi không chỉ cần biết mình được bồi thường bao nhiêu mà còn cần biết vì sao mức bồi thường được xác định như vậy. Việc minh bạch các căn cứ hình thành giá sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm khiếu nại, khiếu kiện và nâng cao sự đồng thuận trong công tác giải phóng mặt bằng”, ông Bình nói.

    Nguyễn Thu Huyền

    Nguồn https://baomoi.com/thu-hoi-dat-can-tranh-tao-thua-dat-nho-meo-mo-kho-tiep-can-c55879601.epi

  • Đại biểu Quốc hội: Bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân có đất bị thu hồi

    Xác định rõ các trường hợp thu hồi đất

    Thảo luận tại hội trường, các đại biểu bày tỏ đồng tình, đánh giá cao tinh thần khẩn trương, trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này là nhiệm vụ quan trọng nhằm khơi thông, phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

    Quang cảnh phiên họp Quốc hội. Ảnh: TRỌNG HẢI

    Liên quan đến vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (đoàn Hưng Yên) đánh giá, dự thảo luật đã quy định cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ góp phần bảo đảm minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn.

    Tuy nhiên, cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, đại biểu Nguyễn Đại Thắng nhấn mạnh cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Dự thảo luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà ở khi địa phương có quỹ đất, quỹ nhà và người có đất bị thu hồi có nhu cầu.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng (đoàn Hưng Yên) phát biểu.

    Do đó, đại biểu Nguyễn Đại Thắng đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa hơn nhu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở tái định cư; bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện trong trường hợp không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất. Đồng thời, cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế của người có đất bị thu hồi.

    Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp tục sản xuất hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân có đất được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

    Bảo vệ dữ liệu đất đai trước nguy cơ truy cập trái phép

    Thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, đại biểu Lê Văn Thế (đoàn Ninh Bình) đề nghị xử lý việc thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển.

    Theo đại biểu, khi Nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc một công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích đất cho công trình. Nếu chỉ thu hồi đúng phần đất nằm trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể để lại những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận; đất sản xuất bị chia cắt hoặc không hiệu quả đối với việc canh tác đất nông nghiệp. Vì vậy, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng, khi giải phóng mặt bằng không chỉ lấy đủ đất cho công trình, mà đồng thời phải tính toán hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án.

    Liên quan đến dữ liệu đất đai, đại biểu Lê Văn Thế đồng tình với định hướng xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thống nhất, dùng chung. Tuy nhiên, theo đại biểu, phải truy được quá trình xử lý và xác định được trách nhiệm đối với dữ liệu đất đai.

    Đại biểu Lê Văn Thế (đoàn Ninh Bình) phát biểu. Ảnh: TRỌNG HẢI

    Đại biểu cho rằng, một cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại phải trả lời được câu hỏi ai tạo dữ liệu, ai cập nhật, chỉnh sửa, đã thay đổi nội dung gì, thay đổi vào thời điểm nào, căn cứ vào hồ sơ, quyết định nào và phiên bản trước của dữ liệu là gì. Nếu hệ thống chưa trả lời được những câu hỏi đó thì mới chỉ số hóa thông tin, chưa thực sự kiểm soát được trách nhiệm trên môi trường số.

    Do vậy, đại biểu Lê Văn Thế đề nghị bổ sung nguyên tắc việc tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt và khai thác dữ liệu đất đai phải xác định được chủ thể thực hiện. Mọi thao tác làm thay đổi dữ liệu phải được ghi nhận, lưu giữ lịch sử để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết và xác định trách nhiệm. Đối với dữ liệu có nhiều lần thay đổi, phải quản lý được lịch sử và phiên bản dữ liệu tương ứng.

    Đồng thời, dữ liệu đất đai phải được bảo vệ trước nguy cơ truy cập, can thiệp hoặc sửa đổi trái phép. Hệ thống phải có khả năng phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và truy vết các hành vi xâm nhập, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, nhất là đối với dữ liệu liên quan đến quốc phòng, an ninh và các địa bàn trọng yếu.

    HOÀNG CHUNG

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-quoc-hoi-bao-dam-cuoc-song-sinh-ke-cua-nguoi-dan-co-dat-bi-thu-hoi-c55879498.epi

  • Ứng xử xứng đáng với sự hy sinh của người dân khi phải di dời

    Dự án quan trọng không mặc nhiên là đủ tiêu chí thu hồi đất

    Quan tâm đến ranh giới giữa quyền thu hồi đất của Nhà nước và cơ chế thỏa thuận dân sự về quyền sử dụng đất, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) đề nghị phân biệt rõ thẩm quyền quyết định một dự án với căn cứ để Nhà nước sử dụng quyền lực công thu hồi quyền sử dụng đất của người dân.

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) phát biểu. Ảnh: Đức Thanh

    Theo đại biểu, một dự án thuộc thẩm quyền Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định là dự án quan trọng, nhưng không nên chỉ từ chủ thể quyết định dự án mà mặc nhiên suy ra việc thu hồi đất đã đáp ứng yêu cầu thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, công cộng. Dự án vẫn phải đáp ứng các tiêu chí về mục tiêu, tính chất và mức độ cần thiết của việc thu hồi đất; quyết định chủ trương đầu tư chỉ là căn cứ để triển khai thu hồi, không nên tự nó trở thành một trường hợp thu hồi đất độc lập.

    Đại biểu cũng đề nghị cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư đã thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi phần còn lại. Khi Nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào hai tỷ lệ 75% mà cần tính toán thêm quy mô dự án, số người tuyệt đối còn chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở, và mức độ ảnh hưởng đến nơi ở, sinh kế của người dân.

    Đối với quy định người bị thu hồi được bảo đảm mức bồi thường không thấp hơn mức trung bình của giá đất đã thỏa thuận, đại biểu đề nghị làm rõ mức trung bình được xác định theo phương pháp nào, để “chính cơ chế bảo vệ người dân không trở thành một nguồn tranh chấp mới”.

    Theo đại biểu, cần tách bạch rõ hơn chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi của người dân khi Nhà nước thu hồi đất. Khi giá đất được sử dụng như một công cụ kinh tế, Nhà nước có thể cần điều tiết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất; nhưng khi Nhà nước bắt buộc thu hồi đất, mức bồi thường lại trực tiếp liên quan đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống của người dân.

    Luật vì thế cần có cơ chế áp dụng phù hợp, “bảo đảm việc điều tiết giá đất, giảm chi phí cho nền kinh tế nhưng không đồng thời làm giảm mức bảo vệ đối với người bị thu hồi đất”.

    Đánh giá kỹ khi cho thu hồi đất trước khi bồi thường, tái định cư

    Quy định cho phép thu hồi đất trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với một số dự án đặc thù là vấn đề đại biểu Tạ Văn Hạ (đoàn Đà Nẵng) đặc biệt quan tâm.

    Đại biểu Tạ Văn Hạ (đoàn Đà Nẵng) phát biểu. Ảnh: Quochoi.vn

    Theo đại biểu, mục tiêu đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phải được đặt ngang hàng với yêu cầu ổn định cuộc sống, chỗ ở và sinh kế của người dân.

    “Một gia đình khi bị thu hồi đất chưa có tái định cư sẽ phải đối mặt rất nhiều vấn đề : Họ sẽ ở đâu? Con cái học ở đâu? Sinh kế, người già, trẻ nhỏ, người ốm sẽ thế nào?” – đại biểu Tạ Văn Hạ nói.

    Đại biểu cho rằng, khi người dân phải di dời, phải từ bỏ nơi ở, thay đổi công việc và sinh kế để phục vụ lợi ích chung, đó là một sự hy sinh, đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển đất nước. Vì vậy, cần phải có ứng xử xứng đáng với sự hy sinh này. Từ quan điểm này, đại biểu đề nghị phải quy định phải rõ ràng, chặt chẽ, “tránh trường hợp ngoại lệ trở thành phổ biến”, đồng thời cần được xem xét và đánh giá tác động thật kỹ lưỡng.

    Đại biểu Nguyễn Duy Minh đề nghị thể chế hóa rõ hơn tinh thần chuyển từ bồi thường tài sản bị thu hồi sang tái thiết cuộc sống cho người dân tại các điều 42, 47, 48 và 49 của dự thảo luật.

    Theo đại biểu, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được đánh giá không chỉ bằng giá trị tài sản được hoàn trả, mà bằng khả năng người dân có phục hồi, duy trì được đời sống và sinh kế sau khi bị thu hồi đất hay không.

    “Hai hộ dân nhận cùng một khoản bồi thường như nhau hoàn toàn có thể rơi vào hai số phận khác nhau: một người có thể tìm được nơi ở, nơi làm việc ở gần, nhưng một người thì mất trắng nguồn thu nhập vì phải chuyển nơi ở đi quá xa” – đại biểu phân tích.

    Do đó, đại biểu đề nghị không coi trách nhiệm của Nhà nước kết thúc ngay khi việc bồi thường được chi trả, mà phải quy định chính sách hỗ trợ gắn với một giai đoạn phục hồi sinh kế sau thu hồi đất. Người dân bị thu hồi đất cũng cần được quyền bày tỏ nguyện vọng về địa điểm tái định cư, đặc biệt là nguyện vọng tái định cư tại chỗ. Nguyện vọng này phải được ghi nhận và xem xét thực chất khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

    Giảm áp lực tài chính cho người dân khi phải di dời

    Từ thực tiễn triển khai các dự án đầu tư công, đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (đoàn Phú Thọ) chỉ ra tình trạng trong cùng một phương án thu hồi đất, bồi thường và tái định cư nhưng hình thành hai mặt bằng giá: giá trị quyền sử dụng đất tại nơi người dân phải di chuyển đi và giá trị quyền sử dụng đất tại nơi Nhà nước bố trí để người dân chuyển đến.

    Đại biểu Nguyễn Văn Mạnh (đoàn Phú Thọ). Ảnh: Quochoi.vn

    Có trường hợp hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ đất ở, phải di chuyển chỗ ở nhưng tổng số tiền được bồi thường không đủ thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với một lô đất tái định cư được bố trí, ngay cả khi người dân chỉ nhận một suất tái định cư có diện tích tối thiểu. Sau khi bị thu hồi đất và nhà ở, ngoài số tiền phải nộp để nhận đất tái định cư, hộ dân còn phải bố trí khoản kinh phí rất lớn để xây dựng lại nhà, di chuyển tài sản và ổn định cuộc sống tại nơi ở mới.

    Đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế riêng đối với đất tái định cư được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước để phục vụ trực tiếp các dự án đầu tư công; cho phép xác định giá thu tiền sử dụng đất tái định cư theo suất đầu tư thực tế của dự án.

    Cơ chế này sẽ giảm khoảng cách giữa giá trị bồi thường tại nơi có đất thu hồi với số tiền phải nộp tại nơi tái định cư, giảm áp lực tài chính cho người dân và hạn chế tình trạng người dân phải gánh toàn bộ giá trị gia tăng về vị trí, hạ tầng của khu tái định cư, đại biểu phân tích.

    Cùng quan điểm, đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Cần Thơ) nhấn mạnh, yêu cầu tái thiết cuộc sống “không chỉ là một khẩu hiệu chính sách mà cần phải được thể hiện thành nghĩa vụ pháp lý cụ thể trong luật”.

    “Khu tái định cư đạt tiêu chuẩn về đường, điện, nước chưa đồng nghĩa với việc đời sống của người dân đã phục hồi” – đại biểu nói và đề nghị quy định cơ quan, tổ chức thực hiện tái định cư có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống của người dân sau khi bố trí tái định cư, bao gồm khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu, việc làm, sinh kế và thu nhập; kịp thời thực hiện hoặc đề xuất biện pháp hỗ trợ bổ sung đối với trường hợp chưa bảo đảm điều kiện ổn định cuộc sống.

    Hoàng Yến

    Nguồn https://baomoi.com/ung-xu-xung-dang-voi-su-hy-sinh-cua-nguoi-dan-khi-phai-di-doi-c55879668.epi

  • Thu hồi đất phải gắn với tái thiết cuộc sống và quản trị dữ liệu

    * Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình): Thu hồi đất phải gắn với tổ chức lại không gian, quản trị chặt dữ liệu

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình Lê Văn Thế phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn /TXVN

    Việc thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển. Khi thực hiện các dự án hạ tầng lớn, không nên chỉ thu hồi đủ diện tích trong ranh giới dự án mà phải tính đến hiệu quả sử dụng đất, tránh để lại những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận hoặc đất sản xuất bị chia cắt, kém hiệu quả.

    Khoản 6 Điều 142 của dự thảo Luật quy định: “khi người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ”. Quy định này tôn trọng quyền lựa chọn của người dân, nhưng trong cùng một dự án có thể phát sinh tình huống những phần đất còn lại có những thửa đất nhỏ, méo hoặc không còn khả năng sử dụng hiệu quả. Trong khi đó, có người đề nghị thu hồi, có người không đề nghị thu hồi. Nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ thì bài toán không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ.

    Do đó, Luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Nhưng nếu phần đất thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng. Không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể.

    Về dữ liệu đất đai, phải truy được quá trình xử lý và xác định được trách nhiệm. Dữ liệu đất đai không chỉ là tọa độ thửa đất hay bản số hóa của giấy chứng nhận. Cơ sở dữ liệu còn có thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, biến động quyền sử dụng đất và nhiều lớp dữ liệu khác nữa. Chỉ cần một thay đổi về người sử dụng đất, ranh giới, mục đích sử dụng, giá đất, đặc biệt là thông tin quy hoạch đều có thể trực tiếp tác động đến quyền và giá trị tài sản của tổ chức, người dân và doanh nghiệp.

    Vấn đề không chỉ là dữ liệu ban đầu có chính xác hay không, mà là toàn bộ quá trình cập nhật phải có căn cứ và truy được trách nhiệm. Cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại phải xác định rõ ai tạo, ai cập nhật, nội dung thay đổi, thời điểm, căn cứ hồ sơ, quyết định và phiên bản dữ liệu trước đó. Nếu chưa làm được điều này, hệ thống mới chỉ dừng ở số hóa thông tin, chưa thực sự kiểm soát trách nhiệm trên môi trường số.

    Do vậy, đề nghị bổ sung tại Điều 79 nguyên tắc: Việc tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt và khai thác dữ liệu đất đai phải xác định được chủ thể thực hiện. Mọi thao tác làm thay đổi dữ liệu phải được ghi nhận, lưu giữ lịch sử để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết và xác định trách nhiệm. Đối với dữ liệu có nhiều lần thay đổi, phải quản lý được lịch sử và phiên bản dữ liệu tương ứng.

    Đồng thời, dữ liệu đất đai phải được bảo vệ trước nguy cơ truy cập, can thiệp hoặc sửa đổi trái phép. Hệ thống phải có khả năng phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và truy vết các hành vi xâm nhập; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, nhất là đối với dữ liệu liên quan đến quốc phòng, an ninh và các địa bàn trọng yếu.

    * Đại biểu Triệu Thị Ngọc Diễm (Đoàn thành phố Cần Thơ): Đề xuất nâng chất lượng tái định cư, minh bạch cơ chế giá đất bồi thường

    Về tái định cư và yêu cầu tái thiết cuộc sống, dự án luật đặt ra một yêu cầu cao hơn rất nhiều về chính sách chuyển biến mạnh từ tư duy bồi thường tài sản bị thu hồi sang tái thiết cuộc sống cho người dân khi nhà nước thu hồi đất. Thông qua việc xem xét chỗ ở, hạ tầng, sinh kế, việc làm, thu nhập và độ hài lòng của người dân. Đây không chỉ là một khẩu hiệu chính sách mà cần phải được thể hiện bằng các quy định pháp lý cụ thể trong luật. Khu tái định cư đạt tiêu chuẩn về đường, điện, nước chưa đồng nghĩa với việc đời sống của người dân đã phục hồi. 

    Kiến nghị bổ sung vào Điều 42 hoặc Điều 48 một khoản quy định: Cơ quan, tổ chức thực hiện tái định cư có trách nhiệm theo dõi, đánh giá điều kiện sống của người được tái định cư sau khi bố trí tái định cư, bao gồm khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu, việc làm, sinh kế và thu nhập; kịp thời thực hiện hoặc đề xuất biện pháp hỗ trợ bổ sung đối với trường hợp chưa bảo đảm điều kiện ổn định cuộc sống. Đồng thời, đối với các dự án có phạm vi từ hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên hoặc phải bố trí tái định cư ngoài địa bàn xã nơi có đất thu hồi, cần quy định rõ UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm điều phối, tránh giao toàn bộ trách nhiệm sang từng xã riêng lẻ.

    Về cơ chế giá đất tính bồi thường, vấn đề cốt lõi không phải là nên sử dụng giá đất cụ thể hay bảng giá đất và hệ số K, mà là bảng giá và hệ số K có phản ánh được hợp lý giá trị đất tại thời điểm thu hồi hay không. Nếu cơ chế mới đơn giản về thủ tục nhưng tạo khoảng cách lớn giữa số tiền bồi thường và giá trị thực tế của quyền sử dụng đất thì khó tạo được sự đồng thuận, dễ phát sinh kiến nghị, khiếu nại và chậm bàn giao mặt bằng. Trong khi báo cáo rà soát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng nhận định: Dữ liệu đầu vào định giá đất chưa đầy đủ, khoảng cách giữa giá thị trường và bảng giá đất còn lớn tại nhiều địa phương. 

    Do đó, kiến nghị bổ sung vào Điều 76 cơ chế điều chỉnh linh hoạt theo hướng: Hệ số điều chỉnh giá đất để tính bồi thường phải đủ chi tiết theo khu vực, vị trí, thời điểm, kịp thời điều chỉnh khi giá đất biến động hoặc bảng giá, hệ số không còn phù hợp. Cho phép xác định hệ số bổ sung đối với khu vực dự án cụ thể trên cơ sở dữ liệu khách quan, công khai cơ sở xác định hệ số để người có đất thu hồi giám sát và bảo đảm tính minh bạch.

    Đồng thời, làm rõ tỷ lệ bồi thường tại điểm E Khoản 2 Điều 72. Dự thảo chưa quy định rõ nguyên tắc, phương pháp xác lập, thẩm quyền quyết định và mối quan hệ giữa tỷ lệ này với bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất. Điều 76 chỉ mới quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định bảng giá đất và hệ số điều chỉnh, chưa xác định chủ thể quyết định tỷ lệ bồi thường. Vì đây là biến số trực tiếp ảnh hưởng tới mức bồi thường, cần quy định rõ để bảo đảm tính thống nhất. 

    Đề nghị Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp xác định tỷ lệ; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ cụ thể theo từng loại đất trong phạm vi được giao hoặc Chính phủ quy định thống nhất trên toàn quốc. Việc xác định tỷ lệ phải công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích và không làm mất ý nghĩa của bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất.

    * Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn thành phố Hải Phòng): Đề xuất làm rõ ranh giới giữa thu hồi đất và thỏa thuận dân sự

    Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu.

    Thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW, tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển. Tuy nhiên, cần làm rõ ranh giới giữa quyền thu hồi đất của nhà nước và cơ chế thỏa thuận dân sự về quyền sử dụng đất.

    Về ranh giới giữa quyền thu hồi đất của nhà nước và cơ chế thỏa thuận dân sự về quyền sử dụng đất, đề nghị rà soát khoản 6 Điều 35 theo hướng dự án vẫn phải đáp ứng tiêu chí về mục tiêu, tính chất và mức độ cần thiết của việc thu hồi đất; còn quyết định chủ trương đầu tư là căn cứ để triển khai thu hồi.

    Đồng thời đề nghị cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư đã thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì nhà nước thu hồi phần còn lại. Khi nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào hai tỷ lệ 75%, mà cần tính thêm quy mô dự án, số người tuyệt đối còn chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở và mức độ ảnh hưởng đến nơi ở, sinh kế của người dân. 

    Đối với bồi thường, cần làm rõ phương pháp xác định “mức trung bình” của giá đất đã thỏa thuận tại khoản 4 Điều 43. Đồng thời, cần phân biệt chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với yêu cầu bảo đảm quyền lợi người bị thu hồi đất. Khi sử dụng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh cho cả nghĩa vụ tài chính và bồi thường, cần có cơ chế áp dụng phù hợp để việc điều tiết giá đất không làm giảm mức bảo vệ đối với người dân. Trong bối cảnh dự thảo bỏ giá đất cụ thể và cơ chế tư vấn xác định giá đất, yêu cầu công khai dữ liệu, kiểm soát và trách nhiệm giải trình càng phải được tăng cường.

    Bên cạnh đó, cần rà soát đồng bộ Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản, nhất là các quy định liên quan đến lựa chọn chủ đầu tư, giao và thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng dự án và nghĩa vụ tài chính. Các luật cần bảo đảm sự thống nhất, để chính sách được quy định ở luật này có đầy đủ cơ chế thực hiện ở luật khác.

    Sửa Luật Đất đai lần này cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: khơi thông nguồn lực cho phát triển, kiểm soát chặt việc sử dụng quyền lực nhà nước và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

    Bích Hồng – Thu Hằng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/thu-hoi-dat-phai-gan-voi-tai-thiet-cuoc-song-va-quan-tri-du-lieu-c55879643.epi

  • Phê bình chủ đầu tư dự án Phát huy giá trị di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng

    Du khách chụp ảnh lưu niệm tại Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh tư liệu: Trần Tĩnh/TTXVN

    Theo Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Quang Bửu vừa ký Công văn số 8347/UBND-ĐTĐT, phê bình Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật thành phố Đà Nẵng vì không thực hiện nhiệm vụ đúng thời hạn, chậm trễ hoàn thành dự án Phát huy giá trị di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng.

    Theo đó, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật thành phố Đà Nẵng rà soát, kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm cơ quan, cá nhân trong việc chậm triển khai nội dung nêu trên; khẩn trương báo cáo rà soát toàn bộ quá trình triển khai dự án, vướng mắc phát sinh, cơ quan, đơn vị, cá nhân cụ thể chịu trách nhiệm chậm trễ việc này, hoàn thành báo cáo Chủ tịch UBND thành phố trước 25/8/2026.

    Lãnh đạo UBND thành phố Đà Nẵng cũng yêu cầu Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật thành phố chủ trì, phối hợp với UBND xã Thạnh Bình, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan khẩn trương tập trung mọi nguồn lực, tổ chức đẩy nhanh tiến độ thi công. Các đơn vị giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng dự án trước ngày 30/8/2026.

    UBND thành phố Đà Nẵng cũng giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố chủ trì, rà soát các nội dung được phân công tại Kế hoạch số 67-KH/TU ngày 31/3/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 – 01/10/2026) để triển khai thực hiện.

    Như TTXVN đã đưa tin, Dự án Phát huy giá trị di tích Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng được tỉnh Quảng Nam (cũ) triển khai từ năm 2017 và dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2026, nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh. Tổng mức đầu tư dự án (sau khi điều chỉnh vào năm 2024) là hơn 49 tỷ đồng. Từ giai đoạn 2017 đến tháng 8/2021 dự án do UBND huyện Tiên Phước (tỉnh Quảng Nam cũ) làm chủ đầu tư.

    Từ tháng 9/2021, dự án do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Nam (cũ) làm chủ đầu tư, nay là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Đà Nẵng. Quy mô đầu tư: giữ nguyên di tích gốc; tu bổ tôn tạo nhà thờ (nhà chính), phục dựng nhà ngang, nhà cầu; cải tạo khuôn viên, sân vườn, các lối đi bộ, mộ thân sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng; đầu tư hệ thống đèn chiếu sáng, hệ thống tưới nước, phòng chống mối mọt; nâng cấp tuyến đường chính vào khu di tích… Đến nay, cơ bản các hạng mục chính đã được thi công hoàn thiện, một số hạng mục sân bãi, cảnh quan đang tiếp tục triển khai.

    Trước đó, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật thành phố Đà Nẵng dự kiến đến ngày 30/4/2026 sẽ hoàn thành toàn bộ dự án. Tuy nhiên, sau nhiều lần lãnh đạo UBND thành phố Đà Nẵng kiểm tra, ra văn bản đốc thúc, đến nay dự án vẫn chưa được hoàn thiện…

    Quốc Dũng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/phe-binh-chu-dau-tu-du-an-phat-huy-gia-tri-di-tich-nha-luu-niem-cu-huynh-thuc-khang-c55879650.epi

  • Xác định rõ các trường hợp thu hồi đất

    Toàn cảnh phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

    Cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư thỏa thuận được trên 75% diện tích thì Nhà nước thu hồi phần còn lại

    Ngày 21/8 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Phát biểu tại phiên họp, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) đề nghị cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư đã thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi phần còn lại. Khi Nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào tỷ lệ 75%, mà cần tính thêm quy mô dự án, số người tuyệt đối còn chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở, và mức độ ảnh hưởng đến nơi ở, sinh kế của người dân.

    Đồng thời, khoản 4 Điều 43 quy định người bị thu hồi được bảo đảm mức bồi thường không thấp hơn mức trung bình của giá đất đã thỏa thuận thì phải làm rõ “mức trung bình” được xác định theo phương pháp nào, để chính cơ chế bảo vệ người dân không trở thành nguồn tranh chấp mới.

    Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

    Bên cạnh đó, cần tách bạch rõ hơn chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi của người dân khi Nhà nước thu hồi đất. Theo định hướng chính sách, giá đất phải góp phần bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho sản xuất, kinh doanh. Nhưng dự thảo lại sử dụng cùng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh để tính cả nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và tiền bồi thường khi thu hồi đất.

    Song bà Nga nhìn nhận, hai mục tiêu này không hoàn toàn đồng nhất. Khi giá đất được sử dụng như một công cụ kinh tế, Nhà nước có thể cần điều tiết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất. Nhưng khi Nhà nước bắt buộc thu hồi đất thì mức bồi thường lại trực tiếp liên quan đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống của người dân.

    “Tôi không cho rằng nhất thiết phải xây dựng hai bảng giá đất, nhưng Luật nên có cơ chế áp dụng khác nhau, bảo đảm việc điều tiết giá đất để giảm chi phí cho nền kinh tế không đồng thời làm giảm mức bảo vệ đối với người bị thu hồi đất”, bà Nga nói và cho hay khi dự thảo bỏ giá đất cụ thể và bỏ cơ chế tư vấn xác định giá đất thì yêu cầu công khai dữ liệu, kiểm soát, phản biện và trách nhiệm giải trình trong xây dựng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh càng phải chặt chẽ hơn.

    Đất đai vừa là nguồn lực đặc biệt của quốc gia, vừa gắn trực tiếp với quyền tài sản, nơi ở và sinh kế của người dân. Vì vậy, sửa Luật lần này cần đồng thời đạt ba yêu cầu: khơi thông nguồn lực cho phát triển, kiểm soát chặt việc sử dụng quyền lực Nhà nước và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

    Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế điều tiết đất đối với phần giá trị tăng thêm do quy hoạch

    Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên), về thu hồi đất bồi thường hỗ trợ tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống sinh kế của người có đất bị thu hồi. Đây là nội dung đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ban chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo chỉ đạo rất quyết liệt trong thời gian vừa qua. Nghị quyết 21 của trung ương đã thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy chỉ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.

    Tại điều 35 dự thảo luật đã quy định cụ thể hơn các trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng, ông Thắng cơ bản đồng tình với hướng tiếp cận này. Việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ góp phần bảo đảm minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư.

    Đại biểu Nguyễn Đại Thắng phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

    Tại điều 42 dự thảo luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng, trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà ở khi địa phương có quỹ đất quỹ nhà và người có đất bị thu hồi có nhu cầu. Ông Thắng đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa hơn yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở đất ở tái định cư. Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi trong trường hợp không có quỹ đất quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.

    Đồng thời cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế của người có đất bị thu hồi.

    Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp tục sản xuất hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân có đất bị thu hồi được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

    Về cơ chế điều tiết giá trị tăng thêm từ đất và giá đất, tài chính đất đai, Điều 12 của dự thảo đã xác định nhà nước có thẩm quyền quyết định chính sách tài chính về đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Tuy đồng tình với nguyên tắc này nhưng theo ông Thắng, điều 71 hiện chủ yếu quy định các khoản thu ngân sách từ đất đai trong khi cơ chế cụ thể về điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất chưa thật rõ.

    Do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế điều tiết đất đối với phần giá trị tăng thêm do quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị, bảo đảm nhà nước và xã hội được hưởng một phần hợp lý giá trị tăng do đầu tư công và quyết định quản lý nhà nước tạo ra. Đồng thời cần đánh giá tác động của bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại điều 76 dự thảo luật đối với chi phí sản xuất kinh doanh và khả năng tiếp cận đất đai của doanh nghiệp.

    Thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển

    Đại biểu Quốc hội Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) đề nghị, việc thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển. Khi nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc một công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích đất cho công trình. Nếu chỉ thu hồi đúng phần đất nằm trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể để lại những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận. Đất sản xuất bị chia cắt hoặc không hiệu quả đối với việc canh tác đất nông nghiệp. Vì vậy giải phóng mặt bằng không chỉ lấy đủ đất cho công trình mà phải đồng thời tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án.

    Anh Vũ – Việt Thắng – Quang Vinh

    Nguồn https://baomoi.com/xac-dinh-ro-cac-truong-hop-thu-hoi-dat-c55879883.epi

  • Cúng Rằm tháng 7 năm 2026 ngày, giờ nào đẹp?

    Ngày, giờ đẹp cúng Rằm tháng 7 năm 2026

    Theo chuyên gia, các gia đình có thể cúng Rằm tháng 7 từ 11/7 âm lịch đến 15/7 âm lịch.

    – Ngày 11/7 âm lịch: Ngày Kỷ Tỵ, tháng Bính Thân, kỵ các tuổi Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Dậu và những người mang thiên can Quý có năm sinh âm lịch tận cùng là số 3 (1943, 1953, 1963, 1973, 1983, 1993, 2003 và 2013).

    Ngày này hợp các tuổi Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Tuất.

    Giờ đẹp làm lễ gồm:  giờ Thìn (7-9h); giờ Tỵ (9-11h); giờ Mùi (13-15h) và giờ Dậu (17-19h).

    – Ngày 12/7 âm lịch: Ngày Canh Ngọ, tháng Bính Thân, kỵ các tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Thân và những người mang thiên can Giáp có năm sinh âm lịch tận cùng là số 4 (1944, 1954, 1964, 1974, 1984, 1994, 2004).

    Ngày này hợp các tuổi còn lại là Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Tuất, Hợi.

    Giờ đẹp làm lễ gồm: giờ Mão (5-7h); giờ Thìn (7-9h); giờ Thân (15-17h); giờ Dậu (17-19h).

    – Ngày 13/7 âm lịch: Ngày Tân Mùi, tháng Bính Thân, kỵ các tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Hợi và những người mang thiên can Ất có năm sinh âm lịch tận cùng là số 5 (1945, 1955, 1965, 1975, 1985, 1995, 2005).

    Ngày này hợp các tuổi Tý, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu.

    Giờ đẹp làm lễ gồm: giờ Mão (5-7h); giờ Tỵ (9-11h); giờ Thân (15-17h).

    – Ngày 14/7 âm lịch: Ngày Nhâm Thân, tháng Bính Thân, kỵ các tuổi Dần, Thân, Tỵ, Hợi và những người mang thiên can Bính có năm sinh âm lịch tận cùng  là số 6 (1946, 1956, 1966, 1976, 1986, 1996, 2006).

    Ngày này hợp các tuổi Tý, Sửu, Mão, Thìn, Ngọ, Mùi, Dậu, Tuất.

    Giờ đẹp làm lễ gồm: giờ Thìn (7-9h); giờ Tỵ (9-11h); giờ Mùi (13-15h) và giờ Dậu (17-19h).

    – Ngày 15/7 âm lịch: Ngày Quý Dậu, tháng Bính Thân, kỵ các tuổi Tý, Ngọ, Mão, Dậu và những người mang thiên can Đinh có năm sinh âm lịch tận cùng là số 7 (1947, 1957, 1967, 1977, 1987, 1997, 2007).

    Ngày này hợp các tuổi Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất, Hợi.

    Giờ đẹp làm lễ gồm: giờ Mão (5-7h); giờ Tỵ (9-11h); giờ Mùi (13-15h); giờ Dậu (17-19h).

    Gia chủ có thể tham khảo ngày, giờ đẹp cúng Rằm tháng 7 năm 2026 để thu hút tài lộc, cầu bình an. Ảnh minh họa: Thu Huong Vu

    Lưu ý khi chọn ngày, giờ đẹp cúng Rằm tháng 7

    Chuyên gia phong thủy Nguyễn Song Hà lưu ý rằng, khi tiến hành cúng lễ vào các ngày, giờ đẹp trên, gia chủ nên ưu tiên tránh thiên can xung trước rồi xét đến địa chi sau vì thiên can tương tác mạnh gấp 3 lần địa chi.

    Cũng theo vị chuyên gia này, mùng 10 âm lịch hằng tháng, kể cả tháng 7 âm lịch, được xem là ngày Nguyệt Thần Tài. Vì vậy, gia chủ không nên làm lễ cúng Rằm vào ngày này để tránh phạm lễ, mất lễ.

    Nếu trong ngày mùng 10 âm lịch, gia chủ cúng Thần Tài trước rồi cúng Rằm tháng 7 sau thì được.

    Thảo Trinh

    Nguồn https://baomoi.com/cung-ram-thang-7-nam-2026-ngay-gio-nao-dep-c55879477.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!