Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi rút từ 260 xuống 106 điều

    Hội thảo “Góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)” do VCCI tổ chức sáng 27-8 là hội thảo đầu tiên lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi Luật Đất đai 2024. Ảnh: LƯU THỦY

    Ông Đào Trung Chính, Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết Luật Đất đai năm 2024 mới ban hành khoảng hai năm nhưng đã phát sinh những yêu cầu mới, nhất là sau khi thay đổi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Vì vậy, việc sửa đổi luật nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo động lực phát triển.

    So với Luật Đất đai năm 2024 gồm 260 điều, dự thảo mới rút còn 106 điều, theo hướng luật khung, tinh gọn, tăng phân cấp, phân quyền; nhiều quy định về trình tự, thủ tục sẽ giao Chính phủ quy định.

    Một định hướng đáng chú ý là coi đất đai là đầu vào cho sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế xác định giá đất theo bảng giá đất và hệ số. Với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, dự thảo chuyển từ tư duy bồi thường thiệt hại sang tái thiết cuộc sống, gắn với sinh kế, việc làm và thu nhập của người có đất bị thu hồi.

    Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội các Nhà thầu Xây dựng Việt Nam, đề nghị không áp dụng rộng cơ chế bồi thường bằng đất đối với đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng đất; đồng thời cần quy định nguyên tắc, công thức bồi thường và tiêu chí điều chỉnh hệ số giá đất để bảo đảm minh bạch, thống nhất.

    Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, Luật Đất đai sửa đổi cần bảo đảm tính đồng bộ với các luật liên quan và sự ổn định của môi trường đầu tư. VCCI cũng đề nghị xây dựng khung tối thiểu thống nhất toàn quốc về giải quyết hồ sơ, thời hạn xử lý, công khai thông tin và xử lý trường hợp quá hạn.

    LƯU THỦY

    Nguồn https://baomoi.com/du-thao-luat-dat-dai-sua-doi-rut-tu-260-xuong-106-dieu-c55927490.epi

  • Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk kiểm tra tiến độ công trình nhà tránh lũ tại phường Tuy Hòa

    Ông Đỗ Hữu Huy Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra thực tế tại Khu phố Phú Ân và Khu phố Ân Niên.

    Tại Khu phố Phú Ân và Khu phố Ân Niên, Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Huy cùng đoàn công tác đã kiểm tra thực tế các hạng mục đang được triển khai, đồng thời nghe chủ đầu tư và đơn vị thi công báo cáo tiến độ, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

    Các công trình được đầu tư với mục tiêu kép: vừa là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, vừa làm điểm tránh trú an toàn cho người dân khi xảy ra mưa lớn, ngập lụt. Việc xây dựng các công trình này được kỳ vọng góp phần tăng cường khả năng chống chịu, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai ngay tại khu dân cư.

    Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng Tuy Hòa, dự án được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tại Quyết định số 1959/QĐ-UBND ngày 23/6/2026.

    Công trình được xây dựng theo mẫu nhà số 1, quy mô nhà cấp III, gồm 2 tầng, diện tích xây dựng 160 m², tổng diện tích sàn 320 m², chiều cao 8,4 m. Thiết kế công trình hướng đến việc bảo đảm không gian sinh hoạt cộng đồng đồng thời đáp ứng yêu cầu an toàn, thuận tiện khi được sử dụng làm nơi tránh trú trong trường hợp xảy ra thiên tai.

    Đến nay, nhà thầu đã hoàn thành các hạng mục chính gồm đổ bê tông sàn mái, tô, trát tường trong và ngoài nhà. Công trình đang chuyển sang giai đoạn hoàn thiện với các phần việc như lát nền, sơn tường, lắp đặt hệ thống điện, nước. Khối lượng thi công hiện đạt khoảng 80%.

    Để bảo đảm tiến độ đề ra, chủ đầu tư đang phối hợp với nhà thầu tập trung nhân lực, phương tiện và thiết bị, tổ chức thi công xuyên lễ, phấn đấu hoàn thành, bàn giao công trình trong thời gian sớm nhất.

    Qua kiểm tra thực tế, Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Huy yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu tiếp tục bám sát tiến độ, tập trung hoàn thiện các hạng mục còn lại; chủ động huy động nhân lực, vật tư, thiết bị phù hợp để đẩy nhanh tiến độ nhưng phải bảo đảm chất lượng công trình và an toàn trong thi công.

    Chủ tịch UBND tỉnh đặc biệt lưu ý, công trình có tính chất phục vụ trực tiếp cộng đồng, trong đó nhiệm vụ phòng tránh lũ, bảo đảm an toàn cho người dân là yêu cầu quan trọng. Trong điều kiện thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, nguy cơ xuất hiện mưa lớn, ngập lụt còn cao, công trình cần được thi công đúng thiết kế, bảo đảm khả năng chống chịu và đáp ứng đầy đủ công năng phòng tránh thiên tai.

    Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu sau khi công trình hoàn thành, chính quyền địa phương phải có phương án quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, tránh để công trình xuống cấp hoặc sử dụng không đúng mục đích. Nhà sinh hoạt cộng đồng cần phát huy đồng thời hai chức năng, vừa tạo không gian phục vụ các hoạt động của người dân, vừa sẵn sàng trở thành nơi tránh trú an toàn khi xảy ra mưa lũ.

    Việc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình nhà sinh hoạt cộng đồng kết hợp phòng tránh lũ không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng dân cư an toàn, chủ động hơn trước tác động của thiên tai, qua đó từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân trên địa bàn phường Tuy Hòa.

    Văn Anh – Lê Anh

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-ubnd-tinh-dak-lak-kiem-tra-tien-do-cong-trinh-nha-tranh-lu-tai-phuong-tuy-hoa-c55927507.epi

  • Nhiều nhà đầu tư điện gió rơi vào cảnh ‘tiến thoái lưỡng nan’

    Hơn ba năm sau Kết luận 1027 của Thanh tra Chính phủ, các dự án điện gió Đắk N’Drung 1,2,3, Nam Bình 1, Asia Đắk Song 1 và Đắk Hòa, với tổng mức đầu tư khoảng 14.900 tỷ đồng tại Lâm Đồng cùng vướng chồng lấn quy hoạch khoáng sản nhưng đang ở những trạng thái rất khác nhau, từ chưa triển khai đến đã hoàn thành xây dựng, thậm chí đã vận hành thương mại.

    Dự án điện gió Đắk Hoà. Ảnh: PECC3

    Trong đó, ba dự án Đắk N’Drung 1, 2 và 3 của Công ty TNHH MTV Năng lượng Đắk N’Drung đều bị gián đoạn từ tháng 4/2023 do chưa được điều chỉnh, gia hạn chủ trương đầu tư.

    Dự án Đắk N’Drung 1 mới hoàn thành 4/25 trụ tua-bin, tương đương 13,2MW; Đắk N’Drung 2 hoàn thành 21/28 trụ, tương đương 72,5MW; Đắk N’Drung 3 hoàn thành 23/28 trụ, tương đương 94,5MW.

    Cả ba dự án đều đã hết thời hạn chủ trương đầu tư và chưa được chấp thuận kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu công trình.

    Theo hồ sơ, các dự án này vốn được bổ sung từ thời Quy hoạch điện VII điều chỉnh, nhưng hiện đang vướng chồng lấn với Quy hoạch 866 về thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản bô-xít. Lâm Đồng đã đề xuất phương án xử lý phần chồng lấn và tiếp tục chờ ý kiến của cấp có thẩm quyền.

    Trong khi đó, Nam Bình 1 do Công ty CP Điện gió Nam Bình làm chủ đầu tư với công suất 30MW, tổng vốn khoảng 1.023 tỷ đồng, đã hoàn thành xây dựng công trình, đồng thời đã được nghiệm thu và cấp giấy phép hoạt động điện lực.

    Trường hợp này cho thấy vướng mắc liên quan quy hoạch có thể kéo dài ngay cả khi dự án đã hoàn tất phần xây dựng và các thủ tục kỹ thuật quan trọng.

    Ở chiều ngược lại, Asia Đắk Song 1 do Công ty TNHH Asia Energy, thành viên Tập đoàn Super Energy, Thái Lan làm chủ đầu tư, trị giá khoảng 1.700 tỷ đồng, chưa thi công và đã hết thời hạn đầu tư xây dựng theo chủ trương đầu tư được cấp.

    Đáng chú ý nhất là Đắk Hòa, dự án có tổng mức đầu tư khoảng 1.624 tỷ đồng, đã vận hành thương mại nhưng vẫn còn vướng mắc cần xử lý.

    Với dự án này, ngoài câu chuyện chồng lấn quy hoạch, Bộ Công thương còn lưu ý vấn đề giá mua điện và trách nhiệm của EVN trong việc xem xét, thực hiện theo quy định trên cơ sở kết quả xử lý của cơ quan chức năng. Văn bản của Bộ Công thương cũng cho thấy nhóm dự án liên quan quy hoạch khoáng sản bô-xít, titan và khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia vẫn cần tiếp tục được xử lý theo thẩm quyền.

    Vẫn chờ tháo gỡ từ nhiều cấp

    Việc xử lý nhóm dự án này hiện vẫn phụ thuộc vào kết quả phối hợp giữa nhiều cơ quan quản lý.

    Theo hồ sơ của Lâm Đồng, địa phương đã đề xuất phương án xử lý phần diện tích liên quan các dự án trong Quy hoạch 866, đồng thời thực hiện các thủ tục đánh giá mức độ ảnh hưởng của dự án đầu tư thuộc khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia để trình cấp có thẩm quyền xem xét.

    Việc chồng lấn quy hoạch vẫn là nút thắt ngăn trở nhiều dự án điện gió tại miền Trung Tây Nguyên. Ảnh minh hoạ: DNCC

    Hồ sơ của tỉnh cũng dẫn Văn bản số 778/BNNMT-ĐCKS ngày 23/1/2026 của Bộ Nông nghiệp và môi trường báo cáo Thủ tướng về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tiếp đó, Tờ trình số 3870/TTr-BNNMT ngày 21/4/2026 được tỉnh xác định là một trong những căn cứ để tiếp tục xử lý nhóm dự án. Tuy nhiên, đến nay địa phương vẫn đang chờ ý kiến chỉ đạo

    Trong văn bản ngày 23/7/2026 gửi Bộ Tài chính, Bộ Công thương cho biết đối với các dự án có diện tích chồng lấn hoặc liên quan quy hoạch khoáng sản titan, bô-xít và khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, bộ đã có ý kiến về nguyên tắc xử lý tại một văn bản riêng.

    Đối với nhóm Đắk N’Drung 1, 2, 3 và Đắk Hòa, Bộ Công thương xác định Bộ Nông nghiệp và môi trường là cơ quan có thẩm quyền quản lý các vấn đề liên quan đất đai, khoáng sản.

    Đáng chú ý, do Kết luận 1027 của Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Công an tiếp nhận hồ sơ, tài liệu vụ việc để xem xét, điều tra theo quy định, Bộ Công thương cũng lưu ý UBND tỉnh Lâm Đồng nghiên cứu việc lấy ý kiến Thanh tra Chính phủ và cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an trong quá trình xử lý.

    Riêng với Đắk Hòa, Bộ Công thương lưu ý vấn đề giá mua điện cần được EVN xem xét, thực hiện theo quy định, trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan chức năng và việc xử lý vướng mắc về chồng lấn quy hoạch.

    Một hướng tiếp cận khác từng được đặt ra là cơ chế “lưỡng dụng quy hoạch”, được đề cập trong Nghị quyết 253/2025/QH15 và các cơ chế xử lý dự án tồn đọng kéo dài. Cách tiếp cận này cho phép xem xét đồng thời hiệu quả của dự án và mục tiêu của quy hoạch có liên quan, thay vì mặc nhiên loại bỏ một trong hai.

    Dẫu vậy, trên thực tế, số phận của 6 dự án điện gió này vẫn phải chờ các bước xử lý về đất đai, quy hoạch và các kiến nghị từ kết luận thanh tra. Theo kế hoạch cập nhật của tỉnh Lâm Đồng, lộ trình tháo gỡ dự kiến hoàn tất trong quý IV/2026.

    Khi thời hạn này đang dần cận kề, áp lực tài chính đối với các nhà đầu tư ngày càng lớn. Với những dự án đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng nhưng chưa thể hoàn tất thủ tục để vận hành hoặc khai thác đầy đủ dòng tiền từ dự án, mỗi tháng chậm trễ đồng nghĩa với chi phí vốn tiếp tục gia tăng và hiệu quả đầu tư bị bào mòn.

    Thái Bình

    Nguồn https://baomoi.com/nhieu-nha-dau-tu-dien-gio-roi-vao-canh-tien-thoai-luong-nan-c55927399.epi

  • Sửa Luật Đất đai: Tránh gây khó cho doanh nghiệp trong phân cấp quản lý

    Sáng 27/8 tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Đây là một trong những hội thảo đầu tiên lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp sau khi dự thảo chính thức được công bố. Dự thảo được đưa ra góp ý theo tinh thần của Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    Từ góc độ cơ quan soạn thảo, ông Đào Trung Chính – Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết Luật Đất đai 2024 mới được ban hành khoảng 2 năm nhưng đang đứng trước yêu cầu sửa đổi để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn cho tăng trưởng.

    Theo ông Chính, dự thảo lần này được xây dựng theo hướng luật chỉ quy định những nguyên tắc chung, còn các vấn đề cụ thể giao Chính phủ quy định. Từ khoảng 260 điều của Luật Đất đai 2024, dự thảo mới được rút xuống khoảng 110 điều.

    Ông Đào Trung Chính – Cục trưởng Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

    “Những nội dung có thể tiếp thu vào luật thì sẽ quy định trong luật theo nguyên tắc chung, mang tính định hướng. Những vấn đề cụ thể không thể đưa vào luật vì không phù hợp với nguyên tắc xây dựng luật khung thì sẽ chuyển xuống nghị định của Chính phủ”, ông Chính nói.

    Ông Đậu Anh Tuấn – Phó Tổng thư ký VCCI, cho rằng dự thảo lần này có ý nghĩa đặc biệt với cộng đồng doanh nghiệp khi nhiều chế định quan trọng như thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tài chính và giá đất được sửa đổi.

    Theo ông Tuấn, Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương xác định đưa đất đai trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển; thị trường bất động sản và thị trường quyền sử dụng đất trở thành kênh phân phối đất đai hợp lý, công bằng và hiệu quả.

    Nghị quyết cũng nêu một nguyên tắc cần được giữ xuyên suốt quá trình soạn thảo: khơi thông nguồn lực đất đai nhưng không buông lỏng quản lý, khuyến khích phát triển nhưng không để thất thoát tài sản công.

    Nghị quyết 21 khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, là yếu tố đầu vào quan trọng của hoạt động phát triển kinh tế – xã hội.

    Với doanh nghiệp sản xuất, quyết định đầu tư thường bắt đầu từ ba câu hỏi: có mặt bằng hay không, chi phí bao nhiêu và bao lâu có đất để triển khai. Với doanh nghiệp nông nghiệp, bài toán còn là khả năng tích tụ đủ diện tích và có thời hạn sử dụng đất đủ dài để đầu tư dài hạn.

    Do đó, VCCI đặc biệt quan tâm cơ chế giá đất trong dự thảo. Theo ông Tuấn, Nghị quyết 21 yêu cầu giá đất do Nhà nước quyết định, căn cứ mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ, bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Ông Đậu Anh Tuấn – Phó Tổng thư ký VCCI.

    Dự thảo lần này chuyển sang cơ chế bảng giá đất và hệ số điều chỉnh. VCCI đề nghị làm rõ ngay trong luật các nguyên tắc về thời hạn áp dụng, thời điểm điều chỉnh bảng giá, căn cứ và mức độ biến động thị trường làm cơ sở điều chỉnh hệ số, cũng như thẩm quyền và cách xác định các tỷ lệ thu.

    “Điều doanh nghiệp cần không phải điều kiện tối ưu, mà là điều kiện có thể tiên liệu được”, ông Tuấn nhấn mạnh, bởi quyết định đầu tư vào đất thường kéo dài 20-50 năm.

    Một vấn đề khác của Nghị quyết 21 được VCCI nêu ra là tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Theo ông Tuấn, nhiều dự án chậm triển khai không hẳn do thiếu vốn hay thiếu quyết tâm của địa phương, mà do các luật quy định khác nhau về cùng một vấn đề, khiến cơ quan thực thi thiếu căn cứ rõ ràng để quyết định.

    Vì vậy, “thước đo thành công của lần sửa đổi này không chỉ nằm ở chất lượng của Luật Đất đai, mà còn ở mức độ ăn khớp giữa Luật Đất đai và các luật liên quan sau khi ban hành”.

    Đặc biệt, một trong những nội dung được VCCI đề nghị thảo luận kỹ là phân cấp quản lý đất đai.

    Dự thảo đưa ra hai phương án tại Điều 18. Phương án 1 giao UBND cấp tỉnh quyết định các nội dung quản lý và chủ động phân cấp, ủy quyền tùy điều kiện địa phương. Phương án 2 quy định rõ thẩm quyền của cấp xã và cấp tỉnh đối với từng nhóm đối tượng, đồng thời cho phép cấp tỉnh tiếp tục phân cấp cho cấp xã.

    Theo ông Tuấn, phương án 1 tạo sự linh hoạt cho địa phương, trong khi phương án 2 giúp doanh nghiệp biết rõ cơ quan nào là người quyết định cuối cùng.

    Tuy nhiên, dù lựa chọn phương án nào, cần có khung tối thiểu thống nhất trên toàn quốc về thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết, hình thức công khai và cơ chế xử lý khi quá hạn.

    “Nếu 34 tỉnh, thành phố đưa ra 34 quy trình khác nhau thì sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp đang đầu tư trên nhiều địa bàn”, ông Tuấn cảnh báo.

    Về nội dung này, ông Nguyễn Quốc Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội Các nhà thầu xây dựng Việt Nam cho biết, đối với 2 phương án phân cấp quản lý Nhà nước về đất đai được nêu tại dự thảo, nên lựa chọn phương án 1.

    “Cách tiếp cận này tạo sự linh hoạt, giúp UBND cấp tỉnh căn cứ vào đặc điểm địa bàn, mức độ phức tạp và năng lực của bộ máy để phân cấp, ủy quyền phù hợp, qua đó hạn chế tình trạng ách tắc trong quá trình thực hiện”, ông Hiệp nêu.

    Đối với đất nông nghiệp, VCCI cho rằng Nghị quyết 21 đã đặt ra định hướng mở rộng đối tượng, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai cho sản xuất quy mô lớn, công nghệ cao và phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp.

    Đây là những nội dung cộng đồng doanh nghiệp đang chờ được cụ thể hóa trong luật.

    Ở góc độ cơ quan soạn thảo, ông Chính cũng lưu ý vấn đề đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường. Sau cổ phần hóa, sắp xếp lại, một số doanh nghiệp vẫn quản lý diện tích đất lớn trong khi nhu cầu đất sản xuất của người dân tại địa phương chưa được giải quyết.

    Các quy định về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sắp xếp nông, lâm trường và xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường trước đây chưa được kết nối đầy đủ. Có trường hợp doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa hoàn tất việc sắp xếp đất hoặc chưa có phương án sử dụng đất.

    “Lần này cần nghiên cứu để kết nối các nội dung này, qua đó giải quyết hiệu quả hơn”, ông Chính nói.

    Tại hội thảo, các ý kiến thống nhất rằng sửa Luật Đất đai lần này cần hướng tới mục tiêu khơi thông nguồn lực nhưng đồng thời tạo một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo cho doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện quan trọng để đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tăng trưởng thay vì tiếp tục là điểm nghẽn của nhiều dự án đầu tư.

    Thu An

    Nguồn https://baomoi.com/sua-luat-dat-dai-tranh-gay-kho-cho-doanh-nghiep-trong-phan-cap-quan-ly-c55927418.epi

  • Khởi công Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh hơn 5.800 tỷ đồng

    Sáng 27/8, Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh chính thức được khởi công tại phường Liên Hòa, tỉnh Quảng Ninh.

    Phối cảnh Dự án Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh.

    Dự án được triển khai tại Tiểu khu I, Khu công nghiệp phía Nam Đầm Nhà Mạc, thuộc Khu kinh tế ven biển Quảng Yên. Đây là một trong những dự án hạ tầng khu công nghiệp có quy mô lớn được Quảng Ninh khởi công trong dịp này.

    Khu công nghiệp nằm gần trục cao tốc kết nối Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, thuận lợi kết nối với hệ thống cảng biển, cảng hàng không và các tuyến giao thông liên vùng. Vị trí này được kỳ vọng hỗ trợ hoạt động vận chuyển hàng hóa, logistics và kết nối chuỗi cung ứng.

    Theo định hướng, Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh tập trung thu hút các dự án sản xuất công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, chế biến, chế tạo và những ngành sử dụng công nghệ tiên tiến. Dự án hướng tới phát triển hạ tầng đồng bộ, tăng cường chuyển đổi số, sử dụng tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon.

    Các đại biểu nhấn nút khởi công Dự án Khu công nghiệp VSIP Quảng Ninh.

    Khi đi vào hoạt động, dự án sẽ bổ sung quỹ đất công nghiệp quy mô lớn cho Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, góp phần mở rộng không gian phát triển công nghiệp của tỉnh, thu hút thêm các dự án sản xuất và tạo việc làm cho lao động địa phương.

    Tại lễ khởi công, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh yêu cầu chủ đầu tư tập trung nguồn lực, triển khai dự án đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và tuân thủ các quy định về đầu tư, xây dựng, đất đai, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy và an toàn lao động.

    Trong đó, các hạng mục giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và hạ tầng số phải được đầu tư đồng bộ ngay từ đầu. Việc xây dựng hạ tầng cần gắn với xúc tiến đầu tư có chọn lọc, ưu tiên những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, tiết kiệm đất đai và năng lượng.

    Lãnh đạo tỉnh cũng lưu ý quá trình thực hiện dự án phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân; công khai những nội dung liên quan trực tiếp đến khu vực dự án; quan tâm đào tạo nghề, ưu tiên sử dụng lao động tại chỗ, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh, trật tự và môi trường sống.

    Các phương tiện, máy móc chuẩn bị thực hiện nghi lễ khởi công tại Dự án Cụm công nghiệp Yên Thọ.

    Các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh và chính quyền địa phương được yêu cầu phối hợp, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm dự án được triển khai đúng quy hoạch, đúng quy định và thực hiện đầy đủ các cam kết.

    Cùng ngày, tỉnh Quảng Ninh tổ chức khởi công, khánh thành 25 dự án, công trình. Trong đó, cấp tỉnh có 24 dự án, công trình với tổng vốn khoảng 46.816 tỷ đồng, gồm 2 dự án khánh thành, tổng vốn khoảng 5.410 tỷ đồng và 22 dự án khởi công, tổng vốn khoảng 41.406 tỷ đồng. Ngoài ra, một dự án cấp phường có tổng vốn đầu tư khoảng 5,3 tỷ đồng cũng được khởi công.

    Trang Vân

    Nguồn https://baomoi.com/khoi-cong-khu-cong-nghiep-vsip-quang-ninh-hon-5-800-ty-dong-c55927350.epi

  • Quảng Ngãi cần tận dụng cơ hội từ kinh tế biển và năng lượng

    Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn: Quảng Ngãi cần tận dụng cơ hội từ kinh tế biển và năng lượng

    Tăng trưởng hai con số nhưng còn nhiều điểm cần lưu ý

    Ngày 27/8, tại Quảng Ngãi, đoàn công tác Bộ Tài chính do Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm trưởng đoàn làm việc với UBND tỉnh về tình hình kinh tế – xã hội và các kiến nghị của địa phương.

    Theo báo cáo, năm 2025, GRDP Quảng Ngãi đạt 92.348 tỷ đồng, tăng 10,02%, đứng thứ 6/34 địa phương về tốc độ tăng trưởng và thuộc nhóm 6 địa phương tăng trưởng hai con số. Quy mô nền kinh tế đạt 191.612 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người 4.042 USD.

    Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt hơn 332.660 tỷ đồng; thu ngân sách hơn 169.510 tỷ đồng, vượt 31,6% dự toán và 5 năm liên tiếp vượt thu. Trong 8 tháng năm 2026, thu ngân sách đạt 23.946 tỷ đồng, bằng 111,5% cùng kỳ.

    Tuy nhiên, giải ngân đầu tư công vẫn là điểm nghẽn. Kế hoạch vốn năm 2026 được giao 8.017 tỷ đồng, nhưng đến ngày 20/8 mới giải ngân 2.797 tỷ đồng, đạt 34,9%. Tỉnh đặt mục tiêu giải ngân 100% vốn được giao trong năm.

    Quảng Ngãi cũng đang tăng tốc xử lý 111 dự án tồn đọng, kéo dài. Trong đó, 61 dự án thuộc nhóm áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết 29 của Quốc hội và 50 dự án thuộc thẩm quyền tỉnh. Địa phương đặt mục tiêu hoàn tất xử lý cả hai nhóm vào cuối tháng 11/2026.

    Cùng với đó, tỉnh đã phê duyệt phương án sắp xếp, bố trí, xử lý đối với 4.688 cơ sở nhà, đất, tiếp tục rà soát, khai thác hiệu quả nguồn lực tài sản công.

    Đoàn công tác của Bộ Tài chính do Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn làm trưởng đoàn đã làm việc với UBND tỉnh Quảng Ngãi về tình hình kinh tế – xã hội và các kiến nghị của địa phương

    Cần khai thác tốt lợi thế biển

    Sau hơn một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại Quảng Ngãi được đánh giá ổn định, không gián đoạn nhiệm vụ, không bỏ trống công việc trong giai đoạn chuyển tiếp. Sau sắp xếp, số thôn, tổ dân phố toàn tỉnh dự kiến giảm từ 1.710 xuống 1.098, tương đương giảm 35,78%.

    Quảng Ngãi cũng đang đẩy mạnh chuyển đổi số, triển khai Nghị quyết 57 và phong trào “Bình dân học vụ số”, hướng tới xây dựng chính quyền số và phát triển kinh tế số.

    Tại buổi làm việc, tỉnh kiến nghị Trung ương hỗ trợ một loạt dự án lớn như Trung tâm lọc, hóa dầu và năng lượng quốc gia tại Dung Quất, phát triển Lý Sơn thành trung tâm du lịch biển – đảo quốc gia, cao tốc Quảng Ngãi – Kon Tum, nâng cấp Quốc lộ 24 và đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh.

    Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá Quảng Ngãi đang có cơ cấu kinh tế đi đúng hướng, với lợi thế nổi bật về kinh tế biển, năng lượng tái tạo và du lịch. Bộ trưởng đề nghị tỉnh đẩy mạnh sản xuất xanh, chế biến sâu, phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường và giá trị lịch sử biển đảo.

    Với các dự án hạ tầng, Bộ trưởng đề nghị tỉnh phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng, đồng thời khai thác hiệu quả quỹ đất hai bên các tuyến đường để phát triển khu công nghiệp, đô thị, thương mại và du lịch.

    “Bộ Tài chính sẽ rà soát, ưu tiên hỗ trợ tối đa để Quảng Ngãi phát triển kinh tế – xã hội, trở thành cực tăng trưởng phía Nam”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn khẳng định.

    Anh Minh

    Nguồn https://baomoi.com/quang-ngai-can-tan-dung-co-hoi-tu-kinh-te-bien-va-nang-luong-c55927324.epi

  • Tp.HCM dùng 2 khu đất 3,23ha để thanh toán dự án chống ngập 10.000 tỷ

    Ngày 27/8, tại kỳ họp thứ 4 (kỳ họp chuyên đề) HĐND Tp.HCM khóa 11, nhiệm kỳ 2026-2031, các đại biểu đã thông qua danh mục quỹ đất dự kiến sử dụng để thanh toán cho hợp đồng BT dự án giải quyết ngập do triều khu vực Tp.HCM có xét yếu tố biến đổi khí hậu (giai đoạn 1).

    Tp.HCM dùng 2 khu đất 3,23ha để thanh toán dự án chống ngập 10.000 tỷ.

    Theo đó, 2 khu đất được đưa vào danh mục gồm khu đất số 79B đường Lý Thường Kiệt, phường Tân Hòa, có diện tích gần 30.000m² và khu đất số 257 Trần Hưng Đạo, phường Cầu Ông Lãnh, rộng hơn 2.341m². Tổng diện tích 2 khu đất khoảng 3,23ha.

    Trong đó, khu đất 79B Lý Thường Kiệt có chức năng hỗn hợp, gồm đất ở, thương mại dịch vụ và cây xanh công viên. Khu đất này đã có đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu chung cư cao tầng kết hợp thương mại, dịch vụ và công viên cây xanh.

    Khu đất 257 Trần Hưng Đạo trước đó do Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục thể thao thành phố, đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao, quản lý. Tp.HCM đã có quyết định thu hồi khu đất này và Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã tiếp nhận, quản lý theo quy định.

    Theo UBND Tp.HCM, cả 2 khu đất đều thuộc trường hợp quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý, đáp ứng điều kiện để xem xét sử dụng thanh toán cho hợp đồng BT theo quy định của Luật Đất đai.

    Dự án giải quyết ngập do triều khu vực Tp.HCM là công trình có tổng mức đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, dự án phát sinh nhiều vướng mắc, khiến thời gian thực hiện và thanh toán cho nhà đầu tư kéo dài.

    Thành phố đã nhiều lần báo cáo, kiến nghị các cơ quan Trung ương tháo gỡ khó khăn, với mục tiêu sớm hoàn thành công trình và đưa vào vận hành trong năm 2026.

    Theo phương án đã được thống nhất, việc thanh toán hợp đồng BT được thực hiện trên cơ sở sử dụng 5 khu đất. Do 2 khu đất trong phương án ban đầu không còn đủ điều kiện, Tp.HCM tiến hành rà soát và thay thế bằng 2 khu đất khác có giá trị tương đương.

    Sau quá trình rà soát, thành phố thống nhất sử dụng khu đất 257 Trần Hưng Đạo và khu đất 79B Lý Thường Kiệt để thay thế 2 khu đất tại phường Phước Long và phường Phú Thuận trong phương án thanh toán hợp đồng BT.

    Việc bổ sung quỹ đất được kỳ vọng góp phần tháo gỡ một trong những vướng mắc quan trọng của dự án, tạo cơ sở để thành phố đẩy nhanh các thủ tục liên quan và hướng tới hoàn thành, đưa công trình chống ngập vào vận hành trong năm nay.

    Châu Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tp-hcm-dung-2-khu-dat-3-23ha-de-thanh-toan-du-an-chong-ngap-10-000-ty-c55927343.epi

  • Cần Thơ xử lý, đưa 672 cơ sở nhà, đất dôi dư vào khai thác hiệu quả

    Một số cơ sở nhà đất dôi dư. Ảnh minh họa. (Ảnh: Tuấn Phi/TTXVN)

    Nhằm giải phóng nguồn lực đất đai đang bị đóng băng, tạo dư địa bứt phá cho phát triển kinh tế-xã hội, Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ đang tập trung chỉ đạo các sở, ngành và chính quyền địa phương đẩy nhanh tiến độ xử lý, đưa 672 cơ sở nhà, đất dôi dư sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính vào khai thác hiệu quả.

    Việc xử lý 672 cơ sở nhà, đất dôi dư không chỉ dừng lại ở bài toán khắc phục hậu quả sau sắp xếp bộ máy, mà còn là chiến lược dài hạn trong quản trị nguồn lực.

    Với sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “quản lý” sang “khai thác và phát huy giá trị,” Cần Thơ đang từng bước biến các tài sản dôi dư thành động lực mới, đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của địa phương.

    Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Vương Quốc Nam cho biết địa phương xác định việc chuyển dịch mạnh mẽ tư duy từ “quản lý tài sản dôi dư” sang chủ động khai thác, nâng cao giá trị tài sản công là trọng tâm hàng đầu.

    Ủy ban Nhân dân thành phố giao Sở Tài chính, Sở Xây dựng và Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp chặt chẽ với các xã, phường kiểm tra, đôn đốc hoàn thiện phương án xử lý; trong đó ưu tiên chuyển đổi công năng phục vụ các mục tiêu cộng đồng như y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và đổi mới sáng tạo.

    Trên cơ sở rà soát toàn diện và đề xuất của Sở Tài chính, Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ đã triển khai phân cấp quản lý cụ thể, giao Sở Tài chính trực tiếp quản lý 1 cơ sở; Trung tâm Phát triển quỹ đất tiếp nhận 136 cơ sở và phân giao 535 cơ sở còn lại về Ủy ban Nhân dân các xã, phường trực tiếp quản lý, tổ chức xử lý theo thẩm quyền.

    Hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả vận hành tài sản công, thành phố dự kiến đưa 381 cơ sở vào phương án khai thác thương mại và sử dụng tối ưu. Trong đó, 231 cơ sở sẽ thực hiện giao đất, cho thuê đất theo Luật Đất đai; 150 cơ sở được áp dụng cơ chế khai thác theo quy định tại Nghị định số 108/2024/NĐ-CP của Chính phủ.

    Mặc dù công tác quản lý và xử lý tài sản công thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực, song thực tế triển khai vẫn đối mặt với một số điểm nghẽn.

    Thống kê đến nay, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã tiếp nhận lũy kế 152 cơ sở. Đối với 139 cơ sở đã được phê duyệt phương án tại Quyết định số 3530/QĐ-Ủy ban Nhân dân (ngày 16/7/2026), đơn vị đã đăng thông báo cho thuê 22/39 cơ sở thuộc nhóm áp dụng Nghị định 108/2024/NĐ-CP.

    Ngược lại, đối với 111 cơ sở do cấp xã, phường quản lý khai thác theo Nghị định này, Sở Tài chính cho biết hiện chưa nhận được thông báo cho thuê nào từ các địa phương và đang tiếp tục phát văn bản đôn đốc khẩn trương hoàn thiện thủ tục.

    Để ngăn chặn tình trạng tài sản công bị bỏ trống, lãng phí, xuống cấp hoặc nguy cơ bị lấn chiếm, Sở Tài chính đề xuất Ủy ban Nhân dân thành phố chỉ đạo các đơn vị liên quan đa dạng hóa hình thức khai thác thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, cho thuê ngắn hạn hoặc áp dụng các cơ chế đặc thù đảm bảo công khai, minh bạch.

    Sở Xây dựng cũng tích cực nghiên cứu, đề xuất phương án tích hợp quỹ đất dôi dư phù hợp vào quy hoạch phát triển nhà ở xã hội trên địa bàn.Quyết tâm của thành phố Cần Thơ trong việc phục hồi giá trị tài sản công đã từng bước được cụ thể hóa bằng các giải pháp linh hoạt, tạo bước đột phá thực tiễn đối với nhiều mặt bằng bỏ trống.

    Điển hình, từ cuối tháng 5/2026, thành phố đã giao Sở Công Thương tạm thời quản lý Trung tâm Hội chợ triển lãm thành phố để tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại trong thời gian chờ kêu gọi đầu tư, vừa tránh lãng phí hạ tầng vừa phát huy ngay giá trị sử dụng.

    Vào đầu tháng 6/2026, thành phố kịp thời tham mưu giao trụ sở Tỉnh ủy Hậu Giang (cũ) cho Sở Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, phát triển thành Trung tâm Đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/can-tho-xu-ly-dua-672-co-so-nha-dat-doi-du-vao-khai-thac-hieu-qua-c55927285.epi

  • Chấn chỉnh công tác quản lý đất đai tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng – Ka Pét

    Ảnh minh họa

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, việc chấn chỉnh được thực hiện trên cơ sở Báo cáo số 04/BC-ĐKT1053 ngày 20/8/2026 của Đoàn Kiểm tra chuyên ngành, được thành lập theo Quyết định số 1053/QĐ-SNNMT ngày 9/6/2026 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.

    Đối với công tác PCCCR, Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng- Ka Pét nghiêm túc rút kinh nghiệm trong mùa khô năm 2025-2026.

    Qua kiểm tra, đơn vị chưa xây dựng kinh phí để mua sắm các dụng cụ, thiết bị phục vụ PCCCR; chưa bố trí kinh phí cho lán canh lửa tạm thời và các bảng, biển cấm lửa.

    Do đó, Sở yêu cầu Ban Quản lý xây dựng phương án PCCCR mùa khô năm 2026-2027 và các năm tiếp theo theo hướng thiết thực, hiệu quả. Trong đó, cần chú trọng các hạng mục như làm giảm vật liệu cháy, xây dựng lán canh lửa tạm thời, trang bị phương tiện chữa cháy, máy bơm chữa cháy và các điều kiện cần thiết khác.

    Đồng thời, đơn vị phải tăng cường tuyên truyền, tuần tra, kiểm tra rừng, nhất là tại các khu vực gần khu dân cư và những nơi có nguy cơ cháy rừng cao trong mùa khô.

    Về trang phục cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, Sở yêu cầu Ban Quản lý khẩn trương tổ chức may trang phục cho lực lượng bảo vệ rừng năm 2026 với kinh phí 79,5 triệu đồng, theo Quyết định số 888/QĐ-SNNMT ngày 27/5/2026 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.

    Đơn vị cũng phải thực hiện thanh toán tiền hỗ trợ cho lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, bảo vệ rừng theo đúng nội dung và kinh phí đã được phê duyệt.

    Đáng chú ý, liên quan đến hợp đồng lao động bảo vệ rừng của ông Đường Quốc Việt, Sở yêu cầu Ban Quản lý thanh toán tiền công và các khoản đóng góp gồm BHXH, BHYT, BHTN, BHTNNN với tổng số tiền 35.481.888 đồng cho 4 tháng, từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước được phê duyệt tại Quyết định số 805/QĐ-SNNMT ngày 21/5/2026.

    Đồng thời, Ban Quản lý phải thu hồi số tiền 35.481.888 đồng đã chi cho ông Việt từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng và nộp vào tài khoản tiền gửi của Ban theo quy định.

    Đối với công tác giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân, Ban Quản lý được yêu cầu khẩn trương tổ chức kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng quý II/2026.

    Trên cơ sở kết quả kiểm tra, nghiệm thu và hồ sơ liên quan, đơn vị phải thực hiện thanh toán tiền công khoán bảo vệ rừng cho các hộ nhận khoán theo đúng quy định.

    Đối với 44 hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp, Sở yêu cầu Ban Quản lý rà soát, phân loại toàn bộ hợp đồng theo đối tượng nhận khoán, nội dung và thời hạn hợp đồng.

    Việc rà soát phải bao gồm cả những trường hợp người nhận khoán đã nghỉ hưu, nghỉ việc, chuyển công tác, đã chết hoặc không còn thực hiện hợp đồng để có phương án giải quyết, xử lý phù hợp theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 168/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ và Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21/12/2022 sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị định số 168/2016/NĐ-CP.

    Một trong những nội dung đáng chú ý được Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu xử lý là diện tích đất người dân đang sử dụng, canh tác ổn định nhưng có nguồn gốc từ việc lấn chiếm đất rừng trước khi Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng-Ka Pét được thành lập vào năm 2004.

    Theo yêu cầu của Sở, diện tích cần kiểm tra, rà soát khoảng 215 ha, thuộc các Tiểu khu 258B, 264, 265, 266, 268, 269, 273, 289, 290 và 293.

    Ban Quản lý phải tiến hành kiểm tra, rà soát thực tế, tổng hợp hồ sơ, báo cáo và đề xuất Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng xử lý trong tháng 9/2026.

    Việc rà soát nhằm làm rõ hiện trạng sử dụng đất, nguồn gốc đất và quá trình quản lý để có cơ sở xử lý theo đúng quy định pháp luật, hạn chế phát sinh tranh chấp, vi phạm trong quản lý đất lâm nghiệp và tài nguyên rừng.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng giao Phòng Pháp chế theo dõi, đôn đốc kết quả thực hiện của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng- Ka Pét đối với toàn bộ các nội dung được yêu cầu khắc phục.

    Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng- Ka Pét được yêu cầu nghiêm túc triển khai thực hiện, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến PCCCR mùa khô 2026-2027, thanh toán các khoản kinh phí đã được phê duyệt, rà soát hợp đồng giao khoán và xử lý diện tích đất người dân đang sử dụng.

    Động thái này được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng, chủ động phòng ngừa nguy cơ cháy rừng và từng bước tháo gỡ những tồn tại trong quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp tại khu vực do Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Móng- Ka Pét quản lý./.

    Ngọc Sơn

    Nguồn https://baomoi.com/chan-chinh-cong-tac-quan-ly-dat-dai-tai-ban-quan-ly-rung-phong-ho-song-mong-ka-pet-c55927476.epi

  • Bộ trả lời việc sổ đỏ ghi đất ao lâu dài, làm thừa kế bị đổi thành đất 50 năm

    Theo phản ánh của công dân, mẹ của người này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) năm 1997 với tổng diện tích 1.175m2.

    Trong đó, 625m2 được xác định là đất ở, thời hạn sử dụng lâu dài. Phần diện tích 550m2 còn lại là đất ao, cũng được ghi thời hạn sử dụng lâu dài trên giấy chứng nhận.

    Sau khi người mẹ qua đời, gia đình làm thủ tục khai nhận, đăng ký biến động đất đai để thực hiện quyền thừa kế.

    Theo phản ánh, khi giải quyết hồ sơ, UBND xã chỉ công nhận 625m2 là đất ở. Phần diện tích còn lại chuyển sang đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản, với thời hạn sử dụng được xác định.

    Từ đây, gia đình đặt ra câu hỏi về quyền sử dụng đối với phần đất ao đã được ghi nhận trên sổ đỏ cấp từ năm 1997.

    Cụ thể, việc UBND xã xác định diện tích đất ao trước đây được ghi thời hạn sử dụng lâu dài trong thửa đất ở nay là đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản, có thời hạn sử dụng, có đúng quy định hay không?

    Gia đình có quyền yêu cầu UBND xã công nhận diện tích đất ao nằm trong khuôn viên mảnh đất ở là đất ở hay không? Đồng thời, người dân có được thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin về đất cùng với thủ tục đăng ký biến động do thay đổi người sử dụng đất sau khi nhận thừa kế?

    Sổ đỏ đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân trước ngày 1/8/2024 mà ghi thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là lâu dài hoặc không thể hiện thời hạn sử dụng đất thì khi thực hiện đăng ký biến động đất đai, thời hạn sử dụng đất được xác định lại là 50 năm. Ảnh minh hoạ: Hồng Khanh

    Trả lời vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đây là vụ việc cụ thể và cần phải căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể do địa phương ban hành theo thẩm quyền để xem xét, giải quyết. 

    Tuy nhiên, Bộ nêu một số vấn đề về nguyên tắc.

    Theo Điều 20 Nghị định 49/2026 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15, trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân trước ngày 1/8/2024 mà ghi thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là lâu dài hoặc không thể hiện thời hạn sử dụng đất thì khi thực hiện đăng ký biến động đất đai, thời hạn sử dụng đất được xác định lại là 50 năm.

    Thời hạn này được tính kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sổ đỏ).

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết hiện nay, theo Điều 14 và Điều 15 Nghị định 49/2026, Chính phủ đã giao UBND cấp tỉnh quyết định về thẩm quyền, đồng thời quy định hồ sơ, trình tự và thủ tục hành chính về đất đai, trong đó có thủ tục đăng ký biến động đất đai.

    Do đó, đối với trường hợp cụ thể, người dân cần liên hệ cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để được hướng dẫn và giải quyết theo quy định.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/bo-tra-loi-viec-so-do-ghi-dat-ao-lau-dai-lam-thua-ke-bi-doi-thanh-dat-50-nam-c55927200.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!