Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Con gái đưa mẹ rời TPHCM, về Huế xây ngôi nhà ‘chẳng giống ai’ 1,3 tỷ đồng

    Ngôi làng Đồng Di cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7 km, nằm giữa những cánh đồng lúa xanh mướt, bên dòng sông Như Ý êm đềm. 

    Chị Phương chia sẻ, chị vốn làm thiết kế tự do – chuyên thiết kế, tư vấn vận hành các công trình nghỉ dưỡng, homestay, khách sạn từ năm 2017. Ngoài ra, chị cũng dạy tiếng Anh giao tiếp online. Do đặc thù công việc, chị thường xuyên đi công tác xa. Trong khi đó, từ khi bố mất, mẹ chị sống một mình ở TPHCM, ít có dịp gặp gỡ bạn bè, họ hàng vì ai cũng bận rộn. 

    Khoảng 4 năm trước, chị Phương dùng tiền tích lũy mua một mảnh đất 165m2 ở quê ngoại tại làng Đồng Di. Ban đầu, chị chưa nghĩ đến việc về quê xây nhà. Nhưng càng đi nhiều, chị càng nhận ra mình muốn có một nơi ở bình yên, gần gũi họ hàng, làng xóm hơn cho mẹ và cũng là một nơi để bản thân được nghỉ ngơi, thoát khỏi căng thẳng công việc.

    Từ đó, chị Phương quyết định bán căn nhà ở TPHCM để xây một ngôi nhà mới cho hai mẹ con ở Huế.

    Ngôi nhà 2 tầng giữa khu vườn do chị Phương tự thiết kế

    Xây ngôi nhà “chẳng giống ai”

    Khi bắt tay xây nhà, chị Phương nhận không ít lời thắc mắc từ người thân, hàng xóm. Mảnh đất rộng 165m² nhưng phần móng và tầng trệt chị chỉ xây 28m².

    “Khi mình mới làm móng, ai cũng lăn tăn, sao xây nhà quê mà bé tẻo teo, chật hẹp, chẳng giống với những ngôi nhà xung quanh. Hay khi xây gần xong nhưng cây xanh chưa lớn, nắng chiếu thẳng vào nhà, ai cũng khuyên làm thêm bán mái. Ngay cả mẹ mình cũng có lúc hoài nghi, không hiểu ngôi nhà của con gái sẽ ra sao, có thực sự tiện dụng, phù hợp hay không”, chị Phương kể.

    Thực tế, khi rời phố về quê, chị Phương muốn dành phần lớn diện tích đất để trồng cây xanh, làm sân trước, sân sau và khoảng không quanh nhà, thay vì biến toàn bộ khu đất thành những mảng bê tông.

    Vừa xây dựng nhà, chị vừa cải tạo vườn, trồng nào chuối, đu đủ, ổi, cau, hoa giấy, xen kẽ rau xanh, thảo dược… Chị ưu tiên những cây vừa dễ sống, nhanh lớn vừa có thể lấy quả, làm rau hoặc tạo bóng mát.

    “Với mình, không gian sống không chỉ nằm trong bốn bức tường mà được nối dài ra khoảng sân và khu vườn”, chị nói.

    Sau 8 tháng trồng, chăm sóc, khu vườn quanh nhà đã xum xuê, xanh mướt

    Tầng 1 có một phòng khách nhỏ, bếp, khu pha chế, phòng riêng của mẹ. Tầng trên được mở rộng hơn, với diện tích khoảng 45m², có phòng ngủ của chị Phương, phòng đa năng (phục vụ xem phim, đọc sách, làm việc…), phòng thờ, 2 góc ban công ngắm bình minh, hoàng hôn.

    “Bản thân mình không cần làm một căn nhà thật rộng mà quan trọng là công năng. Phòng khách chỉ cần đủ 1 bộ sofa và chiếc bàn nhỏ tiếp khách. Thông thường, những cuộc trò chuyện sẽ diễn ra ở sân vườn.

    Ở phòng đa năng, mình đặt một chiếc sofa gấp để khi có bạn bè ghé thăm, hoàn toàn có thể trở thành giường nghỉ ngơi cho họ”, chị Phương cho biết.

    Phòng đa năng có chiếc sofa kết hợp làm ghế và giường

    Những vị trí có thể, chị dùng cửa trượt và tủ âm tường để không chiếm thêm diện tích khi đóng mở. 

    Căn nhà có rất nhiều cửa sổ, cửa kính và cửa mở ra các phía. Một số phòng có thể đón ánh sáng, gió từ nhiều hướng, giúp không gian nhỏ có cảm giác rộng hơn. Ngôi nhà nhỏ nhưng nhiều ánh sáng, thông gió tự nhiên khiến cuộc sống của mẹ con chị Phương thoải mái thấy rõ so với ngày ở thành phố.

    Phòng ngủ ngập ánh sáng ở tầng 2 của chị Phương

    Chị Phương kể thêm, khi hoàn thiện việc xây dựng, nhiều hàng xóm bất ngờ vì ngôi nhà “nở” ra, nhìn rộng rãi, thoáng mát và đẹp mắt.

    Bí quyết xây nhà tiết kiệm

    Là người làm trong ngành thiết kế nhiều năm, chị Phương tự thiết kế, lựa chọn vật liệu và trực tiếp giám sát phần lớn quá trình xây dựng nhà. Nhờ đó, chị tiết kiệm được khá nhiều chi phí nhưng đây cũng là quãng thời gian áp lực.

    Chị Phương phải điều phối nhiều đội thợ, tính toán thời điểm đội này hoàn thành để đội khác tiếp tục công việc, hay bố trí các đội làm song song. Tiến độ ảnh hưởng nhiều do những cơn bão lớn.

    Tổng chi phí hoàn thiện căn nhà, gồm cả nội thất, sân vườn, hồ cá và các hạng mục liên quan của chị Phương khoảng 1,3 tỷ đồng. Riêng phần xây dựng, gồm móng, sàn, tường, trần và các hạng mục kết cấu, chiếm gần 1 tỷ đồng. Đây cũng là phần chị cho rằng không nên cố tiết kiệm bởi ảnh hưởng trực tiếp tới độ bền lâu dài của ngôi nhà.

    Phòng bếp nhỏ xinh

    Ngược lại, nội thất và vật liệu hoàn thiện là phần có thể cân đối ngân sách.

    Nhà có rất nhiều cửa nhưng chị Phương không chọn nhôm Xingfa mà dùng khung sắt kết hợp kính cường lực. Theo tính toán của chị, phương án này có thể giảm khoảng 40% chi phí. Tuy nhiên, khung sắt có độ cách âm và kín khít không bằng nhôm.

    Gạch lát sàn và ốp tường được chị chọn trong khoảng 80.000-250.000 đồng/m². Chị Phương cho rằng không phải cứ vật liệu đắt tiền mới tạo ra một không gian đẹp; quan trọng là chọn đúng loại cho từng khu vực và phối hợp hài hòa với tổng thể.

    Nhiều món nội thất được chị mua trên các sàn thương mại điện tử như bồn tắm gỗ, đèn, bồn rửa… Thay vì đặt rèm cửa trọn gói với chi phí gần 20 triệu đồng, chị Phương tự mua vải, phụ kiện rồi thuê thợ may trong làng thực hiện. Tổng chi phí chỉ 4 triệu đồng.

    “Tôi sẽ chọn mua 1 chiếc giường không quá đắt, thay vào đó dành chi phí để mua đệm, chăn ga, gối chất lượng, phục vụ giấc ngủ ngon hơn”, chị Phương cho hay.

    Chị cũng tìm mua những bộ cửa gỗ cũ để sửa chữa, lắp đặt vào nhà. Bốn bộ cửa cũ có giá 5,5 triệu đồng, trong khi nếu làm mới có thể tốn hơn 25 triệu đồng.

    “Những món đồ cũ không chỉ giúp tiết kiệm mà còn có vẻ đẹp riêng, đồng thời phù hợp với mong muốn tái sử dụng vật liệu của mình”, chị Phương nói. 

    Quán cà phê nhỏ trước sân

    Sau khi ngôi nhà hoàn thiện, mẹ chị Phương không còn hoài nghi về ý tưởng của con gái. Mỗi ngày, bà thức dậy trồng rau, chăm vườn, sống gần gũi bên bà con lối xóm, kinh doanh một quầy cà phê nhỏ cho “vui cửa vui nhà”. 

    Nhìn thấy mẹ sống vui, sống khoẻ, chị Phương an tâm hơn trước mỗi chuyến công tác xa. Ngôi nhà cũng trở thành nơi chị luôn mong mỏi trở về để nghỉ ngơi, sạc năng lượng.

    Ảnh: NVCC

    Linh Trang

    Nguồn https://baomoi.com/con-gai-dua-me-roi-tphcm-ve-hue-xay-ngoi-nha-chang-giong-ai-1-3-ty-dong-c55960462.epi

  • Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Khu kinh tế Nhơn Hội đến năm 2050

    Phạm vi điều chỉnh gồm hai phần: phần trên bán đảo Phương Mai rộng khoảng 12.000 ha thuộc phường Quy Nhơn, Quy Nhơn Đông và các xã Tuy Phước Đông, Cát Tiến, Ngô Mây; phần thuộc xã Canh Vinh rộng khoảng 2.308 ha. Thời hạn quy hoạch chia làm hai giai đoạn: ngắn hạn đến năm 2035 và dài hạn đến năm 2050.

    Theo quyết định, Khu kinh tế Nhơn Hội được xác định là khu kinh tế tổng hợp đa ngành, trọng tâm phát triển du lịch, dịch vụ, đô thị, công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI); đồng thời là trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng hàng không, giữ vai trò động lực phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Gia Lai.

    Quy hoạch dự báo đến năm 2035, dân số khu kinh tế đạt khoảng 160.000 – 170.000 người, nhu cầu đất xây dựng khoảng 8.200 – 9.100 ha; đến năm 2050, dân số khoảng 320.000 – 360.000 người, nhu cầu đất xây dựng khoảng 11.000 – 11.600 ha.

    Không gian khu kinh tế được tổ chức theo mô hình một hành lang liên kết tổng hợp Đông – Tây (dựa trên các trục quốc lộ 19, 19B, cao tốc Bắc – Nam, cao tốc Quy Nhơn – Pleiku), ba chuỗi/vành đai phát triển (chuỗi du lịch – dịch vụ – đô thị ven biển; vành đai sinh thái đầm Thị Nại – núi Phương Mai; hành lang công nghiệp – đô thị – logistics phía Tây gắn với Canh Vinh và các khu vực phát triển sản xuất) và năm trung tâm động lực (gồm: Cát Tiến, trung tâm du lịch – dịch vụ – đô thị, trung tâm hành chính – đô thị – du lịch ven vịnh Mai Hương, trung tâm du lịch sinh thái gắn với đầm Thị Nại – núi Phương Mai và trung tâm động lực công nghiệp – đô thị – dịch vụ Vân Canh).

    Khu kinh tế được tổ chức thành 8 phân khu chức năng, với định hướng phát triển, quy mô diện tích và dân số riêng.

    Phạm vi điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Nhơn Hội (tỉnh Gia Lai) đến năm 2050, với quy mô diện tích lập quy hoạch khoảng 14.308 ha. Ảnh: TL

    Về hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch định hướng đồng bộ hệ thống giao thông đối ngoại (cao tốc Bắc – Nam, cao tốc Quy Nhơn – Pleiku – Lệ Thanh, các quốc lộ 1, 1D, 19B, 19C), đường sắt (nâng cấp ga Diêu Trì thành ga tổng hợp, phát triển các ga logistics), hàng hải – đường thủy (cảng biển Gia Lai, khu bến Nhơn Hội phục vụ hành khách) và hàng không (đầu tư Cảng hàng không Phù Cát đạt tiêu chuẩn cấp 4E, công suất khoảng 7 triệu hành khách/năm vào năm 2050). Quy hoạch cũng xác định nhu cầu cấp nước, cấp điện, viễn thông, thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và các giải pháp bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu.

    Quyết định nêu rõ các nhóm dự án ưu tiên đầu tư gồm hoàn thiện hệ thống giao thông khung; đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống cấp nước, cấp điện, viễn thông; nâng cấp các công trình xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang; xây dựng khu tái định cư và các cơ sở y tế, giáo dục, đào tạo.

    Chính phủ giao UBND tỉnh Gia Lai chịu trách nhiệm toàn diện về tính chính xác của hồ sơ đồ án, tổ chức công bố công khai quy hoạch, phê duyệt Quy định quản lý theo đồ án, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện và rà soát các quy hoạch, dự án liên quan để bảo đảm phù hợp với quy hoạch chung được phê duyệt. Bộ Xây dựng có trách nhiệm rà soát, đóng dấu thẩm định hồ sơ và hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện.

    Quyết định số 1664/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

    TRỌNG LỢI

    Nguồn https://baomoi.com/phe-duyet-dieu-chinh-quy-hoach-chung-khu-kinh-te-nhon-hoi-den-nam-2050-c55960273.epi

  • Xem ngay lịch âm dương hôm nay 2/9

    Ngày 2/9/2026 là ngày bao nhiêu âm lịch?

    Theo cuốn Tìm hiểu văn hóa phương Đông – Âm dương đối lịch năm Ất Tị 2025 của Nhà xuất bản Thanh Hóa, hôm nay Thứ Tư ngày 2/9 dương lịch tức ngày 21/7 âm lịch. Xem ngay lịch âm dương hôm nay 2/9.

    Xem ngay lịch âm dương hôm nay 2/9

    Xem ngay lịch âm dương hôm nay 2/9

     Thông tin chi tiết ngày 2-9-2026 – Ngày âm lịch 21-7-2026

    Can chi: Ngày Kỷ Mão – Tháng Bính Thân – Năm Bính Ngọ

        Ngày Hắc Đạo: Sao Chu Tước

        Trực Nguy :Mọi việc đều xấu

        Nhị thập bát tú – Bích: (Hành: Thủy; Con vật: Du) Tốt mọi việc

        Tiết khí: Giữa Xử thử – Bạch lộ

    GIỜ TỐT TRONG NGÀY (Giờ Hoàng Đạo)

    Dần (3 – 5), Mão (5 – 7), Ngọ (11 – 13), Mùi (13 – 15), Dậu (17 – 19), Tý (23 – 1)

    HƯỚNG XUẤT HÀNH

    Hướng gặp Tài Thần (TỐT): Nam

        Hướng gặp Hỉ Thần (TỐT): Tây Nam

        Hướng gặp Hạc Thần (Xấu): Tây

    CÁC TUỔI XUNG KHẮC VỚI NGÀY 2-9-2026, ÂM LỊCH 21-7-2026

    Tân Dậu, Ất Dậu

    CÁC SAO TỐT

    Thiên Ân Tốt mọi việc

        Thiên Thụy Tốt mọi việc

        Cát Khánh Tốt mọi việc

        Ích hậu Tốt mọi việc, nhất giá thú

    CÁC SAO XẤU

    Chu tước hắc đạo Kỵ nhập trạch, khai trương

        Hoang Vu Xấu mọi việc

        Không Phòng Kỵ giá thú

        Ngũ Hư Kỵ giá thú, khởi tạo an táng

        Thiên lai Xấu mọi việc

        Xích Khẩu Kỵ giá thú, giao dịch, yến tiệc.

    *Thông tin chỉ mang tính tham khảo

    Trần Trung/Bnews/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/xem-ngay-lich-am-duong-hom-nay-2-9-c55960293.epi

  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về 27 dự án luật, nghị quyết tại Phiên họp thứ 6

    Tại phiên họp, UBTVQH sẽ xem xét, cho ý kiến về 27 dự án luật, nghị quyết; trong đó, có các dự án: Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi); Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tài nguyên; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội; việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi); Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi); Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)…

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 7-2026. Ảnh minh họa: quochoi.vn

    Cũng tại phiên họp, UBTVQH sẽ xem xét, thông qua 5 dự thảo nghị quyết; trong đó có dự thảo: Nghị quyết về Chương trình lập pháp năm 2027; Nghị quyết quy định việc các cơ quan thanh tra được trích một phần từ các khoản tiền thu hồi, phát hiện qua thanh tra sau khi nộp vào ngân sách nhà nước để chi cho hoạt động và nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra; Nghị quyết quy định về chế độ bảo vệ thẩm phán…

    Về công tác giám sát, UBTVQH sẽ cho ý kiến về báo cáo công tác năm 2026, dự kiến Kế hoạch kiểm toán năm 2027 của Kiểm toán nhà nước; xem xét báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 8-2026. UBTVQH sẽ cho ý kiến về Đề án Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.

    Tại phiên họp, UBTVQH tổng kết Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.

    NAM TRỰC

    Nguồn https://baomoi.com/uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-se-cho-y-kien-ve-27-du-an-luat-nghi-quyet-tai-phien-hop-thu-6-c55960099.epi

  • Tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp

    Bộ Tư pháp ban hành Văn bản hợp nhất số 05/2026/VBHN-TT-BTP ngày 28/8/2026 quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp.

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Thông tư này quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp có hoạt động sự nghiệp công trong các lĩnh vực gồm: trợ giúp pháp lý; công chứng; đấu giá tài sản; đăng ký biện pháp bảo đảm; hỗ trợ pháp luật, tư vấn pháp luật.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Đơn vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền thành lập theo quy định của pháp luật có hoạt động sự nghiệp công thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp được quy định tại Điều 1 Thông tư này.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp.

    Điều 3. Nguyên tắc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập

    Việc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp phải phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số120/2020/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi là Nghị định số 120/2020/NĐ-CP).

    TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC NGÀNH, LĨNH VỰC TƯ PHÁP

    Điều 4. Phân loại theo chức năng, nhiệm vụ 

    1. Đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước

    a) Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng nghiên cứu phục vụ hoạch định chiến lược và xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về ngành, lĩnh vực tư pháp;

    b) Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng xây dựng, quản lý, khai thác thông tin, hỗ trợ pháp luật;

    c) Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện các chức năng khác phục vụ quản lý nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp.

    2. Đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công

    a) Đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước hoặc dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành,lĩnh vực tư pháp theo danh mục được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

    b) Đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công khác thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp.

    3. Đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công là đơn vị thực hiện một hoặc nhiều chức năng, nhiệm vụ quy định tại khoản 1 và một hoặc nhiều chức năng, nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều này.

    Việc xác định loại hình đơn vị sự nghiệp công lập tại khoản này căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Điều 5. Phân loại theo cơ quan có thẩm quyền thành lập

    1. Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Chính phủ.

    2. Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

    3. Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    4. Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập bởi chủ thể khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 6. Phân loại theo mức độ tự chủ về tài chính

    1. Phân loại theo mức độ tự chủ về tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

    a) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;

    b) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên;

    c) Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;

    d) Đơn vịsự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

    2. Việc xác định mức độ tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành, lĩnh vực tư pháp tại khoản này thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập.

    ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP, SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, GIẢI THỂ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC NGÀNH, LĨNH VỰC TƯ PHÁP

    Điều 7. Điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp

    1. Việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập trong ngành, lĩnh vực tư pháp phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại điểm a, c, d, đ khoản 1 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.

    2. Ngoài các điều kiện chung quy định tại khoản 1 Điều này, việc thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp còn phải đáp ứng điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

    Điều 8. Điều kiện sáp nhập, hợp nhất đơn vị sự nghiệp công lập

    1. Việc sáp nhập, hợp nhất đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.

    2. Đơn vị sự nghiệp công lập hình thành sau quá trình sáp nhập, hợp nhất phải đáp ứng đủ điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 7 Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan. 

    Việc sáp nhập, hợp nhất đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm không làm giảm mức độ tự chủ về tài chính hiện có của đơn vị; trường hợp thực hiện sáp nhập, hợp nhất các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau thì mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sau khi sáp nhập, hợp nhất được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Điều 9. Điều kiện giải thể đơn vị sự nghiệp công lập

    1. Việc giải thể đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện khi có một trong các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, d khoản 3 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP và các điều kiện giải thể khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

    2. Đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện giải thể sau khi hoàn thành nghĩa vụ về tài chính, tài sản, đất đai, các khoản vay, nợ phải trả và các nghĩa vụ khác có liên quan và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản.

    Toàn văn Văn bản hợp nhất số 05/2026/VBHN-TT-BTP quy định tiêu chí phân loại, điều kiện thành lập, sáp nhập, hợp nhất, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực tư pháp

    Nguồn https://baomoi.com/tieu-chi-phan-loai-dieu-kien-thanh-lap-sap-nhap-hop-nhat-giai-the-don-vi-su-nghiep-cong-lap-thuoc-nganh-linh-vuc-tu-phap-c55960124.epi

  • Các đơn vị, địa phương hằng tuần bố trí 1 ngày cố định tổng vệ sinh môi trường

    Lực lượng chức năng phường Hạc Thành tuyên truyền, nhắc nhở hộ kinh doanh không lấn chiếm vỉa hè.

    Thời gian qua, công tác vệ sinh môi trường, chỉnh trang cảnh quan, quản lý trật tự, mỹ quan đô thị đã được quan tâm, triển khai tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng rác thải tồn đọng, đổ thải không đúng quy định, tái lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, công trình xây dựng gây ô nhiễm, dây điện, cáp viễn thông treo nổi; một số nơi còn thiếu bãi đỗ xe, điểm dừng xe, điểm tập kết, xử lý chất thải và hạ tầng kỹ thuật ngầm.

    Để tập trung giải quyết các tồn tại, nguyên nhân, bất cập về quy hoạch, hạ tầng và trật tự, mỹ quan đô thị, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương tập trung thực hiện nghiêm túc một số nội dung trọng tâm.

    Tập trung làm tốt công tác vệ sinh môi trường, tăng cường quản lý chất thải rắn, không để tồn tại kéo dài, tái diễn

    Đối với các sở, ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh và UBND các xã, phường, bắt đầu từ ngày 3/9/2026, hằng tuần bố trí 1 ngày cố định tổng vệ sinh môi trường; huy động lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các cơ quan, đơn vị và Nhân dân cùng tham gia; duy trì thường xuyên, thực chất, không làm theo phong trào, không giao khoán hoàn toàn cho bộ phận phục vụ.

    Thường xuyên vệ sinh hằng ngày, mỗi cơ quan, đơn vị, trường học, khu dân cư, hộ gia đình phải tự giác giữ gìn khu vực trong và xung quanh phạm vi quản lý, sử dụng luôn sạch, gọn, ngăn nắp; khi phát sinh rác thải, điểm mất vệ sinh, cống rãnh ách tắc phải xử lý ngay, không chờ đến ngày tổng vệ sinh.

    Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, hội viên và Nhân dân; xác định bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung, mỗi người đều phải tham gia. Đưa tiêu chí vệ sinh môi trường vào hoạt động thường xuyên của nhà trường, cơ quan, đơn vị, khu dân cư; kịp thời biểu dương, phê bình bảo đảm thực chất, không hình thức.

    Các lực lượng phát quang cây xanh, bụi rậm hai bên bờ sông.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn; tăng cường kiểm soát nước thải, khí thải, tiếng ồn và các nguồn gây ô nhiễm, nhất là tại khu sản xuất, cụm công nghiệp, làng nghề và khu dân cư; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường; tập trung giải quyết các điểm ô nhiễm, tồn đọng kéo dài. Trước ngày 30/9/2026, tham mưu, trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh giá dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt và giá tối đa dịch vụ vệ sinh môi trường sử dụng ngân sách theo quy định.

    Sở Tài chính rà soát khả năng cân đối ngân sách, tham mưu bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ cấp thiết; báo cáo UBND tỉnh trước ngày 20/9/2026. Đối với năm 2027 và các năm tiếp theo, tham mưu bố trí đủ kinh phí để duy trì ổn định các hoạt động nêu trên, không để gián đoạn do thiếu nguồn lực.

    Đối với UBND các xã, phường, Chủ tịch UBND xã, phường chịu trách nhiệm trực tiếp về vệ sinh môi trường trên địa bàn; phân công cụ thể địa bàn, tuyến đường, khu dân cư cho từng đơn vị, cá nhân phụ trách; thiết lập đầu mối tiếp nhận, xử lý nhanh phản ánh của Nhân dân về vệ sinh môi trường và ứng dụng nền tảng số để theo dõi, giám sát việc xử lý.

    Trước ngày 6/9/2026, hoàn thành rà soát, phân công rõ đơn vị, cá nhân phụ trách từng tuyến đường, khu vực, kể cả khu vực giáp ranh; gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp. Tuyến, khu vực nào để phát sinh rác, mất vệ sinh phải xác định rõ trách nhiệm quản lý và xử lý ngay.

    Trước ngày 15/9/2026, rà soát, chấn chỉnh việc tổ chức thu giá dịch vụ; bảo đảm đúng đối tượng, đúng mức, đầy đủ, công khai, xác định rõ tổ chức, cá nhân thực hiện thu, thường xuyên đối chiếu số phải thu, số đã thu, số còn phải thu, không để thất thu, thất thoát.

    Rà soát nhu cầu xử lý chất thải rắn đến năm 2028, chủ động phương án xử lý tạm thời trong thời gian chờ các cơ sở xử lý tập trung của tỉnh đi vào hoạt động; bố trí đủ điểm tập kết, trung chuyển; cải tạo, di dời, xóa bỏ hoặc thay thế các điểm không phù hợp, gây ô nhiễm, ảnh hưởng giao thông, cảnh quan, khu dân cư; không để việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải bị gián đoạn.

    Tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh, làng nghề, khu dân cư có nguy cơ phát sinh ô nhiễm; xử lý kịp thời tình trạng xả nước thải, khí thải, gây tiếng ồn, mùi hoặc chất thải không đúng quy định.

    Khẩn trương rà soát, bổ sung quy hoạch vị trí đổ thải vật liệu không thích hợp, đất đá phát sinh từ dự án, công trình và xử lý sạt lở; quản lý chặt chẽ từ vị trí, khối lượng đến quá trình đổ thải, xử lý nghiêm đổ sai vị trí, vượt khối lượng hoặc lợi dụng đổ thải để khai thác khoáng sản trái phép.

    Rà soát, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh hạ ngầm đường dây, cáp treo nổi, bảo đảm đồng bộ, hiện đại, mỹ quan

    Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Công ty Điện lực Thanh Hóa, các doanh nghiệp viễn thông, truyền hình cáp và UBND các xã, phường khẩn trương rà soát, hoàn thiện quy hoạch, xác định nhu cầu, vị trí, nguồn lực và lộ trình thực hiện đến năm 2030 đối với bãi đỗ xe, điểm dừng xe, điểm đón trả khách và hạ tầng kỹ thuật ngầm, hạ ngầm đường dây điện, cáp viễn thông, truyền hình và các loại dây, cáp khác; trình Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 20/10/2026. Hướng dẫn UBND các xã, phường về yêu cầu kỹ thuật đối với hào, cống bể dùng chung.

    Sở Tài chính tham mưu cơ chế, nguyên tắc, mức hỗ trợ từ ngân sách tỉnh cho các địa phương thực hiện hạ ngầm, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 20/10/2026. Đồng thời, tổng hợp nhu cầu kinh phí vào dự toán ngân sách năm 2027 và các năm tiếp theo để các địa phương chủ động bố trí vốn đối ứng thực hiện.

    Đối với UBND các xã, phường, trước ngày 30/9/2026, hoàn thành rà soát toàn bộ hiện trạng, nhu cầu và quỹ đất đối với bãi đỗ xe, điểm dừng xe, điểm đón trả khách; rà soát các tuyến có dây điện, cáp viễn thông, truyền hình và các loại dây, cáp treo nổi; xác định rõ vị trí, tuyến còn thiếu, chưa phù hợp, danh mục cần đầu tư, khối lượng, kinh phí, nguồn vốn, tiến độ thực hiện; trong đó phân định rõ phần ngân sách địa phương, phần đề nghị ngân sách tỉnh hỗ trợ và phần do doanh nghiệp điện lực, viễn thông thực hiện; gửi Sở Xây dựng tổng hợp.

    Triển khai ngay các phần việc đủ điều kiện; ưu tiên xử lý ngay các tuyến phố chính, khu vực trung tâm, tuyến đã có hạ tầng kỹ thuật hoặc đang cải tạo. Trong quý IV/2026, UBND các phường thuộc khu vực phát triển là đô thị loại II, loại III theo Quyết định số 768/QĐ-UBND ngày 19/3/2026 của UBND tỉnh (8 phường loại II gồm: Hạc Thành, Quảng Phú, Đông Quang, Đông Sơn, Hàm Rồng, Nguyệt Viên, Sầm Sơn, Quang Trung; 11 phường loại III gồm: Đông Tiến, Nam Sầm Sơn, Bỉm Sơn, Ngọc Sơn, Tân Dân, Hải Lĩnh, Tĩnh Gia, Đào Duy Từ, Hải Bình, Trúc Lâm, Nghi Sơn) hoàn thành hạ ngầm ít nhất 1 tuyến phố. Đối với các tuyến chưa đủ điều kiện hạ ngầm, trước ngày 31/12/2026, phối hợp với Công ty Điện lực Thanh Hóa và các doanh nghiệp viễn thông thu hồi cáp hỏng, không sử dụng và bó gọn hệ thống cáp treo.

    Công ty Điện lực Thanh Hóa, các doanh nghiệp viễn thông, truyền hình cáp chủ động bố trí nguồn lực thực hiện hạ ngầm theo lộ trình; thu hồi cáp hỏng, cáp không sử dụng, không treo mới cáp trên các tuyến đã có hạ tầng ngầm và hoàn trả mặt bằng sau thi công. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với UBND các xã, phường và các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành trong việc thống nhất các phương án hạ ngầm, đấu nối, nghiệm thu, tiếp nhận vận hành và tháo dỡ các công trình, thiết bị điện không còn sử dụng sau khi hạ ngầm.

    Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động phối hợp kiểm tra việc thực hiện, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm theo quy định.

    Thiết lập, giữ vững trật tự công cộng, trật tự đô thị, bảo đảm hành lang an toàn giao thông

    Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và UBND các xã, phường tổ chức kiểm tra thường xuyên, xử lý dứt điểm tình trạng tái lấn chiếm lòng đường, vỉa hè; không để tình trạng giải tỏa, xử lý xong lại tái lấn chiếm. Đối với các trường hợp cố tình tái phạm nhiều lần, áp dụng đầy đủ các biện pháp xử lý theo quy định; định kỳ hằng tháng công khai kết quả xử lý và danh sách các địa phương để xảy ra tình trạng tái lấn chiếm kéo dài.

    Sở Xây dựng phối hợp với các sở, ngành, địa phương hướng dẫn phân định phần vỉa hè dành cho người đi bộ và phần được sử dụng theo quy định; rà soát biển báo, vạch kẻ đường, biển cấm dừng, cấm đỗ; trước ngày 30/10/2026 hoàn thành trên các tuyến phố chính thuộc khu vực đô thị trung tâm tỉnh và các phường Sầm Sơn, Bỉm Sơn, Nghi Sơn.

    Đối với UBND các xã, phường, Chủ tịch UBND xã, phường chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu để tái lấn chiếm kéo dài trên tuyến, địa bàn đã được giải tỏa. Trước ngày 10/9/2026, hoàn thành rà soát các tuyến đã giải tỏa nhưng có nguy cơ tái lấn chiếm; phân công cụ thể công chức, Công an xã, phường và Tổ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở phụ trách từng tuyến; duy trì kiểm tra hằng ngày, hằng tuần và đột xuất; gửi danh sách, phương án phân công về Công an tỉnh để theo dõi, đôn đốc; tuyến nào đã giải tỏa phải có người chịu trách nhiệm quản lý.

    Việc giải tỏa phải gắn với sắp xếp vị trí để xe và phần vỉa hè được sử dụng tạm thời theo quy định. Tăng cường kiểm tra, xử lý các hành vi lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè, dựng rạp trên lòng đường, phơi rơm, tuốt lúa, đốt rạ và các hành vi vi phạm hành lang an toàn đường bộ theo quy định.

    Chấn chỉnh, siết chặt quản lý vệ sinh môi trường tại các công trình xây dựng, không để ô nhiễm, mất mỹ quan, ảnh hưởng khu dân cư

    Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh và UBND các xã, phường kiểm tra việc chấp hành yêu cầu về vệ sinh môi trường tại các công trình xây dựng; từ ngày 01/10/2026 tổ chức kiểm tra, xử lý các công trình vi phạm; tham mưu xử lý trách nhiệm chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án để xảy ra vi phạm nhiều lần.

    Công an tỉnh tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm phương tiện chở quá tải trọng, vận chuyển vật liệu xây dựng không che phủ, để rơi vãi gây ảnh hưởng môi trường và an toàn giao thông.

    UBND các xã, phường hướng dẫn chủ đầu tư, hộ gia đình thực hiện các quy định về vệ sinh môi trường ngay từ khi khởi công hoặc cấp phép xây dựng đối với công trình ngoài ngân sách và nhà ở riêng lẻ; tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm theo thẩm quyền. Công khai các trường hợp vi phạm và kịp thời tiếp nhận, xử lý phản ánh của Nhân dân liên quan đến ô nhiễm môi trường trong quá trình thi công.

    Chủ đầu tư, nhà thầu thi công phải thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường như: rào chắn công trường; bố trí điểm rửa xe có hố lắng; phương tiện vận chuyển vật liệu, đất, phế thải phải làm sạch bánh xe, gầm xe trước khi ra đường, che phủ kín, không chở quá thành thùng, không để rơi vãi; phun nước giảm bụi; vận chuyển, đổ thải đúng nơi quy định; không xả bùn, nước thải ra đường, hệ thống thoát nước; kiểm soát tiếng ồn, độ rung; vệ sinh đường, vỉa hè hằng ngày.

    Đối với công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, Ban Quản lý dự án, chủ đầu tư phải đưa đầy đủ yêu cầu về vệ sinh môi trường vào biện pháp thi công và hợp đồng; nhà thầu vi phạm phải dừng thi công và chỉ được tiếp tục sau khi khắc phục đầy đủ các tồn tại. Trước ngày 30/9/2026, hoàn thành rào chắn và bố trí điểm rửa xe tại tất cả công trình đang thi công. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh nếu công trình do mình quản lý gây ô nhiễm, bị Nhân dân phản ánh nhiều lần nhưng không xử lý kịp thời.

    Đối với nhà ở riêng lẻ, hộ gia đình phải thực hiện các biện pháp che chắn, thu gom vật liệu, phế thải; không để bụi, nước thải và các yếu tố phát sinh trong quá trình xây dựng ảnh hưởng đến các hộ dân lân cận.

    NM (Nguồn: UBND tỉnh)

    Nguồn https://baomoi.com/cac-don-vi-dia-phuong-hang-tuan-bo-tri-1-ngay-co-dinh-tong-ve-sinh-moi-truong-c55960106.epi

  • Tổng rà soát hệ thống pháp luật: Tập trung xử lý các điểm nghẽn

    Đề xuất bãi bỏ toàn bộ 5.926 văn bản

    Chính phủ vừa gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội Báo cáo số 652/BC-CP ngày 30-8 về tình hình triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

    Theo đó, tính đến ngày 30-6-2026, các cơ quan ở Trung ương và địa phương đã xác định, tổng hợp 45.793 VBQPPL còn hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực thuộc đối tượng, phạm vi tổng rà soát. Trong số này, đối với các VBQPPL không thuộc chế độ mật, các cơ quan đã rà soát, xác định và đề xuất phương án xử lý đối với 13.077 văn bản. Các phương án bao gồm sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần, bãi bỏ toàn bộ, tạm ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc ban hành mới.

    Trong đó, các cơ quan Trung ương đề xuất phương án xử lý đối với 2.363 văn bản; chính quyền địa phương cấp tỉnh đề xuất xử lý 7.939 văn bản và chính quyền địa phương cấp xã đề xuất xử lý 2.775 văn bản.

    Phần lớn các cơ quan trung ương và địa phương xác định lộ trình xử lý văn bản trong giai đoạn 2026-2027. Một số văn bản được xác định lộ trình xử lý đến năm 2030 hoặc chưa xác định cụ thể thời hạn.

    Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. (Ảnh: H.T)

    Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 136 bộ luật, luật và 12 nghị quyết của Quốc hội. Trong năm 2026, dự kiến xử lý 78 bộ luật, luật và 6 nghị quyết; năm 2027 xử lý 27 bộ luật, luật và 3 nghị quyết; giai đoạn 2028-2030 xử lý 31 bộ luật, luật.

    Đối với các VBQPPL do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành, các cơ quan Trung ương đề xuất xử lý 575 văn bản. Trong đó, 355 văn bản dự kiến được xử lý trong năm 2026, 194 văn bản trong năm 2027 và 24 văn bản trong giai đoạn 2028-2030; một số văn bản có lộ trình sau năm 2030.

    Cùng với tổng rà soát, các cơ quan trung ương và địa phương đang đồng thời thực hiện việc xử lý VBQPPL theo các chương trình, kế hoạch xây dựng, ban hành văn bản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Một điểm mới trong quá trình thực hiện là việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong rà soát, tổng hợp, phân tích dữ liệu. Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo – Bộ Tư pháp đã xây dựng phần mềm phục vụ riêng cho việc tổng hợp kết quả tổng rà soát và sử dụng chung cho các cơ quan, các cấp chính quyền. Dữ liệu về kết quả tổng rà soát được lưu giữ, quản lý và khai thác tập trung trên phần mềm, qua đó giảm việc phải gửi và tổng hợp dữ liệu thủ công giữa các cơ quan.

    Kết quả rà soát cũng cho thấy những yêu cầu lớn đặt ra đối với việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo kết quả sơ bộ, các cơ quan đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một phần hoặc ban hành mới đối với 7.300 VBQPPL, chiếm 15,9%; đề xuất bãi bỏ toàn bộ 5.926 văn bản, chiếm 12,9%.

    Ngoài ra, 7.687 VBQPPL của chính quyền cấp huyện trước khi sắp xếp sẽ tự động hết hiệu lực theo quy định, đến hết ngày 28/2/2027. Theo đó, nếu được xử lý theo lộ trình, 13.613 văn bản sẽ được loại bỏ khỏi hệ thống.

    Tập trung xử lý các điểm nghẽn

    Báo cáo cho biết, kết quả tổng rà soát hiện nay mới là bước đầu. Trong thời gian tới, các cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục cập nhật các chủ trương, đường lối mới của Đảng, các nghị quyết, kết luận mới được ban hành để hoàn thiện kết quả rà soát và bảo đảm việc thể chế hóa đầy đủ, kịp thời.

    Chính phủ xác định kết quả tổng rà soát chính thức phải xác định đúng và thực chất những vấn đề vướng mắc, bất cập, điểm nghẽn cần tháo gỡ; phân biệt rõ những khó khăn xuất phát từ quy định pháp luật với những vấn đề do tổ chức thi hành, hướng dẫn, năng lực thực thi hoặc cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

    Quá trình đề xuất phương án, lộ trình xử lý phải đặt trong tổng thể định hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu hoàn thiện tổ chức hệ thống chính trị và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng thời, cần tập trung xử lý những vấn đề trọng tâm, nhất là các quy định có phạm vi tác động lớn, liên ngành, trực tiếp cản trở đầu tư, sản xuất, kinh doanh, huy động nguồn lực hoặc làm tăng chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp.

    Đối với những văn bản đã xác định rõ nội dung vướng mắc, bất cập, các cơ quan được yêu cầu chủ động tham mưu xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền, không chờ đến khi hoàn tất kết quả tổng rà soát chính thức.

    Chính phủ đề nghị khẩn trương thực hiện hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ toàn bộ 5.926 VBQPPL và bãi bỏ một phần 69 VBQPPL đã được xác định không còn áp dụng, không còn phù hợp mà chưa có căn cứ pháp lý xác định hết hiệu lực.

    Đối với những trường hợp cần tháo gỡ ngay, các cơ quan có thể thực hiện việc hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với 80 VBQPPL; xem xét tạm ngưng hiệu lực toàn bộ đối với 9 văn bản hoặc một phần đối với 7 văn bản theo thẩm quyền và quy định pháp luật, nhằm kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

    Các VBQPPL cần sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế phải được phân loại, xác định rõ lộ trình. Những văn bản đã có trong chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật năm 2026 phải bảo đảm tiến độ và chất lượng để xử lý dứt điểm các bất cập. Những văn bản chưa có trong chương trình nhưng cần ưu tiên xử lý trong năm 2026 phải được khẩn trương đề xuất đưa vào chương trình, kế hoạch phù hợp.

    Đối với những quy định không rõ ràng, có nhiều cách hiểu hoặc các vấn đề cấp bách, tác động lớn, các cơ quan cần xác định phương án xử lý phù hợp, có thể thông qua giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng, trình tự, thủ tục rút gọn hoặc các cơ chế xử lý khó khăn, vướng mắc theo quy định.

    Trong tổ chức thực hiện thời gian tới, Chính phủ yêu cầu tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với nhiệm vụ tổng rà soát; người đứng đầu các cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và kết quả rà soát thuộc phạm vi phụ trách.

    Phương Thảo

    Nguồn https://baomoi.com/tong-ra-soat-he-thong-phap-luat-tap-trung-xu-ly-cac-diem-nghen-c55959952.epi

  • Nới điều kiện thành lập cụm công nghiệp, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

    Nới điều kiện thành lập cụm công nghiệp, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp. Ảnh minh họa

    Linh hoạt hơn về tỷ lệ lấp đầy

    Ngày 1/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 32/2024/NĐ-CP về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Nghị định chính thức có hiệu lực từ ngày 15/9.

    Một trong những thay đổi đáng chú ý liên quan trực tiếp đến điều kiện thành lập cụm công nghiệp.

    Theo quy định mới, trong trường hợp địa bàn cấp xã đã thành lập cụm công nghiệp, tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp phải đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê không vượt quá 50 ha.

    Điểm đáng chú ý nằm ở điều kiện lựa chọn “hoặc”. Quy định được sửa đổi nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nâng tính khả thi của việc thành lập và đầu tư xây dựng cụm công nghiệp, đồng thời tạo thêm quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế tư nhân nhưng vẫn bảo đảm sử dụng đất hiệu quả.

    Điều kiện mở rộng cụm công nghiệp cũng được điều chỉnh. Theo đó, cụm công nghiệp phải đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có.

    Đồng thời, cụm công nghiệp phải hoàn thành và đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu gồm đường giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt. Điều kiện này không áp dụng đối với các cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định 105/2009/QĐ-TTg.

    Với doanh nghiệp sản xuất, thay đổi này đáng chú ý bởi quỹ đất tại cụm công nghiệp là một trong những yếu tố quyết định khả năng mở rộng nhà xưởng và đầu tư dự án. Việc điều chỉnh điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp có thể tạo thêm dư địa phát triển mặt bằng sản xuất tại các địa phương.

    Từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”

    Không chỉ thay đổi điều kiện về đất và tỷ lệ lấp đầy, Nghị định 303 còn sửa đổi hồ sơ, trình tự, thủ tục thành lập và mở rộng cụm công nghiệp.

    Theo Báo Chính phủ, quy định mới được xây dựng theo tư duy chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, rà soát, loại bỏ một số hồ sơ, tài liệu không cần thiết và giảm thời gian tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính về cụm công nghiệp.

    Đây là thay đổi đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế tham gia đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp. Việc giảm các khâu thủ tục ở giai đoạn đầu có thể giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án; trong khi yêu cầu hậu kiểm đặt trọng tâm nhiều hơn vào trách nhiệm thực hiện đúng quy hoạch, đầu tư hạ tầng và vận hành dự án sau khi được chấp thuận.

    Bộ Công Thương cho biết, một số cụm công nghiệp do đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý trước đây gặp khó khăn do nguồn lực ngân sách địa phương hạn chế, dẫn đến hạ tầng đầu tư chắp vá, xuống cấp hoặc thiếu các công trình cần thiết, đặc biệt là hạ tầng bảo vệ môi trường. Quy định mới hướng tới tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế tham gia đầu tư, hoàn thiện và khai thác hiệu quả các cụm công nghiệp này.

    Một điểm mới khác là doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được bổ sung vào nhóm đối tượng khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp.

    Danh sách còn có doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số. Nhà nước cũng khuyến khích phát triển các mô hình cụm công nghiệp công nghệ cao, sinh thái, chuyên ngành, công nghiệp hỗ trợ và cụm công nghiệp theo hướng thông minh, hiệu quả, bền vững.

    Như vậy, thay đổi từ ngày 15/9 không đơn thuần là “nới” một điều kiện thành lập cụm công nghiệp. Định hướng rộng hơn là tạo thêm không gian sản xuất cho khu vực kinh tế tư nhân, thu hút nguồn lực xã hội đầu tư hạ tầng và từng bước nâng chất lượng các cụm công nghiệp.

    Mai Thoa

    Nguồn https://baomoi.com/noi-dieu-kien-thanh-lap-cum-cong-nghiep-mo-them-du-dia-cho-doanh-nghiep-c55959892.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!