Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Chi tiết 3 phân đoạn của quy hoạch đô thị sông Hồng

    Trong đó, đoạn từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì rộng 4.548 ha, dân số khoảng 541.000 người, được định vị là trung tâm, “phòng khách đô thị”. Toàn tuyến dự kiến triển khai 18 dự án thành phần, gồm giao thông, công viên, kè chỉnh trị và khu đô thị tái thiết.

    Hưng Nguyên 

    Nguồn https://baomoi.com/chi-tiet-3-phan-doan-cua-quy-hoach-do-thi-song-hong-c56012358.epi

  • EVN và tỉnh Quảng Trị phối hợp phát triển đồng bộ nguồn, lưới điện

    Những năm qua, hệ thống điện trên địa bàn Quảng Trị cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Theo báo cáo của Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC), điện lưới quốc gia đã được đưa đến 100% số thôn, làng trên địa bàn tỉnh, tỷ lệ hộ dân có điện đạt 99,98%.

    Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh phát biểu tại buổi làm việc giữa EVN và tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Hương Nguyên

    Trong 7 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện thương phẩm của tỉnh đạt 1.396,16 triệu kWh, tăng 13,44% so với cùng kỳ. Hiện tổng công suất đặt các nguồn điện trên địa bàn khoảng 1.528 MW, cao gấp khoảng 3 lần công suất phụ tải cực đại.

    Cùng với việc bảo đảm cung ứng điện hiện tại, EVN và các đơn vị thành viên đang tập trung triển khai nhiều dự án nguồn điện quy mô lớn tại Quảng Trị. Đáng chú ý, Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đang được khẩn trương hoàn thiện, với tiến độ tổng thể đạt 99,62%. Theo kế hoạch, tổ máy 1 dự kiến phát điện thương mại trong tháng 11/2026 và tổ máy 2 trong tháng 12/2026.

    Hệ thống truyền tải cũng được đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn và phụ tải. Nhiều công trình 500kV, 220kV đang được triển khai, như Trạm cắt 500kV Quảng Trị 2, Trạm biến áp 500kV Lao Bảo, đường dây 500kV Lao Bảo – Quảng Trị 2 và các công trình nâng cao khả năng truyền tải trên các tuyến 220kV khu vực. Một số công trình dự kiến hoàn thành, đưa vào vận hành trong giai đoạn 2026 – 2028.

    Phó Tổng giám đốc EVN Phạm Hồng Phương phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh Hương Nguyên

    Đối với lưới điện phân phối, giai đoạn 2021 – 2025, EVNCPC đã đầu tư hơn 2.169 tỷ đồng, hoàn thành 12 dự án lưới điện 110kV và 260 dự án cấp trung, hạ áp. Trong giai đoạn 2026-2030, EVNCPC dự kiến đầu tư khoảng 4.324 tỷ đồng phát triển lưới điện trên địa bàn Quảng Trị. Riêng các công trình 110kV đang triển khai gồm 12 danh mục, với tổng quy mô tăng thêm khoảng 102,5 km đường dây và gần 400 MVA công suất trạm biến áp.

    Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNCPC Nguyễn Thanh cho biết EVNCPC sẽ tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển lưới điện, nhất là tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực có tốc độ tăng trưởng phụ tải cao. Các dự án được triển khai theo hướng đồng bộ, nâng cao độ tin cậy và chất lượng cung cấp điện, đáp ứng yêu cầu thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

    Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và Quy hoạch tỉnh Quảng Trị điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030, tỉnh được bổ sung khoảng 12.963 MW công suất nguồn điện; giai đoạn 2031-2035 bổ sung thêm khoảng 3.892 MW. Đến năm 2030, tổng công suất nguồn điện trên địa bàn dự kiến đạt khoảng 14.491 MW, trong khi phụ tải dự báo khoảng 792 MW. Quy mô nguồn điện tăng nhanh đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ hệ thống truyền tải, nâng cao khả năng tiếp nhận và giải tỏa công suất.

    Từ yêu cầu này, EVN, tỉnh Quảng Trị và các đơn vị liên quan tập trung trao đổi giải pháp thu hút, lựa chọn nhà đầu tư xây dựng mới các công trình lưới truyền tải theo hình thức xã hội hóa, bảo đảm tiến độ và sự đồng bộ với các dự án nguồn điện.

    Phó Tổng giám đốc EVN Phạm Hồng Phương đề nghị tỉnh Quảng Trị ưu tiên các dự án nguồn điện có khả năng cấp điện, tiêu thụ tại chỗ; tiếp tục hỗ trợ các đơn vị trong công tác đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng; bố trí quỹ đất cho các công trình điện trong kế hoạch sử dụng đất hằng năm; đẩy nhanh các thủ tục về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chuyển mục đích sử dụng rừng.

    Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh ghi nhận sự phối hợp, hỗ trợ của EVN và các đơn vị thành viên, đồng thời đề nghị các sở, ban, ngành và địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, bảo đảm tiến độ các dự án điện. Quảng Trị sẽ đồng hành cùng EVN và các đơn vị liên quan trong tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đầu tư, phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện.

    Phát triển hạ tầng điện được xác định là một trong những điều kiện quan trọng để Quảng Trị khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng, thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển. Việc chủ động phối hợp triển khai các dự án sẽ góp phần từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Quảng Trị trở thành trung tâm năng lượng của cả nước, tạo động lực cho phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

    Linh Lan

    Nguồn https://baomoi.com/evn-va-tinh-quang-tri-phoi-hop-phat-trien-dong-bo-nguon-luoi-dien-c56012341.epi

  • Sông Hồng mở chuỗi sản phẩm du lịch từ đường thủy đến làng nghề, di sản

    Dòng sông trở thành xương sống của chuỗi trải nghiệm

    Hồ sơ Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5.000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đang được Hà Nội công khai lấy ý kiến nhân dân trong 20 ngày, bắt đầu từ ngày 7.9.2026. Phạm vi nghiên cứu trải dài khoảng 40km, thuộc địa giới 16 xã, phường, với quy mô khoảng 11.418ha. Đây là hồ sơ quy hoạch được lập để triển khai Dự án đầu tư Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.

    Hai bên sông Hồng được định hướng trở thành trục cảnh quan, văn hóa, lịch sử, sinh thái và phát triển kinh tế; giao thông đường bộ, đường thủy và các phương thức vận tải khác được kết nối thành hệ thống liên hoàn. Ảnh: Tuấn Đông

    Điểm đáng chú ý là trong cấu trúc mới, sông Hồng không chỉ được nhìn nhận như một yếu tố thủy văn hay ranh giới không gian đô thị. Hai bên sông được định hướng trở thành trục cảnh quan, văn hóa, lịch sử, sinh thái và phát triển kinh tế; giao thông đường bộ, đường thủy và các phương thức vận tải khác được kết nối thành hệ thống liên hoàn.

    Theo hồ sơ quy hoạch, người dân có thêm khả năng tiếp cận các công viên, đường dạo, không gian cộng đồng, thể dục thể thao, văn hóa, lễ hội và cảnh quan ven sông. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tổ chức các hành trình du lịch có điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối rõ ràng, trong đó đường thủy có thể đảm nhiệm vai trò kết nối các điểm đến hai bên sông.

    Ý tưởng này phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch đường sông mà Hà Nội đang đặt ra. Thực tế, các chuyên gia cho rằng lợi thế của sông Hồng không nằm riêng ở cảnh quan mặt nước mà ở khả năng kết nối một hệ sinh thái tài nguyên rộng lớn hai bên bờ.

    Trong nghiên cứu về quản lý phát triển kinh tế du lịch tuyến sông Hồng theo hướng bền vững, bà Phạm Thị Thu Huyền, Tổng Công ty Du lịch Hà Nội, nhận định sông Hồng có thể kết nối du lịch đường sông với văn hóa, sinh thái, làng nghề và các hoạt động kinh tế ven sông. Theo bà, việc đầu tư các bến thủy, điểm dừng, không gian công cộng và kết nối giao thông đường bộ – đường thủy là điều kiện để hình thành các chuỗi sản phẩm thay vì khai thác từng điểm riêng lẻ.

    Như vậy, giá trị mới của quy hoạch không chỉ là tạo thêm một tuyến giao thông ven sông. Quan trọng hơn, đây là cơ sở không gian để biến dòng sông thành “xương sống” kết nối các sản phẩm du lịch vốn đang tồn tại phân tán.

    Công viên trở thành không gian giữ chân du khách

    Một trong những thay đổi đáng chú ý của phương án mới là hệ thống công viên được đặt trong cấu trúc phát triển của toàn trục sông Hồng.

    Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng được tổ chức cùng hệ thống công viên cảnh quan, vui chơi giải trí, mặt nước và hạ tầng kỹ thuật. Ảnh: Tuấn Đông

    Theo thông tin của Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng được tổ chức cùng hệ thống công viên cảnh quan, vui chơi giải trí, mặt nước và hạ tầng kỹ thuật. Các công viên được bố trí tại nhiều khu vực bãi sông, trong đó cụm công viên tại bãi sông Tráng Việt có quy mô khoảng 1.113,8ha; cụm công viên tại bãi sông Tàm Xá khoảng 397,5ha và cụm công viên Long Biên – Cự Khối khoảng 472ha.

    Trong hồ sơ 1/5.000, không gian ven sông còn được tổ chức theo các ngưỡng địa hình và mức độ phát triển khác nhau. Những khu vực thấp được định hướng ưu tiên sinh thái, phục hồi cảnh quan, giao thông chậm và đường dạo; qua đó tạo điều kiện để hình thành những không gian trải nghiệm gần thiên nhiên thay vì tiếp tục đô thị hóa đồng loạt.

    Điều này mở ra một hướng khác cho du lịch sông Hồng. Du khách không nhất thiết chỉ lên thuyền, ngắm cảnh rồi trở về. Một hành trình có thể bắt đầu bằng đường thủy, cập bến tại một không gian công viên, tiếp tục bằng đường đi bộ hoặc xe đạp, rồi kết nối tới làng nghề, di tích, khu sản xuất nông nghiệp hoặc một không gian lễ hội.

    Đây cũng là cách tạo thêm thời gian lưu trú và mức chi tiêu tại điểm đến. Công viên khi đó không chỉ là hạ tầng xanh của đô thị mà trở thành một mắt xích của sản phẩm du lịch: nơi tổ chức sự kiện, trình diễn nghệ thuật, thể thao, ẩm thực, hoạt động cộng đồng và các chương trình trải nghiệm.

    Định hướng này còn có thể gắn với mục tiêu phát triển kinh tế đêm của Hà Nội. Đề án phát triển kinh tế đêm giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 xác định khu vực kinh tế đêm trục cảnh quan sông Hồng trở thành trung tâm kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa; đồng thời định hướng khai thác các mô hình du lịch sinh thái, trải nghiệm nghề thủ công, lễ hội truyền thống và du lịch cộng đồng.

    KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội. Ảnh: Tuấn Đông

    KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, cho rằng việc đưa sông Hồng trở lại vị trí trung tâm trong cấu trúc đô thị không chỉ làm thay đổi diện mạo không gian mà còn mở ra cách tiếp cận mới, trong đó con người, thiên nhiên và văn hóa được đặt trong mối quan hệ hài hòa. Theo ông, không gian sông Hồng có thể trở thành nền tảng cho một hệ sinh thái phát triển đa dạng, từ du lịch, dịch vụ đến kinh tế sáng tạo.

    Nếu được kết nối tốt, công viên ven sông có thể trở thành những “trạm trải nghiệm” của một chuỗi du lịch mới, thay vì chỉ là những mảng xanh phục vụ dân cư.

    Làng nghề, di sản và nông nghiệp tạo dấu ấn riêng

    Sức hấp dẫn lớn nhất của chuỗi du lịch sông Hồng nằm ở những tài nguyên văn hóa và sinh kế bản địa nằm ngay trong hoặc liền kề không gian quy hoạch.

    Một làng cổ ven sông Hồng. Ảnh: Tuấn Đông

    Theo hồ sơ đang lấy ý kiến, khu vực nghiên cứu hiện có khoảng 5.741 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 50% diện tích; khoảng 3.626 ha mặt nước và 123 công trình di tích. Trong số 123 di tích có 1 di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố, 61 di tích chưa xếp hạng cùng 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến.

    Đây là nguồn tài nguyên đặc biệt để hình thành sản phẩm du lịch trải nghiệm theo chiều sâu.

    Từ một chuyến tàu trên sông, du khách có thể tiếp cận một làng nghề, xem trình diễn nghề, tham gia một công đoạn sản xuất, thưởng thức sản vật địa phương rồi tiếp tục tới một di tích hoặc không gian văn hóa. Nếu đi đúng mùa, hành trình có thể được bổ sung bằng trải nghiệm mùa vụ nông nghiệp hoặc tham dự lễ hội của cộng đồng.

    Bát Tràng là ví dụ rõ cho hướng đi này. Năm 2026, địa phương đang xây dựng sản phẩm du lịch trải nghiệm nông nghiệp, nông thôn gắn với làng nghề gốm sứ Kim Lan và vùng trồng rau an toàn Văn Đức. Cách tiếp cận này cho thấy làng nghề không nhất thiết phải được khai thác như một điểm mua sắm mà có thể trở thành một phần của hành trình trải nghiệm nông nghiệp – văn hóa – nghề truyền thống.

    Tương tự, Hà Nội cũng đang triển khai các định hướng bảo tồn làng nghề gắn với du lịch. Quy hoạch chi tiết bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống kết hợp du lịch tại làng dệt lụa Vạn Phúc được phê duyệt đầu năm 2026 xác định các không gian trình diễn nghề, tham quan quy trình sản xuất, trưng bày sản phẩm và trải nghiệm văn hóa làng nghề, đồng thời kết nối các tuyến điểm nội bộ với không gian công cộng và di tích.

    Những mô hình này có thể trở thành “mắt xích” để cụ thể hóa lợi thế tài nguyên của không gian sông Hồng. Khi đường thủy, công viên, làng nghề, di tích và nông nghiệp được đặt trong cùng một mạng lưới, sản phẩm du lịch sẽ có câu chuyện và chiều sâu hơn.

    Đặc biệt, lễ hội có thể tạo ra yếu tố thời điểm cho chuỗi sản phẩm. Nếu công viên là không gian tổ chức và đường thủy là phương tiện tiếp cận, thì di sản, làng nghề và cộng đồng chính là nơi tạo nội dung. Các lễ hội truyền thống, sự kiện văn hóa, trình diễn nghề và hoạt động ẩm thực có thể tạo những “lý do” để du khách quay lại vào các thời điểm khác nhau trong năm.

    Từ tài nguyên thành sản phẩm: bài toán không nằm ở quy hoạch alone

    Điều chỉnh quy hoạch 1/5.000 đang mở ra một không gian lớn, nhưng bản thân quy hoạch chưa thể tự tạo ra sản phẩm du lịch.

    Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỉ lệ 1/5.000 đang được Hà Nội lấy ý kiến nhân dân. Ảnh: Tuấn Đông

    Thách thức tiếp theo là tổ chức khai thác. Theo các chuyên gia, điểm yếu hiện nay của du lịch sông Hồng là hạ tầng còn phân tán, sản phẩm chưa đa dạng, liên kết giữa các điểm đến chưa mạnh và sự phối hợp giữa các ngành chưa đồng bộ. Vì vậy, việc hình thành chuỗi du lịch phải được thực hiện đồng thời với bến thủy, điểm dừng, kết nối giao thông, dịch vụ, an toàn đường thủy và cơ chế phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng.

    Đây cũng là yêu cầu được Hà Nội đặt ra trong định hướng phát triển du lịch đường sông giai đoạn 2026-2030: không chỉ khai thác tuyến vận tải mà phải hình thành sản phẩm, kết nối điểm đến và nâng chất lượng dịch vụ.

    Ở góc độ quy hoạch, hồ sơ mới đã tạo những điều kiện quan trọng: khoảng 40 km không gian nghiên cứu liên tục, hệ thống mặt nước lớn, các công viên quy mô lớn, mạng lưới di sản, đất nông nghiệp và định hướng kết nối đường bộ – đường thủy.

    Ở góc độ du lịch, phần còn lại là “đóng gói” những nguồn lực ấy thành hành trình cụ thể. Có thể hình dung một chuỗi sản phẩm theo nhiều cấp độ: tuyến du lịch đường thủy trong ngày kết nối công viên và làng nghề; tuyến trải nghiệm cuối tuần kết hợp di sản – nông nghiệp; các tour theo mùa gắn với lễ hội; hoặc các sản phẩm du lịch đêm kết hợp cảnh quan sông Hồng, nghệ thuật, ẩm thực và trải nghiệm văn hóa.

    Quan trọng hơn, cần tránh biến các điểm đến thành những “ốc đảo” mới. Một công viên đẹp nhưng không có bến tiếp cận; một làng nghề hấp dẫn nhưng thiếu điểm đỗ và dịch vụ; một di tích có giá trị nhưng nằm ngoài tuyến trải nghiệm; hay một vùng nông nghiệp được quy hoạch nhưng không có sản phẩm đón khách đều khó tạo thành chuỗi.

    Bởi vậy, giá trị lớn nhất của Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000, nếu được hoàn thiện theo hướng đang lấy ý kiến, có thể không chỉ nằm ở việc thay đổi diện mạo hai bên sông. Xa hơn, đây là cơ hội để Hà Nội tổ chức lại cách tiếp cận dòng sông: từ một không gian bị chia cắt thành một hành lang trải nghiệm liên tục, nơi đường thủy là xương sống, công viên là không gian trải nghiệm, làng nghề và di sản là điểm neo văn hóa, nông nghiệp là lớp trải nghiệm bản địa, còn lễ hội tạo nhịp sống cho sản phẩm.

    Đó cũng là cách để sông Hồng không chỉ trở thành một trục cảnh quan mới của Thủ đô mà từng bước trở thành một thương hiệu du lịch mới của Hà Nội.

    TUẤN ĐÔNG

    Nguồn https://baomoi.com/song-hong-mo-chuoi-san-pham-du-lich-tu-duong-thuy-den-lang-nghe-di-san-c56012605.epi

  • Hồi sinh lại các bãi đỗ xe ngầm khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh

    Xe ô tô nối đuôi đỗ trên đường Alexandre de Rhodes (phường Sài Gòn) dù bị cấm.

    Ngủ quên nhiều năm

    Ghi nhận trên các tuyến đường trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh như Alexandre de Rhodes, Hàn Thuyên, Phạm Ngọc Thạch,… nhiều ô tô nối đuôi nhau đỗ dưới lòng đường, chiếm một làn xe dù có biển cấm đỗ. Không ít xe bật đèn cảnh báo rồi rời đi, khiến mặt đường vốn chật hẹp càng bị thu hẹp, ảnh hưởng giao thông.

    Trong khi đó, công viên Lê Văn Tám, công viên Tao Đàn, sân vận động Hoa Lư hay khu vực sân khấu Trống Đồng (khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh), nhiều vị trí từng được quy hoạch xây dựng bãi đỗ xe ngầm nhưng đến nay vẫn chưa thành hình, dù nhu cầu đỗ xe của thành phố ngày càng gia tăng. Với nhiều người dân, điều họ quan tâm nhất chính là có thêm những vị trí đỗ xe thuận tiện để giảm tình trạng đậu xe tràn lan trên đường phố.

    Thực tế, hơn 20 năm trước, Thành phố Hồ Chí Minh đã kêu gọi đầu tư các bãi xe ngầm tại khu vực trung tâm. Trong đó có 4 dự án tại công viên Lê Văn Tám, công viên Tao Đàn, sân khấu Trống Đồng và sân vận động Hoa Lư, với tổng công suất dự kiến khoảng 6.300 ô tô và 4.000 xe máy. Tuy nhiên, đến nay các dự án vẫn chưa thể trở thành những bãi đỗ xe thực tế do vướng quy hoạch, nguồn vốn và phương án tài chính.

    Tại công viên Lê Văn Tám, Thành phố Hồ Chí Minh từng ký hợp đồng BOT với nhà đầu tư nhưng doanh nghiệp không thu xếp được vốn. Sau thời gian dài đình trệ, năm 2019, UBND Thành phố Hồ Chí Minh thu hồi dự án để đánh giá lại.

    Cụ thể, dự án bãi đỗ xe ngầm tại công viên Lê Văn Tám được xem là dự án có quy mô lớn nhất với 4 tầng ngầm, tổng vốn đầu tư ban đầu khoảng 1.700 tỷ đồng, sức chứa gần 1.300 ô tô và hơn 2.000 xe máy. Dự án từng được được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu chỗ đậu xe tại khu vực trung tâm.

    Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại dự án bãi đỗ xe ngầm ở sân khấu Trống Đồng. Dự án từng được quy hoạch gồm nhiều tầng hầm và tầng nổi với khả năng phục vụ hàng trăm ô tô và xe máy, nhưng đến nay khu đất vẫn chưa xuất hiện công trình nào.

    Hai dự án còn lại tại công viên Tao Đàn và sân vận động Hoa Lư cũng rơi vào tình trạng như trên. Trong khi, nhà đầu tư từng đề xuất kết hợp bãi xe với thương mại, dịch vụ để tăng nguồn thu, nhưng cơ chế pháp lý khi đó chưa cho phép.

    Lý giải cho tình trạng này, Tiến sĩ Võ Kim Cương, nguyên Phó kiến trúc sư trưởng Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, điểm nghẽn của các dự án bãi xe ngầm không chỉ nằm ở kỹ thuật xây dựng mà còn liên quan đến cơ chế đầu tư, hiệu quả tài chính và cách nhìn nhận vai trò của bãi đỗ xe trong hệ thống hạ tầng đô thị. Trong đó, trở ngại lớn nhất hiện nay nhiều khả năng nằm ở bài toán tài chính khi nhà đầu tư chưa nhìn thấy khả năng sinh lời từ dự án.

    Theo thống kê của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, hiện quản lý hơn 1,2 triệu ô tô và hơn 11,5 triệu xe máy, chưa kể phương tiện từ các địa phương khác. Trong khi đó, diện tích bãi đỗ xe hiện hữu chỉ khoảng 2,69ha trên tổng 550ha được quy hoạch, tương đương 0,5%. Con số này cho thấy khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu thực tế và khả năng đáp ứng của hạ tầng giao thông tĩnh.

    Đi tìm lời giải

    Theo Tiến sĩ Võ Kim Cương, các bãi đỗ xe cần được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng giao thông đô thị. Khi đó nhà nước phải trực tiếp hỗ trợ về mặt đất đai, về mặt tài chính và các điều kiện khác để thực hiện được bãi đậu xe.

    Cùng với việc phát triển bãi đỗ xe, tiến sĩ Võ Kim Cương cho hay, Thành phố Hồ Chí Minh cần có những giải pháp đồng bộ để hạn chế tình trạng dừng đỗ phương tiện tùy tiện trên đường phố, qua đó phát huy hiệu quả của hệ thống giao thông đô thị.

    Cũng theo tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn, Chuyên gia nghiên cứu hạ tầng đô thị, Nghị quyết 260/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15) tạo thêm cơ sở để Thành phố Hồ Chí Minh triển khai các mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) và các hình thức PPP linh hoạt hơn.

    Về cơ chế tài chính, tiến sĩ Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần sớm ban hành cơ chế riêng cho quyền sở hữu và khai thác không gian ngầm. Mặt khác, thành phố cũng nên khuyến khích liên danh, liên minh giữa các doanh nghiệp tư nhân.

    Đặc biệt, theo ông Sơn, để điều phối được lượng công việc đó, Thành phố Hồ Chí Minh nên thành lập một “Tập đoàn phát triển không gian ngầm” theo mô hình hợp tác công – tư, trong đó thành phố giữ vai trò định hướng, quy hoạch và cấp phép; còn khu vực tư nhân tham gia vốn, kỹ thuật và vận hành.

    Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, thành phố đang nghiên cứu các tổ hợp không gian ngầm quy mô lớn tại trung tâm, đáng chú ý là cụm công trình dưới Công viên 23/9 kết nối ga Bến Thành và dự án bãi đỗ xe kết hợp trung tâm thương mại dưới đường Tôn Đức Thắng.

    Khu vực Công viên 23/9 được nghiên cứu phát triển tổ hợp công trình ngầm kết nối ga Bến Thành.

    Riêng công trình ngầm tại Công viên 23/9 được đề xuất có diện tích hơn 82.000m2, dự kiến tối đa 4 tầng hầm, tổng diện tích sàn khoảng 317.867m2. Trong đó, hơn 146.940m2 dành cho bãi đỗ xe, hơn 26.273m2 cho không gian nhà ga và khoảng 144.653m2 cho trung tâm thương mại, dịch vụ.

    Trong khi đó, sau nhiều năm các bãi xe ngầm “đắp chiếu”, mới đây, ông Lê Như Thạch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tập đoàn Bcons thông tin, Tập đoàn đang xin đầu tư cải tạo và xây dựng công viên Lê Văn Tám thành bãi xe ngầm kết hợp trung tâm thương mại, không gian sinh hoạt cộng đồng.

    Theo đó, ông Lê Như Thạch kiến nghị Thành phố Hồ Chí Minh nên có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển không gian ngầm, không giới hạn chỉ mục đích bãi giữ xe mà còn có thêm trung tâm thương mại, dịch vụ, khu vui chơi giải trí về đêm để thu hút khách du lịch, trong khi phía trên vẫn giữ nguyên chức năng công viên và được nhà đầu tư quản lý chặt chẽ.

    Ga ngầm Bến Thành sẽ là tiền đề cho phát triển đô thị ngầm Thành phố Hồ Chí Minh.

    Mặt khác, không gian ngầm còn có thể giúp kết nối giao thông, các nhà ga metro với không gian trên mặt đất. Mô hình này sẽ giúp các công viên thêm sinh động, tăng sức sống cho đô thị.

    Phản hồi các đề xuất trên, ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc kết hợp bãi xe nổi và bãi xe ngầm cần phù hợp điều kiện từng khu vực, đồng thời bảo đảm yêu cầu về thiết kế và an toàn.

    Theo ông Nguyễn Văn Được, nơi có quỹ đất rộng như khu vực sân bay có thể bố trí bãi xe nổi; còn khu vực trung tâm thiếu đất nên ưu tiên bãi xe ngầm, kết hợp thương mại, dịch vụ.

    Đồng thời, lãnh đạo UBND Thành phố Hồ Chí Minh giao Sở Xây dựng và các sở, ngành liên quan cụ thể hóa các điều khoản trong luật phát triển đô thị về thiết kế đô thị, trong đó cần quy định rõ việc kết nối giữa không gian ngầm đã xây dựng với những công trình sẽ đầu tư trong tương lai.

    Sơn Giang

    Nguồn https://baomoi.com/hoi-sinh-lai-cac-bai-do-xe-ngam-khu-vuc-trung-tam-thanh-pho-ho-chi-minh-c56012283.epi

  • Kiến Đức thông báo tìm chủ sử dụng 2 thửa đất phục vụ dự án cao tốc Gia Nghĩa – Chơn Thành

    Thông tin các thửa đất chưa xác định được chủ sử dụng

    Thửa đất số 114, tờ bản đồ số 64

    Địa chỉ thửa đất: Thôn 13, xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn 12, xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng).
    Diện tích thửa đất: 285,6 m².
    Diện tích dự kiến thu hồi: 285,6 m².
    Vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp ông Nguyễn Thành Nhân; phía Tây giáp đường TL685; phía Nam giáp bà Nguyễn Thị Quý; phía Bắc giáp ông Nguyễn Bá Thế.

    Thửa đất số 173, tờ bản đồ số 57

    Địa chỉ thửa đất: Thôn 13, xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn 12, xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng).
    Diện tích thửa đất: 328,0 m².
    Diện tích dự kiến thu hồi: 6,3 m².
    Vị trí tiếp giáp: Phía Đông giáp ông Lê Quang Dũng; phía Tây giáp đường TL685; phía Nam giáp ông Hồ Văn Tuyến; phía Bắc giáp ông Phan Tấn Bắc.

    Đề nghị chủ sử dụng đất liên hệ

    UBND xã Kiến Đức đề nghị tổ chức, hộ gia đình, cá nhân là chủ sử dụng đất hoặc người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến các thửa đất nêu trên khẩn trương liên hệ với Chi nhánh Trung tâm Phát triển quỹ đất số 2, địa chỉ: số 83 đường Lê Duẩn, tổ dân phố 6, phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng để cung cấp giấy tờ, hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và các quyền, lợi ích hợp pháp có liên quan (nếu có).

    Đồng thời, đề nghị các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân liên quan phối hợp thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật.

    TB

    Nguồn https://baomoi.com/kien-duc-thong-bao-tim-chu-su-dung-2-thua-dat-phuc-vu-du-an-cao-toc-gia-nghia-chon-thanh-c56012134.epi

  • An Giang có 5.077 hộ đồng bào Khmer cần hỗ trợ nhà ở

    Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang họp lấy ý kiến về chủ trương hỗ trợ nhà ở cho hộ đồng bào Khmer.

    Chiều 9/9, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang tổ chức họp lấy ý kiến về đề xuất hỗ trợ nhà ở cho hộ đồng bào Khmer nghèo, cận nghèo và các nhóm có nhu cầu trên địa bàn tỉnh.

    Qua rà soát, toàn tỉnh có 5.077 hộ có nhu cầu hỗ trợ nhà ở. Trong số này có 436 hộ nghèo, 476 hộ cận nghèo, 342 hộ mới thoát nghèo và 3.823 hộ thuộc các nhóm đối tượng khác. Có 630 hộ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về hỗ trợ nhà ở.

    Về hiện trạng nhà ở, 4.101 hộ đang sống trong nhà tạm, xiêu vẹo, dột nát; 384 hộ đang ở nhờ hoặc ở trọ và 353 hộ chưa có nhà.

    Tổng nhu cầu được rà soát gồm xây mới 4.299 căn và sửa chữa 778 căn.

    Tại cuộc họp, các đại biểu đề xuất ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo; đồng thời đề nghị thiết kế mẫu nhà bảo đảm tiêu chuẩn xây dựng nhưng phù hợp bản sắc văn hóa Khmer.

    Sở Dân tộc và Tôn giáo dự kiến hoàn thiện đề xuất để tham mưu UBND tỉnh triển khai chính sách hỗ trợ nhà ở trong giai đoạn 2026 – 2030, trong đó cần rà soát đối tượng theo từng năm nhằm hạn chế trùng lặp chính sách.

    Tin và ảnh: DANH THÀNH

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-co-5-077-ho-dong-bao-khmer-can-ho-tro-nha-o-c56012112.epi

  • Cần Thơ đề xuất dừng dự án ‘bệnh án điện tử’ 21 tỷ đồng để tránh lãng phí

    Kiosk tiếp đón tự động tại Bệnh viện Đa khoa Sóc Trăng

    Mục tiêu ban đầu của dự án là nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị và phần mềm bệnh án điện tử (EMR) tiến tới bệnh viện không sử dụng giấy; xây dựng hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh (PACS); hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS); hệ thống thông tin xét nghiệm (LIS) tại Trung tâm Y tế thị xã Vĩnh Châu và Trung tâm Y tế huyện Cù Lao Dung. Tổng mức đầu tư 21 tỷ đồng từ vốn ngân sách tỉnh và vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030.

    Lý giải về đề xuất dừng dự án, Sở Tài chính và Sở Y tế TP Cần Thơ cho biết, dự án không còn phù hợp với hiện trạng thực tế, nếu tiếp tục triển khai sẽ dẫn đến đầu tư trùng lặp, gây lãng phí nguồn lực ngân sách.

    Dự án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế theo Đề án 03/ĐA-UBND” (Hạng mục: Thí điểm triển khai bệnh án điện tử cho các Trung tâm Y tế cấp huyện) do Sở Y tế làm chủ đầu tư. Dự án được phê duyệt chủ trương theo Nghị quyết số 100/NQ-HĐND ngày 28-8-2024 của HĐND tỉnh Sóc Trăng (trước đây) và phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi vào đầu năm 2025.

    DŨNG ANH

    Nguồn https://baomoi.com/can-tho-de-xuat-dung-du-an-benh-an-dien-tu-21-ty-dong-de-tranh-lang-phi-c56012098.epi

  • Gần 2 nghìn tỷ đồng đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Thuận Thành III-Phân khu C

    Dự án được thực hiện tại phường Thuận Thành và Trí Quả có quy mô hơn 196 ha, tổng mức đầu tư gần 2 nghìn tỷ đồng. Để thực hiện dự án, chủ đầu tư đã chủ động hoàn thiện đầy đủ các thủ tục về xây dựng, đầu tư, môi trường… bảo đảm dự án được triển khai đúng quy định của pháp luật. Nhiều hạng mục được cấp giấy phép xây dựng đã được khẩn trương thi công.

    Cán bộ, kỹ sư kiểm điểm, nắm bắt tiến độ thực hiện dự án.

    Ông Phan Văn Dinh, Phó tổng giám đốc phụ trách xây dựng Công ty trách nhiệm hữu Khu công nghiệp Gilimex Bắc Ninh (Công ty trách nhiệm hữu hạn Gilimex Industrial Park) cho biết: “Khu công nghiệp Thuận Thành III-Phân khu C là một trong những dự án trọng điểm của Gilimex Industrial Park tại Bắc Ninh. Ban lãnh đạo xác định yêu cầu xuyên suốt là phải đẩy nhanh tiến độ nhưng tuyệt đối không đánh đổi chất lượng, an toàn và các tiêu chuẩn về môi trường”. Theo đó, chủ đầu tư yêu cầu các đơn vị thi công huy động tối đa nhân lực, thiết bị; chủ động tổ chức thi công hai ca, ba ca đối với những hạng mục trọng yếu và có cơ chế khuyến khích các nhà thầu hoàn thành vượt tiến độ nhưng vẫn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật.

    Phương tiện được huy động để tập trung thi công.

    Mục tiêu của chủ đầu tư là hoàn thành các hạng mục hạ tầng thiết yếu để có thể bắt đầu đón nhà đầu tư triển khai dự án từ quý I/2027, từng bước hình thành một khu công nghiệp có hạ tầng đồng bộ, vận hành ổn định và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp sản xuất.

    Đến nay, khối lượng thực hiện của các gói thầu đang triển khai đạt khoảng 60% so với kế hoạch. Hiện nay, đang đồng loạt thi công các hạng mục trọng điểm gồm nhà máy xử lý nước thải công suất 4.400 m³/ngày đêm, trạm bơm phòng cháy, chữa cháy, công tác san lấp mặt bằng và hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại tuyến 1, tuyến 4.

    Các tuyến hạ tầng này được triển khai đồng bộ, bao gồm đường giao thông, vỉa hè, cây xanh, cấp nước, phòng cháy, chữa cháy, thoát nước mưa, thu gom nước thải, thông tin liên lạc, cấp điện và chiếu sáng. Đơn vị đang đôn đốc các nhà thầu để đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch thi công đã xác định cho năm 2026 vào ngày 31/12/2026.

    Doanh nghiệp đặt mục tiêu hoàn thiện các điều kiện hạ tầng thiết yếu để bắt đầu tiếp nhận và bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư triển khai dự án từ quý I/2027; đồng thời phấn đấu hoàn thành toàn bộ dự án trong quý IV/2027.

    Một góc Khu công nghiệp Thuận Thành III-Phân khu C đang được xây dựng

    Theo ông Đào Sĩ Long, Phó giám đốc Công ty cổ phần đầu tư thương mại và xây dựng TGCONS (nhà thầu thi công), trong quá trình triển khai, chủ đầu tư đặt ra yêu cầu rất cao về tiến độ, chất lượng kỹ thuật, an toàn lao động và kiểm soát môi trường. Các hạng mục đều được kiểm tra, giám sát thường xuyên và phải tuân thủ đúng hồ sơ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như kế hoạch đã được phê duyệt.

    “Chúng tôi sẵn sàng tăng ca khi đủ điều kiện về kỹ thuật và an toàn. Phấn đấu hoàn thành 100% khối lượng thuộc kế hoạch năm 2026 vào ngày 31/12/2026, đồng thời bảo đảm chất lượng kỹ thuật, an toàn lao động và các yêu cầu về môi trường”-ông Đào Sĩ Long nói.

    Được biết, Khu công nghiệp Thuận Thành III-Phân khu C, đối với đất sản xuất công nghiệp, kho tàng thu hút 45 ngành nghề như: Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt; sản xuất dầu, mỡ động, thực vật, chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, sản xuất khí công nghiệp, sản xuất hóa chất hữu cơ cơ bản khác; sản xuất các cấu kiện kim loại, thùng, bể chứa, nồi hơi … Đối với khu đất dịch vụ, điều hành, thu hút 32 dịch vụ như: Khai thác, xử lý và cung cấp nước; nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động, bán buôn, bán lẻ…

    Trịnh Lan

    Nguồn https://baomoi.com/gan-2-nghin-ty-dong-dau-tu-xay-dung-khu-cong-nghiep-thuan-thanh-iii-phan-khu-c-c56012180.epi

  • Quy hoạch kiến trúc cảnh quan khu vực hồ Hoàn Kiếm: Chưa chốt phương án cuối cùng, làm rõ thuật ngữ ‘khải hoàn’

    Khu vực quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ven hồ Hoàn Kiếm.

    Thời gian qua, một số ý kiến dư luận quan tâm đến phương án tổ chức kiến trúc cảnh quan khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, trong đó có việc sử dụng một số thuật ngữ chuyên môn liên quan hình thức công trình. Trước những vấn đề được đặt ra, việc làm rõ bản chất của phương án quy hoạch, phạm vi nghiên cứu cũng như quy trình triển khai là cần thiết, nhằm cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác tới người dân.

    Tái cấu trúc không gian gắn với Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm

    Hiện nay, Ủy ban nhân dân phường Hoàn Kiếm và Ủy ban nhân dân phường Cửa Nam (thành phố Hà Nội) đang tiến hành lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với phương án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận.

    Theo đại diện Sở Xây dựng Hà Nội, khu vực được nghiên cứu quy hoạch có diện tích khoảng 65,89 ha. Việc nghiên cứu cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và tái cấu trúc không gian được đặt trong tổng thể định hướng của Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã được phê duyệt.

    Ngã tư Tràng Tiền-Đinh Tiên Hoàng-Hàng Khay-Hàng Bài.

    Theo ý tưởng tổng thể, không gian hồ Hoàn Kiếm được nghiên cứu tổ chức như một quảng trường lớn, mang tính biểu tượng của Thủ đô; đồng thời kết nối với quảng trường Cách mạng Tháng Tám (19/8) và Nhà hát Lớn, hình thành một không gian “Lịch sử-Văn hóa-Nghệ thuật”.

    Một trong những nội dung được nghiên cứu là mở rộng không gian kết nối quanh hồ, tập trung tại khu vực phía bắc và phía đông; mở rộng quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục và nghiên cứu bố trí công trình biểu tượng.

    Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, định hướng quy hoạch được đặt trên bốn mục tiêu chính. Thứ nhất, mở rộng không gian kết nối chung quanh hồ Hoàn Kiếm, trọng tâm là phía bắc và phía đông. Thứ hai, tái thiết, tái cấu trúc các không gian sinh hoạt cộng đồng, hệ thống quảng trường và công viên cây xanh đô thị.

    Cùng với đó là cải tạo, chỉnh trang các công trình kiến trúc điểm nhấn mang giá trị lịch sử, văn hóa, tạo sự gắn kết giữa kiến trúc cổ, kiến trúc Pháp và kiến trúc hiện đại. Mục tiêu thứ tư là tạo lập không gian đa chức năng, linh hoạt, đáp ứng yêu cầu tổ chức các sự kiện lớn của Thủ đô.

    Như vậy, nội dung đang được lấy ý kiến không chỉ tập trung vào một công trình riêng lẻ, mà nằm trong nghiên cứu tổng thể về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan của khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận.

    Phân biệt rõ thuật ngữ chuyên môn: “Tượng đài khải hoàn” và “Khải hoàn môn”

    Một trong những vấn đề được dư luận quan tâm là cách sử dụng thuật ngữ liên quan công trình biểu tượng trong phương án.

    Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, ông Trịnh Ngọc Long, Trưởng phòng Quản lý kiến trúc (Sở Xây dựng Hà Nội) cho biết, khái niệm cốt lõi được đề cập trong phương án là “khải hoàn”.

    Đầu phố Đinh Tiên Hoàng giao với khu phố cổ.

    Theo ông Trịnh Ngọc Long, cần phân biệt giữa “tượng đài khải hoàn” và “khải hoàn môn”. Nếu sử dụng cụm từ “khải hoàn môn”, người đọc có thể liên tưởng trực tiếp đến một dạng thức công trình kiến trúc quen thuộc tại một số quốc gia, trong đó có Pháp. Trong khi đó, cách gọi “tượng đài khải hoàn” nhằm thể hiện một ý niệm về khải hoàn nhưng không đồng nhất với hình thái kiến trúc của “khải hoàn môn”.

    Việc phân biệt thuật ngữ, theo ông Trịnh Ngọc Long, vì vậy có ý nghĩa trong việc nhận diện đúng nội dung chuyên môn của phương án, tránh cách hiểu rằng định hướng quy hoạch đã xác lập một hình thức công trình cụ thể.

    Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cũng cho biết các định hướng quy hoạch đã được cấp trên thông qua và đồng ý về mặt chủ trương. Mục tiêu cốt lõi của đề xuất là biểu đạt tinh thần “khải hoàn”. Việc sử dụng từ “môn” trong tên gọi có thể dẫn đến những liên tưởng khác về hình thái công trình; do đó, cách gọi “tượng đài khải hoàn” được đặt ra nhằm thể hiện rõ hơn nội hàm của ý tưởng.

    Chưa chốt phương án cố định, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thẩm định

    Một vấn đề khác cần được làm rõ là phương án hiện nay có phải đã xác định hình thức kiến trúc cụ thể của công trình hay chưa.

    Ông Trịnh Ngọc Long, Trưởng phòng Quản lý kiến trúc (Sở Xây dựng Hà Nội), khẳng định các nội dung hiện tại mới dừng ở định hướng tổ chức kiến trúc cảnh quan chung, chưa phải phương án kiến trúc cuối cùng và chưa chốt một hình thức kiến trúc cố định.

    1 góc khác tại phố Đinh Tiên Hoàng.

    Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cũng xác nhận các đề xuất đang được nghiên cứu chưa phải phương án cuối cùng về hình thức công trình.

    Theo ông Trịnh Ngọc Long, khi triển khai từng công trình cụ thể, thành phố sẽ thực hiện thi tuyển phương án kiến trúc. Trong quá trình lập dự án, việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân được thực hiện theo quy định. Các giải pháp thiết kế chi tiết cũng phải được Hội đồng Kiến trúc Thành phố thẩm định.

    Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho biết thêm, việc lấy ý kiến cộng đồng dân cư đang được thực hiện mới là một bước trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện phương án. Đối với từng công trình cụ thể, các phương án thiết kế sẽ tiếp tục được trình cơ quan chức năng của thành phố xem xét, phê duyệt theo đúng quy định pháp luật.

    Điều này cũng có nghĩa, từ định hướng quy hoạch đến một công trình kiến trúc cụ thể còn nhiều bước nghiên cứu, lấy ý kiến, thi tuyển, thẩm định và phê duyệt. Hình thức kiến trúc cuối cùng vì thế chưa được xác lập ở giai đoạn hiện nay.

    Hồ Hoàn Kiếm và khu vực phụ cận có vị trí đặc biệt trong không gian đô thị trung tâm Hà Nội. Đây là khu vực tập trung nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, cảnh quan và gắn bó mật thiết với đời sống đô thị của người dân.

    Đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng, với vai trò đặc biệt của hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, bất kỳ sự thay đổi nào về không gian hoặc công trình đều có tác động nhất định đến cảnh quan chung.

    Do đó, quá trình nghiên cứu, cải tạo và tái cấu trúc không gian cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn những giá trị vốn có với yêu cầu tổ chức không gian đô thị trong giai đoạn phát triển mới.

    Cơ quan quản lý mong muốn tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp từ chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân trong quá trình hoàn thiện phương án. Đây là cơ sở quan trọng để việc tổ chức lại không gian khu vực hồ Hoàn Kiếm vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị, vừa bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc của khu vực.

    Việc lấy ý kiến cộng đồng, thi tuyển phương án kiến trúc, thẩm định thiết kế và thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật sẽ là những bước tiếp theo trước khi các công trình cụ thể được triển khai.

    “Với một không gian có ý nghĩa đặc biệt như hồ Hoàn Kiếm, mỗi quyết định về kiến trúc và cảnh quan không chỉ liên quan một công trình hay một khu vực mà còn tác động đến diện mạo không gian trung tâm Thủ đô. Vì vậy, việc nghiên cứu thận trọng, công khai thông tin và tiếp thu các ý kiến có cơ sở khoa học là yêu cầu cần thiết trong quá trình hoàn thiện phương án”, Sở Xây dựng Hà Nội khẳng định.

    Kim Cương

    Nguồn https://baomoi.com/quy-hoach-kien-truc-canh-quan-khu-vuc-ho-hoan-kiem-chua-chot-phuong-an-cuoi-cung-lam-ro-thuat-ngu-khai-hoan-c56012115.epi

  • Đồng Tháp: Đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng phát triển lưới điện

    Theo Quyết định 2852 ngày 9-9-2026, trong 2 năm 2026 – 2027, toàn tỉnh đầu tư khoảng 452 km đường dây trung áp, gồm hơn 143 km xây dựng mới và hơn 308 km cải tạo; hơn 875 km đường dây hạ áp, gồm 244 km xây dựng mới và hơn 630 km cải tạo.

    Cùng với đó, 1.469 trạm biến áp sẽ được đầu tư theo hướng lắp mới, nâng công suất và cải tạo, với tổng dung lượng 270,99 MVA. Tổng kinh phí thực hiện hơn 1.007 tỷ đồng, từ nguồn vốn khấu hao cơ bản và vốn vay tín dụng thương mại của ngành điện.

    Trong năm 2026, phần danh mục đầu tư bổ sung có tổng vốn hơn 114 tỷ đồng, thực hiện gần 29 km đường dây trung áp, hơn 37 km đường dây hạ áp và 31 trạm biến áp. Một số công trình tập trung xử lý các khu vực có nguy cơ quá tải, trong đó có giải pháp chống quá tải cho trạm 110 kV Cái Bè thông qua đấu nối lộ ra trạm 110 kV Tháp Mười và khai thác tải trạm 110 kV Sa Đéc.

    Năm 2027, hơn 893 tỷ đồng dự kiến được bố trí để triển khai 27 danh mục dự án tại nhiều xã, phường trên địa bàn tỉnh. Các công trình dự kiến khởi công trong quý I-2027 và hoàn thành trong năm.

    Việc đầu tư đồng bộ lưới điện nhằm bảo đảm khả năng kết lưới 22 kV giữa các trạm 110/22kV, khai thác hiệu quả công suất trạm và từng bước nâng cấp hệ thống điện từ 1 pha lên 3 pha tại những khu vực phù hợp. Qua đó, hạn chế tình trạng quá tải trạm biến áp, giảm bán kính cấp điện và tổn thất điện năng, nâng cao chất lượng cung cấp điện.

    Đặc biệt, các công trình được kỳ vọng góp phần giải quyết những phản ánh, kiến nghị của cử tri về hạ tầng điện; bảo đảm nguồn điện an toàn, ổn định phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại – dịch vụ và sinh hoạt của người dân.

    UBND tỉnh giao Công ty Điện lực Đồng Tháp làm chủ đầu tư, chủ động bố trí nguồn vốn, tổ chức triển khai các công trình đúng kế hoạch; đồng thời, phối hợp với Sở Công thương và UBND các xã, phường trong quá trình thực hiện, bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu tư.

    P.V  

    Nguồn https://baomoi.com/dong-thap-dau-tu-hon-1-000-ty-dong-phat-trien-luoi-dien-c56012234.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!