Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Cần Thơ bố trí bổ sung hơn 2.029 tỷ đồng vốn đầu tư công

    Dự án cầu vượt ở Ninh Kiều được bổ sung vốn

    Ngày 30/9, tại kỳ họp thứ 7 (kỳ họp chuyên đề) HĐND TP Cần Thơ khóa XI, HĐND thành phố thông qua nghị quyết giao chi tiết, điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 nguồn ngân sách địa phương đợt 8.

    Ông Đồng Văn Thanh, Phó Bí thư Thường trực, Chủ tịch HĐND TP Cần Thơ phát biểu bế mạc kỳ họp.

    Theo đó, 26 dự án được bổ sung tổng cộng 104,692 tỷ đồng. Đây là phần vốn được điều chuyển từ các dự án chưa có nhu cầu sử dụng hoặc đang vướng thủ tục, nên không làm tăng tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026.

    Đáng chú ý, 102,374 tỷ đồng được bổ sung cho dự án xây dựng cầu vượt tại Nút giao số 1 (Mậu Thân – Ba Tháng Hai – Trần Hưng Đạo) và Nút giao số 4 (Nguyễn Văn Linh – Ba Tháng Hai), phường Ninh Kiều.

    Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp thành phố làm chủ đầu tư, tổng mức đầu tư 573,598 tỷ đồng, thực hiện giai đoạn 2026-2029.

    Sau điều chỉnh, vốn năm 2026 của dự án tăng từ 3,5 tỷ đồng lên 105,873 tỷ đồng.

    “25 dự án còn lại được bổ sung 2,318 tỷ đồng, chủ yếu để thanh toán, quyết toán các công trình đã hoàn thành như trường học, trung tâm văn hóa, trụ sở, giao thông nông thôn, thoát nước và hạ tầng khu công nghiệp”, ông Lê Công Lý, Phó chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ thông tin.

    Nguồn vốn này được điều chuyển chủ yếu từ các dự án chưa thể sử dụng hết do vướng giải phóng mặt bằng, điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc chưa phát sinh nhu cầu.

    Trong đó, 5 dự án giảm tổng cộng 101,733 tỷ đồng. Ba khoản giảm lớn nhất gồm dự án đầu tư các cầu yếu trên đường tỉnh 927 giảm 56 tỷ đồng; Kè bờ sông Cần Thơ – Ứng phó biến đổi khí hậu giảm 35,670 tỷ đồng và nâng cấp, mở rộng đường vào Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng giảm 9,428 tỷ đồng.

    Nút giao số 4 (Nguyễn Văn Linh – Ba Tháng Hai) thường xuyên kẹt xe vào giờ cao điểm.

    Hơn 1.923 tỷ đồng vốn trung hạn chờ giao cho 28 dự án

    Ở kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, UBND TP Cần Thơ cũng đề xuất HĐND thành phố giao chi tiết hơn 1.924 tỷ đồng cho 29 dự án.

    Trong đó, 300 triệu đồng dành cho công tác chuẩn bị đầu tư một dự án của Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố; hơn 1.923,8 tỷ đồng còn lại bố trí thực hiện 28 dự án.

    Khoản vốn lớn nhất, hơn 1.071 tỷ đồng, dành cho dự án đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai TP Cần Thơ giai đoạn 2026-2030.

    Tiếp đó, gần 564 tỷ đồng được bố trí cho 3 công trình kè chống sạt lở khẩn cấp. Trong đó, kè bờ sông Cái Sắn hơn 289,6 tỷ đồng; kè bờ trái kênh xáng Nàng Mau hơn 149,3 tỷ đồng; kè bờ kênh Cái Muồng và Vàm kênh Xẻo Chồi – Kênh Mới hơn 124,9 tỷ đồng.

    Hiện công tác giải phóng mặt bằng tại Nút giao số 4 cơ bản đã hoàn thành. 

    Lĩnh vực giao thông được đề xuất hơn 246 tỷ đồng, gần như tập trung cho dự án nâng cấp, sửa chữa tuyến đường Phạm Hùng đi vùng Khóm Cầu Đúc.

    Theo UBND thành phố, việc giao bổ sung vốn trung hạn xuất phát từ nhu cầu thực hiện các dự án đã đủ điều kiện triển khai, đồng thời bố trí vốn thanh quyết toán cho một số công trình hoàn thành.

    Hiện tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 của Cần Thơ hơn 106.714 tỷ đồng. Đến ngày 14/9, thành phố đã giao hơn 80.009 tỷ đồng; phần ngân sách địa phương chưa giao chi tiết còn hơn 26.704 tỷ đồng.

    Giải ngân 29,32%, vốn tiếp tục được điều chuyển

    Đến hết ngày 31/8, Cần Thơ giải ngân 5.751,301 tỷ đồng/19.616,303 tỷ đồng, tương đương 29,32% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

    Để tập trung vốn cho các dự án có khả năng triển khai, UBND thành phố đã điều chỉnh nội bộ 786,62 tỷ đồng cho 35 nhiệm vụ, dự án trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND.

    Thành phố cũng đề xuất bổ sung vốn năm 2026 từ nguồn tiêu chí, định mức cho các xã, phường để thực hiện các dự án do địa phương đầu tư; phần vốn này sẽ được cấn trừ vào năm 2027.

    Đào Văn

    Nguồn https://baomoi.com/can-tho-bo-tri-bo-sung-hon-2-029-ty-dong-von-dau-tu-cong-c56167356.epi

  • Thường trực HĐND thành phố Đồng Nai giám sát tiến độ các dự án, công trình trọng điểm

    Cùng tham gia đoàn có lãnh đạo sở, ngành liên quan, lãnh đạo các địa phương có dự án thực hiện, đại diện Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các chi nhánh Long Thành, Long Khánh, Trảng Bom, Xuân Lộc.

    Việc chậm cắt cây cao su trong phạm vi thực hiện dự án của Tổng Công ty Cao su Đồng Nai đã góp phần làm chậm bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công. Ảnh: Phạm Quang

    Đoàn đã khảo sát, kiểm tra thực tế công tác thi công, tình hình thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng 3 dự án: đường ĐT.769, ĐT.770B và ĐT.773.

    Về cơ bản, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng đã được Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các chi nhánh tập trung triển khai quyết liệt, bám sát kế hoạch UBND thành phố giao. Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đều được báo cáo kịp thời để UBND thành phố, các cấp, ngành hướng dẫn xử lý.

    Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND thành phố Trần Văn Mi cùng các thành viên đoàn nghe báo cáo tiến độ thực hiện các dự án. Ảnh: Phạm Quang

    Theo báo cáo của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố, đến nay Dự án ĐT.770B đã bàn giao 186,12ha, đạt 69,3%; Dự án ĐT.773 bàn giao 133,9ha, đạt 59,67%; Dự án ĐT.769 bàn giao mặt bằng đạt 54,01%.

    Qua tổng hợp, rà soát, xét tái định cư tại các dự án có 3.418 trường hợp, trong đó đủ điều kiện tái định cư là 1.809 trường hợp. Quỹ đất tái định cư hiện chưa đáp ứng kịp nhu cầu của một số dự án đang triển khai. Nguyên nhân chậm bàn giao mặt bằng 3 dự án này do: vướng mắc trong xác nhận nguồn gốc đất, chậm cắt cây cao su trong phạm vi thực hiện dự án của Tổng Công ty Cao su Đồng Nai. Tiến độ giải ngân, tiến độ đầu tư, hoàn thiện hạ tầng một số khu tái định cư còn chậm, làm phát sinh khó khăn trong công tác vận động, tạo sự đồng thuận của người dân đối với việc thực hiện dự án… cũng đã được các bên liên quan báo cáo đoàn giám sát.  

    Theo kế hoạch, đoàn sẽ tiếp tục giám sát thực tế các dự án: Đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa – Chơn Thành; khảo sát 3 dự án thu hồi đất để đấu giá quyền sử dụng đất tại phường Nhơn Trạch, xã Phước An và xã Long Phước.

    Phạm Quang

    Nguồn https://baomoi.com/thuong-truc-hdnd-thanh-pho-dong-nai-giam-sat-tien-do-cac-du-an-cong-trinh-trong-diem-c56167215.epi

  • Cần Thơ thu hồi gần 190 ha đất cho 18 công trình, dự án

    Chiều 30/9, HĐND TP Cần Thơ khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 tổ chức kỳ họp thứ 7 (chuyên đề). Các đại biểu thông qua 4 nghị quyết, trong đó có nghị quyết về danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất trên địa bàn thành phố (đợt 4).

    Trong 18 công trình, dự án phải thu hồi đất được HĐND TP Cần Thơ thông qua trong các nghị quyết có tổng diện tích gần 190 ha (17 dự án mới).

    Chủ tịch HĐND TP Cần Thơ Đồng Văn Thanh phát biểu tại kỳ họp. (Ảnh: Anh Nhật)

    Trong đó, Dự án đường Vành đai phía Tây Cần Thơ (nối Quốc lộ 91 đến Quốc lộ 80), với diện tích thu hồi lớn nhất, gần 145 ha. Dự án này thực hiện trên địa bàn phường Thới Long, Trung Nhứt, xã Vĩnh Trinh, Trung Hưng.

    Phát biểu tại kỳ họp, Chủ tịch HĐND TP Cần Thơ Đồng Văn Thanh đề nghị UBND thành phố và các cơ quan liên quan khẩn trương triển khai các nghị quyết vừa được thông qua, bảo đảm đúng quy định, tiến độ.

    Đối với kế hoạch đầu tư công, ông Thanh yêu cầu, các cơ quan, đơn vị rà soát từng dự án về tiến độ và trách nhiệm của từng cơ quan, người đứng đầu; kịp thời tháo gỡ vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và phối hợp thực hiện.

    Quang cảnh kỳ họp HĐND TP Cần Thơ chiều 30/9. (Ảnh: An Khánh)

    Chủ tịch HĐND TP Cần Thơ yêu cầu việc triển khai các dự án phải đảm bảo chất lượng, hiệu quả đầu tư, không để xảy ra tình trạng vốn đã được bố trí nhưng dự án chậm triển khai, kéo dài.

    Đối với danh mục 18 công trình, dự án thu hồi đất với tổng diện tích hơn 189 ha, ông Đồng Văn Thanh đề nghị UBND TP Cần Thơ và các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát kỹ pháp lý, quy hoạch, khả năng triển khai và hiệu quả sử dụng đất.

    Theo người đứng đầu HĐND TP Cần Thơ, việc tổ chức thực hiện các dự án phải công khai, minh bạch, hạn chế tình trạng dự án chậm triển khai, kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân.

    DUY KHANG

    Nguồn https://baomoi.com/can-tho-thu-hoi-gan-190-ha-dat-cho-18-cong-trinh-du-an-c56167367.epi

  • Mục tiêu tới 2050, đặc khu Thổ Châu đón hơn 100.000 du khách mỗi năm

    Chiều 30/9, UBND đặc khu Thổ Châu (tỉnh An Giang) tổ chức hội nghị công bố Quy hoạch chung đặc khu Thổ Châu đến năm 2050, tỷ lệ 1/5.000.

    Theo quy hoạch, phạm vi lập quy hoạch bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên hơn 1.398 ha của 8 hòn đảo gồm Thổ Chu, Hòn Khô, Hòn Nhạn, Hòn Cao Cát, Hòn Từ, Hòn Xanh, Hòn Đá Bàn và Hòn Cao; cùng 235 ha khu vực dự kiến lấn biển.

    Định hướng phát triển cốt lõi của đặc khu là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch sinh thái với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng – an ninh và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

    Quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2035, dân số đặc khu đạt khoảng 4.000 – 4.500 người và đến năm 2050 tăng lên khoảng 8.000 -10.000 người. Du lịch hải đảo được đặc khu Thổ Châu định hướng trở thành một trong những động lực phát triển, với mục tiêu đến năm 2050 đón khoảng 100.000 – 150.000 lượt khách/năm.

    Về không gian phát triển, Bãi Ngự tiếp tục được xác định là trung tâm hành chính, chính trị và kinh tế của đặc khu. Khu vực Bãi Dong, rộng khoảng 76 ha, được quy hoạch phát triển cảng lưỡng dụng và trung tâm hậu cần nghề cá.

    Đặc biệt, quy hoạch ưu tiên khoảng 235 ha cho phương án lấn biển nhằm tạo quỹ đất phát triển hạ tầng đô thị, cảng biển và các dịch vụ du lịch. Việc lấn biển được định hướng kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm không làm ảnh hưởng đến môi trường và hệ sinh thái tự nhiên.

    Thổ Châu quy hoạch ưu tiên khoảng 235 ha cho phương án lấn biển.

    Về hạ tầng, đặc khu sẽ từng bước hoàn thiện mạng lưới đường vòng quanh đảo, nâng cấp hệ thống cấp điện với công suất dự kiến đạt 21MW vào năm 2050. Thổ Châu cũng nghiên cứu ứng dụng giải pháp khử mặn nước biển nhằm bảo đảm nguồn cung nước sạch ổn định, bền vững.

    Theo Quyết định số 364/QĐ-UBND, UBND đặc khu Thổ Châu giao Phòng Kinh tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức công bố quy hoạch và triển khai cắm mốc thực địa theo quy định.

    DUY KHANG

    Nguồn https://baomoi.com/muc-tieu-toi-2050-dac-khu-tho-chau-don-hon-100-000-du-khach-moi-nam-c56167265.epi

  • Bắc Ninh đặt mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn

    Du khách tham quan, du lịch vườn cây tại xã Lục Ngạn. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    Theo đó, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, hướng tới ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm du lịch văn hóa – di sản – nghỉ dưỡng của vùng Thủ đô và Đồng bằng sông Hồng.

    Phát triển sản phẩm đặc trưng, thu hút đầu tư hạ tầng du lịch

    Theo Kế hoạch, Bắc Ninh sẽ phát huy các giá trị văn hiến, cách mạng và những giá trị đặc sắc của vùng Kinh Bắc; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế địa phương, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân để phát triển du lịch nhanh, bền vững.

    Thành phố định vị thương hiệu du lịch “Bắc Ninh – Miền di sản”, lấy du lịch văn hóa – di sản làm sản phẩm chủ đạo, đồng thời phát triển du lịch sinh thái, trải nghiệm nông nghiệp, du lịch cộng đồng, làng nghề và dịch vụ mua sắm chất lượng cao.

    Du khách đi thuyền du lịch tại Hồ Cấm Sơn. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    Một trong những mục tiêu cụ thể được xác định là hình thành 4 không gian phát triển du lịch trọng điểm; xây dựng từ 2-3 sản phẩm du lịch đặc trưng mang thương hiệu Bắc Ninh và các tuyến du lịch liên kết với vùng Thủ đô, các địa phương.

    Thành phố phấn đấu thu hút các nhà đầu tư chiến lược, phát triển các khu du lịch, tổ hợp vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm chất lượng cao; hình thành thêm từ 2-3 khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp đạt tiêu chuẩn 4-5 sao, đồng thời chuẩn bị điều kiện hình thành ít nhất 1 khu du lịch quốc gia và 2 khu du lịch cấp tỉnh.

    Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu lượng khách du lịch tăng khoảng 10-12%/năm, đạt trên 10 triệu lượt khách/năm, trong đó khách quốc tế đạt trên 1 triệu lượt.

    Cùng với phát triển hạ tầng, Bắc Ninh hướng tới hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh; 100% khu, điểm du lịch trọng điểm ứng dụng công nghệ số trong quản lý, vận hành và xúc tiến quảng bá; 80% khu, điểm du lịch triển khai hệ thống thuyết minh thông minh, đa ngôn ngữ và 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch tham gia nền tảng số, ứng dụng thanh toán điện tử.

    Du khách săn mây tại Cao nguyên Đồng Cao. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    Kế hoạch xác định phát triển đồng bộ hạ tầng giao thông, hạ tầng số và các công trình phục vụ du lịch; chú trọng bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn, nhà vệ sinh, điểm dừng nghỉ, trung tâm hỗ trợ du khách, không gian đi bộ, kinh tế đêm và các tổ hợp dịch vụ – thương mại – du lịch.

    Thành phố cũng định hướng huy động nguồn lực xã hội để phát triển các dự án du lịch – văn hóa – thể thao – giải trí – mua sắm, khu nghỉ dưỡng, cơ sở lưu trú chất lượng cao theo hướng xanh, bền vững, hài hòa với cảnh quan và hệ sinh thái.

    Gắn bảo tồn di sản với chuyển đổi số, mở rộng không gian du lịch

    Bắc Ninh xác định tập trung phát triển các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng cao như du lịch văn hóa – di sản – nghỉ dưỡng; du lịch cộng đồng và làng nghề; du lịch sinh thái, nông nghiệp – nông thôn; nghỉ dưỡng, thể thao và golf; du lịch công nghiệp, MICE và du lịch sáng tạo gắn với công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản và công nghệ số.

    Trong đó, các giá trị văn hóa, hệ thống di tích, lễ hội, làng nghề và thiết chế văn hóa, thể thao được xác định là nguồn lực quan trọng để hình thành sản phẩm du lịch.

    Du khách tham quan vườn cam, bưởi tại xã Lục Ngạn. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    Thành phố đồng thời đẩy mạnh quảng bá thương hiệu “Bắc Ninh – Miền di sản”, mở rộng liên kết với vùng Thủ đô và các địa phương, tăng cường ứng dụng truyền thông, marketing số; tổ chức các hội nghị, hội thảo, hội chợ và sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch để thu hút khách.

    Công tác đào tạo nhân lực cũng được chú trọng, tập trung vào nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng số, hướng dẫn viên và nguồn nhân lực phục vụ du lịch cộng đồng.

    Đáng chú ý, danh mục nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026-2030 gồm 10 nhóm nhiệm vụ, trong đó có hoàn thiện cơ chế, chính sách; đầu tư kết cấu hạ tầng; xây dựng sản phẩm đặc trưng; bảo tồn và phát huy giá trị di sản; phát triển nguồn nhân lực; xúc tiến, quảng bá và xây dựng thương hiệu; tăng cường liên kết; phát triển khu du lịch trọng điểm; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuẩn bị các điều kiện để đề xuất đăng cai Năm Du lịch Quốc gia 2029 khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

    Cùng với việc triển khai Kế hoạch, Thường trực Thành ủy Bắc Ninh dự kiến tổ chức làm việc với lãnh đạo UBND thành phố và một số sở, ngành để nắm tình hình, kết quả phát triển du lịch, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và định hướng nhiệm vụ, giải pháp khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế du lịch trên địa bàn.

    Nội dung chuẩn bị tập trung vào thực trạng, sản phẩm và điểm đến, thu hút khách, doanh thu, hạ tầng, nguồn lực đầu tư, những khó khăn về quy hoạch, đất đai, giao thông, cơ sở lưu trú, nguồn nhân lực, liên kết và quảng bá, đồng thời đề xuất các dự án, sản phẩm và giải pháp ưu tiên trong thời gian tới.

    Danh Lam/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-dat-muc-tieu-dua-du-lich-tro-thanh-nganh-kinh-te-quan-trong-mui-nhon-c56167310.epi

  • Vị thế đặc biệt của cao tốc Bến Lức – Long Thành

    Theo phương án của Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), cao tốc Bến Lức – Long Thành dự kiến thông xe toàn tuyến vào đêm 30/9. Từ đây, tuyến cao tốc dài gần 58 km sẽ hình thành trục kết nối trực tiếp cao tốc TP.HCM – Trung Lương với Quốc lộ 51, tạo thêm một hành lang Đông – Tây qua phía nam TP.HCM.

    Cao tốc Bến Lức – Long Thành, tuyến đường nhanh nhất để người dân miền Tây đi sân bay Long Thành, đang trong giai đoạn nước rút trước thời điểm vận hành thử. Đáng chú ý, tuyến đường còn kết nối các trung tâm sản xuất tại Long An (cũ), TP.HCM và Đồng Nai với hệ thống cảng biển và các hạ tầng logistics quy mô lớn tại khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Vị trí, hướng tuyến cao tốc Bến Lức – Long Thành. Đồ họa: Quỳnh Danh.

    Kết nối Long An với các đầu mối logistics

    Theo Savills, đối với các doanh nghiệp sản xuất và logistics, việc hình thành tuyến Bến Lức – Long Thành có thể rút ngắn hành trình giữa các khu vực công nghiệp phía tây và phía đông TP.HCM. Đồng thời, dự án còn hỗ trợ doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tổ chức chuỗi cung ứng và vận chuyển hàng hóa.

    Nhận định về vai trò của tuyến cao tốc, ông John Campbell, Trưởng bộ phận Dịch vụ Bất động sản Công nghiệp, Savills Việt Nam, cho biết: “Đối với Long An, tầm quan trọng của cao tốc Bến Lức – Long Thành không đơn thuần là việc mở thêm một tuyến cao tốc. Nó tạo ra một kết nối đông – tây mạnh mẽ hơn nhiều trên khắp miền Nam Việt Nam và đưa các khu công nghiệp phía tây TP.HCM đến gần hơn với các hạ tầng quy mô lớn đang được phát triển ở phía đông”.

    Đại diện Savills Việt Nam phân tích tác động của cao tốc Bến Lức – Long Thành được nhìn nhận rõ hơn trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng lớn trong khu vực đang đồng thời được triển khai và hoàn thiện.

    Theo ông, sân bay quốc tế Long Thành dự kiến hướng tới khai thác thương mại từ tháng 12 năm nay, sau giai đoạn thử nghiệm dự kiến từ tháng 9 đến tháng 11. Khi đi vào hoạt động, sân bay sẽ bổ sung năng lực kết nối hàng không quốc tế cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt phù hợp với các ngành có yêu cầu cao về tốc độ và giá trị hàng hóa như điện tử, công nghệ cao và thiết bị y tế.

    Trong khi đó, cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải tiếp tục đóng vai trò là cửa ngõ hàng hải quốc tế của khu vực. Cùng với Quốc lộ 51 và các tuyến kết nối Biên Hòa – Vũng Tàu, mạng lưới này giúp tăng khả năng tiếp cận cảng biển của các khu công nghiệp tại phía tây và phía đông TP.HCM.

    Bên cạnh đó, dự án đường Vành đai 3 TP.HCM và kế hoạch triển khai Vành đai 4 sẽ tiếp tục mở rộng liên kết giữa các cực sản xuất, logistics và đô thị trong vùng, qua đó hỗ trợ hình thành một mạng lưới công nghiệp có tính kết nối cao hơn.

    Diện mạo cao tốc Bến Lức – Long Thành trước thời điểm thông xe toàn tuyến. Ảnh: Quỳnh Danh.

    Lãnh đạo Savills Việt Nam cho biết trong bối cảnh quỹ đất công nghiệp tại một số thị trường truyền thống như Bình Dương (cũ) và Đồng Nai ngày càng hạn chế, Long An (cũ) đang có lợi thế về dư địa phát triển và khả năng cung cấp đa dạng các loại hình bất động sản công nghiệp.

    Ông dẫn chứng số liệu của Savills cho thấy Long An (cũ) hiện có khoảng 4.000 ha đất khu công nghiệp, trong đó khoảng 3.000 ha đã được cho thuê, tương đương tỷ lệ lấp đầy khoảng 82%. Thị trường cũng có khoảng 3,2 triệu m2 diện tích nhà xưởng và kho xây sẵn (RBF/RBW), với tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%.

    Nguồn cung này trải dài trên các khu vực công nghiệp trọng điểm như Bến Lức, Cần Giuộc và Đức Hòa, với các sản phẩm hướng đến nhiều nhóm nhu cầu khác nhau.

    Một số dự án đáng chú ý gồm KCN Sinh thái Prodezi, quy mô 400 ha, định hướng phát triển hạ tầng xanh, năng lượng tái tạo và thu hút các ngành công nghệ cao; cùng Phú An Thạnh của KCN Vietnam, với quy mô 13,4 ha nhà xưởng xây sẵn, cách tuyến cao tốc Bến Lức – Long Thành khoảng 20 km.

    Theo ông John Campbell, sự kết hợp giữa quỹ đất, nguồn cung nhà xưởng xây sẵn và khả năng kết nối ngày càng hoàn thiện có thể giúp Long An (cũ) tiếp tục mở rộng vai trò trong bản đồ công nghiệp phía Nam, đặc biệt đối với các doanh nghiệp ưu tiên tốc độ triển khai và khả năng tiếp cận thị trường.

    Hạ tầng tạo lợi thế hút FDI

    Cao tốc Bến Lức – Long Thành là một trong nhiều dự án hạ tầng đang được triển khai tại Việt Nam. Savills nhận định sự cải thiện của hạ tầng diễn ra trong bối cảnh dòng vốn đầu tư vào sản xuất tại Việt Nam tiếp tục tập trung vào các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

    Theo dữ liệu Savills, trong 6 tháng đầu năm nay, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, trong đó vốn FDI đăng ký mới vào ngành chế biến, chế tạo đạt 10,71 tỷ USD. Riêng lĩnh vực điện tử ghi nhận mức tăng đáng kể, từ khoảng 985 triệu USD lên 7,03 tỷ USD, cho thấy sự hiện diện ngày càng rõ của các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện tử và công nghệ cao.

    Trong bối cảnh này, lợi thế cạnh tranh của một địa điểm công nghiệp không chỉ nằm ở quỹ đất hay chi phí, mà còn ngày càng phụ thuộc vào khả năng kết nối hiệu quả với các trung tâm sản xuất, sân bay, cảng biển và mạng lưới giao thông liên vùng.

    Ông John Campbell nhận định giá trị thực sự đến từ hiệu ứng mạng lưới. Một tuyến cao tốc, sân bay hay cảng biển có giá trị công nghiệp lớn hơn khi nó kết nối hiệu quả với các hạ tầng khác.

    “Miền Nam Việt Nam đang từng bước tạo ra mạng lưới đó, và điều này mở rộng số lượng các địa điểm có thể cạnh tranh thực sự cho các khoản đầu tư sản xuất và logistics chất lượng cao”, đại diện Savills nói.

    Thảo Liên

    Nguồn https://baomoi.com/vi-the-dac-biet-cua-cao-toc-ben-luc-long-thanh-c56167226.epi

  • Rà soát, hoàn thiện hai dự án luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên biển

    Hoàn thiện 2 dự án luật

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Tại cuộc họp, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Bộ đã tiếp thu các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, các cơ quan liên quan để hoàn thiện 2 dự án luật; bảo đảm đồng bộ với các dự án luật liên quan, quy định chuyển tiếp và điều kiện thi hành.

    Về dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên xin ý kiến về một số nội dung trong Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan thẩm tra, tập trung vào nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường; kiểm soát xả thải gắn với khả năng chịu tải của nguồn nước; phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết thủ tục môi trường đối với dự án liên tỉnh; yêu cầu năng lực đối với tổ chức tư vấn môi trường; nhận diện các yếu tố nhạy cảm trong đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và tần suất kiểm kê khí nhà kính…

    Trong đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cân nhắc thể chế hóa yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát xả thải trên cơ sở nồng độ, tải lượng và khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước theo mùa, gắn với công khai khả năng chịu tải của lưu vực sông. Đồng thời, đề nghị làm rõ phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM, cấp giấy phép môi trường và trách nhiệm điều phối của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với các vấn đề môi trường liên tỉnh.

    Cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát yêu cầu về năng lực đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường, cân nhắc cơ chế quản lý theo hướng công khai, minh bạch và tăng cường chế tài xử lý vi phạm; đồng thời làm rõ các tiêu chí năng lực ngay trong luật nếu tiếp tục quy định. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đề nghị rà soát việc nhận diện tác động đến di sản văn hóa, di dân tái định cư trong báo cáo ĐTM; bổ sung các yếu tố nhạy cảm như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp cho sinh hoạt, di sản văn hóa, di dân tái định cư quy mô lớn và quy định tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp với đặc thù ngành, chi phí tuân thủ và năng lực thẩm định.

    Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên báo cáo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Về Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), các nội dung được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp thu, giải trình tập trung vào quy hoạch không gian biển; cơ sở dữ liệu dùng chung; kiểm soát ô nhiễm và trách nhiệm bồi thường; chính sách thu hút đầu tư; thẩm định, giao khu vực biển; phân cấp, phân quyền và hoạt động nhận chìm ở biển…

    Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, các hoạt động trên biển phải tuân thủ quy hoạch không gian biển, phù hợp mục đích, phạm vi và phương thức sử dụng; việc phân định các khu vực chức năng như nuôi trồng thủy sản, điện gió, cáp quang phải bảo đảm không chồng chéo và phù hợp pháp luật chuyên ngành. Dự thảo cũng quy định xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thống nhất, dùng chung, có cơ chế tích hợp, chia sẻ, cập nhật và phân cấp quyền tiếp cận.

    Về kiểm soát ô nhiễm, dự thảo quy định nguyên tắc xác định trách nhiệm, xử lý vi phạm và bồi thường thiệt hại, cùng cơ chế phối hợp, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp gây ô nhiễm và hỗ trợ người dân. Về thu hút đầu tư kinh tế biển, Bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính rà soát chính sách hỗ trợ, bảo đảm phù hợp pháp luật về đầu tư, thuế.

    Đối với thẩm định, giao khu vực biển, Bộ đề xuất tiếp tục lấy ý kiến các cơ quan Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Công Thương và cơ quan liên quan, nhất là đối với khu vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh; đồng thời làm rõ phân cấp, phân quyền giữa các cấp. Đối với hoạt động nhận chìm ở biển, Bộ tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định theo hướng đơn giản, nhanh gọn, không phát sinh thủ tục không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu và quản lý chất nhận chìm.

    Hài hòa lợi ích phát triển kinh tế với cộng đồng ven biển

    Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN.

    Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, theo pháp luật về ngân sách nhà nước, việc cân đối, bố trí ngân sách nhà nước cần đảm bảo tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện đất nước trong từng giai đoạn cụ thể. Việc luật hóa mức sàn (tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước) chi sự nghiệp bảo vệ môi trường sẽ tạo sự cứng nhắc trong phân bổ ngân sách. Vì vậy, không quy định cứng tỷ lệ tối thiểu mà thực hiện theo các văn bản của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ chỉ đạo điều hành.

    Thống nhất với phương án giải trình về kiểm soát xả thải vào nguồn nước mặt, Phó Thủ tướng nhấn mạnh, việc cấp phép cần dựa trên đánh giá khả năng chịu tải thực tế của nguồn nước, bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, đồng thời phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện quy định, làm rõ các trường hợp không được phép xả thải và biện pháp kiểm soát để bảo đảm cơ sở khoa học, chặt chẽ trong quá trình thực hiện.

    Liên quan đến phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM của các dự án liên tỉnh, Phó Thủ tướng yêu cầu rà soát kỹ quy định hiện hành, nhất là cơ chế phối hợp và xác định trách nhiệm giữa các cơ quan, địa phương khi dự án có phạm vi hoạt động trên địa bàn nhiều tỉnh.

    Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu phương án phân cấp phù hợp, bảo đảm rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

    Phó Thủ tướng lưu ý, cùng với việc nâng cao chất lượng thẩm định ĐTM, cần tăng cường hậu kiểm, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau khi dự án được phê duyệt. Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra thực tế một số dự án liên tỉnh đã được phân cấp thẩm định để có thêm cơ sở đánh giá, hoàn thiện quy định.

    Với các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn môi trường, Phó Thủ tướng yêu cầu tiếp tục rà soát quy định về điều kiện năng lực; xác định rõ những nội dung cần quy định trong luật và nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm chặt chẽ, khả thi.

    Về tần suất kiểm kê khí nhà kính, Phó Thủ tướng đề nghị rà soát kỹ các cam kết, yêu cầu quốc tế có liên quan; trên cơ sở đó xác định tần suất phù hợp, tránh phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp.

    Với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát, tiếp thu đầy đủ, phù hợp các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội và cơ quan thẩm tra; bám sát kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để hoàn thiện dự thảo và báo cáo giải trình, tiếp thu.

    Quy hoạch không gian biển liên quan đến nhiều lĩnh vực và luật chuyên ngành, vì vậy phải được rà soát kỹ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định pháp luật khác. Nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội cần được quy định trong luật; những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt, khả thi.

    Phó Thủ tướng cũng yêu cầu nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan về hoạt động nhận chìm ở biển, bảo đảm quy định rõ ràng, thuận lợi trong tổ chức thực hiện.

    Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý, việc giao, cho thuê, quản lý và khai thác các khu vực biển cần hài hòa giữa yêu cầu phát triển kinh tế, quản lý tài nguyên với lợi ích chính đáng của cộng đồng dân cư ven biển. Các quy định cần tạo điều kiện để địa phương quản lý, khai thác hiệu quả khu vực biển, phát triển các dịch vụ phù hợp, bảo đảm vệ sinh, cảnh quan, đồng thời duy trì khả năng tiếp cận biển của người dân, tránh phát sinh những rào cản không cần thiết.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục hoàn thiện hai dự án luật cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, khả thi trước khi trình cấp có thẩm quyền.

    Diệp Trương/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-hoan-thien-hai-du-an-luat-ve-bao-ve-moi-truong-va-tai-nguyen-bien-c56167665.epi

  • Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh

    Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các Phó Chủ tịch Quốc hội tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất. Ảnh: Hồ Long

    Bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi trong tổ chức thực hiện

    Các nội dung sửa đổi, hoàn thiện và bổ sung của dự thảo Luật tập trung vào chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực biển; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

    Tại Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, các đại biểu cho rằng, các nội dung dự thảo Luật cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, dự thảo Luật điều chỉnh nhiều quan hệ liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, công trình trên biển, vùng bờ và bảo vệ môi trường liên quan trực tiếp với các luật chuyên ngành khác nên một số nội dung trong dự thảo Luật cần được rà soát, làm rõ để bảo đảm thống nhất.

    ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) cơ bản thống nhất với Tờ trình dự án Luật và nội dung dự thảo Luật. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị, cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh lý để bảo đảm tính thống nhất về bản chất pháp lý cũng như cơ chế tài chính đối với các hình thức sử dụng khu vực biển được quy định trong dự thảo Luật.

    ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hồ Long

    Khoản 1, Điều 24 dự thảo Luật quy định nhà nước xác lập ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển bằng ba hình thức: giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, cơ quan soạn thảo nên tách bạch về cơ chế tài chính đối với ba hình thức giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Cần làm rõ đối với trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thì căn cứ nào làm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền, căn cứ tính tiền, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và hình thức nộp tiền? Theo đại biểu, có thể nghiên cứu chỉnh lý khoản 4, Điều 32 dự thảo Luật theo hướng quy định riêng hình thức nộp tiền đối với trường hợp được cho thuê khu vực biển và trường hợp đăng ký sử dụng khu vực biển thay vì quy định chung trong cùng một điểm như dự thảo hiện nay.

    Cùng với đó, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, rà soát khoản 1 và khoản 2 của Điều 32 để bảo đảm thống nhất với khoản 4, Điều 32 và khoản 1, Điều 24. Đại biểu nhấn mạnh, việc chỉnh lý lần này nhằm tránh áp dụng cùng một cơ chế tài chính cho những hình thức có nội hàm bản chất pháp lý khác nhau đã được nêu rõ trong dự thảo luật. Đồng thời, bảo đảm tính minh bạch, dễ thực hiện và tránh phát sinh cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng.

    Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân, tại khoản 6, khoản 7 và khoản 9 của Điều 33, dự thảo Luật quy định các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng dự án chia tách doanh nghiệp, ký quỹ bảo đảm, quản lý dữ liệu biên giới… Đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cho rằng, các nội dung quy định tại điều này thiên về quản lý nhà nước hoặc hệ quả pháp lý khi chuyển nhượng chứ không thuần tuý quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân. Do vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh lý lại về mặt kỹ thuật lập pháp cho phù hợp.

    Cùng với đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát điểm c, khoản 6, Điều 33 dự thảo Luật để thống nhất với khoản 4, Điều 34 dự thảo Luật. Bởi lẽ, tại điểm c khoản 6 điều 33 quy định trường hợp giao dịch làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà nước đầu tư nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của các cơ quan quốc phòng – an ninh, ngoại giao.

    Tuy nhiên, quy định tiếp theo yêu cầu mọi trường hợp làm thay đổi chủ sở hữu hưởng lợi, quyền chi phối, quyền kiểm soát doanh nghiệp hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đều phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của cơ quan quốc phòng – an ninh, ngoại giao. Theo đại biểu, quy định này rất rộng, có thể làm phát sinh thêm nhiều thủ tục chồng lấn với khoản 4, Điều 34. Nêu ra điểm bất hợp lý này, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đề nghị, chỉ áp dụng một cơ chế kiểm soát đặc biệt đối với giao dịch thuộc khu vực, lĩnh vực có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng – an ninh, đối ngoại, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển hoặc các trường hợp pháp luật về đầu tư quy định phải kiểm soát. Đại biểu cũng đề nghị, cơ quan soạn thảo làm rõ tiêu chí về chủ sở hữu, hưởng lợi quyền chi phối, quyền kiểm soát để bảo đảm minh bạch, khả thi trong tổ chức thực hiện.

    Thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên

    Ở góc nhìn khác, ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) cho rằng, đối với rất nhiều người dân sống ven biển, biển không chỉ là không gian phát triển du lịch, dịch vụ mà còn là nơi mưu sinh, neo đậu tàu thuyền, khai thác thủy sản và sinh hoạt của cộng đồng.

    ĐBQH Nguyễn Minh Tâm (Quảng Trị) phát biểu. Ảnh: Hồ Long

    Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tâm đồng tình với việc dự thảo Luật đưa quyền tiếp cận biển của người dân thành một nội dung được quy định trong luật. Tuy nhiên, đại biểu cũng cho rằng, quyền tiếp cận biển của người dân còn liên quan đến nhiều loại quy hoạch, dự án và quyền sử dụng đất, khu vực biển. Do đó, cần quy định rõ để bảo đảm quyền tiếp cận của người dân; đồng thời, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng khu vực, tránh quy định cứng trong luật dẫn tới khó thực hiện.

    Đại biểu Nguyễn Minh Tâm cho rằng, việc dự thảo Luật quy định quy hoạch, dự án và việc giao, cho thuê khu vực biển phải bảo đảm lối tiếp cận biển công cộng; tổ chức, cá nhân không được cản trở quyền tiếp cận này là định hướng đúng, song cần cụ thể hơn để sau này chính quyền địa phương có căn cứ kiểm tra và xử lý.

    ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng

    Cũng quan tâm đến quyền lợi của người dân, ĐBQH Lê Đào An Xuân (Đắk Lắk) tán thành với dự thảo Luật bổ sung nhóm chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Song, đại biểu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư biển và hỗ trợ người dân phải chuyển đổi nghề, chuyển đổi sinh kế do yêu cầu bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ môi trường và tổ chức lại không gian biển.

    Đại biểu Lê Đào An Xuân đề nghị, cần thiết kế chính sách ưu đãi theo mức ưu tiên, tránh tình trạng nhiều đối tượng cùng được hưởng ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, đại biểu Lê Đào An Xuân nhận thấy, dự thảo Luật hiện tổng hợp khá nhiều ưu đãi từ các dự thảo luật khác. Trong đó, nhiều nội dung trùng lặp lại với các chính sách ưu đãi được nêu tại Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đầu tư, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo… Do vậy, đại biểu đề nghị, các chính sách ưu đãi về thuế đất đai, đầu tư, tín dụng, đối tác công – tư, khoa học – công nghệ nên được thực hiện theo luật chuyên ngành. Luật này chỉ quy định các chính sách gắn với sử dụng không gian biển, tiền sử dụng biển, hạ tầng biển dùng chung, địa bàn biển khó thu hút đầu tư, chuyển đổi sinh kế cộng đồng và bảo vệ phục hồi hệ sinh thái biển.

    Nhật An

    Nguồn https://baomoi.com/hoan-thien-the-che-phat-trien-quoc-gia-bien-manh-c56167157.epi

  • Cải tạo, nâng cấp ĐT.108 đoạn Thuận Châu – Co Mạ

    Trung tâm xã Co Mạ.

    Dự án được triển khai trên địa bàn các xã Thuận Châu, Nậm Lầu và Co Mạ, thời gian thực hiện từ năm 2026 đến 2030. Trong đó, năm 2026 sẽ tập trung chuẩn bị dự án; giai đoạn 2027-2030 thực hiện xây dựng, hoàn thành công trình và quyết toán dự án.

    Theo Quyết định, tuyến đường được cải tạo, nâng cấp với tổng chiều dài khoảng 40 km, chia thành 3 đoạn có quy mô đầu tư khác nhau. Trong đó, đoạn Km0-Km1+033 được xây dựng theo tiêu chuẩn đường đô thị, nền đường rộng 17,5 m, mặt đường 10,5 m, hè phố rộng 7m, đồng thời đầu tư hệ thống điện chiếu sáng, thoát nước, cây xanh và an toàn giao thông đồng bộ.

    Đoạn từ Km1+033 đến Km3+200 được đầu tư phân kỳ, tận dụng đường hiện có, cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp III miền núi. Đoạn Km3+200-Km40 tiếp tục tận dụng tối đa tuyến đường cũ, cải tạo, nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường cấp V miền núi; các công trình trên tuyến và hệ thống an toàn giao thông được xây dựng đồng bộ.
    Dự án nhằm khắc phục tình trạng tuyến đường hư hỏng, xuống cấp, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, nâng cao khả năng khai thác, tạo thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế – xã hội; từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và góp phần củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn.

    UBND tỉnh giao các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định; đồng thời tham mưu phân bổ, giao kế hoạch vốn phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn và tiến độ thực hiện dự án.

    Tin, ảnh: Việt Anh

    Nguồn https://baomoi.com/cai-tao-nang-cap-dt-108-doan-thuan-chau-co-ma-c56167133.epi

  • An Giang: Thông qua Quy hoạch Đặc khu Thổ Châu

    Theo Quyết định số 364/QĐ-UBND của UBND Đặc khu Thổ Châu phạm vi lập quy hoạch Đặc khu Thổ Châu bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên 1.398,04 ha của 8 hòn đảo (Thổ Chu, Hòn Khô, Hòn Nhạn, Hòn Cao Cát, Hòn Từ, Hòn Xanh, Hòn Đá Bàn, Hòn Cao) và 235 ha khu vực dự kiến lấn biển.

    Quang cảnh Hội nghị thông qua quy hoạch

    Đồ án quy hoạch đặt ra các mục tiêu tăng trưởng cụ thể theo hai giai đoạn. Về dân số, dự kiến quy mô sẽ đạt khoảng 4.000 – 4.500 người vào năm 2035 và tăng lên 8.000-10.000 người vào năm 2050.

    Ngành du lịch hải đảo tại Đặc khu Thổ Châu được kỳ vọng bứt phá mạnh mẽ, hướng tới đón 100.000-150.000 lượt khách/năm vào năm 2050.

    Không gian Đặc khu Thổ Châu sẽ được tổ chức tập trung với các phân vùng chức năng rõ rệt. Trong đó, Bãi Ngự tiếp tục giữ vai trò là trung tâm hành chính, chính trị và kinh tế. Khu vực Bãi Dong rộng 76 ha được quy hoạch thành cảng lưỡng dụng và trung tâm hậu cần nghề cá hiện đại.

    Đặc biệt, Đặc khu Thổ Châu sẽ có khu lấn biển 235 ha nhằm tạo quỹ đất phát triển hạ tầng đô thị, cảng biển và dịch vụ du lịch.

    Một góc Đặc khu Thổ Châu (Ảnh: Phương Vũ)

    Để đồng bộ hạ tầng, Đặc khu Thổ Châu sẽ hoàn thiện mạng lưới đường vòng quanh đảo, nâng cấp hệ thống cấp điện (đạt 21 MW năm 2050) và ứng dụng giải pháp lọc nước biển thành nước ngọt để đảm bảo nguồn cung nước sinh hoạt bền vững.

    Đặc khu Thổ Châu có vị trí chiến lược của vùng biển Tây Nam. Định hướng phát triển cốt lõi của Đặc khu Thổ Châu là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch sinh thái với nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng-an ninh và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

    Phú Khởi

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-thong-qua-quy-hoach-dac-khu-tho-chau-c56167201.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!