Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Chủ động mọi phương án thi công để tuyến Bắc Kạn – Ba Bể – Na Hang về đích đúng tiến độ

    Tham gia đoàn công tác có đồng chí Nguyễn Thế Mạnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng chí Đinh Quang Tuyên, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương, chủ đầu tư và đơn vị thi công.

    Lãnh đạo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Giao thông và Nông nghiệp phía Bắc báo cáo tiến độ và những khó khăn, vướng mắc của Dự án.

    Theo báo cáo của Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình Giao thông và Nông nghiệp phía Bắc – đơn vị chủ đầu tư: Dự án xây dựng tuyến đường Bắc Kạn – hồ Ba Bể kết nối sang Na Hang (Tuyên Quang) có tổng mức đầu tư 3.837 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2020-2026. Đoạn Bắc Kạn – hồ Ba Bể dài 39km, nền đường rộng 9m; các đoạn còn lại kết nối sang Na Hang dài khoảng 39,25km, nền đường rộng 7,5-12m.

    Đến ngày 29-9, giá trị xây lắp toàn dự án đạt hơn 2.385 tỷ đồng, tương đương 82,86% giá trị hợp đồng. Đoạn Km0-Km37 đã đưa vào sử dụng năm 2025; đoạn từ Km37 đến cuối tuyến đạt 70,62% giá trị xây lắp, hoàn thành 5/9 cầu.

    Khu vực thi công nút giao Ba Bể – Na Hang.

    Tại cầu Bắc Lè, xã Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang, đơn vị thi công đã hoàn thành 5/8 trụ cầu. Việc thi công các trụ còn lại gặp khó khăn do mực nước hồ thủy điện Tuyên Quang dâng cao. Riêng trụ T5 yêu cầu mực nước không quá cao trình 105m, trong khi hiện ở khoảng 116,9m.

    Đối với vướng mắc thuộc gói thầu số 63 tại thôn Nà Bản, xã Nam Cường, khu vực xuất hiện vết nứt và sạt lở gần nhà 6 hộ dân cần phải di chuyển ra khỏi khu vực để đảm bảo thi công. Tuy nhiên, các hộ này đều xây nhà trên đất rừng sản xuất không đủ điều kiện tái định cư. Trong đó, 4 hộ không được bồi thường tài sản, các hộ chưa đồng thuận di chuyển.

    Các đồng chí lãnh đạo tỉnh kiểm tra tiến độ thi công hạng mục cầu Tà Han, xã Nam Cường.

    Qua kiểm tra thực tế, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy chỉ đạo đối với vướng mắc tại gói thầu 63, không thực hiện quy trình bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các trường hợp không đủ điều kiện. Đồng thời rà soát, vận dụng chế độ hỗ trợ hộ nghèo, hộ xóa nhà dột nát từ các nguồn kinh phí hợp pháp, yêu cầu xã Nam Cường tập trung tuyên truyền vận động nhân dân di dời để đảm bảo thi công dự án.

    Đối với gói thầu 64 khó khăn thi công trụ T5, cầu Bắc Lè do mực nước dâng cao, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu khẩn trương nghiên cứu, thay đổi phương án và biện pháp thi công phù hợp với thực tế, không chờ đợi, bảo đảm tiến độ giải ngân của từng gói thầu và tiến độ chung của dự án.

    Hạng mục cầu Tà Han, xã Nam Cường đang được đẩy nhanh tiến độ thi công.

    Cầu Tà Han, xã Nam Cường, là một trong những hạng mục thi công rất khó khăn, kỹ thuật phức tạp. Cầu có chiều cao từ đế móng đến mặt cầu khoảng 68m, là cầu cao thứ hai trong số các cầu cạn tại Việt Nam. Đến nay, công tác thi công đang bảo đảm tiến độ, kỹ thuật, an toàn theo yêu cầu.

    Chủ đầu tư cho biết, sau khi khắc phục một số khó khăn, vướng mắc được chỉ ra sau kiểm tra, sẽ phấn đấu hoàn thành toàn tuyến theo đúng tiến độ đã đề ra.

    Các đồng chí lãnh đạo tỉnh kiểm tra tiến độ thi công hạng mục cầu Bắc Lè, kết nối xã Nam Cường với xã Hồng Thái, tỉnh Tuyên Quang.

    Khi hoàn thành, tuyến đường này sẽ tăng kết nối giữa khu vực Bắc Kạn – hồ Ba Bể – Na Hang, tạo thuận lợi cho đi lại, giao thương, liên kết du lịch và khai thác tiềm năng phát triển của các địa phương dọc tuyến.

    Mạnh Nghịnh- Nguyên Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/chu-dong-moi-phuong-an-thi-cong-de-tuyen-bac-kan-ba-be-na-hang-ve-dich-dung-tien-do-c56168375.epi

  • Tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán

    Dự án nhà ở xã hội đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. (Ảnh: Đào An/TTXVN)

    Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký ban hành Nghị quyết số 303/NQ-CP ngày 30/9/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026-2030.

    Nghị quyết nêu rõ nhằm đẩy mạnh triển khai Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030,” Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12/1/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026-2030.

    Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành và địa phương, tình hình phát triển nhà ở xã hội đã có nhiều chuyển biến; thể chế, chính sách dần được hoàn thiện góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, xây dựng và bảo đảm tiến độ Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội theo kế hoạch đề ra.

    Mặc dù công tác phát triển nhà ở xã hội đã có kết quả tích cực trong thời gian qua nhưng nguồn cung nhà ở xã hội vẫn còn thiếu, cơ cấu sản phẩm nhà ở còn thiên về sở hữu, trong khi nhu cầu cho thuê nhà ở với giá hợp lý của người lao động là rất lớn.

    Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê

    Trong thời gian qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có quan điểm chỉ đạo và định hướng lớn về phát triển nhà ở xã hội trong thời gian tới. Do vậy, Chính phủ thống nhất điều chỉnh mục tiêu của Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030” và giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 cho các địa phương với quan điểm phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm hiện thực hóa quan điểm về “quyền có nơi ở hợp pháp là quyền cơ bản của công dân” và bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận nhà ở an toàn, phù hợp với khả năng chi trả.

    Bên cạnh nhà ở để bán, cần xác định nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược, dài hạn cho số đông người dân, giúp bảo đảm an sinh xã hội, an ninh trật tự, nâng cao năng suất lao động và góp phần ổn định thị trường bất động sản.

    Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, nhất là mô hình chung cư cho thuê có hạ tầng đồng bộ tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu vực phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD), vùng động lực và các hành lang kinh tế quan trọng.

    Ưu tiên bố trí quỹ đất sạch, nguồn vốn ngân sách nhà nước thông qua Quỹ nhà ở của địa phương để phát triển nhà ở cho thuê.

    Không hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản lớn, có năng lực, kinh nghiệm, trách nhiệm xã hội, tham gia phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.

    Tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026-2030 là 899.857 căn

    Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.

    Theo Nghị quyết, Chính phủ giao tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 cho các địa phương là 899.857 căn; trong đó chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua là 708.834 căn; chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê là 191.023 căn.

    Đối với từng địa phương, Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 đối với thành phố Hà Nội là 84.000 căn, Thành phố Hồ Chí Minh 181.257 căn, thành phố Hải Phòng 32.850 căn, thành phố Huế 10.600 căn, thành phố Đà Nẵng 26.279 căn, thành phố Cần Thơ 13.250 căn, thành phố Đồng Nai 60.054 căn…

    Chính phủ yêu cầu các địa phương căn cứ chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao, thực hiện hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của cả nước.

    Bộ Xây dựng có nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp kết quả triển khai của các địa phương, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán

    Chính phủ yêu cầu Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao tại Nghị quyết này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm để triển khai thực hiện; rà soát các dự án đã có trong quy hoạch, Chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được giao.

    Đối với các dự án đã khởi công xây dựng, phải đôn đốc các chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực để thực hiện, quyết tâm hoàn thành trong năm 2026.

    Dự án nhà ở xã hội phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai. (Ảnh: Công Phong/TTXVN)

    Đồng thời, nghiên cứu, chỉ đạo các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán; tổ chức lập, phê duyệt danh mục vị trí khu đất đã được xác định để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; bố trí đủ quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê tại các vị trí thuận lợi, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

    Cùng với đó, có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư đã có sẵn quỹ đất sạch phù hợp với quy hoạch, đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, có đủ năng lực tài chính đề xuất dự án để thực hiện giao chủ đầu tư theo quy định.

    Cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm “luồng xanh,” “luồng ưu tiên”

    Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm “luồng xanh”, “luồng ưu tiên”; thực hiện đồng thời, song song các quy trình về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường; rút ngắn tối đa thời gian thẩm định, phê duyệt dự án, giao đất, cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan đảm bảo cắt giảm tối đa thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

    Một dự án nhà ở xã hội. (Nguồn: Vietnam+)

    Các bộ, ngành có liên quan và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Tăng cường hoạt động giám sát của cộng đồng để các công trình, dự án được thực hiện đúng quy hoạch, thiết kế, đảm bảo chất lượng, tránh thất thoát, lãng phí.

    Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12/1/2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026-2030./.

    Tại Hội nghị giao ban công tác tháng 8 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 của Bộ Xây dựng chiều 4/9 về công tác triển khai đầu tư dự án, ông Lâm Văn Hoàng, Chánh Văn phòng Bộ Xây dựng cho biết lũy kế đến nay, cả nước có 903 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai với quy mô 856.368 căn với tổng mức đầu tư khoảng 790.942 tỷ đồng.

    Trong số đó, 301 dự án hoàn thành, quy mô 201.482 căn, với tổng mức đầu tư khoảng 186.089 tỷ đồng; 314 dự án đã khởi công xây dựng, đang triển khai, quy mô 356.395 căn, với tổng mức đầu tư khoảng 329.116 tỷ đồng; 288 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư, quy mô 298.491 căn, với tổng mức đầu tư khoảng 275.686 tỷ đồng. Như vậy, số lượng dự án đã hoàn thành, khởi công, chấp thuận chủ trương đầu tư đến nay đạt 85% so với chỉ tiêu đã đặt ra tại Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội.

    Riêng từ đầu năm 2026 đến nay, có 108 dự án hoàn thành với quy mô 31.353 căn; 107 dự án khởi công với quy mô 152.186 căn (trong đó 110.982 căn hộ nhà ở xã hội, 41.204 căn hộ để cho thuê).

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/tang-chi-tieu-nha-o-xa-hoi-cho-thue-cho-thue-mua-giam-nha-o-xa-hoi-de-ban-c56168446.epi

  • Siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh: Quy hoạch phải đi cùng chất lượng sống

    Việc mở rộng không gian phát triển sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đang đặt TP. Hồ Chí Minh trước một giai đoạn tái định hình mạnh mẽ, với mô hình siêu đô thị đa cực, đa trung tâm, hệ thống giao thông quy mô lớn và những cực phát triển chuyên biệt.

    Các chuyên gia thảo luận về không gian phát triển mới của TP. Hồ Chí Minh tại diễn đàn. Ảnh: Xuân Anh -TTXVN

    Tuy nhiên, cùng với bài toán tăng trưởng và huy động nguồn lực, các chuyên gia cho rằng quy hoạch chỉ thực sự thành công khi tạo được việc làm, nhà ở, hạ tầng xã hội và môi trường sống phù hợp cho hơn 14 triệu dân hiện nay và các thế hệ cư dân tương lai. 

    Đây là nội dung được các chuyên gia thảo luận tại Diễn đàn “ TP. Hồ Chí Minh tái định hình siêu đô thị – Những siêu dự án kiến tạo diện mạo, chất lượng cuộc sống giai đoạn 2030 – 2035” do Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP.Hồ Chí Minh (HAWA), Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu Xây dựng TP. Hồ Chí Minh (SACA), Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Hội Kiến trúc sư TP. Hồ Chí Minh tổ chức, chiều 30/9.

    *Không gian đa cực, đa chức năng

    Kiến trúc sư Ngô Anh Vũ, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng TP. Hồ Chí Minh, cho biết tầm nhìn dài hạn của TP. Hồ Chí Minh là xây dựng thành phố trở thành một đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại; đến năm 2030 sánh vai với các đô thị Đông Nam Á, đến năm 2045 trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, đổi mới sáng tạo của châu Á và hướng tới thành phố toàn cầu vào năm 2075 hoặc xa hơn.

    Theo định hướng này, cấu trúc mới của TP. Hồ Chí Minh gồm 5 cực động lực, 5 trung tâm vệ tinh, 5 hệ liên kết và 10 vùng quản trị. Đây là sự chuyển đổi đáng kể so với mô hình phát triển trước đây, khi không gian đô thị được tổ chức chủ yếu quanh khu vực trung tâm.

    Trong đó, khu vực lõi TP. Hồ Chí Minh cũ được định hướng trở thành trung tâm quản trị đô thị và tài chính; khu vực phía Đông, (gồm thành phố Thủ Đức cũ và Thủ Dầu Một) phát triển thành cực đổi mới sáng tạo; phía Tây tập trung các chức năng đô thị, y tế, giáo dục; khu vực Bàu Bàng (Bình Dương cũ) phát triển công nghiệp công nghệ cao, logistics; còn khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu và vùng vịnh Gành Rái được định hướng trở thành cực phát triển kinh tế biển, cửa ngõ giao thương quốc tế.

    Ông Nguyễn Đỗ Dũng, CEO enCity trình bày lợi thế kinh tế biển của TP. Hồ Chí Minh tại diễn đàn. Ảnh: Xuân Anh – TTXVN

    Song song với các cực động lực là những trung tâm vệ tinh như Côn Đảo, Long Hải – Hồ Tràm, Hóc Môn – Củ Chi và các khu vực phát triển công nghiệp, dịch vụ, logistics. Mục tiêu là hình thành một “chùm đô thị”, trong đó các khu vực có chức năng bổ trợ, kết nối với nhau thay vì tập trung quá mức vào khu vực lõi.

    Liên quan đến định hướng phát triển kinh tế biển, ông Nguyễn Đỗ Dũng, CEO enCity, cho rằng TP. Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển lớn hơn, trên nền tảng kết nối Cần Giờ với Bà Rịa – Vũng Tàu và các vùng sản xuất phía trong. Tuy nhiên, quy mô phát triển cảng, logistics và công nghiệp biển cũng đặt ra yêu cầu phải tính toán đồng bộ về giao thông, hạ tầng và tác động đến không gian sống.

    Những vấn đề này cho thấy thách thức của TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu tuyến đường, bao nhiêu khu đô thị hay dự án được triển khai, mà ở khả năng biến quy hoạch thành một hệ sinh thái đô thị vận hành hiệu quả. Từ nơi ở, việc làm, giao thông, trường học, bệnh viện đến không gian xanh, mỗi yếu tố đều phải được tính toán trong mối quan hệ với nhau.

    Về giao thông, định hướng mới mở rộng mạng lưới đường bộ, đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị. Thành phố đặt mục tiêu phát triển mạnh hệ thống metro, qua đó thay đổi thói quen di chuyển của người dân và giảm sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân. Cùng với đó là hệ thống khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nghiên cứu – đào tạo và y tế chuyên sâu được phân bổ theo các vùng phát triển.

    Các chuyên gia nhấn mạnh khái niệm “liên kết” trong quy hoạch mới không chỉ dừng ở những tuyến đường. Đó còn là sự kết nối về sản xuất – phân phối, hạ tầng kỹ thuật – hạ tầng xã hội, văn hóa, lịch sử, phong cách sống và chất lượng sống. Không gian đô thị tương lai cũng được tính đến theo hướng đa tầng, gồm không gian ngầm, mặt đất và không gian trên không, cùng sự kết nối giữa không gian xanh và mặt nước.

    *Nâng cao chất lượng sống của cư dân

    Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, Chủ tịch NgoViet Architects & Planners phân tích biến động đời sống dân cư sau quy hoạch tại diễn đàn. Ảnh: Xuân Anh – TTXVN

    Từ góc nhìn đời sống dân cư, Tiến sĩ, Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, Chủ tịch NgoViet Architects & Planners cho rằng, câu hỏi quan trọng nhất của quá trình tái định hình siêu đô thị là người dân sẽ đứng ở đâu trong cấu trúc mới và những thay đổi về không gian sẽ tác động như thế nào đến cơ hội an cư, việc làm và cuộc sống của họ.

    Với việc quy hoạch và xây dựng hàng trăm km metro, hệ thống đường vành đai, các khu đô thị mới và những dự án quy mô lớn, một bộ phận dân cư có thể phải thay đổi nơi ở, việc làm và phương thức sinh hoạt. Trong khi đó, các dự án triển khai tại những khu vực hiện hữu cũng tác động trực tiếp đến người dân thông qua đền bù, giải tỏa và quá trình tái cơ cấu cuộc sống. Vì vậy, cần tránh tình trạng xây dựng đô thị hiện đại nhưng thiếu cư dân sinh sống.

    Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn nhấn mạnh, nguyên tắc phát triển đô thị phải gắn với các trung tâm việc làm tiện ích. Theo đó, mỗi khu đô thị cần được tổ chức để người dân có thể tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế và giải trí trong khoảng 15 phút thông qua các phương tiện giao thông công cộng. Giải quyết nhu cầu nhà ở vì vậy trở thành một phần không thể tách rời của quy hoạch. Một vấn đề khác là khi phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng và giá trị đất quanh các nhà ga tăng lên, làm thế nào để người lao động vẫn có thể sinh sống gần nơi làm việc thay vì bị đẩy ra xa do giá nhà và giá thuê tăng.

    Giải pháp được đề xuất là cần dành một phần quỹ đất công để phát triển nhà ở với giá phù hợp, qua đó bảo đảm người lao động có thể tiếp tục sống trong các khu vực đô thị mới. Đây không chỉ là câu chuyện an sinh mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả vận hành của toàn bộ đô thị, bởi những khu vực có nhiều việc làm cũng cần có lực lượng lao động có khả năng sinh sống tại đó.

    Ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Nội thất TP. Hồ Chí Minh (HAWA) phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: Xuân Anh – TTXVN

    Tương tự, hạ tầng xã hội cũng cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm kinh tế và thu nhập của từng khu vực. Một vùng phát triển tài chính có thể cần những hệ thống dịch vụ khác với vùng công nghiệp, nơi phần lớn người lao động có mức thu nhập thấp hơn. Theo đó, việc tổ chức hạ tầng xã hội phải bảo đảm người dân “sống được với mức lương của họ”, thay vì chỉ tạo ra những không gian đô thị có hình thức hiện đại.

    Ông Nguyễn Chánh Phương, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Nội thất TP. Hồ Chí Minh (HAWA) cho rằng, mỗi bước chuyển mình của thành phố đều tạo ra yêu cầu mới đối với không gian đô thị và đời sống người dân. Những dự án hạ tầng và đô thị quy mô lớn có thể tạo ra các trung tâm phát triển, cơ hội đầu tư mới, đồng thời đặt ra kỳ vọng về môi trường sống tốt hơn, giao thông thuận tiện hơn và không gian công cộng gần gũi hơn với người dân.

    Do đó, bài toán đặt ra không chỉ là tạo dựng một TP. Hồ Chí Minh lớn hơn về quy mô, mà phải hình thành một đô thị có khả năng tăng trưởng, tạo việc làm, cung cấp nhà ở phù hợp và bảo đảm chất lượng sống cho nhiều thế hệ. Khi các cực phát triển, hành lang kinh tế và hệ thống giao thông được kết nối với nhau, giá trị cuối cùng của quy hoạch vẫn được đo bằng một yếu tố gần gũi nhất là người dân có thể an cư, làm việc và cải thiện chất lượng đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần.

    Xuân Anh/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/sieu-do-thi-tp-ho-chi-minh-quy-hoach-phai-di-cung-chat-luong-song-c56168441.epi

  • HĐND TP. Cần Thơ thông qua danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất

    Kỳ họp diễn ra trong thời điểm TP. Cần Thơ đang tập trung cao nhất cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2026;đẩy nhanh tiến độ đầu tư công; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cũng như tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới.

    Các đại biểu chào cờ làm lễ khai mạc Kỳ họp. Ảnh: Vũ Châu

    Phát biểu tại kỳ họp, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP. Cần Thơ Đồng Văn Thanh cho biết, yêu cầu hiện nay của thành phố là đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án, khắc phục tình trạng vốn được bố trí nhưng chậm đưa vào thực hiện, đồng thời bảo đảm việc điều chỉnh, bổ sung vốn phải đúng đối tượng, đúng điều kiện, phù hợp với khả năng triển khai, giải ngân.

    Chủ tịch HĐND TP. Cần Thơ Đồng Văn Thanh phát biểu tại kỳ họp. Ảnh: Vũ Châu

    Trong tháng 9 và 9 tháng năm 2026, tình hình kinh tế – xã hội thành phố tiếp tục đà tăng trưởng và đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều ngành, lĩnh vực đạt mức tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 ước tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 18,91% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2026 ước tăng 11,04% so với cùng kỳ.

    Các chính sách đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Lĩnh vực văn hóa – xã hội được đẩy mạnh. Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được tăng cường. Tình hình quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

    Các đại biểu tham dự kỳ họp. Ảnh: Vũ Châu

    Tại kỳ họp, HĐND thành phố đã xem xét, quyết nghị giao chi tiết, điều chỉnh bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 nguồn vốn ngân sách địa phương; giao chi tiết, điều chỉnh bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2026 nguồn vốn ngân sách địa phương.

    Cùng với đầu tư công, kỳ họp xem xét việc phân bổ nguồn lực thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Trong đó, đối với Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa năm 2026, tổng kinh phí thực hiện trên 81 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Kỳ họp cũng thông qua danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất trên địa bàn với tổng diện tích trên 189 ha, trong đó có 17 công trình, dự án mới, 1 dự án chuyển tiếp.

    Đại biểu bấm nút thông qua Nghị quyết. Ảnh: Vũ Châu

    Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch HĐND thành phố Đồng Văn Thanh đề nghị, trong quá trình tổ chức thực hiện, các đơn vị phải làm phải đúng địa bàn, đúng nội dung, mục tiêu, đối tượng, bảo đảm công khai, minh bạch, tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể. Việc phân bổ, sử dụng nguồn lực tránh dàn trải, chồng chéo, hình thức; đồng thời, quan tâm đánh giá hiệu quả thực tế để mỗi chương trình, mỗi khoản kinh phí được sử dụng thực sự góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.

    Vũ Châu

    Nguồn https://baomoi.com/hdnd-tp-can-tho-thong-qua-danh-muc-cong-trinh-du-an-phai-thu-hoi-dat-c56168368.epi

  • Để hệ thống đê điều được quản lý hiệu quả hơn

    Hội nghị tham vấn chính sách Luật Đê điều (sửa đổi). (Ảnh: Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai)

    Sáng 30/9, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị tham vấn chính sách Luật Đê điều (sửa đổi). Tham dự hội nghị có đại diện một số Ủy ban của Quốc hội, các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia và nhà khoa học.

    Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Luật Đê điều sau thời gian dài thực hiện đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ hệ thống đê, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, nhất là trong duy tu, bảo dưỡng công trình; công tác quản lý, bảo vệ đê; nhất là việc bảo đảm thống nhất với các luật có liên quan và ứng dụng khoa học, công nghệ.

    Trao đổi tại hội nghị, ông Vũ Xuân Thành, Phó Cục trưởng Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai cho biết, cơ quan soạn thảo đã đề xuất ba nhóm chính sách để nghiên cứu sửa đổi Luật Đê điều. Các chính sách tập trung vào cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; rà soát, hoàn thiện quy định về duy tu, bảo dưỡng, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quản lý xe hộ đê; đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý, bảo vệ hệ thống đê.

    Đặc biệt là việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối với việc tham gia ý kiến về nội dung bảo đảm thoát lũ, an toàn đê điều của các dự án đầu tư xây dựng tại bãi sông, bãi nổi hoặc cù lao nơi chưa có công trình xây dựng.

    Ông Vũ Xuân Thành, Phó Cục trưởng Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai. (Ảnh: Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai)

    Góp ý tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, lưu ý, dự thảo cần làm rõ địa phương được quyết định đến đâu, tiêu chí quyết định như thế nào, trách nhiệm của Trung ương ra sao. Đối với trường hợp dự án có tác động liên tỉnh hoặc ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ của cả hệ thống sông, cần có cơ chế xử lý phù hợp. Đồng thời làm rõ cơ chế phân quyền, kiểm soát rủi ro và hậu kiểm. Đây là yêu cầu quan trọng để việc đơn giản hóa thủ tục không làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước đối với hệ thống đê điều.

    Về đề xuất bổ sung quy định nhằm thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong xây dựng, quản lý và bảo vệ đê điều, bà Nguyễn Thị Mai Phương đánh giá đây là chính sách lớn, phù hợp yêu cầu quản lý hiện nay. Tuy nhiên, các giải pháp đưa ra còn đơn giản, chủ yếu dừng ở khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ.

    Bà đề nghị chuyển mạnh sang phương thức quản trị đê điều dựa trên dữ liệu, trong đó phải xác định rõ cơ sở dữ liệu về đê điều, trách nhiệm cập nhật, kết nối, chia sẻ dữ liệu; hệ thống quan trắc và giám sát các vị trí trọng điểm theo thời gian thực. Cùng với đó, dự thảo luật cần thể hiện rõ hơn chính sách phân cấp, phân quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xác định cụ thể trách nhiệm của Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ hệ thống đê điều trên lưu vực sông.

    Bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội góp ý tại hội nghị. (Ảnh: Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai)

    Theo ông Vũ Xuân Thành, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hồ sơ chính sách trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đồng thời, cơ quan soạn thảo cũng đang rà soát phương án xây dựng dự án luật theo hướng sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế toàn diện Luật Đê điều. Các ý kiến tại hội nghị sẽ được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để bảo đảm lựa chọn phương án phù hợp về nội dung, tiến độ và yêu cầu quản lý đê điều trong tình hình mới.

    Việc sửa Luật Đê điều không chỉ nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, mà còn hướng tới đổi mới phương thức quản lý. Khi trách nhiệm được phân định rõ, dữ liệu được cập nhật, kết nối và chia sẻ kịp thời, công tác bảo vệ đê điều sẽ có thêm cơ sở để chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn cho người dân và phục vụ phát triển bền vững.

    TIẾN ĐẠT

    Nguồn https://baomoi.com/de-he-thong-de-dieu-duoc-quan-ly-hieu-qua-hon-c56168415.epi

  • Hà Nội: Nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý thiết chế văn hóa, thể thao

    Các thiết chế văn hoá là nhà hát chưa phát huy được hết giá trị

    Tại phiên họp giải trình của Thường trực HĐND thành phố Hà Nội về việc đầu tư, khai thác, quản lý và sử dụng các thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn ngày 30/9, các đại biểu HĐND thành phố Hà Nội đã nêu thực trạng đầu tư, quản lý và khai thác hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn thành phố chưa thực sự hiệu quả. Theo đó, một số nhà hát, điểm biểu diễn nghệ thuật của thành phố Hà Nội chưa đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hạ tầng phục vụ biểu diễn.

    Làm rõ các nội dung đại biểu quan tâm, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phạm Tuấn Long cho biết, yêu cầu đối với các thiết chế văn hóa, nhất là các rạp, nhà hát, điểm biểu diễn nghệ thuật hiện nay là phải có trang thiết bị hiện đại, tích hợp công nghệ phục vụ biểu diễn, đáp ứng nhu cầu về chỗ ngồi, giao thông tĩnh và hạ tầng dịch vụ phục vụ hoạt động trình diễn, công nghiệp văn hóa. Trong khi đó, một số nhà hát của thành phố hiện nay, như: Nhà hát Xiếc và Tạp kỹ tại 21-25 Thái Thịnh, Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long tại phố Lương Văn Can, Rạp Đại Nam…, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu dẫn đến công suất sử dụng thấp, thậm chí chưa phát huy hết công năng.

    Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phạm Tuấn Long phát biểu tại phiên giải trình. Ảnh: Lê Hải

    Trên cơ sở đánh giá hoạt động và nhu cầu thực tiễn, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất các phương án đối với từng cơ sở. Tại khu vực Nhà hát Xiếc và Tạp kỹ tại 21-25 Thái Thịnh, Sở đề xuất sử dụng ba địa điểm với tổng diện tích khoảng 3.800m2 để xây dựng một địa điểm mới phục vụ công nghiệp văn hóa và hoạt động biểu diễn; đối với Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long tại phố Lương Văn Can, qua đánh giá công năng, Sở nhận thấy cơ sở này không còn đáp ứng yêu cầu và đã báo cáo thành phố cho phép xây dựng lại. Với Rạp Đại Nam, Sở đề xuất sửa chữa, chống xuống cấp; nhà hát cũng đã chủ động sửa chữa nhưng chưa đáp ứng yêu cầu. Đối với các nhà hát khác, như: Rạp Công Nhân, Rạp Chuông Vàng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có kế hoạch, đồng thời kêu gọi xã hội hóa để tham gia đầu tư, khai thác gắn với công nghiệp văn hóa.

    Cùng với rà soát cơ sở vật chất, Sở cũng tập trung đổi mới hoạt động tại các nhà hát. Với các loại hình nghệ thuật truyền thống, như chèo, cải lương…, Sở đã yêu cầu các nhà hát xây dựng sản phẩm mới; bên cạnh phát triển trên chất liệu truyền thống, bổ sung những yếu tố mới và công nghệ vào chương trình. Năm 2026, mỗi đơn vị được giao xây dựng ít nhất hai sản phẩm.

    Các đại biểu tham gia phiên giải trình. Ảnh: Lê Hải

    Sở cũng đẩy mạnh bán vé trên nền tảng số, quảng bá, giới thiệu chương trình nghệ thuật; lựa chọn và đánh giá sản phẩm sau khi kết thúc giai đoạn biểu diễn thử nghiệm.

    Đối với cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đầu tư, khai thác thiết chế văn hóa, thể thao, đồng chí Phạm Tuấn Long cho biết, trong số 21 dự án xã hội hóa về văn hóa, thể thao, Sở đang tổng hợp, phối hợp với các địa phương để đôn đốc thực hiện.

    Thời gian tới, Sở sẽ công bố danh sách các địa điểm kêu gọi xã hội hóa dự án gắn với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm; đồng thời phối hợp với các địa phương rà soát, đánh giá hiệu quả các dự án đã thực hiện trong giai đoạn vừa qua.

    Hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực và tài sản

    Sau buổi làm việc tập trung, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, phiên họp giải trình đầu tiên của Thường trực HĐND thành phố Hà Nội trong nhiệm kỳ 2026-2031 về đầu tư, khai thác, quản lý các thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn thành phố đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

    Tại phiên họp giải trình có 15 đại biểu với 18 lượt trao đổi; 15 lượt trả lời của lãnh đạo các sở, ban, ngành và trả lời của Phó Chủ tịch UBND thành phố. Đây là nguồn dữ liệu phục vụ công tác thẩm tra các dự án, quá trình xem xét, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố, cũng như hoạt động chất vấn tại các kỳ họp.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND thành phố Trần Thế Cương phát biểu chỉ đạo tại phiên giải trình. Ảnh: Lê Hải

    Phát biểu bế mạc phiên họp giải trình, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND thành phố Hà Nội Trần Thế Cương đánh giá, các đại biểu HĐND thành phố đã tập trung trao đổi, yêu cầu giải trình những vấn đề nổi lên qua giám sát và đang được cử tri, nhân dân quan tâm. Lãnh đạo UBND thành phố, các sở, ngành, xã, phường và đơn vị liên quan đã trực tiếp giải trình, làm rõ nhiều nội dung đại biểu trao đổi; phân tích nguyên nhân, trách nhiệm và đề xuất các giải pháp khắc phục.

    Qua phiên họp giải trình có thể khẳng định, thời gian qua, thành phố đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và dành nguồn lực đáng kể cho phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao. Hệ thống thiết chế từ thành phố đến cơ sở từng bước được củng cố; nhiều công trình được đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp; các cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện; hoạt động văn hóa, thể thao cơ bản được duy trì, phục vụ nhu cầu của nhân dân…

    Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cho thấy hiệu quả đầu tư, quản lý và khai thác hệ thống thiết chế vẫn chưa đồng đều, có mặt chưa tương xứng với nguồn lực và tài sản thành phố đã đầu tư; việc phân định giữa quản lý nhà nước, quản lý tài sản và tổ chức hoạt động ở một số nơi chưa rõ. Cơ chế tài chính, khai thác tài sản công, xã hội hóa còn vướng mắc…

    Từ kết quả giám sát và phiên giải trình, Thường trực HĐND thành phố đề nghị UBND thành phố rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, tổ chức lại mạng lưới thiết chế văn hóa, thể thao trên cơ sở Quy hoạch Thủ đô; thống kê số lượng, đánh giá hiện trạng, công năng, phạm vi phục vụ, tần suất sử dụng và hiệu quả hoạt động.

    Quang cảnh phiên giải trình. Ảnh: Lê Hải

    Trên cơ sở đó, phân loại rõ công trình cần đầu tư mới; cải tạo, nâng cấp; bổ sung trang thiết bị, điều chỉnh công năng; công trình có thể sử dụng chung. Nguồn lực phải tập trung vào nơi thực sự cần, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp, hiệu quả thấp. Với dự án đầu tư, ngay từ giai đoạn chuẩn bị phải xác định đơn vị tiếp nhận, mô hình quản lý, nhân lực, kinh phí vận hành, bảo trì và phương án khai thác.

    Cần sớm hoàn thiện mô hình quản lý phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp; phân định rõ quản lý nhà nước, quản lý tài sản và tổ chức hoạt động; xác định trách nhiệm của thành phố, sở chuyên ngành và UBND xã, phường.

    Đối với công trình quy mô lớn trước đây thuộc cấp huyện, nay giao xã, phường quản lý, cần có phương án phù hợp; nghiên cứu cơ chế điều phối, sử dụng chung và tổ chức chương trình cấp thành phố, liên địa bàn đối với công trình có khả năng phục vụ liên xã, liên phường.

    Cần có chính sách nâng tầm các thiết chế văn hóa

    Thường trực HĐND thành phố đề nghị UBND thành phố tạo chuyển biến rõ nét về hiệu quả khai thác, sử dụng thiết chế. Đánh giá phải dựa vào tần suất, công suất khai thác, số người được phục vụ, chất lượng hoạt động và mức độ đáp ứng nhu cầu người dân, không chủ yếu dựa vào số lượng công trình, số hoạt động.

    Bên cạnh đó, cần đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; mở rộng thời gian, đối tượng, phạm vi phục vụ; tăng cường liên kết, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số. Tháo gỡ vướng mắc về khai thác tài sản công, định mức, đơn giá, giao nhiệm vụ, đặt hàng, cơ chế tự chủ; huy động nguồn lực xã hội công khai, minh bạch, đúng quy định, không làm thay đổi mục tiêu phục vụ cộng đồng.

    Đại biểu HĐND thành phố đặt câu hỏi tại phiên giải trình. Ảnh: Văn Tuyến

    Thành phố cũng cần có chính sách quan tâm nâng tầm các thiết chế văn hóa, nghệ thuật cấp thành phố gắn với phát triển công nghiệp văn hóa. Có kế hoạch đầu tư, cải tạo, nâng cấp và đổi mới quản trị, khai thác, đặt trong tổng thể chiến lược phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa của Thủ đô.

    “Xử lý dứt điểm các tồn tại kéo dài, tăng trách nhiệm người đứng đầu. Với công trình sử dụng chưa hiệu quả, sai công năng; vướng mắc về đất đai, tài sản công, liên doanh, liên kết và các đề án chậm hoàn thiện, phải xác định rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm và thời hạn xử lý. Những tồn tại đã kéo dài, qua thanh tra, kiểm tra hoặc nhiều lần kiến nghị không tiếp tục dừng ở rà soát, báo cáo mà phải có phương án, thời hạn cụ thể”, ông Trần Thế Cương nhấn mạnh.

    Thường trực HĐND thành phố đề nghị UBND thành phố triển khai các kiến nghị tại báo cáo giám sát của Ban Văn hóa – Xã hội HĐND thành phố; cụ thể hóa ngay các cam kết tại phiên giải trình thành nhiệm vụ, tiến độ, kết quả. Việc giải quyết được ngay phải làm ngay, việc cần thời gian phải có lộ trình, những vướng mắc cơ chế, chính sách phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền.

    “Thủ đô đang bước vào giai đoạn phát triển mới, tư duy về đầu tư và quản lý thiết chế văn hóa cũng phải đổi mới tương ứng. Việc đầu tư phải để công trình hoạt động hiệu quả, phát huy được giá trị của tài sản, hướng đến nhu cầu và sự thụ hưởng của nhân dân. Kết quả cuối cùng phải được đo bằng sự chuyển biến thực tế tại các thiết chế và bằng mức độ người dân được tiếp cận, tham gia, thụ hưởng các hoạt động văn hóa, thể thao ngày càng tốt hơn. Thường trực HĐND thành phố và các Ban HĐND thành phố sẽ tiếp tục theo dõi, giám sát việc thực hiện”, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND thành phố Trần Thế Cương cho biết.

    Phi Long

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-nang-cao-hieu-qua-dau-tu-quan-ly-thiet-che-van-hoa-the-thao-c56168370.epi

  • EVN thông tin rõ về việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà và bán điện dư lên lưới

    Theo số liệu tổng hợp từ các Tổng công ty Điện lực, tính đến hết tháng 8/2026, toàn hệ thống ghi nhận 134.410 hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ với tổng công suất lắp đặt trên 11.450 MWp. 

    Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nhấn mạnh, trên thực tế, số lượng hệ thống và tổng công suất điện mặt trời mái nhà tự sản xuất và tự tiêu thụ đã lắp đặt có thể cao hơn do một số tổ chức, cá nhân chưa thực hiện thông báo hoặc đăng ký theo quy định.

    Từ ngày Nghị định số 243 có hiệu lực (26/6/2026) đến hết ngày 31/7/2026, toàn hệ thống ghi nhận 5.928 hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ phát triển mới, với tổng công suất khoảng 213,9 MWp. Song, số hệ thống đăng ký bán phần điện dư vẫn còn thấp, chỉ khoảng 1,2% trong tổng số hệ thống được phát triển mới.

    Mới đây, Bộ Công Thương cũng đề nghị UBND cấp tỉnh khẩn trương nghiên cứu xây dựng, báo cáo HĐND cấp tỉnh kịp thời ban hành chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ theo thẩm quyền và nhiệm vụ quy định của Luật Điện lực năm 2024 để áp dụng trên địa bàn tỉnh.

    Cùng với đó, các địa phương cũng được yêu cầu xây dựng chương trình tuyên truyền, hỗ trợ hộ gia đình trên địa bàn trong việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà gắn với BESS theo quy định tại Nghị định số 243/2026. Trong đó cho phép các bên thỏa thuận mua bán sản lượng điện dư với tỷ lệ cao hơn 50% trong giai đoạn từ khi nghị định có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định; sau thời điểm này, tỷ lệ mua điện dư thực hiện theo mức tối đa 50%.

    Kể từ ngày Nghị định số 243 có hiệu lực (26/6/2026) đến hết ngày 31/7/2026, chỉ có 70 khách hàng đăng ký bán điện dư lên lưới. Ảnh: EVNNPC

    EVN cho biết, một số khó khăn chủ yếu mà khách hàng đang gặp phải là chưa nắm đầy đủ các quy định mới về thủ tục thông báo/đăng ký, điều kiện bán điện dư, sản lượng và giá mua điện dư; một số hệ thống đã lắp đặt nhưng chưa thực hiện thông báo/đăng ký theo quy định; hồ sơ kỹ thuật còn phụ thuộc nhiều vào đơn vị cung cấp, lắp đặt thiết bị.

    Theo đó, EVN có hướng dẫn cụ thể hơn về những nội dung được các Tổng công ty Điện lực kiến nghị liên quan đến lắp đặt điện mặt trời mái nhà và bán điện dư lên lưới.

    Cụ thể, về nội dung thỏa thuận mua sản lượng điện dư với tỷ lệ cao hơn 50% trong hợp đồng và tỷ lệ tối đa có thể mua, EVN cho biết Nghị định số 243 quy định: “Từ ngày Nghị định này có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2030, hai bên được thỏa thuận để mua bán sản lượng điện dư với tỷ lệ cao hơn 50% sản lượng điện phát tại đầu ra của nguồn điện mặt trời mái nhà theo cường độ bức xạ trong trường hợp lưới điện tại khu vực đấu nối bảo đảm khả năng tiếp nhận, việc mua bán sản lượng điện dư đáp ứng điều kiện vận hành an toàn lưới điện và phương thức vận hành hệ thống điện theo quy định”.

    Trong khi đó, điểm b khoản 2 Điều 14 không quy định mức tỷ lệ tối đa cụ thể đối với trường hợp này. Vì vậy, bên mua điện dư căn cứ khả năng tiếp nhận của lưới điện tại khu vực đấu nối, điều kiện vận hành an toàn lưới điện và phương thức vận hành hệ thống điện theo quy định để thỏa thuận tỷ lệ mua bán sản lượng điện dư với bên bán điện dư.

    Tương tự, việc mua bán điện dư từ nguồn điện mặt trời mái nhà lắp đặt tại công trình là tài sản công cũng đã có quy định rõ trong Nghị định số 243. 

    Cụ thể, việc mua bán sản lượng điện dư của nguồn điện mặt trời mái nhà lắp đặt trên công trình là tài sản công phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Nghị định số 243 và quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, quy định pháp luật khác có liên quan và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của bên bán điện dư.

    Nghị định số 58 cũng quy định rõ bên bán điện dư chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ và hiệu lực pháp lý của các tài liệu trong hồ sơ đề nghị bán sản lượng điện dư làm căn cứ ký hợp đồng mua bán điện.

    Theo đó, bên bán điện dư có trách nhiệm bảo đảm việc bán sản lượng điện dư phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình, tuân thủ pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, hiệu lực pháp lý của hồ sơ, tài liệu cung cấp cho bên mua điện dư.

    Các Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực căn cứ quy định để thực hiện việc mua bán điện theo thẩm quyền, phân cấp; không thực hiện việc thẩm định, quyết định hoặc hướng dẫn quản lý, sử dụng tài sản công thay cho cơ quan, người có thẩm quyền.

    Trường hợp việc bán sản lượng điện dư có nội dung thuộc phạm vi phải thực hiện thủ tục theo pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, bên bán điện dư có trách nhiệm thực hiện theo quy định. 

    Trường hợp phát sinh vướng mắc về điều kiện, trình tự, thủ tục hoặc thẩm quyền trong quản lý, sử dụng tài sản công, bên bán điện dư làm việc với cơ quan có thẩm quyền về quản lý tài sản công để được xem xét, hướng dẫn theo quy định.

    Tâm An

    Nguồn https://baomoi.com/evn-thong-tin-ro-ve-viec-lap-dat-dien-mat-troi-mai-nha-va-ban-dien-du-len-luoi-c56168304.epi

  • Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho địa phương

    Nghị quyết của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.

    Chính phủ giao tổng chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026-2030 cho các địa phương là 899.857 căn; trong đó, chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua là 708.834 căn; chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê là 191.023 căn.

    Chính phủ giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương.

    Chính phủ yêu cầu các địa phương căn cứ chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao, thực hiện hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của cả nước.

    Bộ Xây dựng có nhiệm vụ theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp kết quả triển khai của các địa phương, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Tăng nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán

    Chính phủ yêu cầu UBND cấp tỉnh đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm để triển khai thực hiện; rà soát các dự án đã có trong quy hoạch, chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được giao.

    Đối với các dự án đã khởi công xây dựng, phải đôn đốc các chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực để thực hiện, quyết tâm hoàn thành trong năm 2026.

    Các địa phương cần nghiên cứu, chỉ đạo các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán; tổ chức lập, phê duyệt danh mục vị trí khu đất đã được xác định để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; bố trí đủ quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê tại các vị trí thuận lợi, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

    Cùng với đó, có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư đã có sẵn quỹ đất sạch phù hợp với quy hoạch, đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, có đủ năng lực tài chính đề xuất dự án để thực hiện giao chủ đầu tư theo quy định.

    UBND cấp tỉnh đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm “luồng xanh”, “luồng ưu tiên”; thực hiện đồng thời, song song các quy trình về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường; rút ngắn tối đa thời gian thẩm định, phê duyệt dự án, giao đất, cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan đảm bảo cắt giảm tối đa thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

    Các bộ, ngành có liên quan và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.

    Tăng cường hoạt động giám sát của cộng đồng để các công trình, dự án được thực hiện đúng quy hoạch, thiết kế, đảm bảo chất lượng, tránh thất thoát, lãng phí.

    Chi tiết chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được Chính phủ giao cho từng tỉnh, thành phố giai đoạn 2026-2030 và từng năm như sau:

    Anh Văn

    Nguồn https://baomoi.com/chinh-phu-giao-chi-tieu-phat-trien-nha-o-xa-hoi-nha-o-cho-thue-cho-dia-phuong-c56168278.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!