Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Chuyên gia chỉ ra căn nguyên khiến TP.HCM cứ mưa lớn là ngập

    Những trận mưa lớn liên tiếp thời gian gần đây khiến nhiều tuyến đường tại TP.HCM ngập cục bộ, ảnh hưởng đến việc đi lại, sinh hoạt của người dân. Tình trạng này đặt ra câu hỏi: Vì sao hệ thống hạ tầng đô thị vẫn gặp khó khi lượng mưa lớn đổ xuống trong thời gian ngắn?

    Theo các chuyên gia, bài toán không chỉ nằm ở công suất cống thoát nước. Quy hoạch đô thị, quá trình bê tông hóa, sự thu hẹp của các không gian chứa nước, cách quản lý theo địa giới hành chính và việc thiếu một cách tiếp cận tổng thể về dòng chảy đều là những yếu tố cần được tính đến.

    Mưa lớn, cống không thể “gánh” hết

    TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, cho rằng ngập thường xảy ra nhiều hơn vào giai đoạn giao mùa và giữa mùa mưa, khoảng tháng 9-10.

    Theo ông, nguyên nhân chủ yếu vẫn là hệ thống thoát nước hiện nay không đáp ứng được lưu lượng nước khi xuất hiện những trận mưa lớn. Với những trận mưa khoảng 70-120 mm, nếu hệ thống thoát nước không đáp ứng được lượng nước đổ xuống thì sẽ dẫn đến ngập cục bộ.

    Mưa lớn khiến nhiều tuyến đường tại TP.HCM ngập cục bộ, ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân. (Ảnh: Lương Ý)

    Trong khoảng 10 năm trở lại đây, hệ thống thoát nước của thành phố chưa có thay đổi căn bản. Một số tuyến đường được nạo vét, khơi thông cống rãnh nhưng về tổng thể, hệ thống hạ tầng thoát nước gần như vẫn như trước.

    Theo TS Thuận, nếu xét về lượng mưa bình quân, chưa chắc năm nay đã cao hơn đáng kể so với những năm trước. Vấn đề nằm ở khả năng đáp ứng của hệ thống thoát nước khi xảy ra những trận mưa lớn trong thời gian ngắn.

    Điều này cũng cho thấy việc chống ngập không thể chỉ được nhìn từ một tuyến đường hay một công trình riêng lẻ. Một tuyến đường mới có thể được xây dựng hệ thống mương, cống thoát nước nhưng nếu hệ thống đó không đấu nối được với mạng lưới chung thì nước chỉ thoát được trong phạm vi tuyến đường.

    “Trong trường hợp đấu nối vào hệ thống mương cũ nhưng mạng lưới cũ không đủ khả năng tiếp nhận, tình trạng ngập vẫn có thể xảy ra. Chống ngập bằng hệ thống thoát nước chỉ là một trong nhiều yếu tố của bài toán chống ngập”, TS Phạm Viết Thuận cho biết.

    Theo TS Thuận, thành phố cần tính đến những không gian có thể giữ và chứa nước thay vì chỉ phụ thuộc vào hệ thống cống.

    TP.HCM đã triển khai nhiều đề án, dự án chống ngập, trong đó có dự án thường được gọi là dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng, có tính đến yếu tố biến đổi khí hậu.

    Nước mưa dồn xuống đường trong thời gian ngắn khiến hệ thống thoát nước tại một số khu vực không kịp tiêu thoát. (Ảnh: Lương Ý)

    Theo TS Thuận, cần phân biệt rõ giữa chống ngập do triều và thoát nước mưa. Dự án này về bản chất tập trung vào việc ngăn triều với hệ thống các cống kiểm soát triều, trong khi mưa lớn lại đặt ra yêu cầu về khả năng thoát nước.

    Theo ông, nếu mưa xảy ra trên toàn thành phố, trước hết phải tính được tổng lượng nước mưa đổ xuống là bao nhiêu mét khối. Từ đó mới xác định được bề mặt đô thị phải xử lý bao nhiêu nước.

    Nếu bề mặt không bị bê tông hóa, một phần nước có thể thấm xuống đất. Nhưng khi bê tông hóa ngày càng nhiều, phần lớn nước mưa phải thoát qua hệ thống hạ tầng. Nếu hệ thống không đủ năng lực thì ngập là điều dễ xảy ra.

    Ở đây, bài toán nước mưa cần được tách khỏi bài toán triều cường. Cống kiểm soát triều có nhiệm vụ chính là kiểm soát nước triều, trong khi mưa lớn, nước cần được thoát từ đất liền ra các khu vực tiếp nhận. Câu hỏi quan trọng theo TS Thuận là nước sẽ thoát đi đâu?

    Đường Phan Huy Ích ngập sâu tối 30/9.

    TSKH. KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng nguyên nhân gốc rễ của tình trạng ngập chủ yếu nằm ở cách làm chưa thật sự khoa học, đặc biệt là sự phối hợp giữa các giải pháp còn hạn chế.

    Theo ông, TP.HCM quá chú trọng đến những phần cứng để chống ngập như hệ thống thoát nước, các công trình chống ngập, nhưng lại thiếu sự phối hợp với quy hoạch, việc hạn chế mức độ bê tông hóa và quản lý đô thị.

    Quy hoạch đô thị thiếu đồng bộ, quản lý còn phân tán theo địa giới hành chính. Thành phố cũng còn thiếu dữ liệu, thiếu các dự báo phù hợp và chưa ứng dụng đầy đủ công nghệ trong quản lý. Từ đó, ông cho rằng cần chuyển từ tư duy “chống nước” sang tư duy “quản lý nước”. Một trong những nội dung cần thay đổi là cách nhìn về không gian dành cho nước.

    TS Thuận cho rằng trước đây TP.HCM ít ngập hơn một phần vì còn nhiều hệ sinh thái tự nhiên có chức năng giữ và chứa nước, đặc biệt tại các khu vực phía Nam, Tây Nam và Đông Nam thành phố.

    Những vùng như Quận 7, một phần Bình Chánh cũ từng có những không gian tự nhiên giúp điều tiết và chứa nước. Nhưng quá trình đô thị hóa đã san lấp nhiều khu vực đó, trong khi thành phố tiếp tục phát triển mạnh về phía Nam.

    Khi những không gian có chức năng chứa nước bị thu hẹp, áp lực đặt lên hệ thống thoát nước cũng tăng lên. Theo TS Thuận, lượng nước mưa của toàn thành phố có thể lên tới hàng tỷ mét khối. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào hệ thống cống để chứa và thoát toàn bộ lượng nước đó.

    Giải pháp được ông đề xuất nhiều lần là tạo hồ sinh thái tại những vị trí thường xuyên ngập trong từng khu vực. Vào mùa mưa, những khu vực này có thể làm hồ chứa nước sinh thái. Đến mùa khô, không gian đó có thể trở thành sân chơi, công viên, bãi đỗ xe hoặc các không gian công cộng khác.

    Theo ông, thành phố có thể cần khoảng 500-700 công viên tương tự, mỗi công viên có diện tích khoảng 1-3 ha. Những hồ sinh thái này cũng có thể đảm nhận nhiều chức năng như hồ chứa nước, hồ phục vụ phòng cháy chữa cháy, cảnh quan, công viên nổi và bãi đỗ xe.

    Theo chuyên gia, khả năng thoát nước của đô thị cần được tính toán cùng với quy hoạch và quá trình bê tông hóa.

    Cần một “nhạc trưởng” cho dòng nước đô thị

    Đề án chống ngập mới của TP.HCM đặt trọng tâm vào quản lý tổng hợp theo lưu vực và lấy thích ứng với biến đổi khí hậu làm trung tâm, với bộ ba nguyên tắc “giữ – trữ – thoát”.

    Ông Ngô Viết Nam Sơn đánh giá đây là cách làm bài bản mà đáng lẽ thành phố phải áp dụng từ lâu. Theo ông, việc tổng hợp các giải pháp theo lưu vực sẽ giúp khắc phục cách làm cũ vốn chủ yếu dựa theo tư duy địa giới hành chính.

    Trong đó, “giữ” trước hết là bảo vệ rừng, bảo vệ những khu vực có chức năng giữ nước tự nhiên và những không gian vốn dành cho nước.

    Không gian dành cho nước không chỉ gồm sông, hồ, kênh, rạch mà còn có những hồ điều tiết tự nhiên hoặc nhân tạo.

    “Trữ” là bổ sung các hồ chứa nước, trong đó có thể bao gồm cả những công trình nhân tạo, để tăng khả năng trữ nước khi mưa lớn.

    Còn “thoát” không chỉ có nghĩa bảo đảm tiết diện đường ống hay hệ thống thoát nước. Thành phố còn phải bảo đảm các không gian thoát nước, mặt nước và hành lang thoát nước được duy trì, không bị thu hẹp hoặc lấn chiếm.

    “Đây là cách làm bài bản mà đáng lẽ chúng ta phải áp dụng từ lâu. Việc tổng hợp các giải pháp theo lưu vực sẽ giúp khắc phục cách làm cũ, vốn chủ yếu dựa theo tư duy địa giới hành chính”, ông Ngô Viết Nam Sơn cho biết.

    Việc thu hẹp hoặc lấp các không gian chứa nước tự nhiên có thể làm giảm khả năng điều tiết nước của đô thị. (Ảnh minh họa: Lương Ý)

    Theo ông Sơn, TP.HCM cũng cần chuyển từ tư duy “chống ngập” sang “sống chung với nước”, theo hướng thuận theo tự nhiên. Điều này không có nghĩa chấp nhận tình trạng ngập mà là lựa chọn cách phát triển đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên.

    Những khu vực đất cao, ít có nguy cơ chịu tác động của ngập lụt và biến đổi khí hậu trong tương lai có thể được ưu tiên phát triển mới với mật độ cao, cao tầng.

    Trong khi đó, ở những vùng thấp, cần dành nhiều không gian hơn cho nước. Hồ điều hòa, công viên ngập nước vừa có chức năng điều tiết nước vừa có thể tạo không gian cảnh quan sinh thái, phục vụ đời sống người dân.

    Thành phố cũng nên khôi phục những cảnh quan sinh thái tự nhiên, hướng đến phục hồi các không gian vốn có chức năng điều tiết nước.

    TS Thuận cho rằng nếu thành phố muốn hình thành hệ thống hồ sinh thái, những khu vực còn giữ được địa hình tự nhiên không nhất thiết phải xây dựng công trình hồ theo kiểu bê tông hóa.

    Nhiều khu vực trước đây đã được san lấp vài mét đất và sau đó trở thành khu đô thị. Nếu khôi phục lại những không gian đó, về cơ bản có thể hình thành hồ sinh thái.

    Chi phí không nhất thiết quá lớn nếu tận dụng địa hình tự nhiên và sử dụng máy móc để nạo vét, tạo lại không gian chứa nước. Các vật liệu tái chế, vật liệu tuần hoàn cũng có thể được sử dụng để tạo những công viên công cộng hoặc không gian sinh thái kết hợp.

    Nhưng trước khi làm những việc đó, điều quan trọng nhất vẫn là tính toán dòng nước, lưu lượng nước và hướng thoát nước của toàn thành phố.

    Các khu vực có địa hình thấp cần được tính đến trong quy hoạch không gian trữ nước khi xây dựng giải pháp chống ngập.

    TS Thuận cho rằng thành phố cần một “nhạc trưởng” để tính toán tổng thể về quy hoạch dòng nước và lưu lượng nước lưu thông trong đô thị. Nếu xác định nước của thành phố về cơ bản thoát theo hướng Nam và Đông Nam, cần nghiên cứu những yếu tố đang cản trở dòng chảy tự nhiên.

    Một số tuyến đường lớn có thể trở thành yếu tố cản dòng nước nếu không có các giải pháp hạ tầng phù hợp. Khi xây dựng tuyến đường theo hướng cắt ngang dòng chảy tự nhiên, cần tính toán cầu, cống, khẩu độ và hành lang thoát nước để không làm cản trở dòng nước.

    Theo các chuyên gia, bài toán ngập của TP.HCM vì thế không thể giải quyết chỉ bằng việc xây thêm cống hay tăng công suất thoát nước.

    Cần có một cách tiếp cận tổng thể, trong đó xác định vị trí thường xuyên ngập, dòng nước vận động thế nào, đâu là những vị trí thấp nhất, nơi nào có thể giữ nước, nơi nào có thể trữ nước và dòng nước cuối cùng sẽ thoát theo hướng nào.

    Khi hiểu được dòng nước trước khi xây dựng hạ tầng, thành phố mới có thể tổ chức các giải pháp điều tiết phù hợp. Đây cũng là cơ sở để chuyển từ cách xử lý từng điểm ngập sang quản lý nước theo toàn bộ hệ thống đô thị.

    NGUYỄN LIẾN

    Nguồn https://baomoi.com/chuyen-gia-chi-ra-can-nguyen-khien-tp-hcm-cu-mua-lon-la-ngap-c56178497.epi

  • Đưa Quảng Trị bứt phá thành trung tâm năng lượng miền Trung

    Quảng Trị đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành trung tâm năng lượng của miền Trung khi sở hữu dư địa phát triển mạnh về điện gió, điện mặt trời, thủy điện và các nguồn năng lượng mới. Tuy nhiên, nhiều dự án vẫn chậm triển khai do vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục, hạ tầng truyền tải và năng lực nhà đầu tư. Tỉnh đang quyết liệt tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ dự án, biến tiềm năng năng lượng thành công suất và động lực tăng trưởng mới.

    Ngày 1/10, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn chủ trì buổi làm việc với UBND tỉnh, các sở, ban, ngành và địa phương liên quan để tháo gỡ các điểm nghẽn, đẩy nhanh tiến độ dự án, biến tiềm năng năng lượng thành công suất và động lực tăng trưởng mới.

    Dư địa phát triển còn rất lớn

    Hệ thống điện mặt trời áp mái. Ảnh minh họa: Bnews phát

    Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Trị Hồ Xuân Hòe, cho biết, toàn tỉnh hiện có 42 dự án điện đã hoàn thành, vận hành thương mại và chạy thử với tổng công suất 3.016,2 MW, mới đạt khoảng 23% tổng công suất quy hoạch đến năm 2030. Trong khi đó, phần lớn công suất quy hoạch vẫn đang nằm trên hồ sơ. Có 6 dự án đang thi công nhưng đều gặp vướng mắc về giải phóng mặt bằng; 27 dự án đã lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa khởi công; 8 dự án đang điều chỉnh chủ trương đầu tư, trong đó có dự án chậm tiến độ kéo dài; 4 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng chưa lựa chọn nhà đầu tư; 26 dự án đang thẩm định chủ trương đầu tư và 21 dự án chưa có hồ sơ đề xuất.

    Thực trạng này cho thấy khoảng cách giữa quy hoạch, dự án và công suất điện thực tế còn lớn. Nhiều dự án gặp khó khăn liên quan đến khả năng đấu nối, giải tỏa công suất; tiến độ nguồn điện phụ thuộc vào việc hoàn thành các công trình truyền tải; trong khi công tác giải phóng mặt bằng tại một số dự án chưa hoàn thành.

    Bên cạnh đó, một số dự án chậm tiến độ kéo dài do vướng mắc về đất đai, thủ tục điều chỉnh đầu tư, cấp phép chuyên ngành, năng lực tài chính của nhà đầu tư và sự phối hợp trong quá trình triển khai. Những vấn đề này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ làm chậm quá trình đưa các dự án nguồn điện vào vận hành, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng của tỉnh.

    Phát biểu tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Hoàng Phương cho biết Quảng Trị đã định hình là một trung tâm điện năng của cả nước. Do đó, tỉnh chủ động lựa chọn các nhà đầu tư có thực lực, đủ năng lực tài chính và khả năng triển khai thực tế. UBND tỉnh đã giao các sở, ngành chuyên môn rà soát toàn bộ các dự án được cấp phép từ nhiều năm nhưng chưa triển khai hoặc triển khai dở dang; đồng thời đánh giá lại năng lực nhà đầu tư để có biện pháp xử lý phù hợp.

    Theo Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Hoàng Phương, trách nhiệm trong quá trình triển khai cũng được phân định rõ. Sở Tài chính chịu trách nhiệm thẩm định năng lực ban đầu; các sở quản lý chuyên ngành và chính quyền địa phương nơi có dự án chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát xuyên suốt quá trình triển khai, không buông lỏng quản lý sau cấp phép.

    Cùng với đó, nhận thức rõ hạ tầng truyền tải là khâu then chốt, UBND tỉnh quán triệt quan điểm đẩy sớm tiến độ phát triển hạ tầng truyền tải điện, không chờ đến các mốc xa như giai đoạn 2030-2035. Các sở, ngành được yêu cầu quyết liệt triển khai cơ chế “luồng xanh” trong giải quyết thủ tục pháp lý liên quan đến dự án điện; đồng thời làm việc với Bộ Công Thương và các bộ, ngành liên quan để tháo gỡ vướng mắc. Sở Công Thương được yêu cầu bám sát chỉ đạo của Bộ Công Thương, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch điện và đẩy nhanh tiến độ đầu tư hệ thống truyền tải, hạ tầng liên quan. Việc đẩy sớm hạ tầng truyền tải được xác định là điều kiện then chốt để phát triển nguồn điện đồng bộ, nâng cao khả năng đấu nối, giải tỏa công suất và khai thác hiệu quả tiềm năng năng lượng của tỉnh.

    Không để dự án “giữ chỗ” quy hoạch

    Bí thư Tỉnh ủy Vương Quốc Tuấn nhấn mạnh Quảng Trị có thế mạnh phát triển năng lượng, nhất là năng lượng tái tạo. Thời gian qua, nhiều dự án điện đã được triển khai, tuy nhiên vẫn còn nhiều dự án chưa khởi công, chậm triển khai hoặc chậm tiến độ do nhiều nguyên nhân.

    Bí thư Tỉnh ủy khẳng định quan điểm nhất quán: tỉnh luôn đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi trong phạm vi pháp luật để hỗ trợ doanh nghiệp. Những việc thuộc thẩm quyền của tỉnh phải giải quyết ngay; việc vượt thẩm quyền phải chủ động báo cáo Trung ương.

    Tuy nhiên, đồng hành không đồng nghĩa với buông lỏng. Tỉnh kiên quyết không chấp nhận tình trạng “giữ chỗ” quy hoạch, có dự án nhưng không triển khai.

    Nhấn mạnh giai đoạn từ nay đến cuối năm có ý nghĩa quan trọng đối với các chỉ tiêu tăng trưởng năm 2026, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu toàn hệ thống chính trị và các địa phương hành động với quyết tâm cao nhất, tạo bước chuyển biến ngay trong quý IV/2026 và những tháng đầu năm 2027.

    Đối với các dự án trong danh mục, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu phân loại theo từng nhóm, xây dựng kế hoạch cụ thể và kiểm soát chặt tiến độ. Nhà đầu tư phải xây dựng lộ trình, xác định thời gian hoàn thành giải phóng mặt bằng, phân rõ trách nhiệm của từng địa phương, thời điểm khởi công và tiến độ giải ngân hằng tháng.

    Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh quan điểm nhất quán là không trì hoãn, không lùi tiến độ bất kỳ dự án nào. Đối với các dự án đang vận hành, phải rà soát, nâng tối đa công suất khai thác; với các dự án chậm tiến độ hoặc đầu tư cầm chừng, kiên quyết rà soát, xử lý theo quy định, không để lãng phí nguồn lực đất đai và tài nguyên xã hội.

    Toàn bộ dự án phải được phân nhóm, lập kế hoạch chi tiết gắn với tiến độ giải ngân hằng tháng và thực hiện cơ chế kiểm tra tiến độ đầu tư xã hội hằng tuần.

    Siết chặt năng lực nhà đầu tư, tháo gỡ “nút thắt” truyền tải

    Bí thư Tỉnh ủy đặc biệt lưu ý khâu lựa chọn nhà đầu tư, yêu cầu rà soát, siết chặt năng lực thực chất, ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược có khả năng kích hoạt hệ sinh thái và kéo theo dòng vốn ở nhiều lĩnh vực khác. Hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư phải hoàn thành dứt điểm trong tháng 10, chậm nhất đầu tháng 11. Đồng thời, Sở Công Thương cùng các sở, ngành chuyên môn phải khẩn trương tháo gỡ “nút thắt” hạ tầng truyền tải điện, nghiên cứu các mô hình đột phá như kết hợp năng lượng sạch với trung tâm dữ liệu nhằm tối ưu hóa dư địa tăng trưởng.

    Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu từng sở, ngành, địa phương. Địa phương phải chủ động giải quyết bài toán giải phóng mặt bằng trên tinh thần “làm chắc chắn, đúng luật, vì quyền lợi chính đáng của dân”. “Nếu chậm trễ là tự ta bỏ lỡ cơ hội. Những việc thuộc thẩm quyền và trong khả năng phải tập trung làm ngay, làm đến cùng và hoàn thành bằng được”, Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh.

    Về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư, Bí thư Tỉnh ủy Vương Quốc Tuấn nhất trí thực hiện theo cơ chế “luồng xanh” để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư; đồng thời lưu ý phải lựa chọn được nhà đầu tư chiến lược, có khả năng tạo tác động kép, vừa thúc đẩy lĩnh vực năng lượng, vừa thu hút và phát triển các lĩnh vực khác. Các sở, ngành phải phát huy trách nhiệm, “gác cửa” chặt chẽ về năng lực nhà đầu tư.

    Với mục tiêu trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực miền Trung vào năm 2030, Quảng Trị đang tập trung đồng bộ nguồn điện, hạ tầng truyền tải và năng lực triển khai dự án. Việc tháo gỡ các vướng mắc về lưới điện, thủ tục, mặt bằng và nguồn lực tài chính sẽ quyết định khả năng đưa các dự án vào vận hành, nâng cao năng lực truyền tải và phát huy hiệu quả tiềm năng năng lượng của tỉnh. Từ đó, năng lượng được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo dư địa thu hút đầu tư và mở rộng không gian phát triển của Quảng Trị trong những năm tới.

    Nguyên Linh/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/dua-quang-tri-but-pha-thanh-trung-tam-nang-luong-mien-trung-c56176842.epi

  • Hé lộ đường dây ‘bôi trơn’ cả tỷ đồng để xây villa trên đất rừng phòng hộ hồ Đồng Đò

    Theo Đại tá Nguyễn Đức Long, vụ án này liên quan đến các cán bộ của chính quyền và cơ quan quản lý Nhà nước nên cần phải tổ chức điều tra, mở rộng vụ án.

    Nhiều trường hợp xây dựng trái phép tại xã Kim Anh đã bị cưỡng chế tháo dỡ – Ảnh: KA.

    Từ ngày 5 – 7/8, cơ quan truyền thông đã phản ánh tình trạng villa, homestay và khu nghỉ dưỡng tiếp tục mọc lên trong khu vực quy hoạch rừng phòng hộ Sóc Sơn, thuộc xã Kim Anh, Hà Nội. Vi phạm mới xuất hiện trong khi nhiều tồn tại cũ về trật tự xây dựng từng được cơ quan thanh tra chỉ ra nhưng chưa được xử lý dứt điểm.

    Theo ghi nhận, một số khu vực đồi núi bị san gạt, cạo trọc, làm biến dạng cảnh quan. Trong quá trình tìm hiểu, một số chủ đất cho biết người có nhu cầu xây villa, homestay phải bỏ ra từ 500 triệu đến 1 tỉ đồng để đi “quan hệ”.

    Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Thành ủy Hà Nội, Đảng ủy UBND TP Hà Nội yêu cầu các cơ quan kiểm tra, rà soát và xác định những phản ánh về tình trạng vi phạm tại rừng phòng hộ Sóc Sơn là có cơ sở. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy và Công an TP Hà Nội cũng được giao xác minh vi phạm, làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cá nhân liên quan.

    Đến ngày 1/10, UBND xã Kim Anh đã cưỡng chế nhiều công trình, trong đó có Solara Đồng Đò, homestay Huy Hoàng và một công trình trong thung lũng. Công trình Mer Cafe & Stay dự kiến bị cưỡng chế ngày 5/10.

    Được biết, trong 7 bị can khị khởi tố có ông Nguyễn Văn Hòa, Trưởng thôn Minh Tân (cũ), nay là thôn Thái Vụ.

    Hiện vụ án vẫn đang được Công an TP Hà Nội tiếp tục điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật.

    Tu Vũ

    Nguồn https://baomoi.com/he-lo-duong-day-boi-tron-ca-ty-dong-de-xay-villa-tren-dat-rung-phong-ho-ho-dong-do-c56176782.epi

  • Villa, homestay mọc trái phép quanh hồ Đồng Đò, Hà Nội: Trưởng thôn bị khởi tố

    Chiều 1/10, tại cuộc họp báo của Bộ Công an, Đại tá Nguyễn Đức Long, Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội, thông tin về kết quả điều tra những sai phạm về xây dựng, đất đai xảy ra tại khu vực hồ Đồng Đò, xã Kim Anh, Hà Nội. Cơ quan điều tra khởi tố 2 vụ án, 7 bị can về các hành vi đưa hối lộ, nhận hối lộ và môi giới hối lộ.

    Trong 7 bị can có ông Nguyễn Văn Hòa, Trưởng thôn Minh Tân (cũ), nay là thôn Thái Vụ, xã Kim Anh.

    Theo Đại tá Nguyễn Đức Long, vụ án này liên quan đến các cán bộ của chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước nên cần phải tổ chức điều tra mở rộng.

    Đại tá Nguyễn Đức Long, Phó Giám đốc Công an TP Hà Nội.

    Sáng 4/9, UBND xã Kim Anh tổ chức cưỡng chế, phá dỡ các hạng mục vi phạm đất đai, trật tự xây dựng tại 4 công trình thuộc khu vực hồ Đồng Đò, thôn Thái Vụ. Khoảng 70 người được huy động tham gia cưỡng chế các villa, homestay vi phạm.

    Công trình đầu tiên bị cưỡng chế là homestay Solara Đồng Đò của ông N.V.T. (44 tuổi). Công trình có tổng diện tích 475 m², gồm nhà hai tầng một tum, nhà một tầng, nhà cấp bốn, bể bơi, cổng sắt, sân lát gạch và tường rào.

    Trường hợp thứ hai là homestay Huy Hoàng của bà P.T.T.B., gồm nhiều hạng mục khung sắt kết hợp sàn bê tông, tường gạch và ốp gỗ. Riêng bể bơi rộng 187,2 m², sân bê tông hơn 206 m².

    Công trình của ông N.T.D. vi phạm trên tổng diện tích 160,5 m², gồm ba cụm khung sắt, mái bạt, cao từ 3,5 – 4,5m.

    Hà Nội cưỡng chế phá dỡ loạt villa, homestay quanh hồ Đồng Đò hôm 4/9.

    Công trình còn lại do ông N.V.H. xây dựng, diện tích 154 m², có kết cấu móng gạch liên kết bằng vữa xi măng cát, cao 3m so với nền đất tự nhiên.

    Trước đó, chính quyền địa phương đã tuyên truyền, vận động các chủ công trình tự tháo dỡ, khắc phục vi phạm nhưng họ chưa thực hiện đầy đủ.

    Minh Tuệ

    Nguồn https://baomoi.com/villa-homestay-moc-trai-phep-quanh-ho-dong-do-ha-noi-truong-thon-bi-khoi-to-c56176792.epi

  • Quy định mới về quản lý và sử dụng kinh phí khuyến công

    Đối tượng áp dụng của thông tư là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tại các xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh; các xã, đặc khu thuộc thành phố trực thuộc trung ương; các làng nghề được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận (sau đây viết tắt là cơ sở công nghiệp nông thôn); các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững; doanh nghiệp, hợp tác xã là chủ đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp; nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ; tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia công tác quản lý, thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công.

    Về nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động khuyến công, thông tư nêu rõ, ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí cho các hoạt động khuyến công quốc gia do Bộ Công Thương quản lý, tổ chức thực hiện.

    Đối tượng áp dụng của thông tư là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ hợp tác, hợp tác xã…

    Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí cho các hoạt động khuyến công địa phương do địa phương quản lý, tổ chức thực hiện.

    Ngoài các nguồn kinh phí nêu trên, Bộ Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác, lồng ghép các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia và các Chương trình phát triển kinh tế – xã hội khác để thực hiện mục tiêu của khuyến công. Việc lồng ghép các nguồn vốn phải bảo đảm đúng mục tiêu, nhiệm vụ được giao; không trùng lặp nội dung chi; không hỗ trợ nhiều lần từ ngân sách nhà nước cho cùng một nội dung.

    Về điều kiện để được hỗ trợ kinh phí khuyến công, theo thông tư, các tổ chức, cá nhân được hỗ trợ kinh phí khuyến công phải bảo đảm các điều kiện như sau:

    Nội dung nhiệm vụ, đề án phù hợp với nội dung quy định tại Điều 4 và ngành nghề phù hợp với danh mục ngành nghề quy định tại Điều 5 của Nghị định số 45/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4, khoản 5 Điều 1 Nghị định số 235/2025/NĐ-CP.

    Đề án, nhiệm vụ được cơ quan hoặc người có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật và phân cấp của cấp có thẩm quyền.

    Tổ chức, cá nhân đã đầu tư vốn hoặc cam kết đầu tư đủ kinh phí thực hiện đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (sau khi trừ số kinh phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ).

    Tổ chức, cá nhân thực hiện hoặc thụ hưởng đề án khuyến công có văn bản cam kết chưa được hỗ trợ từ nguồn kinh phí nhà nước cho cùng nội dung đề nghị hỗ trợ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của cam kết.

    Tổ chức dịch vụ khuyến công khác có kinh nghiệm, năng lực để triển khai thực hiện các hoạt động khuyến công (trừ các hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện).

    Thông tư số 139/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2026.

    Bình Minh

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-moi-ve-quan-ly-va-su-dung-kinh-phi-khuyen-cong-c56176971.epi

  • Tháo gỡ, đẩy nhanh phát triển điện mặt trời mái nhà tại doanh nghiệp

    Những vướng mắc về hiệu quả đầu tư, thủ tục, kết cấu mái nhà xưởng, đấu nối và xử lý sản lượng điện dư đang là những vấn đề cần được tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ triển khai, bổ sung nguồn điện tại chỗ phục vụ sản xuất.

    Đây là nội dung được tập trung trao đổi tại buổi làm việc đánh giá tình hình triển khai đầu tư, lắp đặt điện mặt trời mái nhà tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện trong thời gian tới do Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh chủ trì chiều 1/10.

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Dự buổi làm việc có đại diện lãnh đạo các sở, cơ quan, đơn vị liên quan và hơn 200 doanh nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn.

    Tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký còn thấp

    Theo báo cáo của Sở Công Thương thành phố Bắc Ninh, phát triển điện mặt trời mái nhà tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh có phụ tải lớn vào ban ngày góp phần bổ sung nguồn điện tại chỗ, giảm nhu cầu nhận công suất từ lưới điện và nâng cao khả năng chủ động trong sử dụng điện.

    Thực hiện định hướng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư điện mặt trời mái nhà theo 2 đợt trong năm 2026 và 2027, các cơ quan chức năng đã phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn thủ tục, đôn đốc doanh nghiệp đăng ký và theo dõi tiến độ triển khai.

    Đến tháng 9/2026, toàn thành phố có khoảng 335 MW điện mặt trời mái nhà đăng ký phát triển; trong đó 2.268 nguồn, tổng công suất 298,938 MW, đã hoàn thành lắp đặt, đưa vào vận hành, đạt khoảng 89,2% tổng công suất đăng ký

    Tuy nhiên, tại nhóm doanh nghiệp được định hướng, khuyến khích đầu tư, tỷ lệ đăng ký còn khá thấp. Trong tổng số 417 doanh nghiệp, với tổng công suất tối thiểu dự kiến 811,5 MW, mới có 75 doanh nghiệp đăng ký, tổng công suất 224,44 MW.

    Riêng đợt 1 có 63/217 doanh nghiệp đăng ký, công suất 215,66 MW; đợt 2 có 12/200 doanh nghiệp đăng ký, công suất 8,78 MW.

    Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký mới đạt khoảng 18% so với tổng số doanh nghiệp được định hướng, khuyến khích đầu tư, trong khi dư địa công suất còn rất lớn. Đáng chú ý, thời gian triển khai đợt 1 trong năm 2026 không còn nhiều, đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh tiến độ trong những tháng cuối năm.

    Từ thực tế trên, tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung phân tích nguyên nhân khiến doanh nghiệp còn thận trọng trong việc đăng ký và đầu tư điện mặt trời mái nhà, đồng thời đề xuất giải pháp tháo gỡ những điểm nghẽn trong quá trình triển khai.

    Tháo gỡ vướng mắc để doanh nghiệp đẩy nhanh đầu tư

    Qua rà soát, doanh nghiệp còn gặp khó khăn về hiệu quả đầu tư, nguồn vốn, hình thức đầu tư; hiện trạng và khả năng chịu lực của mái nhà xưởng; quyền sử dụng mái; xác định quy mô công suất phù hợp với phụ tải; phương án đấu nối, đo đếm và xử lý sản lượng điện dư.

    Đại diện doanh nghiệp nêu kiến nghị.

    Các đại biểu cũng tập trung trao đổi về cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án điện mặt trời mái nhà trong khu công nghiệp; trình tự, thủ tục đăng ký, cấp phép; cơ chế, chính sách về đầu tư, sản xuất, sử dụng và mua bán điện mặt trời mái nhà. Bên cạnh đó, doanh nghiệp quan tâm đến các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn phòng cháy, chữa cháy, yêu cầu về kết cấu, tải trọng mái nhà xưởng và các điều kiện kỹ thuật trong quá trình lắp đặt, đấu nối hệ thống.

    Trao đổi về việc xử lý sản lượng điện dư, ông Đỗ Bình Dương, Phó Giám đốc Công ty Điện lực Bắc Ninh, cho biết doanh nghiệp có nhu cầu bán phần điện mặt trời mái nhà phát dư cần thực hiện theo các quy định hiện hành về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ. Công ty Điện lực Bắc Ninh sẽ hướng dẫn doanh nghiệp các điều kiện, trình tự liên quan đến đấu nối, đo đếm và mua bán sản lượng điện dư; việc tiếp nhận, mua điện dư được thực hiện trên cơ sở khả năng tiếp nhận của lưới điện và bảo đảm các yêu cầu về an toàn, vận hành hệ thống điện.

    Ông Nguyễn Thanh Tuấn, Trưởng Phòng Quản lý năng lượng, Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học Kỹ thuật Goertek Vina chia sẻ kinh nghiệm phát triển điện mặt trời mái nhà.

    Từ thực tế triển khai, ông Nguyễn Thanh Tuấn, Trưởng Phòng Quản lý năng lượng, Công ty TNHH Khoa học Kỹ thuật Goertek Vina chia sẻ, doanh nghiệp đã nghiên cứu nhu cầu sử dụng điện và điều kiện mặt bằng để đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 16,5 MWp. Hệ thống được đầu tư theo hướng tự sản xuất, tự tiêu thụ, tận dụng diện tích mái nhà xưởng hiện có để tạo nguồn điện phục vụ sản xuất, qua đó giảm lượng điện mua từ hệ thống điện và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Theo tính toán bước đầu, hệ thống dự kiến giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 1,3 tỷ đồng/năm chi phí tiền điện, tùy thuộc sản lượng điện phát và tình hình phụ tải thực tế.

    Đại diện Goertek Vina cho rằng, bên cạnh hiệu quả kinh tế, sử dụng điện mặt trời mái nhà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, nâng tỷ trọng năng lượng sạch trong hoạt động sản xuất, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng, đối tác về môi trường và phát triển bền vững. Doanh nghiệp đề nghị các cơ quan chức năng tiếp tục hướng dẫn cụ thể về đấu nối, đo đếm, vận hành hệ thống và xử lý sản lượng điện dư, qua đó giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả hệ thống đã đầu tư.

    Đại diện các sở, ngành, cơ quan, đơn vị chuyên môn đã trực tiếp giải đáp, hướng dẫn một số nội dung thuộc thẩm quyền; đối với những vấn đề cần rà soát, làm rõ thêm, các cơ quan chức năng sẽ tổng hợp, trả lời doanh nghiệp bằng văn bản.

    Thời gian tới, các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, phân loại cụ thể từng doanh nghiệp thuộc 2 đợt định hướng theo tiến độ và khả năng triển khai; tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp có nhu cầu và đủ điều kiện thực hiện.

    Đối với doanh nghiệp thuộc đợt 1, thành phố phấn đấu hoàn thành các thủ tục, triển khai đầu tư, lắp đặt và đưa hệ thống vào vận hành trong năm 2026; các doanh nghiệp thuộc đợt 2 chủ động khảo sát, hoàn thiện phương án và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai sớm trong năm 2027.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh phát biểu tại buổi làm việc.

    Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh ghi nhận, đánh giá cao sự tích cực của cộng đồng doanh nghiệp trong hưởng ứng chủ trương phát triển điện mặt trời mái nhà. Việc doanh nghiệp chủ động đầu tư nguồn điện tại chỗ vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao chất lượng cung ứng điện và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Phó Chủ tịch UBND thành phố đề nghị các doanh nghiệp đã đăng ký đầu tư chủ động xây dựng kế hoạch, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục và tổ chức triển khai, phấn đấu cơ bản hoàn thành trong năm 2026. Những doanh nghiệp còn chậm tiến độ cần nghiêm túc rà soát nguyên nhân, xác định khả năng thực hiện, xây dựng cam kết và lộ trình cụ thể. Các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan tiếp tục đồng hành, hướng dẫn và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phạm vi thẩm quyền; phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để đẩy nhanh tiến độ triển khai.

    Theo lãnh đạo thành phố, phát triển điện mặt trời mái nhà cần sự phối hợp đồng bộ giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm các yêu cầu về an toàn, kỹ thuật, hiệu quả đầu tư và phù hợp với nhu cầu phụ tải. Qua đó, từng bước chủ động nguồn điện phục vụ sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển năng lượng sạch, tiết kiệm năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững trên địa bàn.

    Bài và ảnh: Đồng Thúy/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/thao-go-day-nhanh-phat-trien-dien-mat-troi-mai-nha-tai-doanh-nghiep-c56176936.epi

  • Thanh Xuân phối hợp Viện Khoa học hình sự tháo gỡ vướng mắc tại ngõ 99 Nguyễn Tuân

    Tham dự buổi làm việc, phía Bộ Công an có Thiếu tướng Nguyễn Tiến Nam, Viện trưởng Viện Khoa học hình sự; các Phó Viện trưởng Đại tá Đặng Văn Đoàn, Đại tá Lê Xuân Cường, Thượng tá Lê Đức Bình; Thiếu tướng Tạ Quang Huy, Phó Chánh Thanh tra Bộ Công an cùng đại diện các đơn vị liên quan.

    Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Thanh Xuân Nguyễn Huy Cường phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: Tùng Lâm

    Phía phường Thanh Xuân có Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Nguyễn Huy Cường; Phó Chủ tịch UBND phường Nguyễn Hồng Quân; Trưởng Công an phường Vũ Hải Thành và đại diện các phòng, ban chuyên môn.

    Tại buổi làm việc, các đơn vị tập trung trao đổi về kết quả thực hiện thời gian qua, rà soát hồ sơ, làm rõ những vấn đề còn vướng và thống nhất các nội dung cần tiếp tục phối hợp.

    Theo báo cáo của UBND phường Thanh Xuân, khu đất tại ngõ 99 Nguyễn Tuân nằm trong khuôn viên đất an ninh do Bộ Công an quản lý. Thời gian qua, Viện Khoa học hình sự và các đơn vị chức năng đã phối hợp triển khai các bước xử lý, tuyên truyền, vận động theo quy định.

    UBND phường Thanh Xuân cũng đã báo cáo UBND thành phố Hà Nội, đồng thời trao đổi với các cơ quan chuyên môn để làm rõ căn cứ và hướng xử lý.

    Qua trao đổi, hai bên thống nhất thành lập tổ công tác gồm đại diện phường Thanh Xuân và Viện Khoa học hình sự. Tổ công tác sẽ tiếp tục rà soát hồ sơ, làm rõ từng nội dung còn vướng, xác định phần việc của các đơn vị và thống nhất tiến độ thực hiện.

    Kết luận buổi làm việc, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Thanh Xuân Nguyễn Huy Cường đề nghị các đơn vị tiếp tục phối hợp chặt chẽ, bám sát hồ sơ và tình hình thực tế để từng bước tháo gỡ các vấn đề còn tồn tại.

    Phường Thanh Xuân sẽ tiếp tục đồng hành cùng Viện Khoa học hình sự và các cơ quan liên quan trong quá trình thực hiện, bảo đảm đúng quy định, đồng thời giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.

    Tùng Lâm

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-xuan-phoi-hop-vien-khoa-hoc-hinh-su-thao-go-vuong-mac-tai-ngo-99-nguyen-tuan-c56176655.epi

  • Khảo sát sự hài lòng về chất lượng phục vụ dịch vụ công

    Tổng số phiếu khảo sát là 9.960 phiếu, gồm cả khảo sát bằng phiếu trực tiếp và trên nền tảng trực tuyến. Kết quả đo lường nhằm cung cấp thông tin phản hồi để các cơ quan nhà nước xác định điểm mạnh, hạn chế; từ đó đưa ra giải pháp cải thiện, hoàn thiện quy trình, thủ tục hành chính. Đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả công việc, thái độ phục vụ, góp phần xây dựng niềm tin vào hệ thống quản lý nhà nước ở các cấp chính quyền.

    Kiểm tra công tác thi hành án hành chính

    Thực hiện Kế hoạch số 382/KH-UBND, trong quý IV/2026, thành phố sẽ kiểm tra công tác thi hành án hành chính đối với Ủy ban nhân dân các phường: Dương Nội, Hà Đông, Đại Mỗ và các xã: Mê Linh, Phúc Thịnh. Sang năm 2027, thành phố tiếp tục kiểm tra các xã, phường còn tồn đọng các bản án đã được cơ quan có thẩm quyền kiến nghị, đôn đốc hoặc có quyết định buộc thi hành án hành chính.

    Mở mới tuyến xe buýt điện Hà Nội-Hưng Yên

    Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội vừa ban hành Công văn số 4957/UBND-ĐT về việc mở mới tuyến xe buýt điện Bến xe Gia Lâm-Bến xe Hưng Yên theo hình thức tuyến buýt liên tỉnh. Theo đó, thành phố thống nhất về chủ trương đối với đề xuất, kiến nghị của Tổng công ty Vận tải Hà Nội về việc nghiên cứu, điều chỉnh phương án tuyến xe buýt điện liên tỉnh Bến xe Gia Lâm-Bến xe Hưng Yên từ hình thức “không trợ giá” sang hình thức “có trợ giá”. Thành phố giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, cơ quan chuyên môn của tỉnh Hưng Yên và các đơn vị liên quan hướng dẫn Tổng công ty Vận tải Hà Nội rà soát, hoàn thiện phương án tổ chức vận hành; tính toán, xác định cụ thể định mức kinh tế-kỹ thuật, đơn giá, dự toán chi phí và phương án trợ giá theo đúng quy định hiện hành; thẩm định và thực hiện các thủ tục điều chỉnh, mở tuyến theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật…

    Nguồn https://baomoi.com/khao-sat-su-hai-long-ve-chat-luong-phuc-vu-dich-vu-cong-c56176718.epi

  • Nhà ở cho công nhân TP.HCM: Không chỉ cần nhiều, phải vừa túi tiền

    Chiều 1/10, tại buổi Họp báo cung cấp thông tin về các vấn đề kinh tế, xã hội trên địa bàn TP.HCM, vấn đề về nhà ở cho thuê và thuê mua dành cho công nhân được quan tâm.

    Nhiều ý kiến cho rằng, TP.HCM định hướng dành khoảng 80% quỹ nhà ở cho thuê và thuê mua là bước đi rất đúng hướng. Tuy nhiên, với mức thu nhập bình quân từ 7-10 triệu đồng/tháng của công nhân hiện nay, khả năng chi trả tiền thuê hoặc thuê mua hằng tháng vẫn là gánh nặng lớn.

    Đại diện Liên đoàn Lao động TP.HCM chia sẻ thông tin tại buổi họp. (Ảnh: Đại Việt)

    Ông Trần Minh Thảo, Chánh văn phòng Liên đoàn Lao động TP.HCM cho biết, theo khảo sát bước đầu, nhu cầu nhà ở của đoàn viên, công nhân, người lao động là rất lớn. TP.HCM có gần 3.200 trường hợp có nhu cầu thuê nhà ở và hơn 30.300 trường hợp có nhu cầu thuê mua, mua nhà ở xã hội.

    Qua khảo sát thực tế, phần lớn người lao động đang thuê trọ tại các khu dân cư tự phát, điều kiện về diện tích, an toàn, phòng cháy chữa cháy và hạ tầng xã hội còn hạn chế.

    “Chúng tôi cho rằng, rào cản lớn nhất không chỉ là giá nhà mà là khả năng cân đối dòng tiền hàng tháng của người lao động. Với thu nhập còn hạn chế, người lao động phải đồng thời chi trả tiền thuê hoặc tiền trả góp nhà, chi phí sinh hoạt, nuôi con, đi lại, học hành và các khoản phát sinh khác. Vì vậy, ngay cả khi có chính sách tín dụng ưu đãi, nếu thời hạn vay chưa đủ dài, nguồn cung nhà cho thuê phù hợp chưa đủ lớn và giá nhà chưa tương xứng với khả năng chi trả thì việc tiếp cận vẫn khó khăn”, ông Thảo nói.

    Theo ông Thảo, hiện nay, chính sách tín dụng nhà ở xã hội đã có bước hỗ trợ đáng kể; lãi suất cho vay tại Ngân hàng Chính sách xã hội đối với chương trình nhà ở xã hội đang ở mức 5,4%/năm. Tuy nhiên, đối với người lao động, vấn đề quan trọng là phải có sản phẩm nhà ở phù hợp ngay từ đầu, đặc biệt là nhà ở cho thuê và thuê mua với diện tích, vị trí và mức giá phù hợp với thu nhập.

    Do đó, Liên đoàn Lao động Thành phố cho rằng, cần tiếp cận bài toán nhà ở theo hướng “nhà phù hợp với khả năng chi trả”, chứ không chỉ tập trung vào tăng số lượng căn hộ. Liên đoàn sẽ tiếp tục khảo sát, cập nhật nhu cầu và kết nối người lao động với các dự án phù hợp; đồng thời kiến nghị cơ chế tín dụng dài hạn, lãi suất phù hợp và các chính sách hỗ trợ để giảm áp lực chi phí cho người lao động.

    Nhà cho công nhân cần nhiều ưu đãi hơn để phù hợp với thu nhập “khiêm tốn” của người lao động. (Ảnh: B.L)

    Đến nay, Liên đoàn Lao động Thành phố đã ký biên bản thỏa thuận hợp tác cùng 9 doanh nghiệp, với tổng số khoảng 128.000 căn nhà ở dự kiến phát triển đến năm 2030.

    Đại diện Liên đoàn Lao động TP.HCM cho rằng, trên thực tế, tiến độ các dự án hiện không đồng đều. Một số dự án đã cơ bản hoàn thiện hồ sơ và dự kiến khởi công. Điển hình như dự án Hoa Sen An Hạ dự kiến khởi công trong quý IV/2026 với 1.853 căn hộ tại xã Tân Vĩnh Lộc. Một số dự án khác đang hoàn thiện thủ tục và dự kiến khởi công trong năm 2027. Trong khi đó, một số doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm quỹ đất phù hợp.

    Theo đại diện Liên đoàn Lao động TP.HCM, mục tiêu cuối cùng của đơn vị này không phải là có nhiều bản ghi nhớ, mà là có dự án thật, căn nhà thật và người lao động thực sự có thể thuê, thuê mua với mức chi phí phù hợp.

    ĐẠI VIỆT

    Nguồn https://baomoi.com/nha-o-cho-cong-nhan-tp-hcm-khong-chi-can-nhieu-phai-vua-tui-tien-c56176698.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!