Category: Tin BĐS Việt Nam

  • Diện mạo mới của dải lan can bờ biển đường Phạm Văn Đồng

    Sau thời gian khẩn trương thi công nâng cấp, hệ thống lan can dọc bờ biển đường Phạm Văn Đồng (phường Bắc Nha Trang) đang dần hoàn thiện, góp phần tạo diện mạo mới khang trang, an toàn hơn phục vụ người dân và du khách.

    Lan can dọc bờ biển đường Phạm Văn Đồng được đầu tư, nâng cấp.

    Công nhân đang dần hoàn thiện lan can bờ biển.

    Một đoạn lan can được thay mới ở bờ biển Phạm Văn Đồng.

    Lan can được thay mới ở bờ biển Phạm Văn Đồng.

    Một đoạn lan can đang thi công phần móng bờ biển Phạm Văn Đồng.

    Theo ghi nhận của phóng viên chiều 3-10, dọc bờ biển đường Phạm Văn Đồng (đoạn từ khu vực đối diện đường Đoàn Trần Nghiệp đến đường Nguyễn Thị Ngọc Oanh), hệ thống lan can đang được tích cực thi công. Nhiều đoạn đã cơ bản hoàn thiện, tạo diện mạo mới cho khu vực ven biển.

    Hệ thống lan can cũ được tháo dỡ để xây dựng mới; đồng thời, các vị trí đà kiềng, tường chắn, bậc cấp bị hư hỏng cũng được sửa chữa. Lan can mới sử dụng kết cấu bê tông cốt thép phù hợp với môi trường biển, kết hợp đá granite, đá mài và các chi tiết inox.

    Nhìn dãy lan can mới đang dần hoàn thiện, ông Đặng Bá Phú (người dân phường Bắc Nha Trang) cho biết, ông sinh sống ở Nha Trang hơn 40 năm và thường xuyên tập thể dục, tắm biển tại khu vực biển Hòn Chồng – Đặng Tất. “Trước đây, do nhiều năm chịu tác động của thiên nhiên và con người, hệ thống lan can dọc bờ biển Phạm Văn Đồng bị xuống cấp, nhiều đoạn gãy, đổ, lộ cốt thép bên trong, gây nguy hiểm cho người dân và du khách. Hiện nay, tôi thấy lan can mới được nâng cấp rất chắc chắn, thiết kế đẹp mắt. Tôi cũng như nhiều người dân địa phương rất ủng hộ việc nâng cấp các hạng mục dọc bờ biển Nha Trang, góp phần tạo cảnh quan đô thị ngày càng đẹp hơn”, ông Phú nói.

    Dải lan can mới đang dần hoàn thiện dọc biển đường Phạm Văn Đồng.

    Lan can mới được nâng cấp ở dọc bờ biển Phạm Văn Đồng.

    Bà Nguyễn Thị Lam (du khách đến từ TP. Hà Nội) chia sẻ, hằng năm, gia đình bà đến Nha Trang du lịch và nhận thấy diện mạo biển nơi đây ngày càng được quan tâm đầu tư, nâng cấp, từ đá lát vỉa hè, ghế đá, lan can đến các tiểu cảnh. Vào các dịp lễ hội, cảnh quan được trang trí, tạo sự đổi mới.

    Bà Lam mong muốn, dọc bờ biển Nha Trang ngoài các hoạt động tắm biển, nghỉ dưỡng sẽ có thêm nhiều khu vui chơi, giải trí để phục vụ người dân và du khách.

    Được biết, công trình nâng cấp lan can bờ biển Nha Trang trước đây do UBND TP. Nha Trang (cũ) triển khai. Sau sáp nhập, công trình do Ban Quản lý dự án Phát triển tỉnh làm chủ đầu tư và triển khai các phần việc còn lại. Đối với khu vực đường Phạm Văn Đồng, đơn vị thi công đang khẩn trương hoàn thiện nâng cấp hệ thống lan can bờ biển với chiều dài khoảng 2km, dự kiến hoàn thành vào tháng 12-2026.

    THÁI THỊNH

    Nguồn https://baomoi.com/dien-mao-moi-cua-dai-lan-can-bo-bien-duong-pham-van-dong-c56196306.epi

  • Hiện trạng đáng lo của tường thành hơn 200 tuổi ở Huế

    Những ngày này, khi tham quan khu vực Hoàng thành (Kinh thành Huế), không khó để bắt gặp hình ảnh nhiều vị trí tường thành được chống đỡ bằng hệ thống khung sắt. Những thanh sắt được dựng áp sát thân tường, tạo thành hệ thống gia cố tạm thời cho công trình di tích đang có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng.

    Hoàng Thành hiện có 12 vị trí phải gia cố khung sắt chống đỡ.

    Ghi nhận vào sáng 4/10, tại một số vị trí, phần gạch vồ xây dựng tường thành đã xuất hiện các vết nứt, hư hại. Một số khu vực được chống đỡ bằng khung sắt, đồng thời đơn vị quản lý dựng biển cảnh báo nguy hiểm, yêu cầu người dân và du khách không đến gần nhằm bảo đảm an toàn.

    Trước đó, như Người Đưa Tin đã phản ánh, trận lũ tháng 11/2025 khiến khoảng 15m tường Hoàng thành Huế ở phía Bắc, cách cổng Hòa Bình khoảng 50m, bị đổ sập. Qua đánh giá của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Sở Xây dựng, đoạn tường bị sập gồm nhiều viên gạch vồ đã tách rời, liên kết yếu.

    Sau sự cố, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tiến hành trùng tu, phục hồi đoạn thành bị sập, đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng toàn bộ hệ thống tường Hoàng thành để có phương án xử lý phù hợp.

    Liên quan đến tình trạng nhiều vị trí tường thành phải gia cố bằng khung sắt, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thông tin, hiện có 12 vị trí được chống đỡ. Trong đó, mặt Tây có 5 vị trí, mặt Đông 4 vị trí, mặt Bắc 2 vị trí và mặt Nam 1 vị trí.

    Các hệ thống khung sắt được dựng áp sát thân tường nhằm hạn chế tác động lên những khu vực đang có dấu hiệu mất ổn định, góp phần bảo đảm an toàn trong thời gian chờ triển khai phương án tu bổ lâu dài.

    Ông Phùng Văn Hoàng, Giám đốc Ban Quản lý dự án thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cho biết, đơn vị đã rà soát, thống kê các vị trí tường thành xuống cấp nghiêm trọng để triển khai thi công hệ thống khung sắt chống đỡ, gia cường.

    “Trong thời gian qua, đơn vị cũng thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá hiện trạng. Nếu phát hiện thêm những vị trí có nguy cơ ảnh hưởng đến kết cấu công trình, Trung tâm sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp gia cố, gia cường”, ông Hoàng thông tin.

    Đáng chú ý, nhằm giải quyết căn cơ tình trạng xuống cấp của công trình, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tổ chức nghiên cứu, khảo sát và lập dự án tu bổ tổng thể hệ thống tường Hoàng thành cùng hệ thống kè đá hồ Ngoại Kim Thủy.

    Theo ông Hoàng, dự án đã được báo cáo Hội đồng Khoa học và hiện đang trong giai đoạn trình xin ý kiến chủ trương của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Dự kiến đến đầu năm 2027, dự án sẽ đủ điều kiện để tiến hành khởi công, triển khai thi công theo đúng quy định.

    Theo tư liệu từ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Hoàng thành là vòng thành thứ hai nằm bên trong Kinh thành Huế, được xây dựng từ năm 1804 dưới thời vua Gia Long và cơ bản hoàn chỉnh vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng. Công trình có chức năng bao bọc, bảo vệ các cung điện, miếu thờ quan trọng của triều Nguyễn, đồng thời là nơi sinh hoạt của nhà vua và hoàng gia.

    Hoàng thành có mặt bằng gần vuông, mỗi cạnh khoảng 600m, tường thành cao khoảng 4m, được xây bằng gạch, phía ngoài có hào bảo vệ. Công trình có 4 cửa chính gồm Ngọ Môn ở phía Nam, Hiển Nhơn ở phía Đông, Chương Đức ở phía Tây và Hòa Bình ở phía Bắc.

    Lê Kông

    Nguồn https://baomoi.com/hien-trang-dang-lo-cua-tuong-thanh-hon-200-tuoi-o-hue-c56196332.epi

  • Để sông Hồng thành biểu tượng phát triển mới

    Sông Hồng vừa là dòng sông, vừa là không gian sinh tồn, giao thương và kết nối các cộng đồng. Ảnh: Quang Vinh

    Đưa dòng sông vào trung tâm cấu trúc đô thị

    Trong lịch sử hình thành Thăng Long – Hà Nội, sông Hồng vừa là dòng sông, vừa là không gian sinh tồn, giao thương và kết nối các cộng đồng. Có một thời gian dài đô thị phải “quay lưng” với dòng sông để thích ứng với lũ lụt, nhưng tư duy quy hoạch đang chuyển sang một hướng khác: “quay mặt” ra sông, đưa dòng sông trở lại trung tâm của cấu trúc đô thị.

    Theo KTS Tô Anh Tuấn, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội, nếu quy hoạch năm 1998 chủ yếu xác định hai bên sông là không gian xanh, cảnh quan thì đến quy hoạch năm 2011, sông Hồng đã được nâng lên thành “biểu tượng phát triển”. Hiện nay, dòng sông được đặt ở vị trí của một trục chiến lược, một “lifeline” và động lực phát triển mới.

    Sự thay đổi này được thể hiện khá rõ trong điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở. Phạm vi nghiên cứu khoảng 40km, diện tích khoảng 11.418ha; khu vực này có khoảng 279.525 người sinh sống, với đất nông nghiệp chiếm khoảng 50%, mặt nước khoảng 30% diện tích nghiên cứu. Quy hoạch cũng ghi nhận 123 công trình di tích, cho thấy đây không phải một khoảng không gian trống để tổ chức một đô thị mới, mà là một vùng đã có sẵn cấu trúc tự nhiên, dân cư, sản xuất và di sản.

    Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội Đào Duy Hưng cho rằng sông Hồng được xác định là “cực tăng trưởng, phát triển và không gian cảnh quan đặc biệt đa chức năng”; Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là “trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị, gắn với văn hóa, sáng tạo, khoa học và công nghệ dọc hai bên sông”.

    Điểm đáng chú ý là quy hoạch 1/5.000 không chỉ xác định chức năng sử dụng đất. Ba nội dung cốt lõi được đặt ra gồm phân chia, xác định các chức năng đô thị để cụ thể hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm; xác lập các nguyên tắc tổ chức kiến trúc, cảnh quan; đồng thời xác định các dự án thành phần của Trục Đại lộ cảnh quan làm cơ sở cho quy hoạch chi tiết 1/500 và đầu tư xây dựng. Nói cách khác, đây là bước tổ chức lại một cấu trúc không gian lớn, trong đó sông Hồng và hai bên bờ được nhìn như một chỉnh thể phát triển.

    1.772ha và bài toán an toàn thoát lũ

    Theo hồ sơ điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đang được lấy ý kiến, diện tích xây dựng và tôn cao bãi sông được đề xuất khoảng 3.900ha, tăng khoảng 1.772ha, tương đương hơn 83% so với mức giới hạn 2.128ha được xác định theo Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.

    Con số chênh lệch này đặt ra yêu cầu phải làm rõ bằng cơ sở khoa học, bởi khu vực nghiên cứu rộng khoảng 11.418ha, trải dài 40km từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đồng thời là hành lang thoát lũ quan trọng của Thủ đô. Khoảng 279.525 người đang sinh sống trong khu vực này. Mọi thay đổi về xây dựng, tôn cao bãi sông, giao thông và tổ chức lại không gian dân cư đều có thể liên quan đến dòng chảy, mực nước, vận tốc lũ, ổn định lòng dẫn và an toàn đê điều.

    Theo hồ sơ, phương án được nghiên cứu trên cơ sở mô hình thủy văn, thủy lực một chiều và hai chiều, có khảo sát địa hình, địa chất, thủy văn, bùn cát và hiện trạng chỉnh trị sông; đồng thời tính đến kịch bản lũ chu kỳ 500 năm, biến đổi khí hậu đến năm 2100, vận hành hồ chứa thượng nguồn, thủy triều và biến động bùn cát. Tuy nhiên, kết quả mô hình mới là một trong những căn cứ để lập quy hoạch.

    Vì vậy, điều cần làm rõ không chỉ là 3.900ha gồm những khu vực nào, mà còn là bao nhiêu diện tích xây dựng công trình, bao nhiêu diện tích tôn cao, bao nhiêu dành cho giao thông, công viên, không gian công cộng và bao nhiêu vẫn giữ chức năng sinh thái, trữ nước, thoát lũ. Với sông Hồng, phát triển chỉ có thể đi cùng an toàn khi từng khu vực can thiệp được chứng minh bằng tính toán thủy lực và thẩm định chặt chẽ.

    Đó cũng là lý do “quay mặt ra sông” không thể được hiểu đơn giản là xây dựng nhiều hơn về phía dòng nước. KTS Trần Minh Tuấn, Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội, cho rằng cần tạo mạng lưới kết nối đô thị với sông bằng giao thông công cộng, phương tiện nhẹ, xe đạp và đi bộ, để người dân có thể đến với dòng sông, vui chơi, trải nghiệm văn hóa thay vì bị những tuyến đường lớn ngăn cách.

    Nếu thành công, giá trị của Trục Đại lộ cảnh quan không nằm ở việc có thêm một tuyến đường, mà ở khả năng biến sông Hồng thành một không gian mà đô thị thực sự hướng tới, đi qua và sử dụng. Đây là khác biệt căn bản giữa một “mặt tiền đô thị” với một trục phát triển.

    Phát triển theo dòng sông, không áp đặt lên dòng sông

    Tuy nhiên, chính ở đây xuất hiện thách thức lớn nhất. Sông Hồng không phải một mặt bằng có thể tùy ý phân khu, xây dựng. Đó là một hệ thống động, có dòng chảy, bãi sông, vùng trữ nước, đê điều và những biến động về mực nước. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên của không gian phát triển mới vẫn là an toàn thoát lũ.

    KTS Trần Huy Ánh, Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, gọi không gian lòng sông và bãi sông giữa hai tuyến đê là “ranh giới đỏ” của quy hoạch. Trong không gian này, phát triển không được cản trở dòng chảy, làm mất khả năng trữ nước, ảnh hưởng đến an toàn đê điều hoặc làm gia tăng nguy cơ thiệt hại khi có lũ lớn.

    GS.TS Lê Văn Nghị, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, lưu ý lòng dẫn sông Hồng đã có thay đổi về độ sâu trong những năm gần đây so với cơ sở tính toán của các quy hoạch phòng, chống lũ trước đây. Vì thế, việc tổ chức không gian ven sông phải được đặt trong tổng thể hệ thống, từ lòng dẫn, bãi sông đến mật độ phát triển, thoát nước và các công trình.

    Đối với Trục Đại lộ cảnh quan, câu hỏi vì vậy không chỉ là tuyến đường đi ở đâu, rộng bao nhiêu, kết nối những khu vực nào, mà còn là tuyến đường ấy nằm ở đâu so với hành lang thoát lũ, tác động thế nào đến phân bố dòng chảy và lưu lượng thiết kế. Đại lộ nếu được nhìn đơn thuần như một dự án giao thông sẽ dễ bỏ qua mối quan hệ căn bản giữa giao thông, không gian xanh, bãi sông và khả năng thích ứng của đô thị với nước.

    GS.TS Lê Văn Nghị phân tích dòng chảy mạnh nhất ở lòng dẫn, giảm dần về phía bãi sông, trong khi chiều rộng bãi sông thay đổi theo từng khu vực. Mực nước sông cũng có biên độ lớn. Vì vậy, không gian ven sông cần được tổ chức thành những lớp khác nhau, từ lòng sông, khu vực thường xuyên ngập, khu vực ít ngập đến không gian đô thị, với mức độ rủi ro và yêu cầu an toàn khác nhau.

    KTS Tô Anh Tuấn nhấn mạnh: “Thoát lũ trước hết là an toàn cho thành phố, cho người dân”. Từ nguyên tắc đó, những khu vực có cao độ và mức độ ngập khác nhau có thể được tổ chức thành các không gian bảo tồn tự nhiên, cây xanh chịu ngập, nông nghiệp, công viên, vui chơi, thể thao hoặc những khu vực đô thị ít bị ảnh hưởng bởi lũ. Cách tiếp cận này quan trọng ở chỗ không đặt mục tiêu “chế ngự” dòng sông, mà tìm cách để đô thị thích ứng với quy luật của nó.

    Đây cũng là điểm gặp nhau giữa quy hoạch và sinh thái. Nếu coi bãi sông, bãi giữa, mặt nước và những khoảng trống tự nhiên chỉ là quỹ đất có thể chuyển đổi chức năng, nguy cơ không chỉ nằm ở việc mất cảnh quan. Những thay đổi ấy có thể tác động tới khả năng trữ nước, thoát lũ, thấm nước và cân bằng sinh thái của cả khu vực. Ngược lại, nếu tổ chức được các lớp không gian phù hợp với cao độ và tần suất ngập, chính những vùng tưởng như “khó phát triển” lại có thể trở thành phần quan trọng của không gian xanh, vui chơi, sinh thái và thích ứng khí hậu.

    Mạch nguồn và động lực

    GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, cho rằng từ Văn Lang, Cổ Loa đến Thăng Long, sông Hồng luôn giữ vị trí trung tâm trong quá trình hình thành cộng đồng và sáng tạo văn hóa. “Giá trị văn hóa, lịch sử của sông Hồng rất lớn. Sông Hồng luôn là trung tâm và kết tinh nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Hà Nội. Vì thế, đến nay chúng ta đang thực hiện khát vọng quay mặt ra sông Hồng, đưa sông Hồng trở thành động lực phát triển của đô thị Hà Nội là rất đúng đắn, có cơ sở và tôi tin chúng ta có thể làm được”, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc khẳng định đồng thời lưu ý, để hiện thực hóa khát vọng này, quy hoạch hiện đại cần kết hợp những bài học kinh nghiệm của tổ tiên với các thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại, nhằm giải quyết những bài toán quản lý dòng sông mà trong lịch sử chúng ta chưa làm được.

    Không để người bên sông đứng ngoài cuộc phát triển

    Một không gian phát triển mới sẽ khó trở thành biểu tượng nếu trong quá trình hình thành nó, những giá trị làm nên bản sắc của chính dòng sông bị tách khỏi quy hoạch. Bởi bên sông hiện hữu không chỉ có đất đai và nhà cửa, mà còn có làng xóm, làng nghề, di tích, tín ngưỡng, sinh kế và những cộng đồng đã sống qua nhiều thế hệ.

    Điều chỉnh quy hoạch lần này vì thế có một công việc ít được chú ý nhưng rất quan trọng: rà soát, cập nhật hiện trạng các di tích lịch sử – văn hóa, công trình tín ngưỡng, trường học, nhà văn hóa và hạ tầng xã hội thiết yếu; đồng thời tiếp nhận phản ánh của người dân, chính quyền cơ sở để kiểm tra và cập nhật những thông tin chưa chính xác. Đây là cách đưa những gì đang tồn tại trên mặt đất vào trong bản đồ quy hoạch, thay vì chỉ nhìn khu vực sông Hồng từ những đường nét của một đồ án.

    Nhưng “quay mặt ra sông” cũng đồng nghĩa với việc phải nhìn thấy những cộng đồng đang ở đó. KTS Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam, gọi các làng ven sông là “hệ sinh thái di sản”, trong đó làng nghề không chỉ có đình, chùa hay những công trình kiến trúc, mà còn có người làm nghề, không gian sản xuất, khách hàng, quan hệ cộng đồng và ký ức về nơi chốn. Một số làng nghề có thể trở thành những “bảo tàng sống”, nơi chính người dân kể câu chuyện về làng, nghề và dòng sông.

    Vì vậy, tái định cư không thể chỉ được tính bằng số căn hộ hay số tiền bồi thường. Thành phố đang dự kiến khoảng 265ha đất tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng, theo hướng ưu tiên địa bàn người dân đang sinh sống hoặc khu vực lân cận, để họ có thể tiếp tục làm việc, sản xuất, kinh doanh, học tập và duy trì quan hệ cộng đồng.

    KTS Phạm Thanh Tùng nói: “Người dân ở các làng ven sông đang sở hữu 5 thứ: Nhà ở, đất, sinh kế, quan hệ cộng đồng và ký ức nơi chốn. Nếu chỉ bồi thường tiền sử dụng đất hay nhà ở thì mới giải quyết được một phần”. Trường hợp Bát Tràng cho thấy rõ điều đó: một hộ gia đình có thể đồng thời sở hữu nhà ở, xưởng, cửa hàng, nơi trưng bày sản phẩm, khách hàng, nguồn nguyên liệu và những mạng lưới nghề nghiệp được hình thành qua thời gian. Di chuyển một căn nhà là việc có thể tính toán bằng diện tích và giá trị tài sản; khôi phục một hệ sinh thái sinh kế và cộng đồng lại là câu chuyện khác.

    TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa – Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) nhấn mạnh: “Người phải di dời cần được chia sẻ, không chỉ về vật chất. Sự hy sinh của họ hôm nay là để tạo dựng cảnh quan sông Hồng trong tương lai. Đây không chỉ là một dự án đô thị mà còn mang ý nghĩa đối với dòng sông mẹ, với lịch sử phát triển của dân tộc. Sự đóng góp đó rất đáng được ghi nhận”.

    Đáng chú ý, quy hoạch 1/5.000 mới chỉ là bước tổ chức không gian tổng thể; các quy hoạch chi tiết 1/500 và dự án đầu tư tiếp theo vẫn phải tiếp tục lấy ý kiến. Thành phố cũng yêu cầu đơn vị tư vấn kiểm tra, đối chiếu hiện trạng và tiếp thu những phản ánh phù hợp để nâng cao tính chính xác, đồng bộ và khả thi của đồ án.

    Như vậy, câu chuyện sông Hồng trở thành biểu tượng phát triển mới không nằm ở việc dựng lên một hình ảnh mới bên dòng sông, mà ở khả năng tạo ra một cấu trúc đô thị mới nhưng không phủ nhận những gì đã làm nên dòng sông. Đó là một không gian đủ an toàn trước lũ, đủ mở để người dân tiếp cận, đủ xanh để thích ứng với tự nhiên, đủ giàu bản sắc để không đánh mất lịch sử và đủ công bằng để những người đang sống bên sông không bị đứng ngoài thành quả phát triển.

    TS Nguyễn Viết Chức cho rằng “mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa, tránh những can thiệp thô bạo có thể gây ra tác động ngược”. Có lẽ đây cũng là phép thử quan trọng nhất của khát vọng “quay mặt ra sông”: Không chỉ quay mặt để nhìn thấy dòng sông, mà phải hiểu dòng sông, tôn trọng dòng sông và nhìn thấy cả những con người đã sống cùng dòng sông.

    Cần những tác động hiền hòa

    TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa – Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam) nhấn mạnh, mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa, tránh những can thiệp thô bạo có thể gây ra tác động ngược.

    Là người có nhiều tâm huyết với quy hoạch sông Hồng, TS Nguyễn Viết Chức cũng cho rằng, bảo tồn không đồng nghĩa với việc “ôm khư khư” cái cũ. “Bảo tồn và phát triển văn hóa đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo tồn, nhưng đồng thời cũng phải biết phát huy giá trị trong những điều kiện mới”, TS Nguyễn Viết Chức nói, đồng thời cũng cho rằng, mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa và quy hoạch dòng sông là phục vụ đời sống nhân dân. “Kỳ tích sông Hồng” chỉ thực sự được xác lập khi đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và giúp cư dân hai bên bờ sông được trực tiếp thụ hưởng những giá trị của sự phát triển.

    Nhóm Phóng viên

    Nguồn https://baomoi.com/de-song-hong-thanh-bieu-tuong-phat-trien-moi-c56196237.epi

  • Ai được vay mua nhà thương mại giá rẻ?

    Theo Văn bản hợp nhất số 86/2026/VBHN-TT-BXD ngày 18-9-2026 của Bộ Xây dựng, chính sách vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ vẫn quy định cụ thể các nhóm đối tượng được vay để mua nhà ở thương mại. Văn bản này hợp nhất các quy định tại Thông tư số 07/2013/TT-BXD, Thông tư số 18/2013/TT-BXD và Thông tư số 17/2014/TT-BXD.

    Nhiều đối tượng được vay để mua nhà ở thương mại diện tích nhỏ, giá thấp hoặc nhà ở thương mại có tổng giá trị hợp đồng không quá 1,05 tỷ đồng. Ảnh: Phương Vi

    Theo quy định, nhóm được vay mua nhà ở thương mại gồm cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người có thu nhập thấp.

    Trong đó, đối với nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m², giá bán dưới 15 triệu đồng/m², người vay phải thuộc nhóm đối tượng nêu trên và đáp ứng các điều kiện về nhà ở, nơi cư trú và hợp đồng mua bán.

    Một nhóm khác được vay là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân và người lao động có thu nhập thấp nhưng khó khăn về nhà ở khi mua nhà tại các dự án phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, với tổng giá trị hợp đồng mua bán, gồm cả nhà và đất, đã có thuế VAT không vượt quá 1,05 tỷ đồng.

    Đáng chú ý, nhóm người có thu nhập thấp được xác định khá rộng, gồm người lao động tại các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã; người đã nghỉ lao động theo chế độ; người lao động tự do và kinh doanh cá thể.

    Người vay phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, hoặc đã có nhưng diện tích quá chật chội. Cụ thể, nếu đang ở căn hộ chung cư thì diện tích nhà ở bình quân của hộ gia đình phải dưới 8 m² sử dụng/người. Với nhà ở riêng lẻ, ngoài điều kiện dưới 8 m²/người, diện tích khuôn viên đất còn phải nhỏ hơn diện tích đất được cấp phép xây dựng theo quy định của địa phương.

    Trường hợp chưa có nhà nhưng đã có đất ở được cấp giấy chứng nhận thì diện tích đất cũng phải nhỏ hơn diện tích đất được phép xây dựng theo quy định của UBND cấp tỉnh.

    Người vay phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh, thành phố nơi có dự án. Nếu tạm trú, phải có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ 1 năm trở lên, có thể không liên tục, và có xác nhận của cơ quan bảo hiểm. Người vay đồng thời phải có hợp đồng thuê hoặc mua nhà ở thương mại theo quy định.

    Quy định này không yêu cầu xác nhận về điều kiện thu nhập đối với các đối tượng thuộc diện vay hỗ trợ nhà ở. Tuy nhiên, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng chứng minh thu nhập để bảo đảm khả năng trả nợ theo phương án vay.

    Mỗi hộ gia đình chỉ được vay một lần hỗ trợ nhà ở theo quy định. Ngoài các điều kiện về đối tượng và nhà ở, người vay còn phải đáp ứng các điều kiện vay vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

    PHƯƠNG VI

    Nguồn https://baomoi.com/ai-duoc-vay-mua-nha-thuong-mai-gia-re-c56196121.epi

  • Quảng Trị bắt đầu vận hành cơ chế ‘Luồng xanh 24 giờ’, ‘Luồng xanh 60%’

    Cán bộ Trung tâm phục vụ hành chính công xã Hoàn Lão (tỉnh Quảng Trị) giải đáp các thắc mắc cho người dân trong giải quyết thủ tục hành chính. Ảnh: Tá Chuyên/TTXVN

    Theo đó, “Luồng xanh 24 giờ” được tỉnh Quảng Trị áp dụng đối với hồ sơ thuộc danh mục 7 thủ tục hành chính phục vụ các dự án trọng điểm; hồ sơ đủ điều kiện phải được tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả trong không quá 24 giờ.

    Cơ chế “Luồng xanh 60%” áp dụng đối với 67 thủ tục hành chính; trong đó, có 66 thủ tục cấp tỉnh và 1 thủ tục cấp xã. Thời gian giải quyết các thủ tục này phải được rút ngắn tối thiểu 60% so với quy định hiện hành.

    Điểm đáng chú ý là tỉnh Quảng Trị không thay đổi thành phần, điều kiện, trình tự hay thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính mà chỉ tập trung thay đổi cách tổ chức xử lý hồ sơ. Hồ sơ thuộc diện “Luồng xanh” được gắn nhãn nhận diện “LXQT 24H” hoặc “LXQT 60%”; hồ sơ điện tử được gắn mã, nhãn “Luồng xanh” trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính để theo dõi, kiểm soát tiến độ. Đối với hồ sơ phải lấy ý kiến nhiều cơ quan, việc phối hợp được thực hiện đồng thời thay vì chờ xử lý lần lượt. Cơ quan chủ trì phải chủ động phân bổ thời gian cho từng đơn vị, bảo đảm toàn bộ quy trình hoàn thành trong thời hạn.

    Đáng chú ý, cơ quan được xin ý kiến nếu không có ý kiến hoặc trả lời chậm thì được xem như đồng ý và phải chịu trách nhiệm về nội dung thuộc phạm vi được lấy ý kiến. Trường hợp phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền, cơ quan chủ trì phải báo cáo cấp có thẩm quyền trong vòng 2 giờ làm việc để được xử lý. Nếu không thể bảo đảm mục tiêu giải quyết trong 24 giờ, hồ sơ được chuyển sang cơ chế “Luồng xanh 60%” và tiếp tục xử lý theo quy định.

    UBND tỉnh Quảng Trị yêu cầu tăng cường kiểm soát hồ sơ trên môi trường số. Văn phòng UBND tỉnh được giao nghiên cứu giải pháp theo dõi trạng thái, thời gian xử lý hồ sơ và thiết lập cảnh báo đối với hồ sơ có nguy cơ trễ hạn; đồng thời tổng hợp số hồ sơ đạt, không đạt mục tiêu và nguyên nhân. Các sở, ngành, địa phương tỉnh Quảng Trị phải định kỳ báo cáo số lượng hồ sơ thực hiện “Luồng xanh”, số hồ sơ đúng hạn, chậm hạn và nguyên nhân. Trường hợp không bảo đảm yêu cầu, các cơ quan phải xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan.

    UBND tỉnh Quảng Trị cũng thành lập Tổ công tác liên ngành thực hiện “Luồng xanh”, có nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, điều phối và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên ngành đối với các dự án thuộc diện áp dụng. Tổ công tác không thay thế chức năng, thẩm quyền giải quyết thủ tục của các cơ quan chuyên môn.

    Việc vận hành hai cơ chế được Quảng Trị xác định là giải pháp cải cách phương thức giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh nhằm góp phần khai thác tốt dư địa phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, văn hoá – xã hội của tỉnh.

    Hi Trang/TTXVN

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-bat-dau-van-hanh-co-che-luong-xanh-24-gio-luong-xanh-60-c56196291.epi

  • Bộ trưởng Công Thương kiểm tra các dự án tại Trung tâm Điện lực Quảng Trạch

    Ngày 4/10, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cùng đoàn công tác kiểm tra thực địa và làm việc với tỉnh Quảng Trị, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về tình hình triển khai các dự án tại Trung tâm Điện lực Quảng Trạch.

    Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đạt hơn 99%.

    Trung tâm có 4 dự án thành phần, gồm cơ sở hạ tầng, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II và Quảng Trạch III. Tổng công suất dự kiến gần 4.516 MW, tổng mức đầu tư khoảng 126.000 tỷ đồng.

    Quảng Trạch I đạt hơn 99% tiến độ

    Theo báo cáo tại buổi làm việc, Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đang trong giai đoạn hoàn thiện, tiến độ tổng thể đạt 99,62%. Tổ máy 1 đã hòa lưới ngày 12/4, tổ máy 2 hòa lưới ngày 28/9.

    Theo kế hoạch, tổ máy 1 chạy tin cậy từ ngày 23/10, phát điện thương mại ngày 23/11; tổ máy 2 chạy tin cậy từ ngày 30/11, phát điện thương mại ngày 31/12/2026.

    Để bảo đảm các mốc này, dự án còn một số công việc cần xử lý. Cảng nhập than và đê chắn sóng đã cơ bản hoàn thành, dự kiến hoàn tất thông báo hàng hải trước ngày 20/10, đáp ứng cho tàu tải trọng thiết kế 100.000 DWT cập bến.

    Công tác giải phóng mặt bằng đạt khoảng 99,82%, còn khoảng 0,58 ha đang hoàn tất thủ tục bàn giao.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương và Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cùng đoàn công tác kiểm tra hiện trường Trung tâm Điện lực Quảng Trạch.

    Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Bùi Hoàng Phương cam kết hoàn thành bàn giao phần mặt bằng còn lại trước ngày 10/10. Đồng thời, ông đề nghị chủ đầu tư thực hiện đúng cam kết tiến độ đối với Quảng Trạch I, rà soát và đẩy nhanh các dự án còn lại.

    Đối với Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II, mặt bằng đã được bàn giao cho nhà thầu EPC. Dự án dự kiến khởi công tháng 11/2026; tổ máy 1 phát điện thương mại tháng 2/2030, tổ máy 2 vào tháng 4/2030.

    Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch III có công suất khoảng 1.500 MW. EVN đã trình Bộ Công Thương thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, dự kiến hoàn thành thẩm định trong tháng 10/2026 để làm cơ sở quyết định đầu tư trong quý IV.

    Nghiên cứu bổ sung Quảng Trạch IV

    Tại buổi làm việc, EVN đề xuất bổ sung Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch IV, công suất dự kiến khoảng 1.400-1.500 MW, vào Trung tâm Điện lực Quảng Trạch và quy hoạch điện quốc gia.

    Bộ trưởng Bộ Công thương tặng quà đội ngũ vận hành Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I.

    Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị đồng tình với đề xuất này, đồng thời đề nghị Bộ Công Thương xem xét bổ sung một số dự án năng lượng của tỉnh vào Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.

    Kết luận buổi làm việc, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng đề nghị Cục Điện lực phối hợp với EVN và tỉnh Quảng Trị rà soát, đánh giá, tối ưu quy hoạch Trung tâm Điện lực Quảng Trạch theo hướng tích hợp; nghiên cứu khả năng bổ sung Quảng Trạch IV và một số dự án năng lượng của tỉnh vào quy hoạch.

    Bộ trưởng Công Thương yêu cầu các đơn vị tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh thủ tục đầu tư, cấp phép và hoàn thiện điều kiện để triển khai các dự án đúng tiến độ. Các đơn vị cũng được yêu cầu tăng cường phối hợp trong quá trình chạy thử, vận hành Quảng Trạch I; hoàn thiện thủ tục của Quảng Trạch II, Quảng Trạch III, từng bước hình thành hệ sinh thái năng lượng đồng bộ tại Quảng Trị.

    Hoàng Nam

    Nguồn https://baomoi.com/bo-truong-cong-thuong-kiem-tra-cac-du-an-tai-trung-tam-dien-luc-quang-trach-c56196175.epi

  • [Video] Để nghị quyết ‘chạm’ tới từng thửa đất (Kỳ cuối)

    >>> [Video] Để nghị quyết ‘chạm’ tới từng thửa đất (Kỳ 2)

    Đằng sau mỗi thửa đất là một gia đình, một câu chuyện về nguồn gốc, ranh giới, quyền lợi và những vướng mắc pháp lý kéo dài. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp sử dụng đất ổn định nhưng chưa hoàn tất thủ tục, hồ sơ tồn đọng qua nhiều năm cần được xác minh, xử lý.

    Ngay sau khi Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan được ban hành, thành phố Đồng Nai đã “bắt tay” làm ngay và có nhiều phương thức đổi mới trong cách quản lý theo hướng chủ động, minh bạch và hiệu quả hơn. Từ việc cán bộ xuống cơ sở, tháo gỡ từng hồ sơ khó đến số hóa, chuẩn hóa dữ liệu, mục tiêu là xây dựng hệ thống quản trị đất đai hiện đại, đồng bộ.

    Kết thúc loạt phóng sự, Kỳ cuối: “Khi mỗi thửa đất có “hồ sơ sống” bằng dữ liệu số”, cấp giấy chứng nhận không phải là điểm kết thúc của một hồ sơ. Bởi nếu thông tin về thửa đất chỉ nằm trong những tập hồ sơ giấy, phân tán ở nhiều cơ quan hoặc không được cập nhật sau mỗi biến động, thì mỗi lần người dân thực hiện thủ tục, quá trình xác minh có thể lại phải bắt đầu từ đầu.Vì thế, số hóa đất đai không đơn thuần là đưa giấy tờ lên máy tính. Dữ liệu phải được đối chiếu, chuẩn hóa, bổ sung những thông tin còn thiếu và cập nhật thường xuyên. Để mỗi thửa đất không chỉ có một bộ hồ sơ, mà có một “hồ sơ sống” bằng dữ liệu số.

    Thực hiện: Bích Nhàn – Văn Chính – Xuân Lượng

    Nguồn https://baomoi.com/video-de-nghi-quyet-cham-toi-tung-thua-dat-ky-cuoi-c56196095.epi

  • EVN đề nghị đàm phán giảm giá mua điện trong thời gian dự án điện tái tạo vi phạm nghiệm thu

    Đề nghị trên của Công ty Mua bán điện dựa trên Thông báo 3116 ngày 25/12/2023 của Thanh tra Chính phủ, các quyết định về cơ chế phát triển điện mặt trời, điện gió và Nghị quyết 233 ngày 10/12/2024 của Chính phủ.

    Trước đó, Kết luận thanh tra đối với 172 dự án điện tái tạo nêu rõ, khi chưa có văn bản chấp thuận kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu, các nhà máy không được hưởng giá FIT (biểu giá hỗ trợ ưu đãi). Thanh tra Chính phủ đồng thời yêu cầu rà soát việc hưởng cơ chế khuyến khích của các dự án này.

    Sau kết luận, một số dự án bị trì hoãn hoặc chỉ được thanh toán một phần theo hợp đồng mua bán điện (PPA) đã ký với EVN.

    Nhiều dự án điện tái tạo vẫn chưa hoàn tất việc xác định giá mua điện. Ảnh: Thạch Thảo

    Trong khi đó, Nghị quyết số 233 của Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương nghiên cứu, rà soát kỹ các trường hợp khó khăn, vướng mắc của dự án điện năng lượng tái tạo; đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý từng loại vướng mắc, bảo đảm không xảy ra tiêu cực, lợi ích nhóm và không để lãng phí.

    Đến nay, nhiều nhà đầu tư đã tháo gỡ vướng mắc và được chấp thuận kết quả kiểm tra nghiệm thu công trình. Tuy nhiên, việc xử lý vi phạm và xác định lại giá mua điện vẫn chưa hoàn tất.

    Theo đó, Công ty Mua bán điện đề nghị các chủ đầu tư đề xuất phương án tháo gỡ các tồn tại trong thực hiện Hợp đồng mua bán điện thông qua việc đàm phán giảm giá điện tối đa đối với khoảng thời gian dự án có vi phạm liên quan đến CCA (văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu). 

    Phương án giá điện đề xuất không vượt quá mức giá trần Khung giá phát điện các dự án năng lượng tái tạo chuyển tiếp theo quy định tại Thông tư số 15/2022 và Quyết định số 21 ngày 7/1/2023 của Bộ Công Thương.

    Chủ đầu tư cũng được yêu cầu khẩn trương gửi phương án đàm phán giá điện và các cơ sở, căn cứ liên quan, đồng thời sắp xếp lịch làm việc với Công ty Mua bán điện.

    Theo Quyết định số 21, giá trần chưa gồm thuế giá trị gia tăng là 1.184,90 đồng/kWh với điện mặt trời mặt đất; 1.508,27 đồng/kWh với điện mặt trời nổi; 1.587,12 đồng/kWh với điện gió trong đất liền và 1.815,95 đồng/kWh với điện gió trên biển.

    Tâm An

    Nguồn https://baomoi.com/evn-de-nghi-dam-phan-giam-gia-mua-dien-trong-thoi-gian-du-an-dien-tai-tao-vi-pham-nghiem-thu-c56196007.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!