Theo Quyết định số 4564/QĐ-UBND, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư thực hiện dự án Khu phức hợp Hoàng Văn Thái Plaza tại phường Hòa Khánh. Nhà đầu tư được chấp thuận là Công ty Cổ phần Vitours Land, có trụ sở tại số 23 Hoàng Văn Thái, phường Hòa Khánh.
Dự án được triển khai trên khu đất có diện tích khoảng 8.579,6 m², với tổng vốn đầu tư hơn 1.348 tỷ đồng. Mục tiêu là khai thác, sử dụng hiệu quả quỹ đất, đầu tư xây dựng nhà ở thương mại, góp phần đáp ứng nhu cầu nhà ở trên địa bàn thành phố.
Theo phương án được chấp thuận, sản phẩm của dự án là căn hộ chung cư thương mại, với tổng diện tích sàn xây dựng dự kiến 119.596 m². Trong đó, diện tích sàn căn hộ khoảng 62.600 m². Dự án dự kiến khởi công trong quý I/2027, hoàn thiện và đưa vào khai thác, vận hành trong quý IV/2028.
Trong quá trình triển khai, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện dự án đúng quy mô theo quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và Báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các chỉ tiêu về diện tích sàn xây dựng, hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, số tầng, chiều cao công trình, số lượng căn hộ và các hạng mục liên quan phải bảo đảm phù hợp với hồ sơ được duyệt.
Dự án phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về đầu tư, quy hoạch, nhà ở, đất đai, môi trường, xây dựng, lao động và phòng cháy, chữa cháy. Việc triển khai cũng phải bảo đảm yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, kết nối giao thông và các điều kiện liên quan theo quy định.
Về công tác quản lý, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng có trách nhiệm hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện các thủ tục đất đai, xác định nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai do điều chỉnh quy hoạch và những nội dung phát sinh khác (nếu có); hướng dẫn thủ tục về môi trường, khoáng sản, theo dõi việc sử dụng đất và chấp hành các yêu cầu bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện dự án.
Sở Xây dựng được giao hướng dẫn các thủ tục liên quan đến quy hoạch, xây dựng, nhà ở và tên gọi dự án, cũng như những nội dung về phát triển nhà ở xã hội; hướng dẫn nhà đầu tư lập phương án tổ chức giao thông nội bộ, phương án tiếp cận, kết nối với các trục giao thông chính và hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của dự án. Thuế TP Đà Nẵng có trách nhiệm hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính phát sinh theo quy định.
UBND phường Hòa Khánh được giao hướng dẫn các thủ tục liên quan đến đất đai, quy hoạch chi tiết; theo dõi quá trình xây dựng, bảo đảm công trình được thi công và khai thác đúng công năng thiết kế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép. Chính quyền địa phương cũng có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc triển khai dự án và thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường.
Trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chi tiết, UBND phường Hòa Khánh phải chủ trì, phối hợp với nhà đầu tư và các cơ quan liên quan rà soát, xác định chính xác phạm vi hành lang an toàn đường bộ, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật.
Ca sĩ Quang Lê vừa đăng clip khoe những hình ảnh đời thường cùng dì ruột chăm sóc mảng xanh trong biệt thự ở Mỹ. Trên diện tích vườn rộng, anh hào hứng khoe đa dạng loại cây do mình, mẹ và dì trồng như: bưởi, cam, lồng đèn, cherry, mãng cầu, nhãn, sơ ri, lê, hồng giòn…
Trong đó, cây mãng cầu dai phát triển tốt, tán rộng, cành lá sum suê và đã bắt đầu cho trái. Cây bưởi được cắt tỉa cành gọn gàng, cho hàng chục quả xanh mơn mởn chen chúc. Lúc tưới cây, Quang Lê tranh thủ hái vài quả chanh để dì dùng làm gia vị.
Quang Lê chăm vườn ở Mỹ
Ngoài các cây tự trồng, nam ca sĩ còn thích thú giới thiệu dàn hoa giấy bên hàng xóm leo qua vườn nhà mình. Nam ca sĩ hóm hỉnh nói: “Mình không trồng mà hưởng, sướng quá”.
Quang Lê chia sẻ thêm về dì ruột đang sống cùng mình tại California, Mỹ. Bà tu tại gia, mặc áo lam, hằng ngày chăm sóc cháu trai, thời gian rảnh lại ra vườn tưới cây, tỉa cành.
Căn nhà tại California, Mỹ có diện tích ước tính 1.000m2, được Quang Lê mua hồi năm 2024 với giá 1,5 triệu USD (hơn 37 tỷ đồng lúc đó – PV). Nhà này được thiết kế gần gũi với thiên nhiên, bao quanh bởi nhiều mảng xanh. Nam ca sĩ bố trí phòng thu âm riêng trong nhà để thuận tiện làm việc.
Ca sĩ Quang Lê. Ảnh: FBNV
Cách đây không lâu, trên trang cá nhân, Quang Lê bức xúc chia sẻ chuyện chi số tiền lớn (hơn 100.000 USD, gần 2,6 tỷ đồng) sửa nhà nhưng chất lượng thi công không tương xứng. Khi nhận lại nhà, anh phát hiện nhiều lỗi như: các tủ được sơn lại qua loa, thậm chí bong tróc; ổ khóa cửa bị hỏng; có phần tường bị nứt; nền nhà được lót không đạt chuẩn, bị “ộp ẹp” và hư hỏng…
Phần duy nhất Quang Lê hài lòng là căn bếp do một đội thi công khác thực hiện. Sau khi chia sẻ câu chuyện, anh được một người bạn thân tặng gạch để lát lại nền. Ca sĩ cũng tự mua đèn, đồ trang trí để tô điểm lại ngôi nhà.
Rừng không chỉ là tài nguyên thiên nhiên quý giá mà còn là nền tảng bảo đảm an ninh nguồn nước, điều hòa khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và hạn chế tác động của thiên tai. Đối với TP Đà Nẵng, hệ sinh thái rừng trải rộng từ khu vực ven đô đến miền núi phía tây có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng phối hợp UBND xã Trà Tân phát động trồng cây cảnh quan vì một màu xanh bền vững.
Để gìn giữ những giá trị đó, bên cạnh sự vào cuộc của các cơ quan quản lý, lực lượng kiểm lâm và chủ rừng, việc huy động sự tham gia chủ động của cộng đồng dân cư có ý nghĩa quyết định. Trong đó, chính sách chi trả DVMTR đã và đang tạo ra một cơ chế thiết thực: những tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ các dịch vụ do rừng mang lại thực hiện nghĩa vụ chi trả, góp phần tạo nguồn tài chính phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Thông qua cơ chế này, giá trị của rừng được nhìn nhận không chỉ ở gỗ hay các sản phẩm lâm nghiệp mà còn ở khả năng điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện, cung ứng nước sạch và cung cấp các dịch vụ môi trường khác theo quy định. Nguồn kinh phí DVMTR vì thế trở thành một trong những nguồn lực quan trọng, góp phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và tăng cường nguồn lực xã hội dành cho công tác BVR.
Chương trình trao đổi kinh nghiệm giữa Việt Nam và Lào về chính sách DVMTR, tổ chức tại Đà Nẵng.
Với vai trò là đầu mối tổ chức thực hiện chính sách trên địa bàn, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, điều phối nguồn tiền DVMTR theo quy định; phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc xác định diện tích rừng cung ứng dịch vụ, tổ chức chi trả và giám sát việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí. Qua đó, chính sách từng bước kết nối lợi ích giữa bên sử dụng DVMTR với các chủ rừng và những người trực tiếp tham gia BVR.
Từ nguồn thu DVMTR đến sinh kế cộng đồng
Đối với người dân sinh sống ở khu vực miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ nhận khoán BVR, tiền DVMTR có ý nghĩa thiết thực trong đời sống. Khoản thu nhập từ công việc BVR giúp các hộ có thêm điều kiện trang trải chi phí sinh hoạt, đầu tư sản xuất và chăm lo cho con em học tập.
Điều đáng ghi nhận là giá trị của chính sách không chỉ nằm ở số tiền được chi trả mà còn ở sự thay đổi trong nhận thức và hành động của người dân. Khi công sức BVR được ghi nhận bằng lợi ích cụ thể, người dân có thêm động lực tham gia tuần tra, kiểm tra rừng, phát hiện sớm những dấu hiệu xâm hại tài nguyên và phối hợp với lực lượng chức năng xử lý các tình huống phát sinh.
Từ chỗ chủ yếu được xem là đối tượng cần tuyên truyền, vận động không xâm hại đến rừng, người dân ngày càng có điều kiện trở thành lực lượng trực tiếp tham gia quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao. Những người sinh sống gần rừng với sự am hiểu địa hình, tập quán và đặc điểm tự nhiên tại địa phương có thể hỗ trợ phát hiện kịp thời các nguy cơ như khai thác lâm sản trái phép, lấn chiếm đất rừng hoặc nguy cơ cháy rừng.
Sự gắn kết giữa quyền lợi và trách nhiệm cũng góp phần củng cố mối quan hệ phối hợp giữa cộng đồng, chủ rừng và lực lượng chuyên trách. Khi người dân nhận thức được BVR đồng nghĩa với bảo vệ nguồn nước, môi trường sống và sinh kế lâu dài của chính mình, công tác giữ rừng sẽ có thêm nền tảng xã hội vững chắc.
Tuy nhiên, DVMTR không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết những khó khăn về sinh kế ở miền núi. Để tạo chuyển biến bền vững, chính sách cần được triển khai đồng bộ với các chương trình phát triển kinh tế nông thôn, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và nâng cao năng lực cộng đồng. Việc sử dụng nguồn tiền đúng mục đích, hiệu quả cũng là yếu tố quan trọng để lợi ích từ rừng được chuyển hóa thành những giá trị thiết thực cho người dân.
Thích ứng với không gian phát triển mới của Đà Nẵng
TP Đà Nẵng hiện nay có diện tích rừng rộng lớn, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý tài nguyên rừng và tổ chức thực hiện chính sách DVMTR. Sự đa dạng về địa hình, hệ sinh thái, chủ rừng, đối tượng nhận khoán và điều kiện kinh tế – xã hội đòi hỏi công tác quản lý phải được thực hiện đồng bộ, sát thực tế từng địa bàn.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng tổ chức hội nghị mở rộng đối tượng tham gia cung ứng DVMTR.
Trong bối cảnh đó, việc rà soát, cập nhật dữ liệu rừng, xác định chính xác diện tích cung ứng dịch vụ và đối tượng được hưởng chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để tổ chức chi trả đúng quy định, hạn chế sai sót, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ rừng và người dân.
Thực tế, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng đã triển khai hoạt động phối hợp với chính quyền địa phương nhằm hỗ trợ cập nhật diễn biến rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ lập hồ sơ chi trả DVMTR. Chẳng hạn, tháng 7/2026, Quỹ đã làm việc với UBND xã Tây Giang về cập nhật, theo dõi diễn biến rừng và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chi trả đối với diện tích rừng trồng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và rừng tự nhiên của hộ gia đình, cá nhân.
Hoạt động này cho thấy việc tổ chức thực hiện chính sách không chỉ dừng lại ở khâu thu, chi tài chính mà còn gắn chặt với công tác quản lý dữ liệu, xác định diện tích rừng và phối hợp giữa các cấp, các ngành. Đây cũng là hướng đi cần tiếp tục được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng quản lý, bảo đảm tính chính xác, minh bạch và hiệu quả của chính sách trên địa bàn rộng lớn sau sắp xếp.
Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng tiền DVMTR cần được tăng cường. Việc công khai thông tin chi trả, đối chiếu hồ sơ, kiểm tra kết quả BVR và kịp thời xử lý những vướng mắc sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng và đơn vị liên quan.
Mở rộng giá trị của rừng, hướng đến phát triển bền vững
Một điểm đáng chú ý là chính sách DVMTR tại Đà Nẵng không chỉ có ý nghĩa đối với công tác BVR mà còn mở ra cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và lan tỏa mô hình thực hiện chính sách. Tháng 8/2026, trong khuôn khổ chương trình trao đổi kinh nghiệm giữa Việt Nam và Lào về chính sách DVMTR, Đà Nẵng đã đón đoàn công tác đến tìm hiểu thực tế việc tổ chức thực hiện chính sách, trong đó có hoạt động tại doanh nghiệp du lịch, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch và chủ rừng trên địa bàn.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng TP Đà Nẵng trao áo ấm cho các em học sinh là con của đồng bào dân tộc miền núi.
Việc trao đổi kinh nghiệm từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp và chủ rừng góp phần làm rõ cách thức vận hành chính sách, trách nhiệm của các bên và vai trò của nguồn tiền DVMTR trong công tác BVR. Đây cũng là cơ hội để địa phương nhìn nhận, hoàn thiện hơn quy trình tổ chức thực hiện, tăng cường minh bạch và phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính dành cho lâm nghiệp.
Trong thời gian tới, để chính sách tiếp tục phát huy hiệu quả, Đà Nẵng cần chú trọng nâng cao chất lượng xác định diện tích rừng cung ứng dịch vụ, đảm bảo thu đúng, thu đủ và chi trả kịp thời, đúng đối tượng; tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu, theo dõi diễn biến rừng và công khai thông tin chi trả. Đồng thời, cần tiếp tục tuyên truyền để các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, còn người dân hiểu rõ quyền lợi, trách nhiệm và chủ động tham gia BVR.
Về lâu dài, việc phát huy chính sách DVMTR cần được đặt trong định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, những tiềm năng như dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, du lịch sinh thái và các hoạt động phù hợp với yêu cầu bảo tồn có thể mở ra thêm cơ hội huy động nguồn lực, nếu được nghiên cứu, tổ chức thực hiện theo đúng quy định và điều kiện thực tế.
Từ những khoản chi trả gắn với công sức giữ rừng đến sự chuyển biến trong nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng, chính sách DVMTR đang góp phần tạo nên sức sống mới cho lâm nghiệp Đà Nẵng. Phát huy tốt chính sách này không chỉ là bảo đảm nguồn lực cho những cánh rừng xanh mà còn là đầu tư cho sinh kế người dân, an ninh nguồn nước và tương lai phát triển bền vững của thành phố.
Ngày 24.9.2026, Văn phòng UBND TP. Hải Phòng có văn bản số 12400/VP – NC về việc xác minh, xử lý thông tin báo chí phản ánh liên quan đến Nhà cánh diều.
Thành phố giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với UBND phường Dương Kinh và các cơ quan, đơn vị liên quan kiểm tra, rà soát thông tin về nội dung: Nhà cánh diều từng là biểu tượng hoành tráng một thời của người dân thành phố Hải Phòng, nay đã bị lãng quên và xuống cấp nghiêm trọng.
Biểu tượng một thời của người dân TP Cảng giờ xuống cấp nghiêm trọng
Đồng thời, có biện pháp đôn đốc đơn vị quản lý sử dụng công trình Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế Hải Phòng thực hiện sửa chữa công trình nêu trên, đảm bảo mỹ quan đô thị, an toàn cho công trình và cộng đồng dân cư trong khu vực; báo cáo UBND thành phố trước ngày 10.10.2026.
Đến ngày 29.9.2026, Sở Xây dựng chủ trì họp cùng đại diện các cơ quan: Sở VHTTDL, UBND phường Dương Kinh, Công ty CP ACS Việt Nam về công tác sửa chữa, bảo trì công trình.
Sở Xây dựng đề nghị Công ty CP ACS Việt Nam khẩn trương kiểm tra lại hiện trạng công trình; tổ chức khảo sát, kiểm định chất lượng công trình (khi cần thiết), đánh giá mức độ nguy hiểm đối với các bộ phận, hạng mục hư hỏng, xuống cấp để xác định biện pháp xử lý phù hơn. Trên cơ sở kết quả kiểm tra kịp thời rào chắn, cảnh báo, khoanh vùng.
Nhà cánh diều nằm ngay cửa ngõ của TP. Hải Phòng
Theo báo cáo của Sở Xây dựng, công trình “Nhà cánh diều” thuộc Dự án Trung tâm Hội chợ triển lãm Thương mại văn hóa Hải Phòng. Công trình được đưa vào sử dụng từ năm 2004, có địa chỉ tại Km10 đường Phạm Văn Đồng, phường Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Hiện nay, đơn vị quản lý và sử dụng công trình là Công ty CP ACS Việt Nam. Tuy nhiên, từ sau khi đưa vào khai thác đến nay, công trình đã dần xuống cấp; nhiều hạng mục không được sửa chữa, bảo trì. Đặc biệt sau bão Yagi tháng 9.2024, công trình đã hư hỏng phần mái và các hạng mục phụ trợ khác.
Công trình xuống cấp nhưng Công ty CP ACS chưa thực hiện sửa chữa
Dù trước đó, ngày 28.2.2026, Sở Xây dựng từng có văn bản đề nghị Công ty CP ACS Việt Nam khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác sửa chữa, khôi phục hiện trạng công trình trước bão, đảm bảo mỹ quan đô thị. Nhưng đến nay, Công ty CP ACS Việt Nam chưa thực hiện. Phần mái vẫn còn nguyên hiện trạng hư hỏng sau bão như báo chí phản ánh…
Được biết, năm 2025, UBND quận Dương Kinh (cũ) từng có Quyết định về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 tại khu vực Dự án Trung tâm Hội chợ triển lãm Thương mại văn hóa Hải Phòng quy hoạch là Khu đô thị mới đa chức năng và khu công cộng – dịch vụ.
Nhưng đến nay Dự án này vẫn nằm “án binh” nơi cửa ngõ của thành phố.
Nhà cánh diều là quần thể công trình được xây dựng trên diện tích 47ha, với quy mô, kiến trúc hiện đại. Trong đó, tòa nhà Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế TP. Hải Phòng có kết cấu bằng thép vĩnh cửu, mặt bằng tầng 1 là 10.000m2, tầng 2 là 5.000m2.
Tháng 5.2004, công trình được đưa vào sử dụng trong sự háo hức của người dân thành phố cảng. Nhà cánh diều nhanh chóng trở thành điểm đến quen thuộc. Hàng chục sự kiện được tổ chức tại đây.
Nhưng rồi các sự kiện thưa dần, do nằm cách xa trung tâm thành phố khoảng 10km, nên dù các chương trình được tổ chức cũng rất ít người dân lui tới. Từ đó, các hội chợ, triển lãm và sự kiện bắt đầu quay trở lại trung tâm.
Khu tầng 1 biến thành nơi cho thuê làm kho chứa hàng
Khi công trình mới hoàn thành, nhìn từ xa, biểu tượng của tòa nhà là một trong những kiến trúc độc đáo, với công năng phục vụ các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí… Tuy nhiên, chỉ sau một năm hoạt động, Nhà cánh diều đã nhanh chóng bị bỏ lại.
Nhà cánh diều dần trở nên hoang phế và bị biến thành nhà kho chứa hàng. Mức đầu tư trăm tỉ, từng được kỳ vọng là địa điểm lý tưởng để Hải Phòng tổ chức các sự kiện, thu hút đầu tư và các hoạt động thương mại, dịch vụ nhưng sau 22 năm, Nhà cánh diều đang dần trở thành biểu tượng của việc đầu tư kém hiệu quả, gây lãng phí ở TP. Hải Phòng.
Sự vào cuộc kịp thời của UBND TP. Hải Phòng thể hiện tinh thần cầu thị, tiếp thu phản ánh của báo chí và dư luận. Người dân thành phố Cảng đang kỳ vọng trong thời gian tới Nhà cánh diều sẽ không còn là hoang phế mà trở thành một khu đô thị sầm uất theo đúng như quy hoạch trước đó.
Tỉnh đang tập trung hoàn thiện việc giao vốn, chuẩn bị dự án và xử lý các vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, bao gồm nguồn vốn giai đoạn mới và nguồn vốn từ giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026.
Từ nguồn vốn hỗ trợ của Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người dân xã Tân Sơn đầu tư phát triển kinh tế hiệu quả.
Đến nay, có 44 xã gửi kế hoạch triển khai các chương trình giai đoạn 2026-2030 nhưng mới có 14 xã gửi phương án phân bổ vốn. Các địa phương tiếp tục rà soát nhu cầu, lựa chọn danh mục dự án và nhập dự toán trên hệ thống Tabmis để triển khai nhiệm vụ theo quy định.
Để tổ chức thực hiện, HĐND, UBND tỉnh và các sở, ngành đã ban hành 85 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn; kiện toàn Ban chỉ đạo, Văn phòng điều phối và xây dựng nguyên tắc phân bổ nguồn lực. Vốn được ưu tiên cho địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiệm vụ cấp thiết và dự án có khả năng hoàn thành.
UBND tỉnh yêu cầu các cơ quan, đơn vị rà soát từng dự án, xác định rõ tiến độ và khả năng giải ngân; tập trung xử lý vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, đấu thầu và thanh quyết toán. Vốn của dự án không còn khả năng giải ngân sẽ được xem xét điều chuyển theo quy định.
Đối với hơn 826,8 tỷ đồng vốn của 3 chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026, toàn tỉnh đã giải ngân hơn 240,198 tỷ đồng, đạt 29,1%. Trong đó, Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt 36,3%; Chương trình giảm nghèo bền vững đạt 25,6%; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt 28,7%.
Kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu
Nghị định này quy định về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; áp dụng đối với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, người có thẩm quyền, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách
Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính.
Kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bảo đảm các thủ tục hành chính được ban hành đúng quy định, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng thực hiện và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.
Kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, bảo đảm khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính.
Cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính
Nghị định quy định, Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng của bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (cấp tỉnh) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương.
Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (cấp xã) có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã. Trường hợp địa phương tổ chức theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp thì Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã.
Quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật
Nghị định nêu rõ, thủ tục hành chính quy định trong văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; minh bạch, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện; tiết kiệm thời gian và chi phí của cơ quan, tổ chức và cá nhân; bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý; bảo đảm quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính; bảo đảm nguyên tắc số hóa, sử dụng, kết nối liên thông dữ liệu, định danh điện tử, chỉ cung cấp thông tin một lần trong giải quyết thủ tục hành chính.
Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động thủ tục hành chính nếu giải pháp thực hiện chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính.
Quy định thủ tục hành chính làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường, thì các quy định về yêu cầu, điều kiện của thủ tục hành chính phải được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.
Yêu cầu của việc quy định thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định này phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và phải đáp ứng các quy định dưới đây.
Việc quy định một thủ tục hành chính phải bảo đảm đầy đủ các bộ phận cấu thành cơ bản sau đây: Tên thủ tục hành chính; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; thành phần, số lượng hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.
Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính trong một văn bản thì phải giao cơ quan, người có thẩm quyền quy định để bảo đảm đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính và bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định thủ tục hành chính hoặc thời điểm có hiệu lực của quy định thủ tục hành chính.
Nghị định cũng nêu rõ, quy định thủ tục hành chính phải bảo đảm quyền lựa chọn cách thức thực hiện của cá nhân, tổ chức, trong đó, ưu tiên thực hiện được trên môi trường điện tử, thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/10/2026.
Một quyết sách lớn được kiểm chứng từ những việc gần dân nhất: Một thủ tục được giải quyết thuận lợi, một vụ việc được xử lý kịp thời, một địa bàn được giữ bình yên. Sau hơn một năm vận hành mô hình Công an địa phương 2 cấp, thực tiễn tại Bắc Ninh, Nghệ An và Lâm Đồng cho thấy dấu ấn của công tác tham mưu trong từng chuyển động ở cơ sở: Đưa chủ trương thành hành động, gắn thẩm quyền với trách nhiệm, đưa lực lượng đến gần người dân hơn. Và từ chính những địa bàn ấy, kết quả, vướng mắc cùng phản hồi của người dân lại trở về bàn tham mưu, góp phần hoàn thiện quyết sách, để mỗi thay đổi của bộ máy mang lại hiệu quả thiết thực trong cuộc sống.
Xuống địa bàn nắm tình hình, tổ chức lực lượng, phối hợp giải quyết công việc đó là những phần việc diễn ra hằng ngày tại Công an cấp xã sau khi tổ chức lại theo mô hình mới. Không chỉ bảo đảm an ninh, trật tự, cán bộ Công an cơ sở còn phải trực tiếp bám địa bàn, gần dân, nắm dân, chủ động tham mưu và phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các lực lượng để xử lý những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.
Công an và lực lượng bảo đảm ANTT cơ sở tại phường Kép, TP Bắc Ninh (ảnh trái); Công an xã Trung Lộc nắm tình hình địa bàn.
Công an xã Đức Trọng họp liên ngành (ảnh trái); Công an xã Đức Trọng tiếp công dân.
Đó đều là những công việc rất đỗi thường ngày. Nhưng trong mô hình tổ chức mới, phía sau mỗi ngày tiếp công dân, mỗi lần xuống địa bàn, mỗi cuộc họp triển khai hay mỗi hoạt động phối hợp là yêu cầu về một phương thức làm việc khác: sâu sát hơn với địa bàn, chủ động hơn trong xử lý công việc, rõ hơn về trách nhiệm và gần hơn với người dân.
Hướng dẫn người dân sử dụng nền tảng số.
Tại phường Kép, TP Bắc Ninh, yêu cầu ấy thể hiện rõ trong từng vụ việc cụ thể. Ngày 29/9/2026, cán bộ Công an phường đến hộ gia đình bà Phạm Thị Tuyết, sinh năm 1970, ở tổ dân phố Đồn Cầu Bằng, để tuyên truyền, vận động gia đình đồng thuận nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng phục vụ dự án Khu công nghiệp Hương Sơn.
Trong quá trình giải phóng mặt bằng, một số trường hợp chưa đồng thuận, liên quan đến đất giao thông, thủy lợi và hành lang phục vụ tuyến cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn. Công an phường phối hợp với chính quyền nắm tình hình, tuyên truyền, vận động, giải thích để người dân hiểu, đồng thuận, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, giữ vững ổn định ngay từ cơ sở.
Trung tá Nguyễn Văn Sáu, Phó Trưởng Công an phường Kép, chia sẻ: “Trước đây, một số vụ việc còn phải báo cáo, xin ý kiến cấp trên. Sau hơn một năm vận hành mô hình mới, Công an phường không chỉ được phân cấp, phân quyền mạnh hơn mà còn phải chủ động làm chủ địa bàn, trực tiếp tham mưu, giải quyết công việc và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả”.
Đồng chí Trung tá Nguyễn Văn Sáu – Phó Trưởng Công an phường Kép trực tiếp vận động hộ gia đình bà Phạm Thị Tuyết, sinh năm 1970, ở tổ dân phố Đồn Cầu Bằng nhận tiền đền bù giải phóng mặt bằng.
Sau hơn một năm, những thay đổi ấy cho thấy yêu cầu đối với Công an xã, phường, đặc khu không chỉ dừng ở việc thực hiện nhiệm vụ theo mô hình tổ chức mới. Bộ máy mới phải tạo ra cách làm mới, năng lực thực hiện nhiệm vụ mới và những kết quả rõ hơn ngay từ cơ sở những chuyển biến mà người dân có thể trực tiếp cảm nhận.
Từ việc nắm địa bàn, phối hợp lực lượng đến trực tiếp giải quyết những vấn đề phát sinh, mỗi cán bộ, mỗi đơn vị cơ sở đều phải từng bước thích ứng với yêu cầu đó.
Đồng chí Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an tại Lễ công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an về tổ chức, cán bộ Công an tỉnh, thành phố theo Nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Từ ngày 1/3/2025, Công an địa phương được tổ chức theo mô hình 2 cấp, cấp tỉnh và cấp xã. Đến ngày 1/7/2025, chính quyền địa phương 2 cấp chính thức được triển khai. Hai quá trình diễn ra trong cùng một giai đoạn, đặt ra yêu cầu tổ chức lại con người, địa bàn, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế phối hợp, nhưng đồng thời phải bảo đảm công việc không bị gián đoạn, an ninh, trật tự được giữ vững.
Phía sau một quyết định về tổ chức bộ máy là một khối lượng lớn công việc: bố trí lực lượng, chuyển giao nhiệm vụ, dữ liệu, hồ sơ, bảo đảm cơ sở vật chất và thiết lập lại các mối quan hệ phối hợp. Nhưng đích đến cuối cùng không nằm ở việc bộ máy được sắp xếp ra sao, mà ở khả năng vận hành và hiệu quả thực chất sau sắp xếp.
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp ngày 01/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Sau một năm, chúng ta đã đi qua giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và năng lực kiến tạo phát triển của bộ máy mới”.
Với lực lượng Công an, yêu cầu đó được cụ thể hóa bằng năng lực nắm tình hình, bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ Nhân dân và góp phần tạo lập môi trường an ninh, an toàn cho phát triển.
Sau hơn một năm vận hành, thước đo của mô hình mới không chỉ là tổ chức đã được kiện toàn, mà là công việc ở cơ sở có được giải quyết thông suốt hơn, trách nhiệm có được thực hiện rõ hơn và người dân có thực sự cảm nhận được sự thay đổi hay không.
Cuối cùng, câu hỏi của một cuộc cải cách lớn lại được đặt ra bằng một điều rất cụ thể: Bộ máy mới có giải quyết công việc tốt hơn cho người dân hay không? Câu trả lời không nằm trên sơ đồ tổ chức, mà phải được tìm thấy ở cơ sở.
Một chủ trương lớn chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể ở cơ sở. Với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, yêu cầu ấy càng rõ hơn: Quyết sách phải được triển khai thống nhất nhưng không thể máy móc; phải phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, từng lực lượng và từng con người.
Để một quyết sách đi từ chủ trương đến thực tiễn là cả một quá trình chuẩn bị và tổ chức thực hiện. Từ Văn phòng Bộ Công an nơi tham mưu, tổng hợp, điều phối việc triển khai các chủ trương lớn của Bộ đến Công an các địa phương, mỗi khâu đều phải làm rõ nhiệm vụ, cách thức thực hiện và những điều kiện cần thiết để bộ máy mới có thể vận hành thông suốt.
Ảnh cán bộ Văn phòng Bộ Công an làm công tác nghiên cứu, tham mưu, tổng hợp.
Vì vậy, công tác tham mưu không chỉ dừng ở việc truyền đạt chủ trương, mà phải đi trước một bước trong nghiên cứu, nắm tình hình, dự báo vấn đề, tham mưu phương án và theo dõi quá trình tổ chức thực hiện. Tham mưu càng sát thực tiễn, quyết sách khi xuống cơ sở càng có khả năng chuyển nhanh thành những công việc cụ thể.
Ở Nghệ An, quá trình triển khai mô hình tổ chức mới cũng đặt ra yêu cầu đó. Từ thực tiễn địa bàn, Công an tỉnh phải cụ thể hóa chủ trương thành nhiệm vụ, phương án và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với từng địa bàn, từng lực lượng. Đại tá Nguyễn Văn Đạo, Trưởng phòng Tham mưu Công an tỉnh Nghệ An, khẳng định: “Tham mưu phải đi trước một bước, nắm chắc tình hình để chủ trương khi xuống cơ sở có thể chuyển ngay thành những việc cụ thể, phù hợp với từng địa bàn”.
Thượng tá Nguyễn Văn Đạo – Trưởng phòng Tham mưu Công an tỉnh Nghệ An tại buổi làm việc của Công an tỉnh Nghệ An bàn về sắp xếp tổ chức bộ máy mới theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an.
Từ thực tiễn Nghệ An cho thấy, cùng một chủ trương nhưng khi đi xuống từng địa bàn phải được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ, phương án và cách thức phối hợp phù hợp.
Đó chính là giá trị của công tác tham mưu: Không chỉ đưa chủ trương xuống cơ sở, mà phải làm cho chủ trương có khả năng vận hành trong thực tế. Nhưng quyết sách dù được chuẩn bị kỹ đến đâu vẫn cần những con người trực tiếp biến nó thành kết quả. Khi địa bàn, nhiệm vụ và thẩm quyền thay đổi, người thực hiện cũng phải thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách chịu trách nhiệm.
Nếu tổ chức bộ máy có thể thay đổi bằng một quyết định, thì phương thức làm việc không thể thay đổi chỉ bằng một quyết định. Sau sắp xếp, địa bàn rộng hơn, quy mô dân cư lớn hơn, nhiệm vụ nhiều hơn và yêu cầu phối hợp cũng khác trước. Vì vậy, cùng với tổ chức lại bộ máy là yêu cầu tổ chức lại cách làm, để mỗi cán bộ thực sự làm chủ địa bàn và chịu trách nhiệm về công việc được giao.
Tại xã Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Trung tá Hoàng Văn Phước, Trưởng Công an xã, trực tiếp phụ trách địa bàn được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Liên Nghĩa và xã Phú Hội.
Địa bàn rộng gần 149 km², gồm 49 thôn, với gần 89.000 người thuộc 21 dân tộc. Quy mô địa bàn lớn hơn đòi hỏi phương thức tổ chức công việc phải thay đổi. Theo Trung tá Hoàng Văn Phước: “Địa bàn rộng hơn, công việc nhiều hơn thì phải phân công thật cụ thể, để mỗi cán bộ biết rõ mình phụ trách việc gì, địa bàn nào và chịu trách nhiệm đến đâu”.
Trưởng Công an xã Đức Trọng nắm tình hình tại nhà dân.
Từ yêu cầu thực tế, Công an xã Đức Trọng chú trọng phân công theo tinh thần “6 rõ: Rõ người – Rõ việc – Rõ địa bàn – Rõ trách nhiệm – Rõ thời gian – Rõ kết quả”. Điều quan trọng không chỉ là giao nhiệm vụ, mà phải bảo đảm mỗi nhiệm vụ có người chịu trách nhiệm và mỗi kết quả đều có thể kiểm đếm.
Cùng với Đức Trọng, xã Trung Lộc, tỉnh Nghệ An cũng là một địa bàn cho thấy rõ yêu cầu phải đổi mới cách tổ chức công việc. Thành lập từ tháng 7/2025 trên cơ sở sáp nhập 4 xã Nghi Long, Nghi Quang, Nghi Thuận và Nghi Xá, Trung Lộc có diện tích 31,35 km², dân số hơn 31.000 người, trong đó giáo dân chiếm khoảng 29%.
Trên địa bàn có Khu công nghiệp Nam Cấm và Khu công nghiệp WHA, hơn 50 doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động, thu hút hàng chục nghìn công nhân; đây cũng là địa bàn trọng điểm về an ninh quốc gia. Thượng tá Thái Văn Khoa, Trưởng Công an xã Trung Lộc, nhìn nhận: “Không phải cứ chỉ đạo đúng là đủ; phải tổ chức đúng cách, phù hợp với thực tiễn và tạo ra kết quả thực chất”.
Phỏng vấn Thượng tá Thái Văn Khoa, Trưởng Công an xã Trung Lộc.
Tại phường Kép, thành phố Bắc Ninh, yêu cầu đổi mới phương thức chỉ huy được thể hiện rõ qua chính thực tiễn địa bàn. Với diện tích trên 58 km², hơn 11.495 hộ, trên 42.598 nhân khẩu, 49 thôn và 12 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn phường đang trong quá trình đô thị hóa, công việc của người chỉ huy không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực mà đòi hỏi một cách nhìn toàn diện, bao quát hơn.
Từ bảo đảm an ninh, trật tự, quản lý hành chính đến giải quyết những vụ việc phát sinh, từ tổ chức lực lượng đến phối hợp với cấp ủy, chính quyền và Nhân dân, mỗi nhiệm vụ đều đặt ra yêu cầu phải chủ động hơn trong điều hành và rõ hơn về trách nhiệm. Thượng tá Nguyễn Văn Phương, Trưởng Công an phường Kép, cho rằng:“Xuống cơ sở mới thấy, nhiều vấn đề không thể nhìn từ một lĩnh vực riêng lẻ. Người chỉ huy phải nhìn toàn diện hơn, trực tiếp hơn và chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả xử lý”.
Thượng tá Nguyễn Văn Phương, Trưởng Công an phường Kép phát biểu trong hội nghị.
Từ Đức Trọng đến Trung Lộc, Kép, điều kiện địa bàn khác nhau nhưng cùng đặt ra một yêu cầu: Sắp xếp tổ chức chỉ là bước đầu; bộ máy mới chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi con người và phương thức làm việc cũng được đổi mới.
Người cán bộ không chỉ thực hiện phần việc được giao, mà phải làm chủ địa bàn, chủ động phối hợp và chịu trách nhiệm về kết quả.
Bởi vậy, dấu ấn của mô hình mới không chỉ nằm ở sơ đồ tổ chức, mà được thể hiện qua cách mỗi cán bộ, mỗi người chỉ huy nắm địa bàn sâu hơn, xử lý công việc chủ động hơn và tạo ra kết quả rõ hơn cho người dân.
Sau những thay đổi về tổ chức, địa bàn và con người, mô hình mới không còn nằm trên sơ đồ tổ chức mà hiện diện trong chính cách Công an cấp xã tiếp nhận, phối hợp và giải quyết công việc hằng ngày.
Công an xã Trung Lộc tiếp nhận, tư vấn, hỗ trợ cai nghiện ma túy (ảnh trái). Công an phường Kép tiếp và làm thủ tục trên cổng dịch vụ công cho người dân.
Công an xã Đức Trọng triển khai phương án bảo đảm ANTT.
Từ một cuộc gọi của người dân, một thông tin từ tổ dân phố đến một vụ việc mới phát sinh, công việc được tiếp nhận, phân loại, phân công và phối hợp xử lý trong phạm vi thẩm quyền. Những vấn đề cần sự tham gia của chính quyền hoặc các lực lượng khác được trao đổi trực tiếp ngay tại địa bàn.
Tại phường Kép, thành phố Bắc Ninh, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương được thể hiện rõ trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, nhất là trước những tình huống đột xuất như phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, bảo đảm an toàn cho người dân.
Trong đó, Công an phường phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu, nắm tình hình, tổ chức lực lượng và thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng; đồng thời phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân sự và các lực lượng tham gia ở cơ sở.
Qua các đợt bão, trong đó có bão Yagi năm 2024, bão số 11 năm 2025 và bão số 4 (NARA) năm 2026, dưới sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, Công an, quân sự và các lực lượng ở cơ sở đã chủ động triển khai phương châm ‘4 tại chỗ’, từ nắm tình hình, xây dựng phương án, bố trí lực lượng đến xử lý các tình huống phát sinh, góp phần bảo đảm an toàn cho người dân và hạn chế thiệt hại. Ông Trần Công Sinh, Phó Chủ tịch UBND phường Kép, đánh giá: “Điểm quan trọng của mô hình mới là những vấn đề phát sinh được phát hiện và xử lý sớm hơn, ngay từ cơ sở”.
Ông Trần Công Sinh – Phó Chủ tịch UBND phường Kép, TP Bắc Ninh tại buổi họp triển khai nhiệm vụ của mô hình “Toàn dân tham gia bảo vệ ANTQ trên Không gian mạng phường Kép”
Những thay đổi ấy không chỉ nằm trong cách tổ chức công việc của Công an hay chính quyền, mà được thể hiện qua chính cách các vấn đề được tiếp nhận, phối hợp và giải quyết tại địa bàn.
Một ngày ở cơ sở vì thế trở thành thước đo cụ thể cho khả năng vận hành của bộ máy mới: công việc có được giải quyết thông suốt hơn, sự phối hợp có kịp thời hơn và những vấn đề phát sinh có được xử lý ngay từ địa bàn hay không.
Nhưng đó mới là góc nhìn từ phía bộ máy; thước đo cuối cùng của một quyết sách vẫn là người dân có thực sự cảm nhận được sự thay đổi hay không.
Những thay đổi của bộ máy cuối cùng phải được người dân cảm nhận trong những công việc rất cụ thể.
Tại Công an xã Trung Lộc, ông Nguyễn Hữu Thắng, sinh năm 1968, ở xóm Hưng Xá, đến thực hiện thủ tục đăng ký phương tiện.
Từ tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra giấy tờ đến hướng dẫn các bước thực hiện, cán bộ Công an xã giải thích cụ thể, giúp người dân hoàn thiện thủ tục ngay từ đầu, hạn chế việc phải đi lại nhiều lần. Ông Nguyễn Hữu Thắng chia sẻ: “Đối với cán bộ, đó có thể là việc hằng ngày, nhưng với người dân, được hướng dẫn cụ thể để làm đúng ngay từ đầu là điều rất thiết thực. Tôi cảm thấy mình được tôn trọng và được hỗ trợ tận tình khi đến làm việc.”
Ông Nguyễn Hữu Thắng, sinh năm 1968, làm thủ tục đăng ký xe tại Công an xã Trung Lộc, Nghệ An.
Ở Đức Trọng, sự thay đổi lại được cảm nhận trong một vụ việc về an ninh, trật tự xảy ra ngoài giờ hành chính.
Khoảng 20 giờ ngày 15/9/2026, gia đình ông Nguyễn Thanh Hải, ở thôn R’Chai, xã Đức Trọng, phát hiện bị mất nhiều tài sản gồm máy bơm nước, máy khoan bê tông, bình phun thuốc bảo vệ thực vật và máy cắt cỏ.
Công an xã nhanh chóng cử cán bộ xuống hiện trường, tiếp nhận thông tin, bảo vệ hiện trường, lấy lời khai, triển khai các biện pháp nghiệp vụ, đồng thời cập nhật tình hình cho gia đình và phối hợp với các lực lượng liên quan. Sau đó, đối tượng được xác định, tài sản được thu hồi và các thủ tục theo quy định tiếp tục được thực hiện.
Ông Nguyễn Thanh Hải cho biết: “Trước đây, khi còn mô hình chính quyền địa phương 3 cấp, người dân chúng tôi ở xã khi xảy ra vụ việc thường phải trình báo ở xã rồi chờ chuyển lên Công an huyện giải quyết. Có những vụ việc phải đi lại nhiều lần, chờ đợi lâu mới biết được kết quả. Lần này, tôi thấy Công an xã tiếp nhận và xử lý rất nhanh, cán bộ xuống tận nơi, hướng dẫn cụ thể và theo dõi vụ việc đến cùng. Người dân chúng tôi không phải đi lại nhiều nơi mà vẫn được giải quyết kịp thời, rõ ràng. Tôi cảm thấy rất yên tâm và tin tưởng hơn vào lực lượng Công an ở cơ sở.”
Công an xã Đức Trọng đến hiện trường nhà ông Nguyễn Thanh Hải.
Từ một thủ tục hành chính ở Trung Lộc đến một vụ việc ANTT ở Đức Trọng, người dân đang kiểm chứng một thay đổi lớn hơn: khi công việc được đưa về gần cơ sở, cán bộ phải gần dân hơn; khi thẩm quyền được tăng lên, trách nhiệm phải rõ hơn; khi bộ máy được tổ chức lại, cách phục vụ người dân cũng phải thay đổi.
Ông Nguyễn Văn Tuấn, SN 1971, tổ dân phố Hương Sơn, phường Kép, chia sẻ cảm nhận về sự thay đổi của Công an cơ sở.
Từ góc nhìn của người dân, những thay đổi của Công an cơ sở được cảm nhận qua cách công việc được tiếp nhận, giải quyết và qua sự gần gũi, trách nhiệm của cán bộ trong từng vụ việc cụ thể. Ở góc nhìn của chính quyền địa phương, những thay đổi ấy còn được phản ánh bằng chính kết quả thực hiện nhiệm vụ và sự ghi nhận đối với lực lượng Công an ở cơ sở.
Đồng chí Lưu Trùng Dương – Chủ tịch UBND xã Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng khen thưởng đột xuất cho Công an xã Đức Trọng.
Hiệu quả của cách làm mới không chỉ được thể hiện qua những vụ việc được giải quyết hằng ngày, mà còn được ghi nhận bằng nhiều kết quả đột xuất trong thực hiện nhiệm vụ.
Tại xã Đức Trọng, trong quá trình vận hành mô hình mới, Công an xã đã nhiều lần được cấp ủy, chính quyền địa phương biểu dương, khen thưởng đột xuất vì những thành tích trong bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh. Theo ông Lưu Trùng Dương, Chủ tịch UBND xã Đức Trọng:“Những lần khen thưởng đột xuất không chỉ ghi nhận một thành tích cụ thể, mà qua đó cho thấy tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và hiệu quả công tác của Công an xã. Nhiều vụ việc được phát hiện, xử lý nhanh, góp phần giữ vững an ninh, trật tự và tạo sự yên tâm cho người dân”.
Từ những việc rất cụ thể ấy, người dân có thể nhận ra sự thay đổi của bộ máy không phải qua những khái niệm lớn, mà qua một thủ tục được hướng dẫn rõ hơn, một vụ việc được giải quyết nhanh hơn, một cán bộ biết mình phải làm gì và một địa bàn được giữ bình yên hơn.
Khi quyết sách được chuyển hóa thành những thay đổi mà người dân có thể trực tiếp cảm nhận, đó cũng là lúc quyết sách thực sự đi vào cuộc sống.
Một quyết sách khi đi đến cơ sở không có nghĩa là hành trình đã kết thúc. Trái lại, chính từ cơ sở, những kết quả đạt được, những vấn đề phát sinh, những thuận lợi và cả những điểm còn vướng mắc lại trở thành dữ liệu thực tiễn để công tác tham mưu tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp và hoàn thiện.
Qua hơn một năm vận hành mô hình tổ chức mới, những thay đổi từ cơ sở cho thấy rõ một điều: sắp xếp tổ chức bộ máy chỉ là bước đầu; để mô hình thực sự phát huy hiệu quả, phải tiếp tục hoàn thiện phương thức vận hành, phân định trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực của đội ngũ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ.
Đối với lực lượng Công an, thực tiễn ấy đặt ra yêu cầu đối với công tác tham mưu ở một tầm cao hơn. Không chỉ tham mưu tổ chức lại lực lượng, địa bàn và nhiệm vụ, công tác tham mưu phải thường xuyên theo dõi quá trình vận hành, nhận diện những vấn đề mới nảy sinh, đánh giá hiệu quả phân cấp, phân quyền và kịp thời đề xuất điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp.
Từ một vụ việc được giải quyết ngay tại phường Kép, một thủ tục hành chính được hướng dẫn thuận lợi ở Trung Lộc, đến một vụ việc an ninh, trật tự được xử lý kịp thời tại Đức Trọng, mỗi kết quả cụ thể ở cơ sở đều phản ánh một phần cách bộ máy đang vận hành. Những kết quả ấy không chỉ có ý nghĩa trong giải quyết công việc trước mắt, mà còn cung cấp dữ liệu thực tiễn để đánh giá những khâu đã thông suốt, những vấn đề còn vướng mắc và những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện.
Phòng Tham mưu tổng hợp – Văn phòng Bộ Công an họp, trao đổi, tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện mô hình Công an địa phương 2 cấp.
Vì vậy, công tác tham mưu không chỉ là đưa quyết sách từ trên xuống dưới, mà còn phải đưa thực tiễn từ dưới lên trên. Một quyết sách có sức sống là quyết sách được triển khai bằng hành động, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn và tiếp tục được hoàn thiện từ chính thực tiễn.
Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với công tác tham mưu của Văn phòng Bộ và các đơn vị chức năng của Bộ Công an trong giai đoạn mới: phải sâu sát cơ sở hơn, nắm chắc thực tiễn hơn, chủ động dự báo những vấn đề mới và tham mưu các giải pháp phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của địa bàn, nhiệm vụ và phương thức quản trị.
Từ cơ sở, một vấn đề có thể được nhận diện sớm hơn; từ một vụ việc cụ thể, một yêu cầu mới có thể được đặt ra; từ phản hồi của người dân, chất lượng phục vụ có thể được nhìn nhận rõ hơn. Những dữ liệu ấy, khi được tổng hợp và phân tích đầy đủ, sẽ trở thành cơ sở để tiếp tục hoàn thiện tổ chức, con người, quy trình và phương thức hoạt động của lực lượng Công an.
Tổng Bí thư Tô Lâm và Bộ trưởng Lương Tam Quang với các điển hình tiên tiến trong CAND và lực lượng bảo vệ ANTT ở cơ sở.
Sau cùng, dấu ấn của công tác tham mưu không chỉ nằm ở một văn bản được ban hành hay một phương án được xây dựng, mà ở khả năng biến một chủ trương lớn thành những thay đổi cụ thể ở cơ sở, đồng thời từ những thay đổi ấy tiếp tục tham mưu để chủ trương được thực hiện ngày càng hiệu quả hơn.
Từ một quyết sách ở Trung ương đến một cán bộ trực tiếp làm việc với người dân; từ một phương án tham mưu đến một vụ việc được giải quyết tại địa bàn; từ một phản ánh của người dân trở lại bàn tham mưu đó là một vòng tuần hoàn liên tục của quản trị và tổ chức thực hiện.
Khi quyết sách được chuyển hóa thành năng lực ở cơ sở, khi năng lực ấy được người dân trực tiếp cảm nhận và khi thực tiễn cơ sở lại trở thành cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quyết sách, đó cũng là lúc công tác tham mưu thực sự để lại dấu ấn. Bởi cuối cùng, một quyết sách lớn không được đo bằng việc nó được ban hành như thế nào, mà bằng việc nó đã làm thay đổi cuộc sống ra sao.
Và với lực lượng Công an, thước đo ấy bắt đầu từ những điều rất cụ thể: Một địa bàn bình yên hơn, mọi công việc được giải quyết nhanh hơn, người dân được phục vụ tốt hơn và một bộ máy thực sự vận hành hiệu quả hơn từ cơ sở.
Các dự án được triển khai trong nhiều lĩnh vực, từ giao thông, xử lý nước thải đến công nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục và văn hóa. Đây là cơ hội để Hà Nội tăng năng lực phục vụ người dân, đồng thời tạo nền tảng cho phát triển đô thị bền vững.
Tăng kết nối, giảm áp lực giao thông
Đường song hành thuộc đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội.
Trong lĩnh vực giao thông, Hà Nội thông xe kỹ thuật 15km đường song hành Vành đai 4 và ba đoạn thuộc tuyến Vành đai 2,5. Thành phố cũng khởi công đường trên cao dọc Cổ Linh và bến xe Yên Sở, hướng tới tăng khả năng kết nối, giảm ùn tắc.
Với một đô thị có nhu cầu đi lại lớn, việc bổ sung các tuyến đường và đầu mối vận tải có ý nghĩa thiết thực. Hạ tầng được kết nối hợp lý sẽ giúp phân luồng phương tiện, mở thêm lựa chọn di chuyển và hỗ trợ vận chuyển hàng hóa.
Tuy nhiên, hiệu quả của công trình cần được đánh giá qua quá trình vận hành. Sau các mốc thông xe, việc hoàn thiện hạng mục phụ trợ, tổ chức giao thông và bảo đảm an toàn phải được chú trọng. Kết nối giữa tuyến mới với đường hiện hữu cũng cần được rà soát để hạn chế phát sinh điểm ùn tắc.
Trong quá trình thi công, phương án phân luồng cần rõ ràng, phù hợp với sinh hoạt của người dân. Thông tin kịp thời về phạm vi rào chắn, hướng đi thay thế và tiến độ sẽ giúp người dân chủ động lựa chọn lộ trình.
Cải thiện môi trường, nâng chất lượng sống
Ở lĩnh vực môi trường, Hà Nội triển khai các dự án xử lý ô nhiễm sông Cầu Bây, sông Nhuệ và hệ thống thu gom, xử lý nước thải Phú Đô. Đây là nhóm công trình gắn trực tiếp với chất lượng sống và yêu cầu phát triển bền vững.
Xử lý ô nhiễm sông cần sự phối hợp giữa thu gom nước thải, vận hành nhà máy và kiểm soát nguồn xả. Nếu các khâu thiếu đồng bộ, hiệu quả cải thiện môi trường sẽ khó duy trì lâu dài.
Mô hình trường đua ngựa.
Vì vậy, bên cạnh xây dựng công trình, cần chuẩn bị phương án vận hành, bảo trì và giám sát chất lượng nước. Trách nhiệm của từng đơn vị phải được xác định rõ, đi cùng việc kiểm tra, xử lý các nguồn gây ô nhiễm.
Sự tham gia của cộng đồng cũng có vai trò quan trọng. Khi người dân được cung cấp thông tin và thuận tiện phản ánh tình trạng xả thải, đổ rác, công tác bảo vệ môi trường sẽ có thêm cơ sở để xử lý kịp thời.
Đưa công trình vào khai thác hiệu quả
Cùng với giao thông và môi trường, các dự án công nghiệp, du lịch, y tế, giáo dục và văn hóa mở thêm cơ hội phát triển. Mỗi công trình cần hướng tới nhu cầu cụ thể: tạo việc làm, mở rộng dịch vụ, nâng khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe, học tập và sinh hoạt cộng đồng.
Mô hình Công viên Safari Ba Vì.
Đối với y tế và giáo dục, cơ sở vật chất cần đi cùng nhân lực, thiết bị và phương án quản lý. Với các công trình văn hóa, việc khai thác phải hài hòa giữa bảo tồn giá trị và phục vụ đời sống đương đại.
Loạt dự án dịp 10/10 đặt ra yêu cầu theo sát tiến độ sau lễ khởi công, khánh thành. Chất lượng xây dựng, khả năng vận hành và mức độ đáp ứng nhu cầu thực tế cần trở thành thước đo hiệu quả.
Khi được hoàn thành và khai thác đồng bộ, các công trình sẽ góp phần chuyển nguồn lực đầu tư thành lợi ích thiết thực, tạo động lực phát triển cho Thủ đô.
HĐND TP.HCM vừa ban hành Nghị quyết số 58/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách quản lý, khai thác, sử dụng không gian ngầm và phát triển công trình ngầm trên địa bàn thành phố. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác hiệu quả không gian dưới lòng đất, phục vụ phát triển đô thị và hạ tầng kỹ thuật.
Miễn tiền sử dụng không gian ngầm đến 15m
Theo nghị quyết, trong phạm vi ranh giới thửa đất, người sử dụng đất được sử dụng lòng đất đến độ sâu tối đa 15m mà không phải nộp tiền sử dụng không gian ngầm. Việc sử dụng phải phù hợp quy hoạch đô thị và nông thôn, đúng mục đích sử dụng đất, không thuộc khu vực cấm xây dựng công trình ngầm và không xâm phạm phạm vi bảo vệ công trình hiện hữu.
Không gian ngầm được xác định là một hướng khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và hạ tầng TP.HCM.
Trường hợp quy hoạch không gian ngầm quy định giới hạn độ sâu thấp hơn 15m, mức miễn tiền được áp dụng theo quy hoạch. Nếu được phép sử dụng sâu hơn giới hạn miễn tiền, phần không gian vượt mức này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Việc xây dựng công trình ngầm vượt giới hạn độ sâu miễn tiền phải đáp ứng các điều kiện về quy hoạch, khảo sát địa chất, giải pháp kỹ thuật, an toàn công trình và hạ tầng liên quan; không chồng lấn với công trình ngầm hiện hữu hoặc không gian đã được xác định cho dự án khác. Chủ đầu tư phải xác định rõ vị trí, ranh giới không gian ba chiều, độ sâu, công năng, mục đích và thời hạn khai thác.
Trong thời gian chưa có quy hoạch không gian ngầm được phê duyệt, việc sử dụng lòng đất thực hiện theo các điều kiện của nghị quyết. Đối với phần vượt giới hạn miễn tiền, thành phố chỉ cho phép trong những trường hợp nhất định, như phần ngầm của công trình trên mặt đất đã được xác định trong quy hoạch hoặc công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ công cộng, chống ngập, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và kết nối giao thông công cộng.
Tiền sử dụng không gian ngầm được tính trên diện tích sàn có công năng sử dụng nằm trong phạm vi thửa đất và sâu hơn giới hạn miễn tiền. Diện tích làm căn cứ tính tiền được xác định theo hồ sơ thiết kế, hồ sơ hoàn thành công trình và thực tế khai thác, sử dụng.
Thành phố có chính sách ưu đãi đối với nhiều công trình ngầm phục vụ giao thông công cộng và kết nối các đầu mối giao thông.
Các phần kết cấu như móng, cọc, neo, tường vây, kết cấu chịu lực và hệ thống kỹ thuật bắt buộc không tạo lập diện tích sàn có công năng sử dụng không thuộc diện tính tiền. Sàn dốc, đường dẫn, làn xe chỉ phục vụ phương tiện ra vào hoặc lưu thông trong công trình cũng được loại trừ theo quy định.
Hệ số thu tiền đối với diện tích nằm sâu hơn giới hạn miễn tiền đến độ sâu 30m là 0,3; phần sâu hơn 30 – 50m áp dụng hệ số 0,15. Phần không gian ngầm sâu hơn 50m được miễn tiền sử dụng không gian ngầm.
Tiền sử dụng được xác định dựa trên diện tích sàn, đơn giá thuê đất xây dựng công trình ngầm, hệ số thu theo độ sâu, hệ số miễn giảm và thời gian tính tiền. Người sử dụng có thể lựa chọn nộp hằng năm hoặc nộp một lần cho toàn bộ thời hạn hoạt động của dự án.
Ưu đãi công trình hạ tầng công cộng
Nghị quyết quy định miễn tiền sử dụng không gian ngầm đối với nhiều loại công trình hạ tầng phục vụ công cộng hoặc sử dụng chung, như giao thông đô thị, tuy nen, hào kỹ thuật, hệ thống cấp điện, chiếu sáng, viễn thông, cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải, bãi đỗ xe ngầm và lối đi ngầm công cộng.
Chính sách miễn cũng áp dụng với hồ điều tiết, bể chứa, trạm bơm và công trình phục vụ chống ngập, điều tiết nước, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường; công trình trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng thủ dân sự, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và thực hiện nhiệm vụ công vụ khẩn cấp không nhằm mục đích kinh doanh.
TP.HCM khuyến khích đầu tư lối đi ngầm kết nối nhà ga, đầu mối giao thông và các công trình công cộng.
Công trình ngầm thuộc dự án đầu tư công và phần công trình trực tiếp phục vụ bảo tồn tại chỗ di tích, di vật, cổ vật, địa điểm khảo cổ không có công năng kinh doanh cũng thuộc diện được miễn theo điều kiện của nghị quyết.
Đối với diện tích sàn công trình ngầm trực tiếp phục vụ văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội, nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mức giảm tiền sử dụng không gian ngầm là 50%. Chính sách này không áp dụng đối với diện tích đã được miễn tiền.
Với lối đi ngầm công cộng không bố trí diện tích thương mại, dịch vụ, phần đất được Nhà nước cho thuê để xây dựng lối đi được miễn tiền thuê đất; diện tích sàn trực tiếp phục vụ lối đi được miễn tiền sử dụng không gian ngầm trong toàn bộ thời hạn hoạt động dự án. Nhà đầu tư tự bảo đảm kinh phí quản lý, vận hành, duy tu và bảo trì.
Trường hợp lối đi ngầm kết hợp thương mại, dịch vụ, phần diện tích kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Tiền thuê đất hằng năm được giảm tương ứng với tỷ lệ diện tích sàn phục vụ trực tiếp lối đi trên tổng diện tích sàn lối đi và thương mại, dịch vụ trong phạm vi liên quan.
Dự kiến không gian ngầm dưới Công viên 23/9 được quy hoạch tích hợp nhà ga metro, thương mại, dịch vụ và bãi đỗ xe.
Đối với dự án bãi đỗ xe ngầm độc lập, ngoài diện tích sàn dịch vụ hỗ trợ trông giữ xe tối đa 25% tổng diện tích sàn xây dựng theo quy định, chủ đầu tư được bố trí thêm diện tích thương mại, dịch vụ tối đa 20% tổng diện tích sàn để hỗ trợ khai thác, vận hành. Các diện tích phải được xác định riêng theo công năng trong hồ sơ dự án và thiết kế được phê duyệt, không làm thay đổi chức năng chính hoặc giảm công suất trông giữ xe.
Theo quy định chuyển tiếp, công trình hoặc phần công trình đã được nghiệm thu, đưa vào khai thác, sử dụng trước ngày 1/1/2027 không phải nộp tiền sử dụng không gian ngầm theo nghị quyết này. Với công trình được nghiệm thu, đưa vào sử dụng từ ngày 1/1/2027 trở đi, tiền sử dụng không gian ngầm được tính từ ngày bắt đầu khai thác, sử dụng.
Các dự án, nhiệm vụ đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận trước ngày nghị quyết có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo quyết định hoặc văn bản đã ban hành. Tuy nhiên, việc tiếp tục thực hiện không làm thay đổi thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp tiền theo nghị quyết.
Trong 9 tháng năm 2026, tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Vĩnh Long tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước đạt hơn 83% dự toán, tăng 12,53% so với cùng kỳ; chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp tiếp tục được nâng cao, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Cùng với những kết quả đạt được, tỉnh tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Trước yêu cầu hoàn thành kế hoạch năm, lãnh đạo tỉnh quyết liệt chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, khơi thông nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ các dự án, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu được giao.
Vĩnh Long quyết tâm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Quyết định từ điều hành, tạo chuyển biến từ cơ sở
Theo báo cáo của Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long, đến cuối tháng 9/2026, toàn tỉnh giải ngân hơn 7.657 tỷ đồng, đạt 55,3% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao và 54,2% kế hoạch vốn HĐND tỉnh giao. Nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong những tháng cuối năm, Vĩnh Long xác định đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Với quyết tâm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành kế hoạch về hành động cao điểm 90 ngày đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. Kế hoạch hướng đến huy động tối đa các nguồn lực, tập trung tháo gỡ dứt điểm những điểm nghẽn, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ động của các cơ quan, đơn vị, với các chỉ tiêu cụ thể: đến 31/10, giải ngân tối thiểu đạt 70%; đến 30/11 đạt tối thiểu 80%; đến 31/12 đạt tối thiểu 90%; và đến 31/1/2027 đạt 100%.
Tỉnh Vĩnh Long yêu cầu tổ chức thực hiện đồng bộ, xuyên suốt từ cấp tỉnh đến xã, phường; gắn nhiệm vụ giải ngân với trách nhiệm của người đứng đầu, tiến độ từng dự án và kết quả đánh giá, xếp loại thi đua cuối năm. Tinh thần “6 rõ”, gồm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả, được xác định là nguyên tắc xuyên suốt nhằm nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Trên cơ sở đó, từng chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án phải rà soát cụ thể từng công trình, xác định khối lượng còn lại, số vốn cần giải ngân, tiến độ thực hiện theo từng mốc thời gian và cá nhân trực tiếp phụ trách.
Trong kế hoạch, giải phóng mặt bằng tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để đẩy nhanh tiến độ các dự án. UBND tỉnh yêu cầu UBND các xã, phường, cơ quan thực hiện nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và chủ đầu tư chủ động phối hợp, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thủ tục, xử lý dứt điểm từng trường hợp vướng mắc, nhất là tại các dự án trọng điểm đang chậm tiến độ do vướng giải phóng mặt bằng, bảo đảm bàn giao mặt bằng đáp ứng yêu cầu thi công.
Cùng với đó, công tác tuyên truyền, vận động và đối thoại với người dân phải được chú trọng nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh. Các nội dung thuộc thẩm quyền phải được chủ động xử lý; những khó khăn vượt thẩm quyền cần nhanh chóng báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, không để kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
Việc bảo đảm nguồn cung và kiểm soát giá vật liệu xây dựng được tỉnh quan tâm chỉ đạo. UBND tỉnh giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và địa phương theo dõi sát tình hình cung cầu, giá cả thị trường; kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn trong hoạt động khai thác, cung ứng vật liệu theo quy định. Công tác kiểm tra thị trường được tăng cường, góp phần bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ thi công các công trình, dự án trên địa bàn.
Tỉnh cũng yêu cầu đẩy nhanh các thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, tổ chức thi công. Đặc biệt, khi có khối lượng đủ điều kiện nghiệm thu, chủ đầu tư phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ thanh toán với Kho bạc Nhà nước, tránh dồn khối lượng thanh toán vào cuối năm.
Dự án sửa chữa Kè sông Cổ Chiên (tỉnh Vĩnh Long) đến tháng 9 tiến độ thực hiện đạt khoảng 90%.
Phân công rõ trách nhiệm, bám sát từng mốc thời gian
Cùng với việc xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp và tiến độ, UBND tỉnh Vĩnh Long phân công các Phó Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các công trình, dự án theo lĩnh vực phụ trách.
Song song đó, tỉnh đẩy mạnh rà soát, điều chỉnh, điều chuyển kế hoạch vốn theo tiến độ và khả năng giải ngân thực tế. UBND tỉnh giao Sở Tài chính chủ trì tổng hợp, tham mưu cấp có thẩm quyền điều chuyển vốn từ những dự án có tiến độ thấp, không có nhu cầu hoặc khó giải ngân hết vốn được giao sang các dự án có tiến độ tốt, có nhu cầu bổ sung vốn và khả năng giải ngân.
Ở cấp cơ sở, UBND tỉnh Vĩnh Long yêu cầu UBND các xã, phường phải xác định giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ trọng tâm, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong tuyên truyền, vận động, đối thoại với người dân. Các địa phương chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh về tiến độ, kết quả thực hiện giải phóng mặt bằng đối với các dự án trên địa bàn quản lý.
Nhấn mạnh nhiệm vụ trong thời gian còn lại của năm, ông Trần Trí Quang, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, yêu cầu các sở, ngành, địa phương, nhất là các Ban Quản lý dự án và chủ đầu tư, xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, tập trung thực hiện theo tinh thần “90 ngày tăng tốc giải ngân đầu tư công”.
Để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong giải ngân đầu tư công, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho biết đã chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các Ban Quản lý dự án, cơ quan, đơn vị và địa phương khẩn trương rà soát, tháo gỡ khó khăn về bồi thường, giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng và thủ tục đầu tư. Đồng thời điều chuyển vốn từ dự án chậm tiến độ sang dự án có khả năng giải ngân tốt, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch được giao trong năm 2026.
Cùng với việc thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, các ngành cần quan tâm tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách, khơi thông nguồn lực đất đai, doanh nghiệp và đầu tư xã hội, sớm đưa các nguồn lực này vào phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.