Author: bachdn

  • Tối ưu hóa nguồn lực và trao quyền thực chất cho địa phương

    Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ và các tỉnh Lai Châu, Hà Tĩnh thảo luận ở tổ. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Theo Tờ trình của Chính phủ sáng cùng ngày, 4 Chương trình mục tiêu quốc gia hiện hành sẽ được tái cấu trúc lại thành 1 Chương trình mục tiêu quốc gia có tên gọi là “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035″. Chương trình mới Giữ nguyên dự kiến tổng nguồn lực khoảng 808.558 tỷ đồng; đồng thời, kiến nghị Quốc hội giao Chính phủ rà soát, quyết định cơ cấu từng nguồn vốn, cơ cấu chi đầu tư và chi thường xuyên của ngân sách trung ương bảo đảm triệt để tiết kiệm chi thường xuyên.

    Thảo luận tại Tổ, các ý kiến của các đại biểu Quốc hội đã đánh giá cao việc hợp nhất nhằm đổi mới phương thức quản trị, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn nhằm tối ưu hóa nguồn lực và trao quyền thực chất cho địa phương.

    Khắc phục việc phân tán nguồn lực

    Tại các tổ thảo luận, các đại biểu Quốc hội bày tỏ sự nhất trí cao với chủ trương hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm khắc phục triệt để tình trạng manh mún, chồng chéo và lãng phí nguồn lực trong giai đoạn trước.

    Đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh (đoàn Cao Bằng) thẳng thắn chỉ ra thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy công tác quản lý còn mang tính “ôm đồm”, xé nhỏ nguồn lực thành quá nhiều dự án, tiểu dự án nhỏ lẻ nhưng phải gánh quy trình thủ tục đầu tư công phức tạp. Theo Bộ trưởng, có những địa phương tại Cao Bằng có đến 200 dự án giao thông nông thôn, mỗi dự án chỉ khoảng 1 đến 3 tỷ đồng rải ra ngõ xóm, nhưng không ra một tiêu chuẩn quy chuẩn nào cả, chỉ làm cho xong thủ tục. Từ thực tiễn này, Bộ trưởng kiến nghị cần triệt để phân cấp cho địa phương, Trung ương chỉ ban hành khung chương trình và tiêu chí đầu ra, còn việc lựa chọn danh mục công trình phải giao trọn quyền cho Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

    Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Hoàng Giang (Đoàn Đắk Lắk) nhấn mạnh việc hợp nhất là một bước chuyển đổi toàn diện về nhận thức. Đại biểu chỉ ra sự trùng lặp kéo dài khi mỗi ngành nắm giữ một chương trình riêng, khi cùng lĩnh vực tuyên truyền, chương trình nào cũng có kinh phí tuyên truyền; chương trình nào cũng làm mô hình sinh kế, nội dung trùng lặp. Đại biểu đề nghị việc tích hợp giai đoạn 2026 – 2035 phải thay đổi thực chất để không rơi vào cảnh “bình mới rượu cũ”.

    Đại biểu Nguyễn Ngọc Việt (Hà Nội) đề nghị quá trình tích hợp phải tránh việc cộng cơ học, giao thoa chồng chéo; đồng thời thực hiện mạnh mẽ phân cấp theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

    Bảo đảm xây dựng các chỉ tiêu thực chất

    Bên cạnh việc tinh gọn bộ máy quản lý, các đại biểu đặc biệt lưu ý việc tích hợp nguồn lực không được làm suy giảm các chính sách đặc thù hay triệt tiêu các mục tiêu chuyên ngành chiến lược.

    Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh (Đoàn Tuyên Quang) nhấn mạnh: tích hợp là để xử lý sự trùng lặp, chồng chéo, tuyệt đối không thể làm giảm nhẹ hay bỏ đi các mục tiêu, chỉ tiêu đã được Quốc hội bấm nút thông qua như các chỉ tiêu về văn hóa, giáo dục, y tế cơ sở. Đại biểu phân tích thêm, hệ thống chỉ tiêu chuyên ngành phải được tôn trọng tuyệt đối để đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu chiến lược đã được cụ thể hóa từ các Nghị quyết của Đảng.

    Về mặt kỹ thuật lập pháp, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đoàn Đắk Lắk) bày tỏ băn khoăn khi tên gọi của chương trình mới quá rộng và một số mục tiêu, nhiệm vụ chi tiết vẫn đang được cộng gộp một cách cơ học. Việc ôm đồm quá nhiều chỉ tiêu nhỏ lẻ chi tiết đến năm 2030 và 2035 sẽ khiến địa phương rơi vào cảnh “chạy theo chỉ tiêu” thay vì tập trung tạo ra chuyển biến thực chất về đời sống dân sinh.

    Đại biểu Nguyễn Vũ Trung (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị bổ sung nguyên tắc tích hợp thực chất các mục tiêu, nhiệm vụ có cùng đối tượng, địa bàn và kết quả đầu ra. Đại biểu đề xuất chương trình mới nên có một mục tiêu chung bao trùm là “nâng cao toàn diện chất lượng sống, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhóm dân cư; lấy người dân, hộ gia đình và cộng đồng làm trung tâm…”. Đồng thời, đại biểu đề nghị phân thành 3 tầng ưu tiên để bố trí ngân sách hợp lý (gồm tầng bắt buộc ưu tiên, tầng dịch vụ xã hội phổ quát và tầng đầu tư chiến lược quốc gia).

    Đề xuất cơ chế đặc thù gắn với thực tiễn vùng miền

    Tại phiên thảo luận, một số đại biểu Quốc hội nêu đề xuất mở rộng cơ chế đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả lồng ghép nguồn lực.

    Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn Hà Nội) đề xuất bổ sung các cơ chế đặc thù đồng bộ với Luật Thủ đô năm 2026. Theo đó, đại biểu kiến nghị 3 nhóm vấn đề: Thứ nhất, cho phép các địa phương thuộc vùng Thủ đô và các vùng liên kết được lồng ghép nguồn vốn ngân sách Trung ương và địa phương của chương trình vào các dự án liên kết vùng hoặc Quỹ phát triển vùng nhằm xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu dùng chung, xử lý ô nhiễm môi trường liên tỉnh. Thứ hai, cho phép thí điểm xã hội hóa bằng cách chuyển nhượng quyền khai thác có thời hạn hoặc cho thuê quyền khai thác các thiết chế văn hóa, thể thao công cộng được xây dựng từ chương trình cho doanh nghiệp, hợp tác xã có năng lực quản trị. Thứ ba, cho phép các địa phương tự cân đối ngân sách được quyết định mức chi hỗ trợ an sinh xã hội, y tế, giáo dục cao hơn mức chung của chương trình.

    Bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến tính thực chất của các chỉ tiêu y tế, dân số, đại biểu Trần Thị Nhị Hà (Đoàn Hà Nội) đề nghị đánh giá kỹ tính khả thi của mục tiêu 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe suốt vòng đời từ năm 2030. Đại biểu nhấn mạnh cần xây dựng hệ thống dữ liệu sạch, liên thông giữa các tuyến trung ương và địa phương, đồng thời đào tạo năng lực số cho đội ngũ cán bộ trạm y tế cơ sở.

    Về năng lực thực thi chính sách, đại biểu Bế Thanh Tịnh (Đoàn Cao Bằng) lưu ý bài toán năng lực quản lý dự án của cán bộ cấp xã khi thực hiện phân cấp, nhằm tránh rủi ro pháp lý lớn cho cơ sở.

    Nhiều đại biểu cũng kiến nghị sửa đổi, nâng định mức hỗ trợ và linh hoạt hóa các cơ chế tài chính để phù hợp với thực tiễn cơ sở. Đại biểu Hoàng Ngọc Định (Đoàn Tuyên Quang) đề nghị nâng mức hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa – khu thể thao thôn bản từ tối đa 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng/công trình ở khu vực miền núi do chi phí san gạt mặt bằng và sáp nhập thôn bản làm tăng quy mô dân số. Đại biểu cũng đề nghị sửa đổi định mức hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số, giao thẩm quyền cho cấp tỉnh quyết định dựa trên giá đất thực tế, tránh tình trạng chính sách “nằm trên giấy” do giá chuyển nhượng thực tế cao hơn định mức.

    Góp ý về các chỉ tiêu giáo dục, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Mai (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) chỉ ra các số liệu về cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn trong dự thảo chưa khớp với các thông báo kết luận và quyết định của Trung ương. Đồng thời, đại biểu đề xuất bổ sung ưu tiên đầu tư đào tạo nhân lực chất lượng cao, nâng cấp cơ sở vật chất ký túc xá cho sinh viên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Để Chương trình mục tiêu quốc gia mới thực sự mang lại hiệu quả bền vững, đa số các ý kiến phát biểu thảo luận của đại biểu Quốc hội đề nghị Chính phủ cần khẩn trương rà soát kỹ lưỡng, hoàn thiện khung pháp lý thống nhất, tăng cường phân cấp thực chất đi đôi với siết chặt cơ chế kiểm tra, giám sát dựa trên kết quả đầu ra thực chất đối với đời sống nhân dân.

    Việt Đức (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/toi-uu-hoa-nguon-luc-va-trao-quyen-thuc-chat-cho-dia-phuong-c55864509.epi

  • Đưa ‘xã, phường xã hội chủ nghĩa’ vào từng vấn đề thiết thực của người dân

    Hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa.” (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

    Trong mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” được Hà Nội thí điểm tại hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm, nông nghiệp và môi trường không chỉ là lĩnh vực quản lý chuyên ngành mà còn trực tiếp quyết định chất lượng sống, sinh kế và mức độ hài lòng của người dân.

    Các nhiệm vụ được triển khai đồng bộ từ quản lý đất đai, kiểm soát ô nhiễm đến phát triển nông nghiệp đô thị, kinh tế tuần hoàn và không gian xanh.

    Giải quyết những vấn đề thiết thực từ cơ sở

    Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 8/7/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội và Quyết định số 3489/QĐ-UBND ngày 12/7/2026 của Ủy ban Nhân dân thành phố, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 135/KH-SNNMT triển khai Đề án thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

    Kế hoạch được thực hiện tại hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm trong giai đoạn 2026-2030. Đối với 124 xã, phường còn lại, các địa phương căn cứ bộ tiêu chí và hướng dẫn của thành phố để rà soát, lựa chọn nội dung phù hợp với điều kiện thực tế, tránh áp dụng máy móc, hình thức.

    Điểm đáng chú ý là nông nghiệp và môi trường được tiếp cận như một bộ phận cấu thành trực tiếp của chất lượng sống. Hiệu quả thực hiện không chỉ thể hiện qua số lượng dự án hoặc khối lượng công việc hoàn thành, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng không khí, nguồn nước, khả năng tiêu thoát nước, tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải, diện tích không gian xanh, hiệu quả sản xuất, sinh kế và mức độ hài lòng của người dân.

    Mỗi nhiệm vụ phải đáp ứng nguyên tắc “6 rõ”: rõ người hoặc đơn vị chủ trì; rõ việc; rõ thời gian; rõ trách nhiệm phối hợp; rõ sản phẩm, kết quả và chỉ số kiểm chứng; rõ thẩm quyền và nguồn lực. Các giải pháp phải sát nhu cầu của địa phương, có số liệu nền, nguồn dữ liệu và chỉ tiêu định lượng để theo dõi, đánh giá.

    Xã Thư Lâm (Hà Nội). (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)

    Kế hoạch được tổ chức theo sáu hợp phần, gồm: dữ liệu nền, bản đồ số và giám sát môi trường; chất thải, phân loại tại nguồn và kinh tế tuần hoàn; nước sạch, nước thải, sông hồ, thủy lợi và chống ngập; không gian xanh, hành lang sinh thái và mô hình “Làng trong phố-Phố trong làng”; nông nghiệp đô thị, sinh kế, kinh tế tuần hoàn và chuỗi giá trị; sự tham gia, giám sát, công khai dữ liệu và đánh giá của người dân.

    Cách tổ chức này hướng tới giải quyết đồng thời những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hóa, như đất sản xuất bị thu hẹp, yêu cầu chuyển đổi sinh kế; áp lực dân số và hoạt động kinh tế lên hạ tầng; nguy cơ ô nhiễm tại làng nghề; yêu cầu bảo vệ sông hồ, tiêu thoát nước và mở rộng không gian xanh.

    Quản lý đất đai gắn với ổn định sinh kế

    Đối với lĩnh vực đất đai, nhiệm vụ trọng tâm là rà soát sự phù hợp giữa quy hoạch và hiện trạng sử dụng đất, vùng sản xuất, làng nghề, cụm công nghiệp, hành lang xanh, sông hồ, công trình thủy lợi và các dự án phát triển. Hồ sơ địa chính, chính sách giải phóng mặt bằng, dự án chậm triển khai, đơn thư và khiếu nại liên quan đến đất đai được phân công cho từng đơn vị chuyên môn xử lý.

    Dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường phải được rà soát, làm sạch, cập nhật, bảo đảm thống nhất và dùng chung.

    Tại xã Phúc Thịnh, quản lý đất đai được đặt trong mối quan hệ với các khu tái định cư, dự án đô thị, giao thông và sinh kế của những hộ bị giảm đất sản xuất. Quá trình thu hồi đất và tổ chức lại không gian phát triển vì thế cần đi cùng giải pháp chuyển đổi nghề, tạo việc làm, phát triển dịch vụ và nông nghiệp đô thị.

    Đối với xã Thư Lâm, trọng tâm là xử lý mối quan hệ giữa đất làng nghề, cụm công nghiệp và đất nông nghiệp xen kẽ. Việc sắp xếp lại không gian sản xuất phải vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, vừa kiểm soát nguồn thải và hạn chế ảnh hưởng đến khu dân cư.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu đánh giá hoạt động của hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh; phát triển chuỗi liên kết, sản phẩm OCOP, làng nghề xanh; hỗ trợ chuyển đổi nghề và sinh kế cho các hộ bị thu hồi đất.

    Tại Phúc Thịnh, định hướng là kết hợp dịch vụ đô thị với nông nghiệp, tạo sinh kế mới cho người dân trong quá trình đô thị hóa. Tại Thư Lâm, trọng tâm là chuyển đổi xanh làng nghề, củng cố hợp tác xã rau, thủy sản và chuỗi chế biến nông sản.

    Trong mô hình thí điểm, bảo vệ môi trường được triển khai theo hướng kiểm soát từ nguồn, thay vì chỉ xử lý khi ô nhiễm đã phát sinh. Các đơn vị chuyên môn sẽ kiểm kê nguồn thải, quan trắc môi trường nền; kiểm soát bụi, tiếng ồn, nước thải, mùi; giám sát hoạt động của các dự án lớn; xây dựng quy trình phản ứng nhanh và hậu kiểm.

    Tại Phúc Thịnh, các nguồn thải cần được kiểm soát chủ yếu gắn với dự án đô thị, giao thông, khu tái định cư và nguy cơ tác động đến sông, hồ. Tại Thư Lâm, nhiệm vụ trọng tâm là kiểm soát ô nhiễm từ làng nghề gỗ, hoạt động sử dụng sơn, dung môi, cụm công nghiệp và khu đô thị.

    Quản lý chất thải rắn được thực hiện từ điều tra lượng phát sinh, phân loại tại nguồn, thu gom riêng đến xử lý các điểm tồn lưu. Thành phố định hướng phát triển những mô hình tái chế, tận dụng chất hữu cơ, mùn cưa, gỗ thừa; thu gom, xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng.

    Xã Phúc Thịnh tập trung phân loại rác trong khu dân cư, xử lý chất hữu cơ từ sản xuất nông nghiệp và chất thải cồng kềnh. Thư Lâm chú trọng phân loại rác dân sinh, phát triển mô hình tuần hoàn chất thải làng nghề. Qua đó, chất thải từng bước được nhìn nhận như nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế hoặc đưa trở lại chu trình sản xuất.

    Nước sạch, nước thải, sông hồ, thủy lợi và chống ngập được xác định là một hợp phần thống nhất. Các nhiệm vụ bao gồm kiểm kê nguồn nước, theo dõi chất lượng nước, bảo vệ hành lang và vùng bảo hộ nguồn cấp nước; kiểm soát nước thải trước khi xả vào ao, hồ, sông, suối, kênh, mương.

    Hạ tầng giao thông tại xã Thư Lâm. (Ảnh: Trung Nguyên/TTXVN)

    Trên địa bàn xã Phúc Thịnh, những khu vực cần tập trung rà soát gồm sông Thiếp, sông Cà Lồ, đầm Vân Trì và các khu phát triển mới. Đối với Thư Lâm, trọng tâm là nước thải làng nghề, chất lượng nguồn nước tại vùng rau và khu vực nuôi trồng thủy sản. Hệ thống kênh mương, trạm bơm, cống, vùng trũng và điểm nghẽn tiêu thoát nước cũng sẽ được kiểm tra.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ tại Thư Lâm, việc tiêu thoát nước phải tính đến khu dân cư, làng nghề, vùng sản xuất và cụm công nghiệp. Kế hoạch cũng đặt ra định hướng từng bước triển khai xây dựng bản đồ ngập, phương án vận hành công trình thủy lợi, bảo vệ hành lang công trình và tăng cường cảnh báo sớm lũ lụt, bão, ngập úng, thời tiết cực đoan.

    Phát triển nông nghiệp thích ứng với đô thị hóa

    Nông nghiệp tại hai xã thí điểm được tổ chức theo hướng thích ứng với quá trình đô thị hóa, nâng cao giá trị sản xuất, bảo vệ môi trường và ổn định sinh kế. Ngành chuyên môn sẽ rà soát các vùng sản xuất; xác định khu vực cần bảo tồn, duy trì, chuyển đổi hoặc phát triển; xây dựng phương án gắn với quy hoạch, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và nhật ký sản xuất điện tử.

    Người sản xuất được hướng dẫn áp dụng quy trình an toàn, quản lý dịch hại tổng hợp, sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định và thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng.

    Tại Phúc Thịnh, trọng tâm là chuyển đổi cây trồng, phát triển nông nghiệp đô thị và tạo sinh kế cho các hộ bị giảm đất. Tại Thư Lâm, nhiệm vụ tập trung vào vùng rau, vùng giống, thủy sản và liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

    Các cơ sở chăn nuôi, giết mổ và nuôi trồng thủy sản được rà soát để xác định khu vực có nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn xây dựng phương án kiểm soát dịch bệnh, an toàn sinh học, bảo vệ môi trường, xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

    Các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông sản cũng được phân loại theo mức độ rủi ro. Thành phố định hướng kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi, từ đầu vào, sản xuất, thu hoạch đến sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ; đồng thời phát triển sản phẩm OCOP, thương mại điện tử và xúc tiến thương mại.

    Bên cạnh sản xuất, hai xã sẽ rà soát, bổ sung cây xanh, bảo vệ và phục hồi mặt nước, phát triển vườn cộng đồng, tuyến xanh, cây bản địa và tham gia xây dựng mô hình “Làng trong phố-Phố trong làng.” Đầm Vân Trì và không gian cây xanh làng xóm tại Phúc Thịnh; hệ thống ao hồ, kênh mương và cây xanh làng xóm tại Thư Lâm là những khu vực được lưu ý.

    Một điểm quan trọng của kế hoạch là thiết lập cơ chế để người dân tham gia xác định vấn đề, lựa chọn nhiệm vụ ưu tiên, giám sát quá trình thực hiện và đánh giá kết quả.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu xác lập số liệu nền về chất lượng không khí, nước mặt, nước sinh hoạt; tỷ lệ phân loại, thu gom và xử lý rác; lượng chất thải nguy hại; lượng nước thải phát sinh, thu gom, xử lý; điểm ngập, điểm nóng ô nhiễm; diện tích mặt nước, không gian xanh, hành lang sinh thái; vùng sản xuất, cơ sở an toàn thực phẩm, sản phẩm OCOP, hợp tác xã và các hộ bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất.

    Mức độ hài lòng và tham gia của người dân cũng phải được khảo sát, đánh giá. Các sản phẩm dự kiến gồm bản đồ tích hợp dữ liệu của hai xã, danh mục vấn đề ưu tiên, bộ chỉ số kèm nguồn dữ liệu, quy trình tiếp nhận và công khai kết quả xử lý phản ánh cùng cơ chế phối hợp, giám sát tại địa phương.

    Các đơn vị thuộc Sở phải phản hồi ý kiến của địa phương trong thời gian không quá ba ngày làm việc. Với vấn đề phức tạp hoặc cần nghiên cứu giải pháp, cơ chế, chính sách mới, thời gian phản hồi tối đa là bảy ngày.

    Theo tiến độ, trong tháng 7 và tháng 8/2026, các đơn vị xây dựng dự án, nhiệm vụ thành phần và phối hợp với hai xã Phúc Thịnh, Thư Lâm. Trong tháng 8 và tháng 9/2026, Sở xem xét, phê duyệt các nhiệm vụ thực hiện đến hết năm 2026; đồng thời đề xuất kế hoạch năm 2027 và giai đoạn 2028-2030. Kết quả bước đầu dự kiến được sơ kết vào cuối tháng 12/2026 và quý I/2027.

    Với cách tiếp cận này, nông nghiệp và môi trường trở thành một nền tảng để cụ thể hóa mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” bằng những chuyển biến gần gũi với đời sống: đất đai được quản lý hiệu quả, sinh kế được bảo đảm, nguồn thải được kiểm soát, sông hồ được bảo vệ, rác thải được phân loại, sản xuất nông nghiệp an toàn hơn và người dân trực tiếp tham gia giám sát, thụ hưởng thành quả phát triển./.

    (TTXVN/Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/dua-xa-phuong-xa-hoi-chu-nghia-vao-tung-van-de-thiet-thuc-cua-nguoi-dan-c55864632.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!