Author: bachdn

  • Không phải nhà chung cư hết hạn là đập bỏ, người dân không còn quyền gì nữa

    Chiều 19/8, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi). Câu chuyện thời hạn sở hữu nhà chung cư, phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội được nhiều đại biểu quan tâm cho ý kiến.

    Không có nhà nào ở vĩnh viễn được

    Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh quan điểm, Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở.

    “Chúng ta cố gắng chuyển tư duy từ bắt buộc phải sở hữu nhà sang có nơi ở lâu dài”, Thủ tướng cho biết. Đề xử lý việc đó thì một trong các vấn đề quan trọng nhất là phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội.

    Vì vậy, dự thảo luật cũng thể hiện rõ định hướng bên cạnh nhà ở để bán (nhà ở thương mại) thì ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. Dự thảo luật cũng phân định rõ 4 loại hình nhà ở: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách.

    Trong đó, Thủ tướng cho biết trọng tâm phát triển nhà ở cho thuê với các hình thức: đầu tư bằng vốn Nhà nước và đầu tư bằng vốn ngoài Nhà nước. Ngoài ra còn có nhà ở lưu trú cho công nhân ở khu công nghiệp, chuyên gia ngoài khu công nghiệp…

    Thủ tướng Lê Minh Hưng

    Với nhà ở cho thuê, Thủ tướng nêu rõ quỹ đất của Nhà nước, Nhà nước đầu tư và Nhà nước cho thuê. Tuy nhiên, Nhà nước cũng không thể đáp ứng đủ yêu cầu, vì công nhân, học sinh – sinh viên, người lao động, cán bộ công chức, lực lượng vũ trang… đều có nhu cầu về nhà ở.

    Do đó, Thủ tướng cho rằng cần đầu tư nhà ở cho thuê bằng các hình thức khác nhau, có thể bằng hình thức Nhà nước đầu tư và vận hành cho thuê, hoặc thuê tư nhân vận hành cho thuê dài hạn trong 10-15-20 năm hoặc lâu hơn đi kèm cam kết rõ ràng để người dân có thể yên tâm.

    Đề cập đến thời hạn sử dụng nhà chung cư gắn với niên hạn công trình, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh: “Chúng ta phải làm rõ không có nhà nào ở vĩnh viễn được, kể cả nhà ở bình thường đến thời hạn là phải kiểm tra, nếu không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật phải cải tạo, xây dựng lại”.

    Vì vậy, khi quy hoạch lại, nếu công trình hết niên hạn, không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật thì bắt buộc phải kiểm định và xây dựng lại nếu quy hoạch làm nhà ở.

    “Nhưng quyền tài sản đi kèm đó phải được pháp luật bảo vệ”, Thủ tướng khẳng định.

    Quy định này cần được cụ thể hóa trong luật, công khai, minh bạch để người dân hiểu rõ “quyền tài sản được pháp luật bảo vệ, còn việc tiêu chuẩn kỹ thuật của căn hộ chung cư phải theo quy định an toàn”.

    Thủ tướng lưu ý, nếu kiểm định nhà vẫn an toàn thì tiếp tục gia hạn sử dụng, nhưng nếu không an toàn cho người ở thì phải có biện pháp xây mới, cải tạo lại. Luật phải quy định rất rõ để người dân yên tâm, “không phải đến thời hạn đập bỏ thì người dân không còn quyền gì nữa”.

    Cần hoàn tiền nếu giá nhà xã hội sau kiểm toán thấp hơn hợp đồng

    Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (đoàn Quảng Trị) cho biết dự thảo quy định quyền sở hữu nhà chung cư được xác lập đến khi công trình phải phá dỡ. Với chung cư không thuộc diện chung cư cũ, chủ sở hữu phải đóng góp kinh phí để xây dựng lại.

    Ông Vũ đánh giá đây là bước tiến so với Luật Nhà ở năm 2023, song cách tính vẫn chưa đủ để người mua nhà dự liệu nghĩa vụ tài chính của mình.

    Dự thảo chưa quy định mức trần hoặc nguyên tắc giới hạn khoản đóng góp. Trong khi đó, suất đầu tư tại thời điểm phá dỡ là đại lượng chưa thể xác định khi người dân mua nhà, bởi thời điểm xây dựng lại có thể diễn ra sau nhiều năm.

    Đáng chú ý, nếu không có khả năng đóng góp kinh phí xây dựng lại, chủ sở hữu được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo tỷ lệ phần quyền sử dụng đất và phải bàn giao lại đất cho Nhà nước. Theo đại biểu, điều này đồng nghĩa người dân phải chấm dứt chỗ ở tại nơi mình đang sinh sống.

    Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ. Ảnh: QH

    Dự thảo cho phép UBND cấp tỉnh quyết định hỗ trợ kinh phí đối với người được bố trí tái định cư, nhưng đây mới là quy định tùy theo điều kiện của từng địa phương, chưa phải chính sách bảo đảm bắt buộc trong luật.

    “Đây là chính sách tác động tới tài sản lớn nhất của phần lớn hộ gia đình đô thị. Tôi đề nghị bổ sung nguyên tắc giới hạn mức đóng góp và cơ chế công bố suất đầu tư xây dựng làm căn cứ tính toán; đồng thời bổ sung chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với chủ sở hữu không đủ khả năng đóng góp, nhất là người cao tuổi và người có thu nhập thấp, thay vì giao hoàn toàn cho địa phương quyết định”, đại biểu đoàn Quảng Trị kiến nghị.

    Một vấn đề khác được đại biểu Nguyễn Khánh Vũ nêu là cơ chế xác định giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội.

    Theo dự thảo, chủ đầu tư được tự xây dựng hoặc thuê đơn vị tư vấn thẩm tra, sau đó tự phê duyệt giá bán, giá thuê mua nhà ở xã hội mà không phải qua cơ quan Nhà nước thẩm định.

    Ông Vũ đồng tình với chủ trương cắt giảm thủ tục nhưng cho rằng dự thảo mới luật hóa phần “nới tiền kiểm”, trong khi chưa kế thừa đầy đủ cơ chế hậu kiểm nhằm bảo vệ người mua.

    Theo cơ chế đang được thí điểm, sau khi công trình được nghiệm thu và đưa vào sử dụng, chủ đầu tư phải kiểm toán, quyết toán chi phí xây dựng, sau đó gửi cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh kiểm tra.

    Nếu giá được xác định sau kiểm toán cao hơn mức đã ký trong hợp đồng, chủ đầu tư không được thu thêm. Ngược lại, nếu giá thực tế thấp hơn, doanh nghiệp phải hoàn trả phần chênh lệch cho người mua hoặc thuê mua.

    “Người mua nhà ở xã hội là nhóm thu nhập thấp”, ông Vũ nhấn mạnh và đề nghị bổ sung nghĩa vụ kiểm toán, quyết toán sau khi công trình hoàn thành, quy định thời hạn thực hiện và trách nhiệm hoàn trả tiền chênh lệch.

    Đề xuất có cơ chế cải tạo khu dân cư cũ xuống cấp

    Đại biểu Châu Văn Minh (đoàn Phú Thọ) đề nghị mở rộng cơ chế cải tạo, chỉnh trang từ chung cư cũ sang các khu nhà ở xuống cấp và khu dân cư hình thành tự phát.

    Theo ông, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; tiêu chí lựa chọn dự án ưu tiên; quy trình rút gọn và khả năng điều chỉnh quy hoạch linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm kết nối hạ tầng giao thông.

    Đại biểu Châu Văn Minh. Ảnh: Quang Vinh

    Đại biểu đoàn Phú Thọ cho rằng không nên xem phát triển nhà ở đơn thuần là bài toán tạo lập quỹ đất. Mỗi dự án phải được đặt trong mối quan hệ với quy mô dân số, giao thông, trường học, cơ sở y tế, không gian xanh, hạ tầng kỹ thuật và khả năng chịu tải của đô thị.

    Dự thảo luật cần nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhà ở đồng bộ với hạ tầng giao thông, xã hội và kỹ thuật; áp dụng định hướng phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng đối với các đô thị lớn.

    Ông Minh cũng đề nghị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện sâu hơn việc khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê. Đây cũng là giải pháp để giảm bớt áp lực sở hữu nhà, nhất là tại các đô thị lớn như hiện nay. 

    Thành Huế

    Trần Thường

    Nguồn https://baomoi.com/khong-phai-nha-chung-cu-het-han-la-dap-bo-nguoi-dan-khong-con-quyen-gi-nua-c55867370.epi

  • Đổi mới mô hình để tập trung nguồn lực phát triển

    Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn trình bày Báo cáo thẩm tra về việc tích hợp 04 Chương trình mục tiêu quốc gia thành 01 Chương trình mục tiêu quốc gia. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Đồng tình cao với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, đại biểu Đặng Bích Ngọc (Phú Thọ) đánh giá, việc hợp nhất 4 CTMTQG là đáp ứng đúng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giúp khắc phục triệt để tình trạng phân tán, dàn trải nguồn lực.

    “Qua quá trình tiếp xúc cử trì, tôi nhận thấy các địa phương đều mong muốn tích hợp 4 CTMTQG thành 1 Chương trình tổng thể để khi triển khai đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, làm đến đâu được công trình đến đó. Điều này giúp tránh lãng phí và lặp lại tình trạng chồng chéo khi đồng thời thực hiện quá nhiều chương trình”, đại biểu Đặng Bích Ngọc nhấn mạnh.

    Về mặt giải pháp, theo đại biểu cần rà soát, sửa đổi khung pháp lý, cần khẩn trương ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn đồng bộ, thống nhất, khắc phục tình trạng ban hành chậm làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân.

    Phân tích ở góc độ quản lý và điều hành, đại biểu Phạm Hùng Thắng (Ninh Bình) lưu ý việc tích hợp các chương trình cần mang tính thực chất, tránh tình trạng thực hiện máy móc, cứng nhắc. Theo đại biểu, nếu chỉ gộp tên gọi mà giữ nguyên cơ chế quản lý, cách phân bổ cũ… sẽ không giải quyết được các vướng mắc hiện tại. Do đó, đại biểu Phạm Hùng Thắng nhấn mạnh cần bảo đảm chính sách cho vùng khó khăn. Tích hợp không đồng nghĩa với giảm mức độ ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Bên cạnh đó, theo đại biểu cần quy định cơ chế chuyển tiếp rõ ràng. Tránh tình trạng các dự án, công trình đang triển khai thuộc 4 chương trình hiện hành bị dừng lại hay gián đoạn vốn khi chuyển sang mô hình mới, bảo đảm không phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. Đồng thời cần siết chặt kỷ luật giải ngân; cho phép điều chuyển vốn linh hoạt từ địa phương giải ngân chậm sang nơi có khả năng hấp thụ vốn tốt hơn, nhưng cần gắn trách nhiệm người đứng đầu và xử lý nghiêm các trường hợp chậm trễ không có lý do chính đáng.

    Hải Ngọc (TTXVN )

    Nguồn https://baomoi.com/doi-moi-mo-hinh-de-tap-trung-nguon-luc-phat-trien-c55867401.epi

  • Đại biểu Quốc hội tỉnh tham gia thảo luận ở tổ về nhiều nội dung quan trọng

    Tham dự kỳ họp, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh có các đồng chí: Đoàn Thu Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh; Nguyễn Đặng Ân, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh và các ĐBQH tỉnh.

    Đoàn ĐBQH tỉnh dự kỳ họp

    Đoàn ĐBQH tỉnh dự kỳ họp

    Buổi sáng, Quốc hội nghe trình bày các tờ trình, báo cáo về 5 nội dung gồm: định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024; định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023; định hướng chính sách sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản; phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 – 2035, trên cơ sở tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình.

    Đại biểu Đoàn Thu Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh chủ trì thảo luận ở tổ 12

    Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về các nội dung trên. Dưới sự chủ trì của đại biểu Đoàn Thu Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, tổ 12 gồm Đoàn ĐBQH các tỉnh: Lạng Sơn, Vĩnh Long và Điện Biên đã thảo luận sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, thiết thực.

    Đại biểu Đoàn Thu Hà, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận ở tổ

    Phát biểu thảo luận, đại biểu Đoàn Thu Hà tán thành sự cần thiết xây dựng Luật Ngân sách nhà nước trên cơ sở hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công. Đại biểu nhấn mạnh, việc xây dựng luật nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường kỷ luật tài chính; phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong giai đoạn tới.

    Theo đại biểu, việc hợp nhất phải tạo ra bước đổi mới thực chất về quản trị tài chính công. Luật mới cần hình thành một quy trình thống nhất từ lập kế hoạch tài chính 5 năm, lựa chọn chương trình, dự án, phân bổ và giao dự toán đến tổ chức thực hiện, giải ngân, quyết toán và đánh giá hiệu quả.

    Đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát toàn bộ dự thảo theo chu trình quản lý nguồn lực công; việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phải bảo đảm rõ thẩm quyền, đủ nguồn lực và kiểm soát được trách nhiệm.

    Trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, luật cần xác định rõ quan hệ ngân sách giữa cấp tỉnh và cấp xã; phân định cụ thể nhiệm vụ thu, nhiệm vụ chi và thẩm quyền lập, quyết định, điều chỉnh, quyết toán ngân sách của từng cấp. Nhiệm vụ được giao đến cấp nào thì nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và điều kiện thực hiện phải được bảo đảm tương ứng với cấp đó.

    Đại biểu cũng đề nghị siết chặt kỷ luật trong lập dự toán, sử dụng tăng thu, điều chỉnh dự toán và chuyển nguồn; chuyển mạnh quản lý đầu tư công từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả và hiệu quả; tăng cường đánh giá sau đầu tư, công khai kết quả và xác định trách nhiệm đối với dự án chậm tiến độ, tăng tổng mức đầu tư, không đạt mục tiêu hoặc hiệu quả thấp.

    Đối với các tỉnh miền núi, biên giới, đại biểu đề nghị các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách phải tính đầy đủ yếu tố diện tích, địa hình, đường biên giới, cửa khẩu, số đơn vị hành chính cấp xã, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Cần tiếp tục giữ vững vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, bảo đảm việc phân cấp không làm giảm mức hỗ trợ đối với vùng miền núi, biên giới và địa bàn khó khăn. Đối với khoản thưởng vượt thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới đất liền, đại biểu đề nghị ưu tiên tái đầu tư hạ tầng cửa khẩu, giao thông kết nối, logistics và chuyển đổi số.

    Đại biểu Nguyễn Đặng Ân, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận ở tổ

    Về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, đại biểu Nguyễn Đặng Ân bày tỏ đồng tình cao với chủ trương này. Theo đại biểu, mặc dù các chương trình có mục tiêu và đối tượng khác nhau nhưng bộ máy tổ chức thực hiện ở cơ sở có nhiều điểm trùng lặp, gây lãng phí nhân lực và nguồn lực.

    Đại biểu đề nghị nghị quyết phải xác định rõ phạm vi thẩm quyền của Chính phủ trong điều chỉnh cơ cấu nguồn lực. Việc điều hành cần linh hoạt nhưng không được làm thay đổi tổng nguồn lực Quốc hội đã quyết định, không thay đổi mục tiêu, đối tượng thụ hưởng cốt lõi và không làm giảm nguồn lực dành cho vùng khó khăn.

    Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và địa bàn đặc biệt khó khăn, cần có tiêu chí phân bổ, cơ chế theo dõi và báo cáo riêng để Quốc hội đánh giá đầy đủ mức độ ưu tiên và hiệu quả thực hiện tại từng khu vực. Đại biểu cũng lưu ý phải xây dựng cơ chế chuyển tiếp chặt chẽ, ban hành hướng dẫn kịp thời, bảo đảm các chính sách, dự án đang triển khai không bị gián đoạn, không phát sinh khoảng trống chính sách và không để người dân, địa phương phải chờ cơ chế mới.

    Buổi chiều, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở tổ về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023 và Luật Kinh doanh bất động sản.

    Về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa chỉ tiêu sử dụng đất do cấp tỉnh phân bổ, kế hoạch sử dụng đất cấp xã và việc sử dụng các chỉ tiêu này làm căn cứ giải quyết từng thủ tục đất đai cụ thể.

    Đối với các trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư tại điều 56, đại biểu đề nghị làm rõ trường hợp “được miễn tiền thuê đất” là miễn trong toàn bộ thời gian thuê hay bao gồm cả trường hợp chỉ được miễn một số năm để bảo đảm áp dụng thống nhất.

    Đại biểu cũng đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa thời điểm thu hồi đất và việc bảo đảm điều kiện tái định cư cho người có đất ở bị thu hồi. Trường hợp cho phép thu hồi đất khi chưa hoàn thành việc bố trí tái định cư, Luật cần quy định cụ thể điều kiện, phạm vi áp dụng, phương án tạm cư và cơ chế bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người dân.

    Về thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai tại Điều 18, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị lựa chọn phương án 2, theo hướng luật phân định cụ thể thẩm quyền của UBND cấp xã đối với một số thủ tục liên quan đến cá nhân, cộng đồng dân cư; đồng thời cho phép UBND cấp tỉnh tiếp tục phân cấp, ủy quyền căn cứ tình hình và năng lực thực tế của địa phương…

    Đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng, Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận ở tổ  

    Cũng thảo luận về sửa đổi Luật Đất đai, đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng đồng tình lựa chọn phương án 2 tại điều 18; đề nghị phân cấp phải gắn với thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm cụ thể, bảo đảm một việc, một đầu mối chịu trách nhiệm chính.

    Đối với điểm e khoản 4 điều 35, đại biểu đề nghị không lấy tỷ lệ đã thỏa thuận trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất làm căn cứ duy nhất để thu hồi phần diện tích còn lại. Luật cần quy định rõ loại dự án, điều kiện áp dụng và cơ chế giám sát, không để cơ chế Nhà nước thu hồi đất thay thế trách nhiệm thỏa thuận của nhà đầu tư.

    Về điều 42 và điều 75, đại biểu đề nghị tập trung tháo gỡ hai điểm nghẽn là giá bồi thường và tiến độ bố trí tái định cư. Giá bồi thường phải sát thực tế, công khai, minh bạch; quỹ đất và khu tái định cư phải đi trước một bước. Dữ liệu giá đất phải đúng, đủ, được cập nhật, liên thông và xác định rõ trách nhiệm thu thập, kiểm chứng, qua đó bảo đảm quyền lợi của người dân và đẩy nhanh giải phóng mặt bằng…

    Các ý kiến tại phiên thảo luận tổ được cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm tra nghiên cứu, tiếp thu, làm cơ sở tiếp tục hoàn thiện các định hướng chính sách, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn khi xây dựng các dự án luật trình Quốc hội. 

    DƯƠNG DUYÊN – VIỆT THUẬN

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-quoc-hoi-tinh-tham-gia-thao-luan-o-to-ve-nhieu-noi-dung-quan-trong-c55867390.epi

  • Lâm Đồng thông qua dự án nhà ở xã hội lớn nhất tỉnh

    Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ 12 biểu quyết thông qua chủ trương đầu tư dự án Nhà ở xã hội tại xã Đức Trọng chiều 19/8

    Chiều 19/8, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng biểu quyết thông qua chủ trương đầu tư dự án Nhà ở xã hội tại lô đất 20.2 thuộc Quy hoạch chi tiết Khu trung tâm hành chính, Quảng trường huyện Đức Trọng (cũ).

    Với khoảng 6.656 căn hộ và tổng vốn đầu tư dự kiến 5.979 tỷ đồng, đây là dự án nhà ở xã hội lớn nhất tỉnh Lâm Đồng.

    Dự án được triển khai trên diện tích khoảng 114.340 m² tại xã Đức Trọng, nhằm xây dựng khu nhà ở xã hội để bán, cho thuê mua theo quy định.

    Theo phương án, dự án gồm 2 cụm công trình với tổng cộng 20 tòa nhà cao 19 tầng, không có tầng hầm. Trong đó, cụm công trình 1 gồm 4 tòa, mỗi tòa khoảng 256 căn. Cụm công trình 2 gồm 16 tòa, mỗi tòa khoảng 352 căn.

    Tổng diện tích sàn xây dựng dự kiến khoảng 598.540 m². Trong tổng số 6.656 căn nhà ở xã hội, khoảng 5.990 căn được bố trí để bán và 666 căn cho thuê mua.

    Phối cảnh dự án nhà ở xã hội lớn nhất tỉnh Lâm Đồng được thông qua chủ trương đầu tư chiều 19/8

    Dự án còn có khoảng 37.852 m² sàn thương mại để bán và cho thuê mua. Quy mô dân số dự kiến khoảng 12.648 người.

    Tổng vốn đầu tư khoảng 5.979 tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư tương đương 20%. Dự án có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Thời gian thực hiện dự án dự kiến 30 tháng, trong đó hoàn thành trong 24 tháng kể từ khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất.

    Trước khi trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu UBND tỉnh tiếp tục rà soát, hoàn chỉnh hồ sơ dự án. Trọng tâm là đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo quy mô dự án, bảo đảm đồng bộ, phù hợp quy hoạch và có tính khả thi.

    Tỉnh cũng yêu cầu cân đối chỉ tiêu diện tích sàn nhà ở xã hội của dự án với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2026 – 2030. Đồng thời, đánh giá đầy đủ nhu cầu thực tế về nhà ở xã hội tại khu vực Đức Trọng và trên địa bàn tỉnh để bảo đảm quy mô dự án phù hợp nhu cầu.

    Việc lựa chọn, giao chủ đầu tư phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo Nghị định số 192/2025/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch và đúng thẩm quyền.

    Khi hoàn thành, dự án sẽ bổ sung 6.656 căn nhà ở xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu chỗ ở cho hơn 12.600 người tại Lâm Đồng.

    Giai đoạn 2026 – 2030, Lâm Đồng đặt mục tiêu hoàn thành 17.219 căn nhà ở xã hội, vượt 4.000 căn so với chỉ tiêu Trung ương giao. Ngoài dự án tại Đức Trọng, tỉnh cũng quy hoạch các khu vực phát triển nhà ở xã hội như Nam sông Đa Nhim, khu Trại Mát, phường Xuân Trường – Đà Lạt…

    Lê Phước – Nguyễn Luân

    Nguồn https://baomoi.com/lam-dong-thong-qua-du-an-nha-o-xa-hoi-lon-nhat-tinh-c55867437.epi

  • Thủ tướng: Hết hạn sử dụng chung cư không có nghĩa người dân mất quyền tài sản

    Chiều 19/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại tổ về Định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023.

    Về định hướng sửa đổi Luật Nhà ở, Thủ tướng dẫn Hiến pháp quy định Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở.

    “Chúng ta cố gắng chuyển tư duy từ “bắt buộc phải sở hữu nhà, có nhà” sang “có nơi ở lâu dài”. Để đạt được mục tiêu này thì bắt buộc phải phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội“, Thủ tướng nhấn mạnh.

    Theo định hướng chính sách, bên cạnh nhà ở để bán như nhà ở thương mại, sẽ ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. Thủ tướng đánh giá đây là một bước chính sách rất cụ thể.

    Thủ tướng Lê Minh Hưng (Ảnh: Media Quốc hội).

    Phân định lại 4 loại hình nhà ở, gồm: Nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Các phân khúc nhà ở khác nhau đều phải đáp ứng đầy đủ tiêu chí, điều kiện, bảo đảm điều kiện ở của người dân.

    Trong đó, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh định hướng phát triển nhà ở cho thuê với nhiều hình thức như: Nhà ở cho thuê đầu tư bằng vốn Nhà nước, nhà ở cho thuê đầu tư không bằng vốn Nhà nước, nhà lưu trú cho công nhân tại khu công nghiệp và nhà lưu trú cho chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp.

    Theo Thủ tướng, Nhà nước có thể sử dụng quỹ đất, đầu tư xây dựng và tổ chức cho thuê. Tuy nhiên, nguồn lực Nhà nước không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu rất lớn về nhà ở của công nhân, học sinh, sinh viên, người lao động, cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang.

    Vì vậy, cần huy động thêm các nguồn lực xã hội. Nhà nước có thể trực tiếp đầu tư, vận hành nhà ở cho thuê hoặc thuê tư nhân vận hành, đồng thời phát triển hình thức cho thuê dài hạn để người dân yên tâm. “Nhà ở cho thuê có thể 10 năm, 15 năm, 20 năm và dài hơn, có cam kết rõ ràng để người thuê yên tâm”, Thủ tướng nói.

    Đối với việc huy động nguồn lực tư nhân, Thủ tướng nêu phương án Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu đất, giao cho tư nhân đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê và áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù.

    “Đất vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước, xây nhà để cho thuê, có nghĩa Nhà nước không thể thu tiền sử dụng đất được. Và nhà đầu tư cần được tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn dài hạn, huy động vốn ngân hàng cùng các công cụ hỗ trợ của Nhà nước”, Thủ tướng nêu.

    Mục tiêu được Thủ tướng đặt ra là hình thành quỹ nhà ở cho thuê đủ lớn, chất lượng hạ tầng đầy đủ để người dân có thể yên tâm thuê và sinh sống lâu dài.

    Về vấn đề thời hạn sử dụng nhà chung cư, Thủ tướng cho rằng thời hạn này phải gắn với niên hạn của công trình.

    “Chúng ta phải làm rõ với nhau là không có nhà nào ở vĩnh viễn được. Đến thời hạn, phải kiểm tra. Nếu không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật thì phải xây lại nếu vẫn quy hoạch khu vực đó làm nhà ở. Nhưng quyền tài sản đi kèm đó phải được pháp luật bảo vệ, tức là phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây mới theo quy định”, Thủ tướng nói và cho rằng cần được quy định rõ ràng, công khai, minh bạch để người dân hiểu đúng.

    “Quyền tài sản được pháp luật bảo vệ, nhưng tiêu chuẩn kỹ thuật của căn hộ chung cư phải tuân theo quy định về an toàn. Nếu kiểm định bảo đảm an toàn thì tiếp tục gia hạn sử dụng; nếu không bảo đảm an toàn thì phải có biện pháp cải tạo, xây dựng lại”, Thủ tướng nêu.

    Cũng theo Thủ tướng, quy định thời hạn sử dụng chung cư không có nghĩa khi hết thời hạn thì công trình bị phá bỏ và người dân không còn quyền gì đối với tài sản của mình. Do đó cách thức quy định trong dự thảo luật cần rõ ràng để người dân và thị trường yên tâm.

    Hoàng Thị Bích

    Nguồn https://baomoi.com/thu-tuong-het-han-su-dung-chung-cu-khong-co-nghia-nguoi-dan-mat-quyen-tai-san-c55867456.epi

  • Phường Tân Giang triển khai nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh tiến độ Dự án khai thác lộ thiên mỏ sắt Nà Rụa

    Đến nay, phường hoàn thành kiểm đếm 421/421 hộ và 347 ngôi mộ cần di dời. Đã niêm yết công khai phương án bồi thường đối với 338 hộ, tổng kinh phí hơn 199,9 tỷ đồng; trình phê duyệt phương án 258 hộ, tổng kinh phí 173,21 tỷ đồng. Trong đó, 202 hộ đã được phê duyệt phương án với tổng số tiền 112,723 tỷ đồng; 129 hộ đã nhận tiền hỗ trợ với tổng số tiền 61,25 tỷ đồng; 84 hộ đã bàn giao mặt bằng, diện tích 18.109,5 m²; 60 ngôi mộ được di dời; tổ chức bốc thăm tái định cư cho 18 hộ với 21 lô đất.

    Chủ tịch UBND phường Tân Giang Nguyễn Minh Châu phát biểu chỉ đạo cuộc họp.

    Tại cuộc họp, lãnh đạo UBND phường yêu cầu Ban Quản lý dự án rà soát, phân loại cụ thể từng hồ sơ, xác định rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và thời hạn xử lý. Nguyên tắc được thống nhất là hồ sơ đủ điều kiện đến đâu xử lý ngay đến đó, không để tồn đọng, kéo dài. Các kiến nghị thuộc thẩm quyền phường được yêu cầu trả lời trong vòng 24 giờ; phương án được phê duyệt phấn đấu chi trả trong vòng 48 giờ.

    Chủ động phương án tạm cư, tái định cư, di chuyển mộ; tăng cường tuyên truyền, vận động, giải thích chính sách, tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Đối với các trường hợp không chấp hành, sẽ thực hiện các biện pháp xử lý, trong đó, có cưỡng chế thu hồi đất theo đúng quy định pháp luật.

    UBND phường Tân Giang phấn đấu hoàn thành bàn giao toàn bộ khoảng 21 ha mặt bằng trước ngày 30/9/2026, phục vụ triển khai Dự án đầu tư khai thác lộ thiên mỏ sắt Nà Rụa.

    Hoàng Lan

    Nguồn https://baomoi.com/phuong-tan-giang-trien-khai-nhiem-vu-giai-phap-day-nhanh-tien-do-du-an-khai-thac-lo-thien-mo-sat-na-rua-c55867396.epi

  • Xã Xuân Mai triển khai công tác tổ chức lấy mẫu hài cốt liệt sĩ chưa xác định thông tin để giám định ADN

    Chiều 19-8, UBND xã Xuân Mai tổ chức hội nghị hiệp đồng triển khai công tác lấy mẫu và bàn giao mẫu hài cốt liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn.

    Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Mai Chu Văn Khang phát biểu tại hội nghị. Ảnh: PV

    Theo kế hoạch, UBND xã Xuân Mai sẽ tổ chức lấy mẫu và bàn giao mẫu hài cốt liệt sĩ đối với 47 mộ chưa xác định được thông tin tại 3 nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn, bao gồm: Nghĩa trang liệt sĩ Xuân Mai, Nghĩa trang liệt sĩ Thủy Xuân Tiên và Nghĩa trang liệt sĩ Tân Tiến.

    Thời gian triển khai các hoạt động chính thức sẽ diễn ra từ ngày 31-8 đến hết tháng 9-2026. Công tác chuẩn bị hậu cần và khánh tiết sẽ hoàn tất trong ngày 30-8. Tiến độ khai quật tại từng nghĩa trang sẽ diễn ra tuần tự: Từ ngày 1-9 đến ngày 8-9 hoàn thành tại Nghĩa trang liệt sĩ Xuân Mai; từ ngày 10-9 đến ngày 15-9 hoàn thành tại Nghĩa trang liệt sĩ Thủy Xuân Tiên; từ ngày 17-9 đến ngày 21-9 hoàn thành tại Nghĩa trang liệt sĩ Tân Tiến.

    Để đảm bảo công tác lấy mẫu được thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, trang nghiêm và an toàn tuyệt đối, Phó Chủ tịch UBND xã Chu Văn Khang đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị theo phương châm “6 rõ”. Trong đó, Ban Chỉ huy quân sự xã được giao làm cơ quan thường trực, chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, giám sát, đôn đốc thực hiện kế hoạch; đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, hậu cần và các phương án an ninh, an toàn trong suốt quá trình thực hiện tại nghĩa trang.

    Hoài Phương

    Nguồn https://baomoi.com/xa-xuan-mai-trien-khai-cong-tac-to-chuc-lay-mau-hai-cot-liet-si-chua-xac-dinh-thong-tin-de-giam-dinh-adn-c55867627.epi

  • Thủ tướng: Hoàn thiện chính sách đất đai, nhà ở, bất động sản theo hướng đồng bộ, minh bạch

    Thủ tướng dự và phát biểu tại Phiên thảo luận tại tổ. Ảnh: quochoi.vn

    Bám sát định hướng lớn và yêu cầu thực tế

    Theo Thủ tướng, Chính phủ, các cơ quan của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội định hướng chính sách sửa đổi 3 luật này. Các đại biểu đã tiếp cận vấn đề tổng thể, toàn diện và có nhiều ý kiến sâu sắc; là chất liệu đầu vào quan trọng để các Cơ quan chủ trì soạn thảo và Cơ quan thẩm tra của Quốc hội tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật.

    Thủ tướng cho biết, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan (Nghị quyết số 21) xuất phát từ yêu cầu thực tiễn. Mặc dù Luật Đất đai mới được Quốc hội thông qua năm 2024, nhưng vẫn còn những vướng mắc, gây khó khăn cho các địa phương, bộ, ngành triển khai.

    Nghị quyết số 21 cũng đưa ra những định hướng lớn, không chỉ liên quan đến việc sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Theo đó, những luật có tác động, liên quan trực tiếp đến các định hướng lớn cũng phải được sửa đổi để bảo đảm tính đồng bộ.

    Ví dụ, các vấn đề về tài chính đất đai không thể quy định cụ thể chỉ trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở hoặc Luật Kinh doanh bất động sản, mà phải được sửa trong các luật về thuế. Chính phủ đang định hướng chính sách để trình Quốc hội sửa các luật thuế, trong đó bổ sung các quy định liên quan đến giá đất, cơ chế điều tiết chênh lệch địa tô và cơ chế tài chính khuyến khích đưa đất vào sản xuất, sử dụng, không để bỏ hoang…

    “Luật Đất đai liên quan đến nhiều luật khác nhau, ưu tiên cao nhất là sửa đổi những luật trực tiếp triển khai các định hướng lớn”, Thủ tướng nhấn mạnh.

    Đồng bộ chính sách, kiểm soát chi phí đầu vào

    Về Luật Đất đai, Thủ tướng cho rằng, một trong những vấn đề lớn là đổi mới công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Theo tinh thần Nghị quyết số 21, cần giảm, tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch trong phạm vi thống nhất của tỉnh. Hiện nay có quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch ngành, quy hoạch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng, bộ, ngành và địa phương; cần tích hợp để các địa phương chỉ còn một quy hoạch và một kế hoạch sử dụng đất, tạo thuận lợi cho địa phương. Đi kèm với đó, phải có cơ chế, tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để không thể tự ý điều chỉnh quy hoạch hoặc kế hoạch sử dụng đất nhằm thay đổi mục tiêu sử dụng, đảm bảo tuân thủ theo đúng quy hoạch. Vì thế, theo Thủ tướng, cần cụ thể hóa các tiêu chí này trong luật.

    Về hoàn thiện cơ chế giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch, có cạnh tranh, lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực và có kế hoạch sử dụng đất hiệu quả. Cụ thể, cần quy định rõ trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất và trường hợp giao trực tiếp cho nhà đầu tư; đồng thời quy định cụ thể cách thức tính, nộp tiền sử dụng đất. Thực tế, Thủ tướng cho biết, nhiều nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư vào khu công nghiệp quy mô lớn, mong muốn có cơ chế rõ ràng về việc nộp tiền thuê đất một lần hay nộp hằng năm để chủ động tính toán phương án tài chính.

    Về giá đất, Thủ tướng cho rằng đây là vấn đề lớn, bởi giá đất là đầu vào của tất cả các dự án và của nền kinh tế. Khi giá đất cao, các chi phí sẽ được chuyển vào giá sản phẩm cuối cùng, trong khi nhà đầu tư còn phải vay vốn và có thể phải chịu chi phí do quy trình, thủ tục hành chính kéo dài; do đó, phải giải quyết vấn đề một cách đồng bộ.

    Theo người đứng đầu Chính phủ, Nhà nước quyết định trên cơ sở dữ liệu và phương pháp khoa học, công khai, minh bạch; đồng thời kết nối, liên thông dữ liệu đất đai với các dữ liệu chuyên ngành. Qua đó, Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết giá đất, kiểm soát các chi phí đầu vào; đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch trong việc giao đất cho nhà đầu tư và rút ngắn quy trình, thủ tục.

    “Với các biện pháp tổng thể như vậy mới có thể kiểm soát chi phí đầu vào, từ đó kiểm soát giá nhà, giá đất và giá đầu ra. Tất cả các chi phí phải được tính toán rõ ràng, có các biện pháp cụ thể trong luật và các quy định hướng dẫn thi hành luật để giảm thiểu chi phí”, Thủ tướng nêu.

    Liên quan đến cơ chế thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Thủ tướng nhấn mạnh: Một tư duy rất quan trọng là chuyển từ tư duy bồi thường tài sản bị thu hồi sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, bảo đảm điều kiện sống sau khi thu hồi đất phải tốt hơn trước. Việc xác định, xác lập tư duy này là một trong những nội dung rất quan trọng trong Nghị quyết 21 để chuyển hóa thành những cơ chế ưu tiên, phù hợp trong luật. Những nguyên tắc đó phải được cụ thể hóa trong dự thảo luật cùng với việc đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền để thủ tục hành chính phải ngắn gọn.

    “Mỗi lần giao đất mà quy trình, thủ tục kéo dài hàng năm, chưa kể những vấn đề phát sinh, thì tất cả các chi phí của dự án đầu tư đều dội vào giá. Vì vậy, phải cố gắng bảo đảm công khai, minh bạch và có những quy định thật cụ thể”, Thủ tướng nêu rõ.

    Thủ tướng cho biết, đối với những vấn đề cụ thể hơn, vấn đề nào cần được quy định ngay trong luật hoặc các văn bản hướng dẫn, sau khi tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Chính phủ sẽ tiếp thu, hoàn thiện. Đồng thời, Chính phủ mong muốn, từ thực tiễn ở địa phương, các đại biểu có những đóng góp cụ thể vào từng điều khoản của luật để có cơ sở hoàn thiện.

    Chuyển từ tư duy “bắt buộc phải sở hữu nhà, có nhà” sang tư duy “có nơi ở”

    Đối với Luật Nhà ở, Thủ tướng nêu rõ, Hiến pháp quy định “Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở”; vì vậy, cần chuyển từ tư duy “bắt buộc phải sở hữu nhà, có nhà”, sang tư duy “có nơi ở”.

    Để thực hiện định hướng này, Thủ tướng nhấn mạnh phải xử lý một trong những vấn đề quan trọng nhất là phát triển nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội.

    Theo dự thảo luật, bên cạnh nhà ở để bán như nhà ở thương mại, cần ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. Dự thảo luật phân định rõ 4 loại hình nhà ở, gồm: Nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Trong phát triển nhà ở cho thuê, có các hình thức gồm: Nhà ở cho thuê đầu tư bằng vốn Nhà nước; nhà ở cho thuê đầu tư bằng vốn ngoài Nhà nước. Ngoài ra còn có nhà lưu trú cho công nhân tại các khu công nghiệp; chuyên gia, người lao động ngoài khu công nghiệp.

    Thủ tướng chia sẻ, Nhà nước không thể một mình đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhà ở của công nhân, học sinh, sinh viên, người lao động, cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang; vì vậy, cần phát triển bằng nhiều hình thức, xã hội hóa nguồn lực.

    Nhà nước có thể đầu tư, vận hành cho thuê hoặc thuê tư nhân vận hành cho thuê dài hạn, với thời hạn có thể 10, 15, 20 năm hoặc dài hơn, có cam kết rõ ràng để người thuê yên tâm. Đồng thời, huy động nguồn đầu tư tư nhân, Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu đất nhưng giao đất cho tư nhân đầu tư cho thuê cùng với một số cơ chế, chính sách đặc thù. “Mục tiêu là hình thành quỹ nhà ở cho thuê đủ lớn, đủ mạnh, có chất lượng hạ tầng đầy đủ để người thuê yên tâm”, Thủ tướng nhấn mạnh.

    Về thời hạn sử dụng nhà chung cư mà các đại biểu Quốc hội quan tâm, Thủ tướng cho rằng, không có nhà nào có thể sử dụng vĩnh viễn. Khi đến thời hạn, công trình phải được kiểm tra; nếu không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật thì phải xử lý; nếu quy hoạch tiếp tục là nhà ở thì phải xây dựng lại.

    “Tuy nhiên, quyền tài sản đi kèm phải được pháp luật bảo vệ. Luật cần cụ thể hóa vấn đề này, trong đó, cách thức thể hiện phải công khai, minh bạch để người dân hiểu rõ và yên tâm. Không phải đến thời hạn đập bỏ thì người dân không còn quyền. Quyền tài sản được pháp luật bảo vệ, còn tiêu chuẩn kỹ thuật của căn hộ chung cư phải tuân thủ quy định an toàn cho người ở”, Thủ tướng khẳng định.

    Về Luật Kinh doanh bất động sản, Thủ tướng cho biết, quan trọng nhất đối với thị trường bất động sản là phát triển thị trường công khai, minh bạch, lành mạnh, ổn định và bền vững. Các thông tin phải được công khai để kiểm tra, kiểm soát. Cùng với đó, cần khuyến khích giao dịch qua sàn, thanh toán qua ngân hàng, không sử dụng tiền mặt…

    Thủ tướng cho biết, trong thời gian tới, sẽ xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản. Các cơ quan đang nghiên cứu biện pháp bảo đảm các bên yếu thế trong giao dịch được pháp luật bảo vệ.

    Diệp Trương (TTXVN )

    Nguồn https://baomoi.com/thu-tuong-hoan-thien-chinh-sach-dat-dai-nha-o-bat-dong-san-theo-huong-dong-bo-minh-bach-c55867477.epi

  • Xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra

    Một trong những điểm nổi bật của Nghị định 267/2026/NĐ-CP là dành từ Điều 10 đến Điều 22 để quy định cụ thể cách xác định giá trị thiệt hại đối với từng loại hành vi gây lãng phí. Việc xác định thiệt hại phải đảm bảo khách quan, công bằng, dựa trên thiệt hại thực tế có thể lượng hoá bằng tiền và có mối quan hệ trực tiếp với hành vi gây lãng phí.

    Theo đó, Nghị định quy định phương pháp xác định thiệt hại đối với 13 trường hợp thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra. Cụ thể: Thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước được xác định là số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu tư hoặc mức kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra; toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước đã chi khi thực hiện văn bản được ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

    Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định rõ nguyên tắc, căn cứ và phương pháp xác định riêng, đảm bảo việc xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra được minh bạch, khách quan, công bằng. Ảnh minh hoạ: Thanh Tuấn

    Số vốn đầu tư công được sử dụng vượt mức được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư phê duyệt; không đúng mục đích, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định. Hoặc số vốn nhà nước đã sử dụng để thực hiện phần công trình không đúng quy định pháp luật, phải phá dỡ hoặc không thể nghiệm thu, bàn giao để đưa vào sử dụng do hành vi lãng phí trực tiếp gây ra.

    Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư được xác định là toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện việc phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án do thực hiện hành vi gây lãng phí.

    Đối với hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt, thiệt hại được xác định là số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các ngân hàng thương mại do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện dự án.

    Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công được xác định là phần giá trị tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật hoặc giá trị còn lại của tài sản công bị mất, bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc bị sử dụng trái quy định dẫn đến không thu hồi được; phần giá trị tài sản bị hao hụt vượt định mức theo quy định.

    Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công được xác định là số kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để sửa chữa, khôi phục lại tài sản công. Theo đó, đối với hậu quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng, thiệt hại được xác định là phần kinh phí ngân sách nhà nước tăng thêm để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công do thực hiện hành vi gây lãng phí.

    Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại được xác định là toàn bộ các khoản kinh phí ngân sách nhà nước hợp lý, cần thiết phải chi trả để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả của hành vi gây lãng phí, phục hồi lại tình trạng ban đầu của tài sản công, tài nguyên.

    Đối với hậu quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng, thiệt hại được xác định là giá trị tài nguyên, năng lượng bị khai thác trái phép, bị mất, bị suy giảm do hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng trực tiếp gây ra.

    Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của nhà nước, thiệt hại được xác định là khoản nghĩa vụ tài chính khác mà nhà nước phải thực hiện do hành vi lãng phí trực tiếp gây ra, bao gồm nghĩa vụ thanh toán, hỗ trợ, bù đắp, bảo lãnh, trả nợ, lãi, phí hoặc nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận tại hợp đồng.

    Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp được xác định là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực tế bị mất, bị giảm do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra.

    Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng được xác định là giá trị hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do lỗi của người được giao quản lý, sử dụng tài sản.

    Đối với hậu quả làm giảm thu ngân sách nhà nước, thiệt hại được xác định là toàn bộ nguồn thu của ngân sách nhà nước bị giảm đi do thực hiện hành vi gây lãng phí quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.

    Có thể thấy, Nghị định 267/2026/NĐ-CP đều quy định rõ nguyên tắc, căn cứ và phương pháp xác định riêng. Điều này đảm bảo việc xác định thiệt hại do hành vi lãng phí gây ra là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí và được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định, đảm bảo khách quan, công bằng.

    Quốc Doanh

    Nguồn https://baomoi.com/xac-dinh-thiet-hai-do-hanh-vi-gay-lang-phi-gay-ra-c55867617.epi

  • Lai Châu phê duyệt giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn 4 khu đất

    Ảnh minh họa. (Nguồn: laichau.gov.vn)

    UBND tỉnh Lai Châu vừa ban hành Quyết định số 1793/QĐ-UBND phê duyệt đơn giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn đối với 4 khu đất, thửa đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh.

    Theo đó, 4 khu đất, thửa đất và tài sản gắn liền với đất được đưa ra cho thuê ngắn hạn gồm các khu đất tại xã Than Uyên, xã Mường Than, xã Bình Lư và phường Tân Phong. Thời hạn cho thuê đối với cả 4 khu đất là 5 năm.

    Cụ thể, khu đất thứ nhất tiếp giáp Quốc lộ 32 tại bản Muông, xã Than Uyên có diện tích 3.470,6 m², thuộc các thửa đất số 471 và 472, tờ bản đồ số 75, mục đích sử dụng đất là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp (SKC).

    Khu đất này được chia thành 2 vị trí. Vị trí 1 có diện tích 1.384 m², giá đất theo bảng giá là 320.000 đồng/m², tỷ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất là 1,2%, tương ứng đơn giá thuê đất 3.840 đồng/m²/năm. Giá khởi điểm cho thuê đất tại vị trí này là 5,315 triệu đồng/năm. Vị trí 2 có diện tích 2.086,6 m², đơn giá thuê đất 2.040 đồng/m²/năm, giá khởi điểm 4,257 triệu đồng/năm. Khu đất không có tài sản gắn liền với đất. Tổng giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn được xác định là khoảng 9,571 triệu đồng/năm.

    Khu đất thứ hai là Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (05 – 06 cũ) tại xã Mường Than, có diện tích 18.919,5 m², thuộc các thửa đất từ 197 – 203, tờ bản đồ số 58, mục đích sử dụng là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

    Khu đất này được chia thành 3 vị trí. Vị trí 1 có diện tích 1.471,1 m², giá đất 310.000 đồng/m², tỷ lệ tính đơn giá thuê đất 0,8%, tương ứng đơn giá thuê 2.480 đồng/m²/năm. Vị trí 2 có diện tích 4.383,3 m², giá đất 180.000 đồng/m², đơn giá thuê 1.440 đồng/m²/năm. Vị trí 3 có diện tích 13.065,1 m², giá đất 75.000 đồng/m², đơn giá thuê 600 đồng/m²/năm.

    Tổng giá khởi điểm cho thuê đất của khu đất này là 17,799 triệu đồng/năm. Ngoài ra, tài sản gắn liền với đất có diện tích sàn sử dụng 445,1 m², giá khởi điểm cho thuê tài sản ngắn hạn là 97,183 triệu đồng/năm. Sau khi tính hệ số chi phí quản lý, khai thác nhà, đất 10% theo quyết định, tổng giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn của khu đất và tài sản là khoảng 126,481 triệu đồng/năm.

    Tại xã Bình Lư, UBND tỉnh phê duyệt giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn đối với Trụ sở Phòng Giáo dục Tam Đường (cũ) tại bản Hô Ta. Khu đất thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 149, có diện tích 1.902,1 m², mục đích sử dụng là đất thương mại, dịch vụ (TMD).

    Đơn giá thuê đất được xác định ở mức 15.120 đồng/m²/năm, tương ứng giá khởi điểm cho thuê đất khoảng 28,760 triệu đồng/năm. Tài sản gắn liền với đất có diện tích sàn sử dụng 960 m², giá khởi điểm cho thuê tài sản ngắn hạn khoảng 154,702 triệu đồng/năm.Với hệ số chi phí quản lý, khai thác nhà, đất 10%, tổng giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn đối với khu đất và tài sản này được xác định ở mức khoảng 201,808 triệu đồng/năm.

    Khu đất thứ tư là Bãi đỗ xe tĩnh (Bến xe tỉnh cũ) tại phường Tân Phong, có diện tích 8.021,3 m², thuộc thửa đất số 2, tờ bản đồ số 35, mục đích sử dụng là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

    Khu đất được phân thành các vị trí gồm vị trí 1 diện tích 1.992,9 m², giá đất 2 triệu đồng/m² và đơn giá thuê đất 24.000 đồng/m²/năm; vị trí 2 diện tích 2.014,3 m², giá đất 590.000 đồng/m² và đơn giá thuê 7.080 đồng/m²/năm; vị trí 3 diện tích 1.991,8 m², giá đất 340.000 đồng/m² và đơn giá thuê 4.080 đồng/m²/năm. Phần diện tích còn lại 2.022,3 m² có giá đất 175.000 đồng/m², đơn giá thuê 2.100 đồng/m²/năm.

    Tổng giá khởi điểm cho thuê đất của khu vực này là khoảng 74,464 triệu đồng/năm. Tài sản gắn liền với đất có diện tích sàn sử dụng 531,89 m², giá khởi điểm cho thuê tài sản ngắn hạn khoảng 97,993 triệu đồng/năm. Sau khi tính hệ số chi phí quản lý, khai thác nhà, đất 10%, tổng giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn được xác định ở mức khoảng 189,703 triệu đồng/năm.

    Tổng diện tích của 4 khu đất là 32.313,5 m²; tổng giá khởi điểm cho thuê đất là khoảng 130,595 triệu đồng/năm; tổng giá khởi điểm cho thuê tài sản ngắn hạn khoảng 349,878 triệu đồng/năm. Sau khi tính các khoản theo quy định, tổng giá khởi điểm cho thuê ngắn hạn của 4 khu đất, thửa đất và tài sản gắn liền với đất đạt khoảng 527,563 triệu đồng/năm.

    UBND tỉnh Lai Châu giao Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh căn cứ đơn giá khởi điểm được phê duyệt để tổ chức triển khai việc cho thuê đất ngắn hạn theo quy định hiện hành.

    Đoàn Chi

    Nguồn https://baomoi.com/lai-chau-phe-duyet-gia-khoi-diem-cho-thue-ngan-han-4-khu-dat-c55867515.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!