Author: bachdn

  • Thường trực HĐND tỉnh làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương

    Các đồng chí: Dương Đình Chỉnh – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh; Nguyễn Như Khôi – Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì cuộc làm việc.

    Dự cuộc làm việc có các đồng chí: Hoàng Quốc Việt – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường; Phạm Văn Hóa – Giám đốc Sở Công Thương. Cùng dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành cấp tỉnh.

    Quang cảnh cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Tại cuộc làm việc lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương đã báo cáo kết quả triển khai các nghị quyết do HĐND tỉnh ban hành trong giai đoạn 2021 – 2025. Theo đó, lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường có 7 nghị quyết, gồm: Nghị quyết số 13/2018/NQ-HĐND ngày 12/12/2018 quy định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

    Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Quốc Việt báo cáo kết quả triển khai các nghị quyết của HĐND tỉnh ban hành thuộc lĩnh vực của ngành.

    Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 về một số chính sách hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND ngày 12/12/2025 ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026 – 2030; Nghị quyết số 02/2023/NQ-HĐND ngày 07/7/2023 quy định chính sách hỗ trợ cho chủ rừng để thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

    Các đại biểu HĐND tỉnh tham dự cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Đối với Sở Công Thương có 2 nghị quyết đó là: Nghị quyết số 22/2021/NQ-HĐND ngày 19/12/2021 ban hành quy định một số chính sách phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nghị quyết số 13/2025/NQ-HĐND ngày 10/7/2025 quy định mức chi cho hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Nghệ An (Bãi bỏ Khoản 1, Điều 6, Chương III, Quy định ban hành kèm theo Nghị quyết số 22/2021) và Nghị quyết số 38/2025/NQ-HĐND ngày 12/12/2025 ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển các hoạt động thương mại và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

    Giám đốc Sở Công Thương Phạm Văn Hóa báo cáo kết quả triển khai các nghị quyết của HĐND ban hành thuộc lĩnh vực của ngành. Ảnh: TL

    Sau khi các nghị quyết của HĐND tỉnh ban hành và có hiệu lực, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương đã thông tin, tuyên truyền và chủ động triển khai thực hiện các nghị quyết; đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn, đôn đốc; phối hợp với các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, bố trí và phân bổ kinh phí, hướng dẫn đối tượng thụ hưởng tiếp cận chính sách.

    Bên cạnh đó, các sở đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thường xuyên rà soát, đánh giá kết quả thực hiện để kịp thời tham mưu điều chỉnh, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.

    Trưởng Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh Cao Tiến Trung phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Sau khi nghe ý kiến của các thành viên dự họp, kết luận cuộc làm việc, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Đình Chỉnh đánh giá: Các nghị quyết đã được triển khai đồng bộ, đúng mục tiêu và đúng quy định, từng bước phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

    Các cơ chế, chính sách đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để huy động nguồn lực đầu tư trên các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khuyến công, thương mại và xuất khẩu; góp phần nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các cơ sở công nghiệp nông thôn, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh.

    Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Như Khôi phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy: Một số nghị quyết, cơ chế chính sách ban hành còn có một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai; việc thực hiện một số chính sách hiệu quả chưa cao; một số cơ chế chính sách không phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Đình Chỉnh đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương phối hợp với các ban của HĐND tỉnh tiếp tục rà soát, đánh giá hiệu quả từng chính sách; tổng hợp các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để kịp thời có giải pháp khắc phục, trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành nghị quyết, chính sách mới phù hợp với thực tiễn áp dụng.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Đình Chỉnh kết luận cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Đồng thời, rà soát những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện về quy định của Trung ương để sửa đổi, bổ sung thay thế phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay, tránh sự chồng chéo hoặc khi cơ quan Trung ương có sự thay đổi về chính sách.

    Để các nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, các sở cần quan tâm công tác thông tin, tuyên truyền đưa nghị quyết vào cuộc sống, để chính sách đến với các đối tượng thụ hưởng; hướng dẫn về thủ tục, hồ sơ, các điều kiện để hưởng hỗ trợ đến tận các đối tượng thụ hưởng.

    Đồng thời, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các địa phương, đơn vị trong quá trình thực hiện, nhất là đối với các chính sách do sở, đơn vị trực thuộc sở chủ trì; hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã.

    Đại diện lãnh đạo các sở, ngành tham dự cuộc làm việc. Ảnh: TL

    Cùng với đó cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nghị quyết; đánh giá quá trình thực hiện nghị quyết; tổng hợp những khó khăn, bất cập phát sinh trong thực tiễn để tham mưu UBND tỉnh báo cáo HĐND tỉnh xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hoàn thiện cơ chế, chính sách khi cần thiết, bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành của pháp luật và sự phát triển chung của xã hội.

    Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Dương Đình Chỉnh giao các sở phối hợp với văn phòng các ban của HĐND tỉnh bổ sung, hoàn thiện nội dung báo cáo đánh giá việc triển khai các nghị quyết trong lĩnh vực của ngành mình, trình Thường trực HĐND tỉnh.

    Thanh Lê

    Nguồn https://baomoi.com/thuong-truc-hdnd-tinh-lam-viec-voi-so-nong-nghiep-va-moi-truong-so-cong-thuong-c55880332.epi

  • Đại biểu đề nghị quản lý chặt không gian lấn biển, bảo đảm hiệu quả quỹ đất hình thành

    Thảo luận tại hội trường, đại biểu Trần Thế Anh (đoàn Ninh Bình) cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Đất đai nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đất đai và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

    Đại biểu Trần Thế Anh (đoàn Ninh Bình). Ảnh: Media Quốc hội.

    Theo đại biểu, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt yêu cầu quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển như một nguồn lực phát triển mới. Hồ sơ dự án Luật cũng xác định cần bổ sung chế độ sử dụng đất hình thành từ hoạt động lấn biển.

    Từ đó, đại biểu Trần Thế Anh cho rằng, Luật không chỉ cần quy định việc lấn biển được thực hiện như thế nào, mà còn phải quản lý không gian trước khi lấn biển, các tác động phát sinh và quỹ đất sau khi hình thành.

    Đại biểu Nguyễn Việt Thắng (đoàn An Giang). Ảnh: Media Quốc hội.

    Từ thực tế, nhất là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu Nguyễn Việt Thắng (An Giang) cho rằng, việc lấn biển có ảnh hưởng đến phạm vi của ba khu vực gồm đất bãi bồi ven biển, đất có mặt nước ven biển và khu vực biển.

    Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về việc thực hiện các dự án đối với đất bãi bồi ven biển, đất có mặt nước ven biển và khu vực biển. 

    Bên cạnh việc làm rõ không gian và phạm vi lấn biển, đại biểu Trần Thế Anh đề nghị quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chịu tác động trực tiếp.

    Theo đại biểu, khu vực dự kiến lấn biển có thể đang có hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản hoặc những hoạt động sản xuất hợp pháp, ổn định khác.

    Trong khi đó, Chương VI của Dự thảo chủ yếu điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Vì vậy, cần làm rõ trường hợp không thu hồi quyền sử dụng đất nhưng hoạt động lấn biển lại tác động trực tiếp đến sản xuất và sinh kế hợp pháp.

    Đại biểu đề nghị quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp đã được xác lập phải được bảo đảm theo pháp luật. Đối với hoạt động sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản hợp pháp, ổn định bị tác động trực tiếp nhưng không thuộc trường hợp thu hồi quyền sử dụng đất, cần có cơ chế hỗ trợ phục hồi hoặc chuyển đổi sinh kế phù hợp.

    Theo đại biểu, đây không phải là mở rộng đối tượng bồi thường mà là làm rõ trách nhiệm xử lý tác động; tiêu chí và mức độ hỗ trợ có thể giao Chính phủ quy định cụ thể.

    Các đại biểu tham gia thảo luận tại hội trường. Ảnh: Media Quốc hội.

    Bên cạnh các ý kiến về lấn biển, đại biểu Lý Tiết Hạnh (đoàn Gia Lai) góp ý về sử dụng không gian ngầm. Theo đại biểu, việc quản lý, sử dụng, khai thác không gian ngầm là một nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, việc khai thác không gian ngầm trong điều kiện địa hình, địa chất, địa chính trị của nước ta hiện nay cần phải được đặc biệt quan tâm, chú trọng.

    Đại biểu kiến nghị tiếp tục rà soát, bổ sung các điều luật thể hiện nguyên tắc quản lý dựa trên cơ sở đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, địa chất, thủy văn, phù hợp với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt; ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại và có các quy chuẩn, tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong quy hoạch, xây dựng và khai thác công trình ngầm.

    Đối với việc sử dụng đất xây dựng công trình ngầm, đại biểu đề nghị ưu tiên các công trình có tính lưỡng dụng, vừa phục vụ dân sinh, vừa có thể phục vụ quốc phòng, an ninh trong trường hợp cần thiết.

    Linh Đan

    Nguồn https://baomoi.com/dai-bieu-de-nghi-quan-ly-chat-khong-gian-lan-bien-bao-dam-hieu-qua-quy-dat-hinh-thanh-c55880217.epi

  • Tập trung giải ngân vốn đầu tư công

    Họp về thúc đẩy giải phần vốn đầu tư công năm 2026.

    Lãnh đạo Sở Tài chính phát biểu tại cuộc họp.

    Theo báo cáo của Sở Tài chính, tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 trên địa bàn tỉnh trên 7.866 tỷ đồng, gồm 1.978 tỷ đồng vốn năm trước kéo dài và trên 5.887 tỷ đồng kế hoạch năm 2026. Đến ngày 20/8, toàn tỉnh đã phân bổ chi tiết trên 6.728 tỷ đồng, đạt 85,53%; còn trên 1.138 tỷ đồng chưa phân bổ.

    Toàn tỉnh đã giải ngân trên 3.270 tỷ đồng, đạt 41,6% kế hoạch, tăng trên 390 tỷ đồng so với ngày 30/6. Một số đơn vị có giá trị giải ngân tăng khá, như: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tăng trên 110 tỷ đồng; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh trên 48,3 tỷ đồng; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gần 41,5 tỷ đồng; Công an tỉnh trên 26 tỷ đồng; UBND xã Vân Hồ trên 25,9 tỷ đồng.

    Tỷ lệ giải ngân còn thấp do trong các tháng 6-8/2026, tỉnh được bổ sung trên 2.446 tỷ đồng, tương đương 45% tổng vốn được giao trước tháng 6, làm tăng quy mô kế hoạch. Bên cạnh đó, một số dự án còn vướng giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, đấu thầu, nghiệm thu, thanh toán; các dự án mới được bổ sung vốn chưa hoàn thiện thủ tục triển khai.

    Đồng chí Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo phát biểu tại cuộc họp.

    Qua rà soát, toàn tỉnh có 124 dự án của 40 chủ đầu tư chưa giải ngân hết kế hoạch vốn, với trên 1.070 tỷ đồng cần giải ngân đến hết ngày 31/12/2026. Sở Tài chính đang đôn đốc từng dự án, chủ đầu tư xây dựng tiến độ giải ngân theo tháng; đồng thời, rà soát, đề xuất điều chỉnh, điều chuyển hoặc xử lý số vốn không có khả năng giải ngân.

    Cuộc họp được tổ chức theo hình thức trực tuyến tới điểm cầu các xã, phường.

    Đối với khoảng 224 tỷ đồng vốn đã hết nhu cầu hoặc có khả năng không giải ngân trong năm 2026, chủ yếu gồm 170 tỷ đồng của dự án cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu và vốn kéo dài từ năm 2025 đã hết nhiệm vụ chi, Sở Tài chính đề nghị các đơn vị khẩn trương rà soát, hoàn thiện thủ tục điều chỉnh, thu hồi hoặc điều chuyển sang các dự án có nhu cầu và khả năng giải ngân.

    Các đại biểu đã làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các đơn vị, những hạn chế trong chỉ đạo, tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện hồ sơ và triển khai dự án; đồng thời cam kết nỗ lực hoàn thành kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại cuộc làm việc.

    Phát biểu kết luận, đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, đề nghị các sở, ban, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án; phấn đấu hoàn thành cao nhất kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực. Đồng chí giao Sở Tài chính và Văn phòng UBND tỉnh lập bảng theo dõi 1.138 tỷ đồng vốn chưa phân bổ, trong đó làm rõ dự án, lĩnh vực dự kiến phân bổ và thời gian phân bổ; đồng thời, lập biểu theo dõi vốn kéo dài, các dự án đã giao chủ đầu tư và tình hình rà soát thừa, thiếu vốn. Về chuẩn bị đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng chí yêu cầu chủ đầu tư tại các xã, phường khi sử dụng nguồn vốn chương trình để sửa chữa cơ sở hạ tầng hiện có phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

    Minh Thu

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-giai-ngan-von-dau-tu-cong-c55880248.epi

  • Thường trực HĐND tỉnh khảo sát, làm việc với UBND các địa phương

    Tham dự có các đồng chí Ủy viên ban Thường vụ Tỉnh ủy: Trương An Ninh, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy; Phạm Thị Hân, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Trần Huy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; đại diện lãnh đạo các ban HĐND tỉnh; Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh; đại biểu HĐND tỉnh thuộc tổ đại biểu số 17 cùng đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương liên quan.

    Quang cảnh buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Theo báo cáo của các địa phương, từ đầu năm 2026 đến nay, tình hình kinh tế-xã hội tiếp tục duy trì ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Bộ máy chính quyền vận hành thông suốt. Các hoạt động thương mại-dịch vụ tiếp tục tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định. Công tác quản lý đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng, quản lý đô thị, tài nguyên và môi trường được tăng cường. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, chất lượng dịch vụ công từng bước được nâng cao.

    Cải cách hành chính, chuyển đổi số có nhiều chuyển biến tích cực. Quốc phòng được củng cố, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội…

    Đại biểu tham dự buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đại biểu tham dự buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đại biểu tham dự buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Báo cáo tại buổi làm việc, các địa phương đã phản ánh nhiều khó khăn, vướng mắc, như: Tình trạng thiếu hụt nhân lực ở một số vị trí; cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế; công tác quản lý khoáng sản, đất đai còn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp; khối lượng công việc của cán bộ, công chức hiện nay đang quá tải; cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học tại một số trường chưa đồng bộ…

    Đại diện lãnh đạo UBND xã Quảng Trạch báo cáo tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đại diện lãnh đạo UBND phường Bắc Gianh báo cáo tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đại diện lãnh đạo UBND phường Ba Đồn báo cáo tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đồng thời, đề nghị Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh cần quy định lại tỉ lệ phần trăm phân chia thu tiền sử dụng đất từ các dự án tạo quỹ đất giữa các cấp; tiếp tục có giải pháp bố trí vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách tỉnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị Ba Đồn; xem xét định hướng thủ tục đầu tư các dự án từ nguồn vốn đầu tư công trung hạn…

    Đại diện lãnh đạo các sở, ngành phát biểu tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đại diện lãnh đạo các sở, ngành phát biểu tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Trên cơ sở các kiến nghị, đề xuất của các địa phương, đại diện các sở, ban, ngành đã trao đổi, làm rõ những nội dung thuộc thẩm quyền; đồng thời tiếp thu một số kiến nghị của các phường: Ba Đồn, Bắc Gianh và xã Quảng Trạch để tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    Đồng chí Trương An Ninh, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy phát biểu tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Đăng Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh ghi nhận những nỗ lực, cố gắng, sự chủ động, tích cực của UBND các phường: Ba Đồn, Bắc Gianh và xã Quảng Trạch trong thực hiện nhiệm vụ thời gian qua.

    Đồng chí Nguyễn Đăng Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu kết luận tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị các địa phương cần khẩn trương tập trung hoàn thiện, cập nhật công tác quy hoạch và ưu tiên bố trí nguồn lực cho cơ sở dữ liệu đất đai; thực hiện tốt các mục tiêu, giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, trong đó đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, tạo môi trường thu hút các nhà đầu tư; quan tâm, thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công, dự toán tài chính công và các chính sách an sinh xã hội, nước sạch vệ sinh môi trường, giáo dục, y tế; chăm lo tốt đối với người có công; tăng cường công tác quốc phòng-an ninh; chủ động công tác phòng, chống thiên tai; triển khai kế hoạch sản xuất vụ đông-xuân sắp tới…

    Đồng chí Nguyễn Đăng Quang, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh phát biểu kết luận tại buổi làm việc – Ảnh: N.H

    Đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh cũng tiếp thu, cho ý kiến đối với những kiến nghị, đề xuất của các địa phương; đồng thời tin tưởng rằng, trong thời gian tới, các địa phương sẽ nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

    Ngọc Hải – Biên Cương

    Nguồn https://baomoi.com/thuong-truc-hdnd-tinh-khao-sat-lam-viec-voi-ubnd-cac-dia-phuong-c55880206.epi

  • Đề xuất tháo gỡ vướng mắc đất nông, lâm trường, thúc đẩy tích tụ đất nông nghiệp

    Các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường; giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thúc đẩy tích tụ, cho thuê đất nông nghiệp.

    Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng): Bàn giao đất nông, lâm trường cần giải quyết dứt điểm vướng mắc pháp lý

    Quang cảnh phiên họp, sáng 21/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Về quản lý sử dụng nguồn đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh quy định tại Điều 83, dự thảo Luật quy định rà soát hiện trạng sử dụng đất để xác định phần diện tích các công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng và phần diện tích bàn giao về địa phương để giao đất, cho thuê đất hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.

    Thực tế tại nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Lâm Đồng, đất có nguồn gốc nông, lâm trường rất phức tạp, tranh chấp, lấn chiếm, giao khoán sai đối tượng, lấn chồng ranh giới, thiếu hồ sơ hoặc không xác định rõ nguồn gốc sử dụng. Nếu chỉ bàn giao nguyên trạng mà không đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thì địa phương có thể nhận đất nhưng đồng thời nhận cả một khối lượng rất lớn về các vấn đề về pháp lý mà chưa được giải quyết. Khi đó, mục tiêu cấp giấy chứng nhận đất cho người dân lại tiếp tục bị ách tắc.

    Đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc rà soát, xác định ranh giới, hiện trạng, nguồn gốc đất, xử lý hồ sơ chồng lấn và các tranh chấp đất trước khi bàn giao.

    Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang): Kết nối quỹ đất nông, lâm trường với chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang Lý Thị Lan phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Về quy định chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, qua khảo sát tại địa phương cho thấy, nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là rất lớn, nhưng kết quả thực hiện trong giai đoạn 2021-2025 rất thấp, trong đó trên 95% nhu cầu về đất ở và gần 99% nhu cầu về đất sản xuất chưa được giải quyết.

    Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, cần phân biệt rõ hai tình trạng: những hộ thực sự không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất; những hộ không phải không có đất, mà là đã sinh sống, sản xuất ổn định từ lâu nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp.

    Nhóm thứ hai khá phổ biến ở địa bàn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có những điểm dân cư đã hình thành qua nhiều năm ở những nơi gắn với nương rẫy và sinh kế, nhưng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường chưa được giải quyết dứt điểm, hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, ranh giới chưa rõ, hoặc hiện trạng sử dụng đất chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp. Vì vậy, người dân có đất sử dụng trên thực tế nhưng chưa có quyền pháp lý đối với đất. Điều này khiến người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, chính sách về nhà ở, hỗ trợ sinh kế và một số chính sách an sinh khác.

    Do đó, cần đặt Điều 15 trong mối quan hệ trực tiếp với Điều 83 về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc đất từ nông, lâm trường. Như vậy, Điều 15 quy định chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; Điều 83 xử lý một nguồn đất có khả năng tạo thành quỹ đất để thực hiện chính sách. Điểm còn thiếu đó là cơ chế kết nối hai điều này. Làm thế nào để từ đất được thu hồi, bàn giao theo Điều 83 trở thành quỹ đất đủ điều kiện pháp lý để thực hiện Điều 15, đồng thời giải quyết được quyền của những hộ đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất.

    Việc này cần xử lý trên nguyên tắc rõ ràng: không hợp thức, không hợp thức hóa sai phạm, nhưng cũng không để những tồn tại lịch sử qua nhiều thời kỳ tiếp tục trở thành rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân.

    Do đó, đề nghị rà soát Điều 15 và Điều 83 theo hướng có sự kết nối rõ về chính sách và nguồn đất; đồng thời giao Chính phủ quy định cơ chế xử lý các tồn tại lịch sử đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, trong đó có các trường hợp sử dụng hiện trạng đất không thống nhất với hồ sơ, quy hoạch qua nhiều thời kỳ.

    Cùng với đó, cần quy định rõ tiêu chí để phân loại, xử lý đối với hộ gia đình, cá nhân đã sinh sống, sản xuất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất; phân biệt với những trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh để vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, vừa giữ nghiêm kỷ cương quản lý đất đai và yêu cầu bảo vệ rừng.

    Về cơ chế xác định rõ trách nhiệm thực hiện, Trung ương quy định cơ chế và tiêu chí, cấp tỉnh phải rà soát, xử lý pháp lý đối với quỹ đất được bàn giao, xác định diện tích có thể bố trí đất ở, đất sản xuất; cấp xã rà soát đến từng hộ, xác định nguồn gốc, hiện trạng sử dụng và nhu cầu thực tế. Phải có một chuỗi trách nhiệm rõ thì chính sách mới thực sự đi đến được với người dân.

    Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn Đắk Lắk): Gỡ rào cản tích tụ, hình thành thị trường cho thuê đất nông nghiệp

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk Lê Đào An Xuân phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

    Đề nghị thiết kế lại Điều 28 về điều kiện thực hiện các quyền theo hướng giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm đối với nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp. Khoản 7, Khoản 8 Điều 28 yêu cầu tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp phải có phương án sử dụng đất được chấp thuận. Cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu nhận đất trồng lúa vượt hạn mức cũng phải thành lập tổ chức kinh tế và có phương án được phê duyệt. 

    Nếu mọi trường hợp đều phải xin chấp thuận phương án thì rất dễ phát sinh một dạng thủ tục hành chính tiền kiểm và tạo cơ chế xin – cho, nhất là khi chưa có tiêu chí rõ ràng để đánh giá một phương án sử dụng đất là đạt hay không đạt. 

    Theo đó, đề nghị chỉ yêu cầu phương án sử dụng đất khi diện tích vượt một ngưỡng nhất định, ví dụ là từ 50 ha, hoặc đối với một số đất, một số loại đất như là đất trồng lúa, đất lâm nghiệp hoặc với một số khu vực nhạy cảm, vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Đồng thời, không nên coi việc thành lập doanh nghiệp là thước đo hiệu quả sử dụng đất. Nếu cá nhân, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã chứng minh được năng lực tài chính, khả năng sử dụng đất hiệu quả thì đều có thể nhận quyền sử dụng đất quy mô lớn.

    Bên cạnh đó, cần xem xét lại hạn mức trần 15 lần tại Điều 81. Đất lúa, đất cây lâu năm, đất chăn nuôi hay đất phục vụ nông nghiệp công nghệ cao thì có sự khác nhau rất lớn. Nếu quy định chung một mức trần là chưa phù hợp với tinh thần Nghị quyết 21 là phải tính đến điều kiện từng vùng miền, địa phương. Đề nghị không ấn định cứng một mức trần 15 lần trong luật, mà giao Chính phủ quy định khung tiêu chí, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hạn mức loại đất theo điều kiện tự nhiên, mô hình sản xuất và yêu cầu bảo đảm sinh kế.

    Ngoài ra, cần hình thành thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp. Điều 85 thì mới dừng ở việc liệt kê phương thức, nguyên tắc tập trung đất nông nghiệp, chưa tạo ra thiết chế cho một thị trường cho thuê. Trong thực tiễn, một doanh nghiệp muốn hình thành vùng nguyên liệu thì rất cần có một cơ chế để xác định thửa đất nào sẵn sàng cho thuê, thời hạn, giá thuê, hạ tầng, tình trạng pháp lý, cách thức xử lý tài sản đầu tư trên đất hoặc cơ chế giải quyết khi chủ đất chấm dứt hợp đồng giữa kỳ. 

    Vì vậy, đề nghị bổ sung sau Điều 85 một điều riêng về phát triển thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định nguyên tắc đăng ký cung – cầu thuê đất trên Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; cho phép tổ chức phát triển quỹ đất, hợp tác xã hoặc tổ chức đủ điều kiện làm trung gian tập hợp người thuê và quy định rõ quyền đầu tư, sở hữu, xử lý công trình, hạ tầng sản xuất trên đất thuê, cơ chế điều chỉnh giá thuê và trả lại đất khi hết hạn. Cùng với đó cần bảo đảm người thuê đất dài hạn có đủ an toàn pháp lý để đầu tư vào sản xuất. Khi chấm dứt hợp đồng thì có cơ chế chuyển giao, tháo gỡ hoặc bồi thường, bồi hoàn rõ ràng.

    Đồng thời, cần luật hóa việc đăng ký giao dịch điện tử khi cho thuê đất nông nghiệp. Hiện nay, nhà nước có thể biết được ai đứng tên trên Giấy chứng nhận nhưng nhiều khi không biết được ai đang thực tế sử dụng đất. Theo đó, đề nghị các hợp đồng thuê đất từ một thời hạn nhất định, ví dụ là từ 5 năm, hoặc quy mô nhất định như là từ 50 ha trở lên phải được đăng ký điện tử với các thông tin dữ liệu tối thiểu. Điều này giúp quản lý không gian nông nghiệp tốt hơn, biết được nơi nào đang được tích tụ sử dụng hiệu quả, nơi nào bỏ hoang, nơi nào giá đất biến động bất thường hoặc là có hiện tượng đầu cơ.

    Tại Đắk Lắk, không gian sản xuất nông nghiệp lớn, đa dạng, với hơn 200.000 ha cà phê, 75.000 ha lúa, gần 50.000 ha mía và hơn 40.000 ha sầu riêng… Việc sớm phát triển thị trường thuê đất nông nghiệp như một cấu phần độc lập của thị trường quyền sử dụng đất, với mục tiêu dịch chuyển sang phương thức sử dụng đất hiệu quả hơn nhưng không nhất thiết người nông dân phải mất đất. 

    Nếu làm được như vậy thì đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất quy mô lớn, phát triển chuỗi giá trị và nâng cao thu nhập cho người dân.

    Bích Hồng – Thu Hằng (TTXVN)

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-thao-go-vuong-mac-dat-nong-lam-truong-thuc-day-tich-tu-dat-nong-nghiep-c55880321.epi

  • Bỏ thủ tục ‘công chứng’ trong luật không làm mất quyền, nghĩa vụ hợp pháp trong giao dịch đất đai

    Sáng 21/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

    Giải trình làm rõ một số vấn đề đại biểu nêu, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ, nghiên cứu thấu đáo các ý kiến để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai sửa đổi.

    Bộ trưởng NN&MT Trịnh Việt Hùng. (Ảnh: Như Ý)

    Cụ thể, theo ông Trịnh Việt Hùng, các đại biểu đặc biệt quan tâm đến các vấn đề: về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; về tài chính đất đai và giá đất; về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất, chế độ sử dụng đất; về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, phân cấp phân quyền trong quản lý nhà nước về đất đai; về tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai. Các đại biểu cũng có kiến nghị sửa đổi căn cơ, toàn diện Luật Đất đai và các luật có liên quan, không để xảy ra tình trạng luật này thông mà các luật khác lại nghẽn.

    Bộ trưởng NN&MT nêu rõ, ngay từ khi xây dựng chính sách về đất đai, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ NN&MT cùng các bộ, ngành có liên quan rà soát các luật liên quan phải sửa đổi nhằm đồng bộ, thống nhất với Luật Đất đai. “Dự kiến sau khi Luật Đất đai được thông qua, sẽ có khoảng trên 15 luật được bổ sung, sửa đổi để đồng bộ với Luật Đất đai”, ông Hùng nói.

    Về vấn đề công chứng trong quá trình giao dịch đất đai, theo ông Trịnh Việt Hùng, có đại biểu nêu ý kiến không nhất thiết phải công chứng, cũng có đại biểu nói là phải công chứng.

    “Vấn đề này, báo cáo với Quốc hội là công chứng chỉ là một thủ tục hành chính thôi, không nhất thiết phải đưa vào trong luật. Trong dự thảo nghị định chúng tôi đã dự thảo quy định rồi. Đại biểu Quốc hội yên tâm là không mất đi quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người dân trong quá trình giao dịch về đất đai”, ông Trịnh Việt Hùng khẳng định.

    Theo Bộ trưởng Hùng, bằng hình thức này hoặc hình thức khác, Nhà nước vẫn phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất nói riêng và các quyền tài sản khi được giao dịch trong quá trình giao dịch dân sự.

    Ông Trịnh Việt Hùng cho biết, trong dự thảo nghị định sẽ có quy định để đảm bảo đồng bộ; đồng thời, có thể bàn tiếp về quy định để làm sao giữa Luật Đất đai và Luật Công chứng có sự hài hòa, thống nhất, hợp lý và khoa học nhất.

    Bộ trưởng NN&MT cho biết, đối với những ý kiến đóng góp trực tiếp vào các nội dung, các điều khoản của dự thảo Luật Đất đai về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư, tài chính đất đai… cùng một số ý kiến nêu các vấn đề thực tiễn đặt ra cần được tiếp tục tháo gỡ, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai.

    Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng tiếp tục đề nghị các đại biểu Quốc hội quan tâm, góp ý kiến để cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2 theo đúng quy trình, quy định.

    Trường Phong – Luân Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/bo-thu-tuc-cong-chung-trong-luat-khong-lam-mat-quyen-nghia-vu-hop-phap-trong-giao-dich-dat-dai-c55880211.epi

  • TP. Hồ Chí Minh mở đợt cao điểm gỡ cảnh báo thẻ vàng IUU

    TP. Hồ Chí Minh mở đợt cao điểm gỡ cảnh báo thẻ vàng IUU. Ảnh: Chanh Đa-TTXVN

    UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch mở đợt cao điểm thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), thực hiện chuẩn hóa dữ liệu kiểm chứng, quyết tâm cùng cả nước gỡ cảnh báo thẻ vàng của EC trong năm 2026.

    Theo đó, UBND TP. Hồ Chí Minh tập trung triển khai các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện quản lý chặt chẽ 100% đội tàu, làm sạch và cập nhật thường xuyên dữ liệu trên hệ thống VNFishbase, kiên quyết không để phương tiện không đủ điều kiện tham gia hoạt động trên biển. Lực lượng chức năng kiểm soát 100% lượt tàu cá lắp thiết bị giám sát hành trình (VMS) khi xuất nhập bến, đồng thời tổ chức trực ban 24/7 để phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp mất kết nối hoặc vượt ranh giới trên biển.

    Cùng với đó, thành phố phấn đấu 100% lượt tàu cá có chiều dài từ 6 mét trở lên ra vào cảng, bốc dỡ thủy sản phải được ghi nhận trên hệ thống eCDT, kiên quyết không cấp giấy xác nhận đối với lô hàng thiếu dữ liệu. Hồ sơ cấp chứng nhận nguồn gốc thủy sản phục vụ xuất khẩu được xử lý trực tuyến theo thông tư của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Về lâu dài, thành phố hướng tới xây dựng hệ thống quản lý nghề cá minh bạch, có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật, hiện đại và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

    Thời gian qua, chống khai thác IUU trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn tình trạng tàu cá mất kết nối VMS, vượt ranh giới cho phép và vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn chưa chấm dứt hoàn toàn. Nguyên nhân do việc theo dõi đội tàu ở cơ sở có lúc chưa sâu sát, dữ liệu giữa các hệ thống quản lý chuyên ngành chưa được liên thông đồng bộ; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ tàu, thuyền trưởng và ngư dân còn hạn chế.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp cùng Công an Thành phố, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Sở Tư pháp và UBND các xã, phường gồm Long Hải, Phước Hải, Vũng Tàu, Phước Thắng hoàn thành, kết thúc xử lý 74/74 tàu cá mất kết nối còn tồn đọng theo Kết luận Thanh tra Chính phủ, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt trên 1 tỉ đồng.

    Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Bùi Minh Thạnh, chống khai thác IUU và gỡ cảnh báo Thẻ vàng là nhiệm vụ chính trị cấp bách của cả hệ thống chính trị, gắn với uy tín quốc gia và lợi ích của ngư dân. Thành phố yêu cầu toàn bộ hệ thống thực thi theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ sản phẩm và rõ kết quả. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ và chất lượng nhiệm vụ được giao.

    Chủ tịch UBND các xã, phường, đặc khu ven biển có tàu cá chịu trách nhiệm trực tiếp, phân công cán bộ quản lý cụ thể từng tàu nguy cơ cao. Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh tổng hợp kết quả toàn diện gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 20/9/2026 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, chuẩn bị làm việc với Đoàn Thanh tra của EC.

    Huỳnh Sơn/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-mo-dot-cao-diem-go-canh-bao-the-vang-iuu-c55880200.epi

  • Gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực từ đất đai

    Toàn cảnh Hội trường Diên Hồng.

    Đoàn chủ tọa tại phiên họp.

    Thu hồi đất phải gắn với tổ chức lại không gian phát triển

    Tán thành với sự cần thiết sửa đổi Đất đai năm 2024, đại biểu Lê Văn Thế, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình đã cho ý kiến cụ thể vào hai vấn đề nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thực tiễn và tạo nền tảng quản trị đất đai ổn định, minh bạch.

    Đại biểu Lê Văn Thế, Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Hội trường.

    Về thu hồi đất, đại biểu đề nghị cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển. Khi Nhà nước đầu tư tuyến đường hoặc công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc bảo đảm đủ diện tích cho công trình. Nếu chỉ thu hồi phần đất nằm trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể hình thành những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận; đất sản xuất bị chia cắt, không còn hiệu quả. Từ thực tế này, đại biểu đề nghị giải phóng mặt bằng không chỉ nhằm lấy đủ đất cho công trình mà phải đồng thời tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án.

    Đề cập khoản 6 Điều 42 của dự thảo Luật có quy định “Khi người sử dụng đất có nhu cầu thu hồi phần diện tích còn lại của thửa đất thì cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và thực hiện bồi thường, hỗ trợ”, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Tuy nhiên, trong cùng một dự án có thể phát sinh tình huống những phần đất còn lại có những thửa đất nhỏ, méo hoặc không còn khả năng sử dụng hiệu quả. Trong khi đó, có người đề nghị thu hồi, có người không đề nghị thu hồi. Nếu chỉ xử lý theo nhu cầu của từng hộ thì bài toán không gian của cả dự án vẫn có thể bị bỏ ngỏ.

    Theo đại biểu, Luật cần bổ sung tiêu chí khách quan để đánh giá phần đất còn lại ngay trong quá trình lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nếu phần đất vẫn có thể tiếp tục sử dụng thì phải tôn trọng quyền lựa chọn của người dân. Nhưng nếu phần đất thu hồi để chỉnh trang, tổ chức lại một không gian rộng hơn thì phải căn cứ pháp lý độc lập, phù hợp quy hoạch, có dự án, phạm vi và phương án rõ ràng. Không thể chỉ dựa vào nhu cầu của từng hộ để giải quyết một vấn đề mang tính tổng thể.

    Đối với nội dung xây dựng và quản trị cơ sở dữ liệu đất đai, đại biểu Lê Văn Thế đồng tình với định hướng xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai thống nhất, dùng chung. Tuy nhiên, theo đại biểu, dữ liệu đất đai không chỉ là tọa độ thửa đất hay bản số hóa giấy chứng nhận mà còn bao gồm thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, biến động quyền sử dụng đất và nhiều lớp dữ liệu khác. Mỗi thay đổi về người sử dụng đất, ranh giới, mục đích sử dụng, giá đất, đặc biệt là thông tin quy hoạch, đều có thể tác động trực tiếp đến quyền và giá trị tài sản của người dân, doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra không chỉ là dữ liệu ban đầu có chính xác hay không mà trong suốt vòng đời dữ liệu, mỗi lần thay đổi đều phải có căn cứ và truy được trách nhiệm.

    Do vậy, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 79 nguyên tắc: Việc tạo lập, cập nhật, chỉnh sửa, phê duyệt và khai thác dữ liệu đất đai phải xác định được chủ thể thực hiện; mọi thao tác làm thay đổi dữ liệu phải được ghi nhận, lưu giữ lịch sử để phục vụ kiểm tra, giám sát, truy vết và xác định trách nhiệm. Đối với dữ liệu có nhiều lần thay đổi, phải quản lý được lịch sử và phiên bản dữ liệu tương ứng.

    Đồng thời, dữ liệu đất đai phải được bảo vệ trước nguy cơ truy cập, can thiệp hoặc sửa đổi trái phép; hệ thống phải có khả năng phát hiện, ngăn chặn, cảnh báo và truy vết hành vi xâm nhập, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, nhất là đối với dữ liệu liên quan đến quốc phòng, an ninh và các địa bàn trọng yếu.

    Hoàn thiện cơ chế quản lý đất hình thành từ lấn biển

    Đại biểu Trần Thế Anh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình phát biểu thảo luận tại Hội trường.

    Tham gia thảo luận tại hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024, đại biểu Trần Thế Anh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình đã tập trung góp ý về hoạt động lấn biển và quản lý, sử dụng đất hình thành từ lấn biển.

    Đại biểu dẫn chứng Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt yêu cầu quản lý, khai thác hiệu quả không gian lấn biển như một nguồn lực phát triển mới; hồ sơ chính sách của dự án Luật cũng xác định cần bổ sung chế độ sử dụng đất hình thành từ hoạt động lấn biển. Theo đại biểu, Luật không chỉ cần quy định việc lấn biển được thực hiện như thế nào, mà còn phải quản lý được không gian trước khi lấn biển, các tác động phát sinh và quỹ đất sau khi hình thành.

    Từ cách tiếp cận đó, đại biểu đề nghị làm rõ căn cứ quy hoạch và cơ chế kiểm soát không gian lấn biển. Tại Điều 32 của Dự thảo đã xác định diện tích, ranh giới, vị trí khu vực lấn biển trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Điểm c khoản 2 Điều 84 quy định hoạt động lấn biển phải phù hợp với quy hoạch ngành quốc gia có liên quan, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch đô thị và nông thôn. Trong khi đó, Quy hoạch không gian biển quốc gia là một loại quy hoạch cấp quốc gia riêng, không phải quy hoạch ngành quốc gia. Pháp luật về quy hoạch hiện hành cũng xác định quy hoạch ngành phải phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Đại biểu đề nghị bổ sung Quy hoạch không gian biển quốc gia tại điểm c khoản 2 Điều 84, để khu vực lấn biển được xem xét trong tổng thể quản lý, sử dụng không gian biển. Nếu Dự thảo không quy định trực tiếp thì cần dẫn chiếu rõ sang pháp luật chuyên ngành, tránh tạo khoảng trống pháp lý và không làm giảm yêu cầu kiểm soát hiện hành.

    Một nội dung được đại biểu đặc biệt quan tâm là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân chịu tác động trực tiếp từ hoạt động lấn biển. Theo đại biểu, tại điểm d khoản 2 Điều 84 đã quy định cân bằng lợi ích các bên và bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng. Tuy nhiên, khu vực dự kiến lấn biển có thể đang có hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản hoặc những hoạt động sản xuất hợp pháp, ổn định khác. Trong khi đó, Chương VI của Dự thảo chủ yếu điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Vì vậy, cần làm rõ trường hợp không thu hồi quyền sử dụng đất nhưng hoạt động lấn biển lại tác động trực tiếp đến sản xuất và sinh kế hợp pháp. Đại biểu đề nghị: Đối với quyền, tài sản và lợi ích hợp pháp đã được xác lập thì được bảo đảm theo pháp luật; đối với hoạt động sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản hợp pháp, ổn định bị tác động trực tiếp nhưng không thuộc trường hợp thu hồi quyền sử dụng đất, cần có cơ chế hỗ trợ phục hồi hoặc chuyển đổi sinh kế phù hợp.

    Về nội dung quản lý, sử dụng và giá trị của quỹ đất sau khi hình thành từ lấn biển, đại biểu Trần Thế Anh đề nghị dự thảo tiếp tục bảo đảm cơ chế quản lý đối với đất hình thành từ hoạt động lấn biển sử dụng vốn ngân sách nhà nước, đồng thời làm rõ nguyên tắc quản lý đối với quỹ đất hình thành từ các nguồn vốn khác. Theo đại biểu, sau khi hoàn thành lấn biển, không chỉ hình thành một công trình mà còn hình thành một quỹ đất mới có giá trị kinh tế rất lớn. Vì vậy, chi phí hợp lý, hợp pháp và phần giá trị do nhà đầu tư tạo ra cần được ghi nhận; đồng thời, phần giá trị tăng thêm không do đầu tư của người sử dụng đất tạo ra phải được Nhà nước quản lý, điều tiết công khai, minh bạch, vừa tạo động lực đầu tư, vừa phòng ngừa thất thoát nguồn lực.

    Sau thảo luận tại Hội trường, Quốc hội biểu quyết thông qua việc bổ sung Chương trình kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI; nghe tờ trình, báo cáo về 3 nội dung: cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Nghị quyết của Quốc hội về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp; việc tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành các dự án độc lập.

    Hồng Giang

    Nguồn https://baomoi.com/go-diem-nghen-khoi-thong-nguon-luc-tu-dat-dai-c55880287.epi

  • Trách nhiệm giải ngân vốn đầu tư công phải gắn với từng chủ đầu tư, địa phương và người đứng đầu

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Xuân Liêm chủ trì hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Sáng 21/8, đồng chí Mai Xuân Liêm, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Tổ trưởng Tổ công tác số 1 của UBND tỉnh đã chủ trì hội nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.

    Tổ công tác số 1 hiện đang theo dõi, đôn đốc công tác giải ngân vốn đầu tư công tại 48 đơn vị, gồm 3 chủ đầu tư cấp tỉnh là Sở Xây dựng, Ban Quản lý dự án đầu tư công trình giao thông, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh cùng 45 xã, phường.

    Tổng kế hoạch vốn thuộc phạm vi theo dõi của tổ công tác năm 2026 là hơn 6.000 tỷ đồng. Trong đó, vốn kế hoạch năm 2025 được kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân sang năm 2026 chiếm gần 56%.

    Đến ngày 18/8, các đơn vị đã giải ngân hơn 1.520 tỷ đồng, đạt 25,17% kế hoạch, thấp hơn mức bình quân 36,8% của toàn tỉnh. Khối lượng vốn phải giải ngân trong thời gian còn lại của năm hơn 4.520 tỷ đồng.

    Đáng chú ý, trong hơn 2.562 tỷ đồng vốn kế hoạch năm 2025 được kéo dài sang năm 2026, phần vốn không giải ngân hết trước ngày 31/12/2026 sẽ bị hủy dự toán.

    Một số dự án có kế hoạch vốn lớn nhưng tỷ lệ giải ngân thấp như: Dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư phục vụ di dân xã Hải Hà đạt 2,4%; Dự án Phát triển tổng hợp các đô thị động lực – Tiểu dự án đô thị Tĩnh Gia, phần vốn nước ngoài vay Ngân hàng Thế giới đạt 7,16%; Dự án Đường giao thông từ Khu công nghiệp Bỉm Sơn đến đường bộ ven biển đoạn Nga Sơn – Hoằng Hóa đạt 22,64%.

    Bên cạnh đó, tỷ lệ giải ngân bình quân của 45 xã, phường mới đạt hơn 17%; trong đó, 17 địa phương chưa giải ngân. Nguồn vốn đầu tư phụ thuộc lớn vào thu tiền sử dụng đất, song đến ngày 18/8, số thu mới đạt gần 350 tỷ đồng, bằng 28,1% kế hoạch.

    Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư công trình giao thông Thanh Hóa Lê Tuấn Dũng phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Nghi Sơn (thuộc Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh) Mai Ngọc Khang phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Phó Giám đốc Sở Xây dựng Lý Đình Sĩ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Lãnh đạo UBND xã Trường Lâm phát biểu tại điểm cầu trực tuyến. Ảnh: Hoàng Đông

    Tại hội nghị, các địa phương, chủ đầu tư đã báo cáo tiến độ và những khó khăn của từng dự án. Vướng mắc chủ yếu tập trung ở công tác giải phóng mặt bằng, gồm xác định nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, đơn giá bồi thường, bố trí tái định cư và di dời công trình hạ tầng kỹ thuật.

    Ngoài ra, một số dự án đang chịu ảnh hưởng bởi thiếu vật liệu xây dựng và giá tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ chung. Đại diện lãnh đạo nhiều đơn vị, địa phương cũng đã cam kết hoàn thành phần việc giải phóng mặt bằng trước ngày 30/8/2026.

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Xuân Liêm phát biểu kết luận hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Xuân Liêm nhấn mạnh khối lượng vốn đầu tư công phải giải ngân trong những tháng cuối năm còn rất lớn, trong khi nhiều dự án vẫn vướng mặt bằng, vật liệu xây dựng, thủ tục đầu tư và tiến độ thi công.

    Đồng chí yêu cầu các chủ đầu tư, địa phương xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm; chuyển từ báo cáo tỷ lệ chung sang làm rõ tiến độ, khó khăn và khả năng hoàn thành của từng dự án, từng nguồn vốn.

    Các vướng mắc phải được xử lý cụ thể, không để kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ chung.

    Sở Xây dựng, Ban Quản lý dự án đầu tư công trình giao thông Thanh Hóa và Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp tỉnh phải xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng dự án, xác định khối lượng công việc, khả năng giải ngân và mốc hoàn thành theo từng tháng.

    Các đơn vị tăng cường kiểm tra hiện trường, yêu cầu nhà thầu tăng ca, tăng mũi thi công; đồng thời đề xuất điều chuyển vốn khỏi dự án không có khả năng giải ngân sang dự án có tiến độ tốt.

    Lãnh đạo các địa phương dự hội nghị tại các điểm cầu trực tuyến. Ảnh: Hoàng Đông

    Đối với 45 xã, phường, nhiệm vụ trước mắt là tập trung tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng; tăng cường tuyên truyền, đối thoại, tạo đồng thuận trong Nhân dân; chủ động xử lý các vướng mắc thuộc thẩm quyền, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu giải phóng mặt bằng được giao.

    Những vấn đề vượt thẩm quyền phải kịp thời tổng hợp, báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không để ảnh hưởng kéo dài tiến độ dự án.

    Cùng với đó, các địa phương đẩy nhanh đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu các dự án có sử dụng đất để tạo nguồn; đồng thời rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên bố trí ngân sách xã, phường cho các dự án đầu tư công, bảo đảm nguồn vốn được sử dụng hiệu quả.

    Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Hoàng Đông

    Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Mai Xuân Liêm yêu cầu Tổ công tác số 1 theo dõi, kiểm soát tiến độ đến từng dự án; các đơn vị phải bám sát lộ trình giải ngân của tỉnh, trách nhiệm phải gắn với từng chủ đầu tư, địa phương và người đứng đầu; quyết tâm hoàn thành kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công mà tỉnh giao.

    Khánh Hòa

    Nguồn https://baomoi.com/trach-nhiem-giai-ngan-von-dau-tu-cong-phai-gan-voi-tung-chu-dau-tu-dia-phuong-va-nguoi-dung-dau-c55880164.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!