Author: bachdn

  • TP. Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng quy mô lớn

    Ảnh minh họa – Ảnh: Trịnh Cường.

    TP. Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh đầu tư hạ tầng với hàng loạt dự án giao thông quy mô lớn được triển khai, chuẩn bị khởi công và hoàn thành trong năm 2026. Từ các tuyến vành đai, quốc lộ, metro đến hạ tầng kết nối sân bay quốc tế Long Thành, mạng lưới giao thông Thành phố đang được mở rộng theo hướng tăng cường kết nối nội vùng và liên vùng.

    Riêng dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua, Thành phố khánh thành, khởi công 11 dự án với tổng mức đầu tư hơn 181.000 tỷ đồng, từ nhiều nguồn lực.

    LOẠT DỰ ÁN GIAO THÔNG, CHỈNH TRANG ĐÔ THỊ QUY MÔ LỚN ĐƯỢC TRIỂN KHAI

    Trong giai đoạn 2026 – 2030, TP. Hồ Chí Minh xác định khoảng 250 dự án đầu tư trọng điểm nhằm thúc đẩy tăng trưởng, tăng cường liên kết vùng và phát triển thành trung tâm dịch vụ công nghệ cao, đổi mới sáng tạo của cả nước.

    Năm 2026 được xác định là năm bản lề trong triển khai Chương trình hành động nhiệm kỳ 2025 – 2030. Theo kế hoạch, Thành phố tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân đối với 77 công trình, dự án trọng điểm.

    Đáng chú ý, ngày 29/8/2026, UBND TP. Hồ Chí Minh tổ chức khánh thành, khởi công các công trình, dự án chào mừng 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 – 02/9/2026).

    Dịp này, Thành phố khánh thành, khởi công 11 dự án với tổng mức đầu tư hơn 181.412 tỷ đồng, huy động từ nhiều nguồn lực gồm đầu tư công, PPP, Ngân hàng Thế giới (WB) và doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, nhóm dự án hạ tầng giao thông tập trung tăng cường năng lực kết nối nội vùng và liên vùng.

    Một số dự án đáng chú ý như nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 13, đoạn từ cầu Bình Triệu đến ranh tỉnh Bình Dương, với tổng vốn khoảng 6.276 tỷ đồng; nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1, đoạn từ Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Long An, tổng vốn khoảng 16.285 tỷ đồng.

    Cùng với đó là hai dự án thành phần thuộc Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, gồm đoạn từ ngã tư Tóc Tiên – Châu Pha đến cầu Châu Đức, tổng vốn khoảng 5.247 tỷ đồng và đoạn từ sông Sài Gòn đến kênh Thầy Cai, tổng vốn khoảng 8.761 tỷ đồng. Các dự án này dự kiến hoàn thành trong năm 2029.

    Năm 2026, Thành phố được Chính phủ giao 147.599 tỷ đồng vốn đầu tư công, cao nhất cả nước. Nguồn vốn tập trung cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối vùng như Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài, hệ thống metro và các tuyến kết nối sân bay Long Thành.

    Từ đầu năm đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức 4 đợt khởi công quy mô lớn. Các dự án được triển khai từ nhiều nguồn lực, trong đó với nhiều dự án được sử dụng từ nguồn vốn tư nhân, thể hiện tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

    Trong quý 3 và 4/2026, TP. Hồ Chí Minh dự kiến tiếp tục khởi công khoảng 9 công trình, trong đó có cầu Thủ Thiêm 4, cầu Cần Giờ, cầu Phú Mỹ 2, đường liên cảng Cát Lái – Phú Hữu đến Vành đai 3, hoàn chỉnh nút giao Gò Công cùng một số dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị và môi trường.

    Song song với đó, Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành khoảng 10 công trình trọng điểm, trong đó có Vành đai 3, nút giao An Phú, Quốc lộ 50 và tuyến đường nối cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây với Vành đai 2.

    Kế hoạch đầu tư cũng bao gồm nhiều tuyến metro nhằm tăng cường kết nối nội đô và liên vùng, như tuyến Thủ Thiêm – Long Thành, metro Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên, giai đoạn 1 tuyến số 6 từ sân bay Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu và tuyến Thủ Dầu Một – Tao Đàn.

    Từ các dự án đang triển khai và chuẩn bị đầu tư, mạng lưới hạ tầng của TP. Hồ Chí Minh tiếp tục được mở rộng theo hướng tăng kết nối nội đô, liên vùng và kết nối với các đầu mối giao thông lớn.

    Theo ông Neil MacGregor, Tổng Giám đốc Savills Việt Nam, Việt Nam đang bước vào một trong những giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn nhất từ trước đến nay. Làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn đang diễn ra mạnh tại TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam, với hàng loạt dự án vành đai, metro và hạ tầng kết nối sân bay quốc tế Long Thành được triển khai.

    Theo Savills, các dự án hạ tầng này góp phần cải thiện khả năng kết nối, mở rộng không gian phát triển của TP. Hồ Chí Minh, tăng liên kết với các tỉnh, thành trong khu vực và hình thành thêm các hành lang phát triển mới.

    HẠ TẦNG VÀ FDI MỞ RỘNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN

    Theo Savills, quá trình đầu tư hạ tầng đang tạo thêm các trục phát triển ngoài khu vực trung tâm, thúc đẩy hình thành các khu đô thị, trung tâm logistics, hành lang công nghiệp và điểm đến thương mại mới. Khi các tuyến vành đai, metro và hạ tầng kết nối sân bay từng bước hoàn thiện, nhu cầu về nhà ở, công nghiệp, bán lẻ và khách sạn được dự báo gia tăng tại những khu vực có lợi thế kết nối.

    Ông Neil MacGregor cho biết trước đây những bất động sản có giá trị cao thường tập trung tại khu vực trung tâm. Tuy nhiên, khi hạ tầng giao thông được cải thiện, lợi thế về khả năng kết nối ngày càng trở nên quan trọng, tác động đến lựa chọn nơi ở của người dân, vị trí đặt cơ sở của doanh nghiệp và sự hình thành giá trị bất động sản.

    TP. Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh đầu tư hạ tầng với hàng loạt dự án giao thông quy mô lớn được triển khai – Ảnh minh họa: Trịnh Cường.

    Cùng với việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì sức hút đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài. Trong 7 tháng đầu năm, Thành phố thu hút 9,8 tỷ USD vốn FDI và đặt mục tiêu thu hút 11 tỷ USD trong cả năm. Trong đó, TP. Hồ Chí Minh thu hút 467 dự án thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ với tổng vốn đăng ký hơn 557,7 triệu USD.

    Trong bối cảnh đó, khả năng kết nối giữa các cực tăng trưởng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng. Theo Savills, khi các dự án hạ tầng từng bước hoàn thiện, những địa điểm có lợi thế về kết nối sẽ có thêm điều kiện thu hút dân cư, doanh nghiệp và dòng vốn đầu tư. Sự hình thành của các hành lang kinh tế mới cũng thúc đẩy quá trình phát triển các cực đô thị và thương mại mới tại TP. Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam.

    Thanh Thủy

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-buoc-vao-giai-doan-dau-tu-ha-tang-quy-mo-lon-c55975707.epi

  • Bắc Ninh cấp phép khai thác hơn 1,63 triệu m3 đất san lấp tại khu vực Đập Cấm

    Theo Giấy phép khai thác khoáng sản, khu vực được cấp phép có diện tích 5ha, nằm tại Đập Cấm, thôn Tân Thành, xã Nam Dương, tỉnh Bắc Ninh. Doanh nghiệp được khai thác khoáng sản nhóm IV (đất san lấp), không có khoáng sản đi kèm, bằng phương pháp lộ thiên.

    Trữ lượng đất san lấp được phép khai thác là 1.637.382m3. Công suất khai thác tối đa được cấp phép 550.000m3/năm. Thời hạn khai thác là 3,5 năm kể từ ngày ký Giấy phép, trong đó thời gian xây dựng cơ bản mỏ là 0,5 năm.

    Mức sâu khai thác được xác định đến cốt +30m. Ranh giới khu vực khai thác được xác định bằng các điểm khép góc theo hệ tọa độ VN2000 và được thể hiện tại phụ lục, bản đồ khu vực khai thác khoáng sản tỷ lệ 1/1.000 kèm theo Giấy phép.

    Nhiều yêu cầu trước khi đưa mỏ vào khai thác

    Theo quyết định, trước khi tiến hành khai thác, Công ty TNHH Chế biến và Khai thác khoáng sản Trường An phải hoàn thành nhiều thủ tục và điều kiện theo quy định.

    Trong đó, Công ty TNHH Chế biến và Khai thác Khoáng sản Trường An phải nộp hồ sơ thiết kế mỏ được lập, thẩm định, phê duyệt cho các cơ quan có thẩm quyền; tổ chức cắm mốc các điểm khép góc khu vực khai thác; bổ nhiệm nhân sự điều hành mỏ phụ trách kỹ thuật, an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường.

    Giấy phép khai thác khoáng sản cấp cho Công ty TNHH Chế biến và Khai thác khoáng sản Trường An.

    Doanh nghiệp cũng phải thông báo về thời gian khai thác, số lượng phương tiện, thiết bị sử dụng để khai thác, vận chuyển khoáng sản đến các cơ quan liên quan; đồng thời niêm yết công khai thông tin của dự án tại khu vực mỏ, Nhà văn hóa thôn Tân Thành và trụ sở UBND xã Nam Dương.

    Đáng chú ý, giấy phép yêu cầu Công ty TNHH Chế biến và Khai thác khoáng sản Trường An sử dụng thiết bị đo đạc để xác định, kiểm soát sản lượng khoáng sản khai thác thực tế trước khi vận chuyển ra khỏi khu vực mỏ; lắp đặt camera giám sát tại khu vực mỏ để lưu trữ thông tin, số liệu và kết nối với hệ thống thông tin, dữ liệu về hoạt động khoáng sản của Sở Nông nghiệp và Môi trường.

    Doanh nghiệp không được sử dụng phương tiện cơi nới thành thùng, không bốc xúc, vận chuyển quá khổ, quá tải trọng cho phép và phải bồi thường thiệt hại nếu hoạt động khai thác gây ra theo quy định pháp luật.

    Ưu tiên nguồn đất cho các dự án trọng điểm

    Giấy phép cũng yêu cầu Công ty TNHH Chế biến và Khai thác khoáng sản Trường An khai thác tối đa khoáng sản theo đúng nội dung được cấp phép, đồng thời ưu tiên cung cấp nguồn đất san lấp khai thác tại mỏ cho các dự án, công trình xây dựng khẩn cấp, cấp bách, trọng điểm, quan trọng của tỉnh, của quốc gia khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Giá bán đất san lấp tại mỏ phải bảo đảm đúng giá niêm yết theo quy định. Doanh nghiệp đồng thời phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động, kỹ thuật an toàn trong khai thác khoáng sản, phòng chống sự cố, bảo vệ kết cấu hạ tầng kỹ thuật, an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy và an ninh trật tự tại khu vực mỏ.

    Về môi trường, doanh nghiệp phải thực hiện đúng và đầy đủ nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án khai thác khoáng sản đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 24.1.2025; đồng thời thực hiện các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    Công ty cũng phải nộp tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường lần đầu và các lần tiếp theo tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết thúc khai thác, doanh nghiệp có trách nhiệm đóng cửa mỏ, cải tạo, phục hồi môi trường và đất đai theo quy định.

    Tăng cường giám sát hoạt động khai thác, vận chuyển

    Đảng Uỷ, UBND xã Nam Dương được giao chỉ đạo cơ quan chuyên môn và Công an xã tăng cường quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản của Công ty Trường An tại khu vực mỏ; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vi phạm nếu có.

    Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm tổ chức bàn giao mốc giới khu vực cấp phép tại thực địa, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm doanh nghiệp khai thác đúng phạm vi, công suất, trữ lượng, thời hạn và thực hiện đầy đủ các quy định về khoáng sản, đất đai, bảo vệ môi trường.

    Công an tỉnh Bắc Ninh được giao quản lý, giám sát việc khai thác, vận chuyển và sử dụng vật liệu xây dựng thông thường tại khu vực mỏ, bảo đảm đúng mục đích sử dụng, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, sai quy định. Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh chủ trì, phối hợp thực hiện niêm yết giá vật liệu xây dựng đối với mỏ khoáng sản.

    Giấy phép có hiệu lực kể từ ngày ký. Tuy nhiên, Công ty TNHH Chế biến và Khai thác khoáng sản Trường An chỉ được tiến hành khai thác sau khi hoàn thành các điều kiện theo quy định, trong đó có nộp lệ phí cấp giấy phép, nộp tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, đăng ký ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ, ngày bắt đầu khai thác và thông báo về nhân sự điều hành mỏ, kế hoạch khai thác với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

    Phụ lục của Giấy phép xác định khu vực Đập Cấm có diện tích 5ha, với 5 điểm góc xác định ranh giới bằng hệ tọa độ VN2000; mức sâu khai thác thấp nhất đến cốt +30m.

    Anh Thế – Cao Kỳ

    Nguồn https://baomoi.com/bac-ninh-cap-phep-khai-thac-hon-1-63-trieu-m3-dat-san-lap-tai-khu-vuc-dap-cam-c55975554.epi

  • Chuyển từ ‘tiền kiểm’ sang ‘hậu kiểm’: Chuyển trách nhiệm không có nghĩa buông trách nhiệm

    Toàn cảnh phiên thảo luận (Ảnh: Quochoi.vn)

    Xác định rõ tiêu chí phân loại rủi ro khi thực hiện hậu kiểm

    Ngày 4/9, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

    Phát biểu tại phiên họp, về mối quan hệ giữa tiền kiểm và hậu kiểm trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy tại khoản 5 Điều 2, sửa đổi Điều 18 theo hướng chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, chủ phương tiện tự tổ chức nghiệm thu, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đề nghị rà soát kỹ quy định này. Bởi khi chuyển trách nhiệm không có nghĩa buông trách nhiệm. Khi Nhà nước lùi lại ở khâu tiền kiểm thì cơ chế hậu kiểm phải đủ rõ và đủ sức vận hành trong thực tế.

    “Chúng ta thay đổi không có nghĩa là chúng ta bỏ, mà thay bằng cơ chế quản trị khác hiệu quả hơn, thuận lợi hơn chứ không phải bỏ đi công tác quản lý nhà nước”, Phó Chủ tịch Quốc hội nói đồng thời nhắc tới việc trong báo cáo thẩm tra cũng đã nêu cần quản lý theo mức độ rủi ro, phân loại công trình theo nguy cơ cháy nổ và dùng dữ liệu để tập trung nguồn lực kiểm tra vào nơi có nguy cơ cao.

    Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu theo hướng nếu chỉ giảm thủ tục trước khi đưa công trình vào sử dụng mà chưa xác định rõ tiêu chí rủi ro, cơ chế kiểm tra và trách nhiệm của từng chủ thể thì vấn đề cơ bản mới chỉ dời thời điểm kiểm tra chứ chưa thay đổi cách quản lý. Đồng thời cần làm rõ hơn tại khoản 2 Điều 2 trách nhiệm duy trì điều kiện phòng cháy chữa cháy trong suốt quá trình khai thác, sử dụng công trình. Bởi thực tế không hiếm trường hợp công trình ban đầu đạt yêu cầu, nhưng sau đó thay đổi công năng, cải tạo, cơi nới hoặc thay đổi hệ thống phòng cháy chữa cháy khiến điều kiện an toàn ban đầu không còn nguyên vẹn.

    Vì vậy, Phó Chủ tịch Quốc Hội đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra tiếp tục rà soát lại khoản 2, khoản 5 Điều 2, làm rõ ít nhất 3 nội dung: Tiêu chí phân loại rủi ro để thực hiện hậu kiểm; trách nhiệm duy trì điều kiện an toàn trong suốt quá trình sử dụng; trách nhiệm pháp lý của từng chủ thể khi công trình đưa vào hoạt động mà không bảo đảm yêu cầu. “Việc này không nhằm làm thêm thủ tục, mà để bảo đảm giảm tiền kiểm đến đâu thì trách nhiệm và hiệu quả hậu kiểm phải tăng tương ứng đến đó”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh.

    Cùng quan điểm, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị, cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, bổ sung, làm rõ cơ chế thẩm định, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy theo hướng phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý chuyên ngành và trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình. Không vì mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính mà giảm nhẹ vai trò quản lý nhà nước trong công tác này.

    “Dự thảo Luật cho phép đưa công trình vào khai thác, sử dụng sau khi chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình đã nghiệm thu về phòng cháy chữa cháy. Trong khi quy định hiện hành phải được cơ quan quản lý chuyên ngành chấp thuận kết quả nghiệm thu phòng cháy chữa cháy. Nội dung sửa đổi này nhằm cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho chủ đầu tư, doanh nghiệp. Điều đó rất đúng và cần thiết nhưng lại có nguy cơ lớn về mất an toàn cháy nổ nếu chất lượng tự nghiệm thu của chủ đầu tư không tốt”, Phó Chủ tịch Quốc hội nêu ví dụ. Từ đó đề nghị cần nghiên cứu bổ sung quy định về trách nhiệm pháp lý của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình và tiêu chuẩn, năng lực của các đơn vị tư vấn nghiệm thu độc lập, góp phần bảo đảm an toàn phòng chống cháy nổ. Vì phòng cháy chữa cháy liên quan trực tiếp đến an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân. Nếu không quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến cháy nổ, gây thiệt hại rất nghiêm trọng.

    Bên cạnh đó, ông Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị tiếp tục rà soát bảo đảm tính đồng bộ giữa pháp luật về phòng cháy chữa cháy và pháp luật về xây dựng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các quy định pháp luật khác có liên quan. Tránh chồng chéo, mâu thuẫn, tạo khoảng trống pháp lý trong khâu tổ chức thực thi luật.

    Làm rõ cơ chế thẩm định, nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy

    Nêu ví dụ, từ ngày 1/7/2026, Luật Xây dựng đã có những điều chỉnh mới liên quan đến thẩm định thiết kế phòng cháy chữa cháy theo hướng từ “thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở” chuyển sang “thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt”. Trong khi đó, nội dung sửa đổi tại dự thảo Luật chưa thể hiện đầy đủ sự phân định giữa thẩm định thiết kế xây dựng, thẩm định thiết kế phòng cháy chữa cháy, kiểm tra công tác nghiệm thu xây dựng và kiểm tra nghiệm thu phòng cháy chữa cháy. Điều này có nguy cơ dẫn đến tình trạng một công trình chịu hai hệ thống kiểm tra có nội dung tương tự nhưng không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm cuối cùng. Do đó, theo ông Nguyễn Hồng Diên cần nghiên cứu bổ sung quy định một điều khoản mang tính nguyên tắc xác định rõ cơ quan nào thẩm định nội dung phòng cháy chữa cháy trong giai đoạn thiết kế. Cơ quan nào kiểm tra, nghiệm thu?, trường hợp một cơ quan đã thực hiện thẩm định xây dựng thì nội dung nào không được kiểm tra lại để cho rõ ràng.

    Nêu ý kiến về quy định chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong công tác phòng cháy, chữa cháy, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh bày tỏ lo ngại nếu áp dụng cho tất cả các loại hình công trình. Đặc biệt, với một số nhóm công trình như chung cư đông người ở, chung cư cao tầng cần phải bảo đảm an toàn tuyệt đối. “Nếu hậu kiểm, tức là khi xây xong rồi mà yêu cầu khắc phục đi thì rất khó”, ông Vinh nói. Vì vậy, nên chăng quy định phân loại một số nhóm loại công trình đặc biệt quan trọng, có thể tác động lớn thì nên vẫn giữ biện pháp tiền kiểm.

    Theo ông Vinh, nếu đã kiểm soát thì kiểm soát cả 2 khâu, khâu thiết kế lẫn khâu nghiệm thu, nhưng chỉ xác định một số công trình có tính chất rất quan trọng. Còn lại, các công trình khác thì chuyển sang hậu kiểm để tạo thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp.

    Nêu ý kiến về việc cắt bỏ thủ tục nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy, theo Phó Chủ nhiệm thường trực Hội đồng Dân tộc Hoàng Duy Chinh, để tránh lãng phí, chậm đưa công trình vào sử dụng thì không nên cắt bỏ hoàn toàn thủ tục nghiệm thu về phòng cháy chữa cháy, mà nên “đơn giản hóa” thủ tục này.

    “Nếu cắt bỏ hết, ví dụ chung cư xây xong rồi mới đi vào hậu kiểm, phát hiện không đạt thì dừng hết toàn bộ là không nên”, ông Chinh nói. Đồng thời, đề nghị sau này các cơ quan chuyên ngành phải quy định rõ về tiêu chuẩn, quy chuẩn công tác phòng cháy, chữa cháy đối với từng loại công trình cụ thể. Ông Chinh nêu, thực tế thời gian chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ cháy xảy ra. Có nhiều nơi đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rất lớn, nhưng chưa phát huy hiệu quả. 

    Việt Thắng

    Nguồn https://baomoi.com/chuyen-tu-tien-kiem-sang-hau-kiem-chuyen-trach-nhiem-khong-co-nghia-buong-trach-nhiem-c55975618.epi

  • Cận cảnh biệt thự 3 mặt tiền ở Bắc Ninh sắp được ‘thần đèn’ di dời để làm đường

    Để nhường đất cho dự án đường kết nối sân bay Gia Bình, chủ toà biệt thự bề thế tại tổ dân phố Lẽ, phường Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh quyết định không phá dỡ mà thuê “thần đèn” di dời nguyên khối công trình nặng hàng trăm tấn sang vị trí mới, cách nơi cũ khoảng 200m.

    Phương án này giúp giữ nguyên kiến trúc và kết cấu bê tông cốt thép của căn biệt thự 4 tầng, 3 mặt tiền.

    Trả lời PV Báo Điện tử VTC News, ông Phan Đình Chắt, Phó Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Thuận Thành, cho biết chủ sở hữu biệt thự đang được yêu cầu hoàn thiện thủ tục xin cấp phép di dời. Theo ông Chắt, công trình chỉ được chính thức di dời sau khi có giấy phép. Hiện đơn vị thi công mới làm móng và hệ thống đường ray tại vị trí mới, chưa dịch chuyển biệt thự.

    “Chúng tôi yêu cầu chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và kết cấu công trình trong suốt quá trình di dời, đồng thời có cam kết bồi thường nếu gây hư hỏng hạ tầng hoặc ảnh hưởng đến các công trình lân cận. Đơn vị thi công và các bên liên quan cũng được yêu cầu thực hiện đầy đủ các nội dung này trước khi tiến hành di dời”, ông Chắt nhấn mạnh.

    Trước khi di chuyển, “thần đèn” phải cắt tách toàn bộ phần móng khỏi nền đất, dùng hệ thống kích thủy lực nâng nguyên khối biệt thự lên, sau đó đặt lên các con lăn chuyên dụng để từ từ dịch chuyển đến vị trí mới. Quá trình đòi hỏi tính toán chính xác từng centimet nhằm đảm bảo an toàn cho công trình.

    Với kích thước lớn, trọng lượng lên tới hàng trăm tấn, việc di dời biệt thự dự kiến kéo dài nhiều tháng, được thực hiện qua nhiều giai đoạn với độ chính xác cao. Chi phí cho việc dịch chuyển căn biệt thự dự kiến lên đến vài tỷ đồng. Những ngày này, hàng chục công nhân phải làm việc liên tục dưới trời nắng nóng để phục vụ quá trình di dời.

    Để dịch chuyển nguyên trạng công trình, đơn vị thi công phải cắt tách toàn bộ phần móng khỏi nền đất, sau đó sử dụng hệ thống kích thủy lực công suất lớn nâng cả tòa nhà lên khỏi mặt đất.

    Khi công trình đạt cao độ yêu cầu, biệt thự được đặt lên hệ thống con lăn chuyên dụng và từ từ di chuyển đến vị trí mới theo đúng lộ trình đã tính toán.

    Ngoài việc cắt sắt, sử dụng kích thủy lực, kê con lăn và chuẩn bị hệ thống nâng đỡ, đơn vị thi công đang gấp rút hoàn thiện đường ray bê tông được thiết kế riêng để đưa nguyên khối biệt thự di chuyển đến vị trí mới, cách nơi cũ khoảng 200m.

    Bên cạnh tập trung di chuyển ngôi nhà, chủ nhân biệt thự cũng đang khẩn trương xây dựng phần móng mới tại vị trí công trình sẽ được đưa tới.

    Được biết, ngoài ngôi biệt thự này, tại tổ dân phố Lẽ còn khoảng 30 hộ dân thuộc diện giải phóng mặt bằng để triển khai dự án đường kết nối sân bay Gia Bình với Hà Nội.

    Dự án tuyến đường kết nối Sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội gồm 7km xây mới và 6,55km mở rộng các tuyến cao tốc hiện hữu lên 120m, tổng diện tích sử dụng đất khoảng 289,87ha.

    Tuyến đường đi qua địa bàn Hà Nội và Bắc Ninh, kết nối từ khu vực sân bay Gia Bình với nút giao cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên/Vành đai 3 và đường dẫn cầu Tứ Liên. Dự án còn xây dựng hai nhánh rẽ trực tiếp, mỗi nhánh 3 làn xe, dài khoảng 2,5km.

    Dự án được triển khai theo hình thức PPP, tổng chiều dài khoảng 41,3km, tổng mức đầu tư lên tới 83.000 tỷ đồng. Khi hoàn thành, tuyến được kỳ vọng trở thành trục giao thông huyết mạch, rút ngắn thời gian kết nối Sân bay Gia Bình với trung tâm Hà Nội, đồng thời mở rộng không gian phát triển kinh tế – xã hội khu vực cửa ngõ Đông Bắc Thủ đô.

    Văn Chương

    Nguồn https://baomoi.com/can-canh-biet-thu-3-mat-tien-o-bac-ninh-sap-duoc-than-den-di-doi-de-lam-duong-c55975615.epi

  • Kiểm toán đầu tư công cần nhìn vào giá trị đồng vốn

    Quy mô đầu tư công ngày càng lớn

    Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu không chỉ kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn đúng quy định, mà còn phải đánh giá được giá trị kinh tế – xã hội mà mỗi dự án tạo ra. Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi, hoạt động kiểm toán cần chuyển từ tư duy “kiểm tra sổ sách” sang “đánh giá giá trị”, tức không chỉ trả lời đồng vốn đã được chi đúng hay chưa mà quan trọng hơn là đã tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế và người dân.

    Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, dấu ấn rõ nhất trong phát triển hạ tầng những năm qua nằm ở hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường bộ cao tốc. Nếu khoảng 20 năm trước, cả nước mới có hơn 1.000 km cao tốc thì riêng giai đoạn 2021-2025 đã hoàn thành và thông xe khoảng 2.025 km, gấp gần 2 lần số km xây dựng trong 20 năm trước đó cộng lại. Riêng năm 2025 hoàn thành 1.491 km. Đến cuối năm 2025, tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác hoặc thông tuyến chính đạt khoảng 3.345 km, vượt mục tiêu 3.000 km mà Đại hội XIII của Đảng đề ra.

    Cùng với đường bộ, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển hạ tầng đường sắt, trong đó có đường sắt cao tốc, đường sắt đô thị, đồng thời mở rộng nội hàm hạ tầng sang năng lượng, viễn thông và nền tảng số. Những thay đổi này, có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng không gian phát triển.

    “Một tuyến cao tốc không chỉ rút ngắn thời gian đi lại mà còn đưa những địa phương trước đây nằm ngoài các trục kinh tế chính vào phạm vi kết nối, tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng và khu công nghiệp mới dọc tuyến. Đất đai và lao động ở những khu vực trước đây ít lợi thế có thêm cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị”, PGS,TS. Bùi Thị Ngọc cho hay.

    PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi.

    Bên cạnh đó, hạ tầng đồng bộ cũng góp phần giảm chi phí logistics và nâng năng lực cạnh tranh. Khi hệ thống giao thông kết nối thông suốt hơn, vốn, hàng hóa và lao động có thể lưu chuyển nhanh hơn, với chi phí thấp và độ an toàn cao hơn. Ngoài ra, hạ tầng tạo điều kiện tăng cường liên kết vùng, khi cao tốc kết nối với cảng biển, sân bay, ga đường sắt; vùng nguyên liệu kết nối với vùng chế biến và cửa ngõ xuất khẩu. Chính tính kết nối và lan tỏa này mới là giá trị dài hạn của hạ tầng.

    Giai đoạn 2026-2030 được bà Ngọc nhìn nhận là giai đoạn bản lề đối với phát triển hạ tầng Việt Nam, với kỳ vọng hệ thống đường bộ cao tốc cơ bản hoàn chỉnh, tạo bước ngoặt cho ngành đường sắt, đồng thời tiếp tục phát triển hạ tầng hàng không, cảng biển, hạ tầng số, năng lượng và hạ tầng phục vụ chuyển đổi xanh.

    Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng vẫn còn những điểm nghẽn. Trong đó, giải phóng mặt bằng là vấn đề được nhắc đến nhiều. Một số dự án trọng điểm dù đã bố trí đủ vốn, hoàn tất thiết kế kỹ thuật nhưng chưa thể triển khai đồng loạt do vướng giá đất bồi thường, thiếu quỹ tái định cư và chậm bàn giao mặt bằng sạch. Điều này khiến nhà thầu không thể thi công liên tục, phát sinh chi phí và kéo dài tiến độ.

    Bà Ngọc cũng chỉ ra tình trạng vốn được bố trí lớn nhưng khả năng hấp thụ chưa theo kịp. Nguyên nhân có thể đến từ công tác dự báo, xây dựng kế hoạch chưa sát thực tế, chưa lường hết rủi ro; thời tiết cực đoan làm gián đoạn thi công; một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện quy hoạch và thủ tục đầu tư. Trong khi đó, thể chế và tiêu chuẩn kỹ thuật có lúc chưa theo kịp thực tiễn triển khai.

    Qua kiểm toán, những bất cập như chậm tiến độ, điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, thiếu tính đồng bộ, liên thông giữa các công trình, hiệu quả khai thác thấp hơn kỳ vọng và nguy cơ lãng phí ở nhiều khâu tiếp tục được chỉ ra. Theo bà Ngọc, những phát hiện này cho thấy lãng phí không nên chỉ được hiểu là các khoản chi sai, chi khống hay thất thoát. Nguồn lực bị chậm đưa vào sử dụng, công trình chậm phát huy công năng cũng là lãng phí.

    “Một công trình được đầu tư hàng nghìn tỷ đồng nhưng chậm đưa vào khai thác ba năm đồng nghĩa xã hội mất đi ba năm lợi ích từ công trình, đồng thời phải gánh thêm chi phí vốn trong khoảng thời gian đó. Vì vậy, chậm tiến độ thực chất là một dạng lãng phí nguồn lực kinh tế”, bà Ngọc đánh giá.

    Đo hiệu quả thay vì chỉ kiểm tra tiền đã chi đúng

    Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, những vấn đề được phát hiện qua hoạt động kiểm toán không nằm ở một khâu riêng lẻ mà trải dài trong toàn bộ chu trình dự án, từ chuẩn bị đầu tư, thẩm định, bố trí vốn, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, thi công, nghiệm thu đến vận hành khai thác. Đáng chú ý, tồn tại một khoảng cách giữa tính tuân thủ và tính hiệu quả: có dự án đúng quy trình, đủ thủ tục nhưng khi vận hành lại không đạt mục tiêu đề ra. Đây là phần mà kiểm toán tuân thủ đơn thuần khó có thể chạm tới và là lý do kiểm toán hoạt động ngày càng cần thiết.

    Quy mô đầu tư công ngày càng lớn đặt ra yêu cầu kiểm toán không chỉ kiểm soát chi đúng, mà còn phải đánh giá đồng vốn tạo ra giá trị gì.

    Nhìn sâu hơn vào nguyên nhân, vị chuyên gia cho rằng, chất lượng khâu chuẩn bị đầu tư là một trong những vấn đề gốc rễ. Áp lực phải sớm khởi công, phải có công trình chào mừng đôi khi khiến khảo sát, nghiên cứu khả thi được thực hiện nhanh, gọn, dẫn tới bỏ qua một số khâu quan trọng. Trong khi đó, đây lại là khâu có vai trò quyết định đối với hiệu quả của cả dự án.

    Một nguyên nhân khác là hạn chế về dữ liệu và năng lực dự báo. Việc dự báo nhu cầu vận tải, lưu lượng, tăng trưởng vùng cần nền tảng dữ liệu dài hạn, đáng tin cậy và được cập nhật, trong khi nền tảng dữ liệu còn phân tán và dự báo đôi khi thiếu khách quan. Bên cạnh đó là những hạn chế về thể chế, phối hợp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng và quy hoạch địa phương; những vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có lúc chưa theo kịp tốc độ triển khai.

    Cơ chế trách nhiệm và động lực cũng được bà đề cập. Trong đầu tư công, thành tích thường được ghi nhận qua các mốc khởi công, khánh thành, trong khi hiệu quả khai thác thực tế lại bộc lộ sau nhiều năm. Sự lệch pha giữa thời điểm ra quyết định và thời điểm hệ quả xuất hiện có thể làm suy giảm động lực cân nhắc kỹ ở khâu đầu. Cùng với đó, tâm lý e ngại trách nhiệm khiến một số nơi chậm xử lý, chờ hướng dẫn, dẫn tới chậm giải ngân.

    Đáng chú ý, theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, đầu tư công còn thiếu một khâu đánh giá sau đầu tư. Việc quyết toán mới chủ yếu xác nhận tiền đã chi đúng hay chưa, trong khi ít khi quay lại đánh giá sau 3-5 năm vận hành xem dự án có đạt các mục tiêu đã cam kết trong báo cáo nghiên cứu khả thi hay không. Nếu thiếu khâu này, hệ thống sẽ không có vòng phản hồi và những sai lệch trong dự báo có thể tiếp tục lặp lại ở các dự án sau.

    Với kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, vấn đề bà Ngọc đặt ra không chỉ là giải ngân mà còn là hiệu quả đầu tư. Nếu chỉ nhìn ở góc độ giải ngân thì đó là câu chuyện tiêu tiền đúng hạn; còn nhìn từ góc độ hiệu quả là phải trả lời được nguồn lực ấy tạo ra gì cho nền kinh tế và người dân.

    Để đo lường, bà đề cập khung 3 chữ E gồm: tính kinh tế (Economy), tính hiệu quả (Efficiency) và tính hiệu lực (Effectiveness), đồng thời xem xét các chiều cạnh kinh tế – xã hội. Tính kinh tế tập trung vào việc nguồn lực có được sử dụng tiết kiệm hay không, thông qua các chỉ số như suất đầu tư, mức chênh lệch giữa tổng mức đầu tư ban đầu và điều chỉnh, mức độ đội vốn và tỷ lệ tiết kiệm qua đấu thầu. Tính hiệu lực xem xét dự án có đạt mục tiêu đề ra hay không. Còn tính hiệu quả tập trung vào mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về, trong đó phân tích chi phí, lợi ích là công cụ quan trọng.

    “Đối với một dự án hạ tầng giao thông, giá trị mang lại có thể được lượng hóa qua tiết kiệm chi phí vận hành phương tiện và logistics; tiết kiệm thời gian đi lại của hành khách và hàng hóa; giảm chi phí tai nạn giao thông; giảm phát thải và các tác động môi trường”, PGS,TS. Bùi Thị Ngọc khẳng định.

    Từ cách tiếp cận đó, hoạt động kiểm toán cũng cần thay đổi. Vị chuyên gia cho rằng, cần tăng tỷ trọng kiểm toán hoạt động để đánh giá hiệu quả; chuyển từ hậu kiểm sang kiểm toán theo suốt vòng đời dự án, đặc biệt với các dự án quan trọng quốc gia quy mô lớn. Kiểm toán cần tham gia từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, tập trung vào chất lượng dự báo nhu cầu và cơ sở xác lập tổng mức đầu tư, đồng thời hình thành thông lệ kiểm toán sau khai thác khoảng 3-5 năm để đối chiếu kết quả thực tế với cam kết ban đầu.

    Bên cạnh đó, thay vì chỉ kiểm toán từng dự án riêng lẻ, cần chuyển sang kiểm toán theo chuỗi, theo vùng và theo chương trình để đánh giá tính đồng bộ, liên thông giữa các công trình. Với quy mô 8,22 triệu tỷ đồng và hàng nghìn dự án, phương pháp chọn mẫu thủ công khó bảo đảm tính bao quát. Vì vậy, cần đẩy mạnh kiểm toán số, khai thác dữ liệu lớn, kết nối với hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư công, ứng dụng viễn thám, mô hình thông tin công trình và các mô hình phân tích rủi ro.

    Theo PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, kiểm toán cũng không nên dừng ở kết luận đúng, sai và kiến nghị xử lý tài chính. Giá trị lớn hơn nằm ở việc chỉ ra nguyên nhân gốc rễ và kiến nghị sửa đổi thể chế, đồng thời theo dõi việc thực hiện các kiến nghị.

    “Khi đánh giá một công trình, dự án, bên cạnh tuân thủ, chi phí, hiệu quả triển khai, mức tiết kiệm qua đấu thầu và suất đầu tư, cần xem xét công trình có hoàn thành đúng khối lượng, tiến độ, chất lượng, chi phí và thực sự được đưa vào khai thác hay không. Sau đó là khả năng phát huy công năng, kết nối với hệ thống hạ tầng xung quanh và tác động thực tế đối với nền kinh tế, người dân, như tiết kiệm thời gian, chi phí vận tải, giảm chi phí logistics, thu hút đầu tư, tạo việc làm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu.

    Đặc biệt, cần lượng hóa tổn thất do vốn nằm chờ, công trình chậm đưa vào khai thác hoặc dự án dở dang kéo dài. Đây là những dạng lãng phí không thể hiện trên chứng từ nhưng có giá trị thực. Hiệu quả cũng cần được nhìn trong suốt vòng đời công trình, bởi một công trình nhanh xuống cấp do thiếu bảo trì cũng là một dạng lãng phí nguồn lực”, PGS,TS. Bùi Thị Ngọc nhấn mạnh.

    PGS,TS. Bùi Thị Ngọc, Trưởng phòng Tài chính – Kế toán, Trường Đại học Thủy Lợi: “Trong giai đoạn mới, Kiểm toán nhà nước cần chuyển từ vị trí người kiểm tra sổ sách sang người đánh giá giá trị, từ câu hỏi tiền đã chi đúng chưa sang câu hỏi tiền ấy đã tạo ra được gì”.

    Lê Na

    Nguồn https://baomoi.com/kiem-toan-dau-tu-cong-can-nhin-vao-gia-tri-dong-von-c55975668.epi

  • NHNN đề xuất quy trình cấp tín dụng vượt giới hạn cho dự án lớn ở Thủ đô

    Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục đề nghị chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô theo Nghị quyết số 258/2025/QH15.

    Theo dự thảo, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể đề nghị Thống đốc NHNN xem xét chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn đối với một khách hàng hoặc một khách hàng và người có liên quan của khách hàng đó để thực hiện các dự án thuộc phạm vi quy định.

    Đối tượng áp dụng bao gồm: Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; khách hàng vay vốn, tổ chức, cá nhân có liên quan.

    Sân vận động VinFast tại Hà Nội. Ảnh: Vingroup

    Về thủ tục xem xét cấp tín dụng vượt giới hạn, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài gửi NHNN 1 bộ hồ sơ theo quy định.

    Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, NHNN sẽ có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành, địa phương liên quan về các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của dự án, phương án và khách hàng đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn.

    Các bộ, ngành, địa phương có 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản của NHNN để gửi ý kiến bằng văn bản về những nội dung thuộc lĩnh vực quản lý.

    Trên cơ sở các ý kiến này, NHNN có thể yêu cầu ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc khách hàng giải trình những vấn đề liên quan. Trong vòng 17 ngày làm việc kể từ khi nhận được ý kiến của các bộ, ngành, địa phương hoặc ý kiến giải trình, NHNN kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ của hồ sơ.

    Trường hợp hồ sơ đáp ứng yêu cầu, Thống đốc NHNN xem xét, quyết định việc chấp thuận mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn theo quy định.

    Ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 258/2025/QH15 về việc thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Thủ đô, trong đó quy định cơ chế để Thống đốc NHNN xem xét, quyết định mức cấp tín dụng tối đa vượt giới hạn đối với các dự án thuộc phạm vi áp dụng.

    Tuân Nguyễn

    Nguồn https://baomoi.com/nhnn-de-xuat-quy-trinh-cap-tin-dung-vuot-gioi-han-cho-du-an-lon-o-thu-do-c55975631.epi

  • Ngăn chặn xây dựng trái phép trong vùng giải phóng mặt bằng

    Công trình “mọc” lên trong giai đoạn kiểm kê

    Dù nằm trong diện giải phóng mặt bằng (GPMB) của Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, khu phi thuế quan số 2 Chân Mây nhưng trên tuyến đường qua các thôn Bình An, Phú Sơn (xã Chân Mây – Lăng Cô) vẫn xảy ra tình trạng người dân xây mới hàng rào, nền sân… Dự án này có tổng diện tích thu hồi 267ha; trong đó, diện tích đang triển khai giai đoạn 1 là hơn 92 ha, ảnh hưởng đến hơn 186 hộ dân…

    Một trường hợp vừa tập kết vật liệu để xây dựng đã được lực lượng chức năng xã Chân Mây – Lăng Cô yêu cầu bốc dỡ ra khỏi hiện trường.

    Theo chính quyền địa phương, một số trường hợp xây dựng trái phép trong vùng dự án khi được chính quyền địa phương đến vận động, giải thích đã dừng lại. Ông Ph.V.Th. trú tại thôn Bình An chia sẻ do nhà chật nên ông muốn xây thêm hai phòng. “Ban đầu tôi cũng nghĩ đơn giản nhưng khi chính quyền địa phương đến nhắc nhở, giải thích, tôi biết vướng dự án nên đã chấp hành dừng thi công”, ông Th nói.

    Bên cạnh một số người dân chấp hành thì vẫn có những gia đình lén lút xây dựng thêm dù lực lượng chức năng của xã liên tục rà soát, nhắc nhở. Ông Trần Hoàng, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Kinh tế xã Chân Mây – Lăng Cô cho biết, mặc dù đã có thông báo nhưng tình trạng người dân xây dựng các công trình như hàng rào, mái che, hòn non bộ, vật kiến trúc hoặc trồng thêm một số loại cây ngắn ngày vẫn xảy ra. Nhiều trường hợp còn xây dựng vào ban đêm để tránh sự kiểm tra của chính quyền…

    Tuyên truyền người dân nằm trong vùng dự án sắp triển khai không được xây dựng công trình mới trong thời gian chờ kiểm kê tài sản

    “Chính quyền địa phương đã phối hợp với các đơn vị khảo sát, ghi nhận hiện trạng từ trước đó. Chúng tôi cũng nhắc nhở và tuyên truyền để người dân biết sau thời điểm có thông báo thu hồi đất, các công trình xây dựng thêm sẽ không được bồi thường. Tuy nhiên, một số hộ dân vẫn không chấp hành. Do các công trình phụ, hạng mục xây dựng nhỏ không cần xin phép xây dựng nên dẫn đến tình trạng có hộ dân cố tình xây dựng. Đây là một trong những điều rất đáng trăn trở vì sẽ gây lãng phí, thiệt hại cho người dân, do các công trình này sẽ không được đền bù”, ông Trần Hoàng nói.

    Trước giai đoạn kiểm kê, lực lượng chức năng đã sử dụng flycam để ghi nhận hiện trạng, làm dữ liệu đối chiếu. Do vậy, nếu người dân cố tình xây dựng hoặc trồng thêm cây thì không khó để xử lý. Tuy nhiên, điều đáng trăn trở là việc này gây tốn kém, lãng phí tiền của, công sức của người dân, đồng thời có thể nảy sinh những vướng mắc không đáng có khi thực hiện công tác GPMB. Trong đợt 1, xã Chân Mây – Lăng Cô đã vận động tháo dỡ 3 nhà. UBND xã cũng có kế hoạch triển khai trong các đợt, các giai đoạn tiếp theo, tập trung vào những khu vực đang triển khai dự án.

    Trước và sau khi kiểm kê, các công trình đều lực lượng chức năng xã Chân Mây – Lăng Cô giám sát chặt chẽ.

    Theo lãnh đạo UBND xã Chân Mây – Lăng Cô, trên địa bàn xã hiện có 12 dự án đã và đang được triển khai. Trong đó, có 2 dự án đang ở giai đoạn kiểm kê tài sản phục vụ công tác GPMB, gồm: Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, khu phi thuế quan số 2 Chân Mây (giai đoạn 1) và Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp, khu phi thuế quan số 1 Chân Mây.

    Tăng cường giám sát

    Ông Đinh Ngọc Hùng, Chủ tịch UBND xã Chân Mây – Lăng Cô cho rằng, quan điểm của xã là không để vi phạm phát sinh kéo dài, không để hình thành điểm nóng và không chờ công trình xây xong mới xử lý. Quản lý phải chuyển từ xử lý bị động sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và ngăn chặn ngay từ đầu. Bên cạnh kiểm tra và xử lý, xã sẽ đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức. Người dân có nhu cầu xây dựng hợp pháp thì chính quyền phải hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện; nhưng đã cố tình vi phạm thì phải xử lý nghiêm, đúng quy định…

    Một số người dân cố tình từ trồng mới cây cối đến xây các ki-ốt, công trình phụ…

    Xã sẽ kết hợp kiểm tra thực địa, camera, thông tin từ thôn, tổ dân phố, người dân và các kênh phản ánh điện tử để hình thành mạng lưới giám sát nhiều lớp. Tại các vị trí trọng điểm, xã tiếp tục rà soát, khai thác và bổ sung camera phù hợp; từng bước xây dựng bản đồ các điểm có nguy cơ xây dựng trái phép, cập nhật hình ảnh, vị trí, hiện trạng và kết quả xử lý để phục vụ quản lý.

    Cùng với đó, xã khuyến khích người dân phản ánh kịp thời qua thôn, tổ dân phố, các kênh tiếp nhận của chính quyền và Hue-S. UBND xã sẽ tổ chức các tổ kiểm tra, tuần tra theo địa bàn và theo điểm nóng, tăng cường kiểm tra đột xuất ngoài giờ hành chính, ban đêm, ngày nghỉ, ngày lễ, nhất là tại những khu vực có nguy cơ cao. Lực lượng Công an, cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách địa bàn, thôn, tổ dân phố và các lực lượng liên quan phải phối hợp chặt chẽ; khi phát hiện dấu hiệu vi phạm phải kịp thời kiểm tra, lập hồ sơ và xử lý theo thẩm quyền.

    Chính quyền xã Chân Mây – Lăng Cô thực hiện đồng bộ các giải pháp, không để hình thành điểm nóng xây dựng trái phép trong vùng dự án.

    Bên cạnh đó, xã sẽ tăng cường tuyên truyền, phối hợp với các cơ sở kinh doanh vật liệu xây dựng, đơn vị cung cấp bê tông, nhà thầu, tổ đội thi công và đơn vị vận chuyển để nâng cao trách nhiệm chấp hành pháp luật. Đồng thời kiểm tra, xử lý những hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền, không để các hoạt động cung ứng, thi công trở thành mắt xích tiếp tay cho xây dựng trái phép.

    Một giải pháp rất quan trọng là kiểm soát và ghi nhận hiện trạng, đặc biệt tại các khu vực chuẩn bị thực hiện dự án, thu hồi đất, GPMB. Chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức kiểm tra, lập biên bản xác nhận, ghi nhận hiện trạng sử dụng đất và tài sản trên đất tại thời điểm phù hợp theo trình tự thực hiện dự án; đồng thời tổ chức chụp ảnh, quay phim, xác định vị trí, tọa độ và trường hợp cần thiết sử dụng flycam/UAV để ghi nhận tổng thể hiện trạng. Việc này nhằm hình thành hồ sơ hiện trạng có căn cứ, rõ thời điểm, rõ vị trí, rõ tài sản, phục vụ công tác quản lý, kiểm đếm, GPMB và giải quyết các vấn đề phát sinh.

    Sau khi đã có thông tin, chủ trương hoặc thông báo liên quan đến thu hồi đất, chính quyền xã Chân mây- Lăng Cô sẽ tăng cường theo dõi biến động để kịp thời phát hiện việc phát sinh nhà cửa, công trình, cây cối hoặc tài sản mới không phù hợp quy định; qua đó ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ để tạo lập tài sản nhằm trục lợi.

    Hải Lan

    Nguồn https://baomoi.com/ngan-chan-xay-dung-trai-phep-trong-vung-giai-phong-mat-bang-c55975424.epi

  • Hé lộ bóng dáng hệ sinh thái đằng sau dự án cải tạo chung cư 51 Huỳnh Thúc Kháng

    Khởi công dự án tái định cư trọng điểm tại nội đô

    CTCP Đầu tư và Phát triển Bách Khoa đã tổ chức lễ khởi công dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư cũ tại số 51 phố Huỳnh Thúc Kháng, phường Láng, Hà Nội với tên thương mại là 51 HTK Tower. Cổng thông tin điện tử Chính phủ cho biết công trình được triển khai trên khu đất có diện tích hơn 1.200 m2, thiết kế quy mô 13 tầng nổi, 1 tum kỹ thuật và 5 tầng hầm. Dự án bố trí 42 căn hộ tái định cư cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, bãi đỗ xe và các tiện ích đồng bộ, dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng trong quý IV/2027.

    Khu chung cư 51 Huỳnh Thúc Kháng trước đây thuộc địa bàn quận Đống Đa (cũ), từng được xếp vào diện chung cư nguy hiểm cấp D và đã hoàn thành di dời toàn bộ người dân từ năm 2023. Theo Sở Xây dựng Hà Nội, dù sở hữu quy mô không lớn, dự án này giữ vai trò quan trọng trong chương trình cải tạo, xây dựng lại các khu chung cư cũ trên địa bàn Thủ đô. Đến năm 2025, dự án đã được thành phố điều chỉnh và bổ sung vào kế hoạch sử dụng đất để chủ đầu tư triển khai các thủ tục tiếp theo.

    Dấu ấn sở hữu của hệ sinh thái QMS

    Đứng ra triển khai dự án là Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Bách Khoa, doanh nghiệp thành lập từ năm 2011 với quy mô vốn điều lệ đạt 568 tỷ đồng vào cuối năm 2019. Cơ cấu lãnh đạo và sở hữu của Bách Khoa cho thấy sự hiện diện của nhóm cổ đông và nhân sự xuất thân từ CTCP Dịch vụ Trường học Quang Minh (QMS).

    Cụ thể, Chủ tịch HĐQT của Bách Khoa là bà Nguyễn Thị Thúy Hường, nữ doanh nhân sinh năm 1970 được biết đến rộng rãi với vai trò CEO của QMS. Trong khi đó, vị trí Giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật hiện do ông Hà Văn Khoa đảm nhận, nhân sự từng được giới thiệu là Phó Chủ tịch Công đoàn tại QMS. Các cổ đông sáng lập ban đầu của Bách Khoa như ông Nguyễn Ngọc Phương và bà Nguyễn Thị Gió Đông cũng đồng thời nắm giữ vai trò điều hành tại các pháp nhân liên quan thuộc hệ sinh thái QMS như Công ty TNHH Phát triển Dự án QMS hay Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại QMS.

    Về phía QMS, doanh nghiệp này thành lập từ năm 2007 do bà Nguyễn Thị Thúy Hường chi phối phần lớn tỷ lệ sở hữu (nắm giữ 99,07% từ năm 2018). Qua nhiều đợt tăng vốn, tính đến tháng 5/2026, quy mô vốn điều lệ của QMS đã đạt mốc 9.000 tỷ đồng. Tập đoàn này hoạt động song song trong hai lĩnh vực chính là giáo dục và bất động sản, nổi bật với các dự án lớn tại Hà Nội như Tòa nhà QMS Top Tower trên đường Tố Hữu và Tòa nhà QMS Startup Tower trên đường Tôn Thất Thuyết.

    Khánh Linh

    Nguồn https://baomoi.com/he-lo-bong-dang-he-sinh-thai-dang-sau-du-an-cai-tao-chung-cu-51-huynh-thuc-khang-c55975578.epi

  • Bộ Tài chính ban hành Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ về phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu

    Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 210/NQ-CP của Chính phủ được Bộ Tài chính ban hành tại Quyết định số 2417/QĐ-BTC, có hiệu lực từ ngày 27/8/2026.

    Theo đó, các nhiệm vụ do Bộ Tài chính chủ trì bao gồm: tham mưu cơ chế tài chính phù hợp, ưu tiên cho phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục nhanh hậu quả thiên tai và phục hồi sinh kế, sản xuất; tham mưu bảo đảm nguồn lực, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền cân đối, bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách trung ương giai đoạn 5 năm và hằng năm, kinh phí chi thường xuyên hằng năm để thực hiện nhiệm vụ của Nghị quyết này theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu tư công và quy định của pháp luật khác có liên quan.

    Đồng thời, Bộ Tài chính chủ trì phát triển các công cụ tài chính xử lý rủi ro thiên tai, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tài sản công, trái phiếu xanh, hợp tác công tư, tài chính khí hậu quốc tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật về quy hoạch, đầu tư công, ngân sách, bảo hiểm.

    Cùng với đó, ưu tiên đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 – 2030 cho công tác phòng ngừa, giảm rủi ro thiên tai, nhất là các công trình phòng, chống thiên tai quy mô lớn, liên vùng; hồ đập, đê điều, thoát lũ, sạt lở, bố trí dân cư an toàn, cảnh báo sớm, dữ liệu số, hạ tầng chống chịu, trường học, bệnh viện, nước sạch, sinh kế bền vững; tích hợp yêu cầu phòng, chống thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu gắn với hệ thống quy hoạch.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính yêu cầu thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ chủ động bám sát những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ Chính phủ giao trong Nghị quyết số 210/NQ-CP, chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ và nhiệm vụ, kế hoạch của Quyết định này để tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả cao nhất; cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này vào chương trình, kế hoạch công tác của đơn vị, bảo đảm chất lượng và hoàn thành tiến độ theo yêu cầu.

    Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, định kỳ hàng năm, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính được giao chủ trì thực hiện các nhiệm vụ tại Kế hoạch kèm theo Quyết định này chủ động kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện và gửi Vụ Ngân sách nhà nước trước ngày 10/12 để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tổng hợp gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định.

    Đối với các nội dung phân công cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương chủ trì thực hiện trong Nghị quyết số 210/NQ-CP, trong trường hợp đề nghị Bộ Tài chính có ý kiến tham gia, giao Văn phòng Bộ chủ động tham mưu phân công cho các đơn vị chủ trì, phối hợp theo chức năng, nhiệm vụ được giao./.

    Hà Phương

    Nguồn https://baomoi.com/bo-tai-chinh-ban-hanh-ke-hoach-thuc-hien-nhiem-vu-ve-phong-chong-bao-lu-thien-tai-cuc-doan-va-bien-doi-khi-hau-c55975493.epi

  • Hình thành các cực phát triển mới trong không gian đô thị

    Đóng góp khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất nhập khẩu trong các khu công nghiệp của địa phương, phường Nếnh giữ vị trí quan trọng trong không gian phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh. Địa phương đang chuyển từ phát triển công nghiệp đơn thuần sang tổ chức không gian đô thị công nghiệp gắn với an cư, dịch vụ và logistics; trong đó hoàn thiện hạ tầng là yêu cầu then chốt để duy trì động lực tăng trưởng.

    Một góc Khu Công nghiệp Vân Trung. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    * Công nghiệp tạo động lực, hạ tầng tạo dư địa phát triển

    Theo Phó Trưởng ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Xuân Ngọc, trên địa bàn phường Nếnh hiện có 4 khu công nghiệp đang hoạt động gồm: Đình Trám, Quang Châu, Vân Trung và Việt Hàn giai đoạn 1, với tổng diện tích hơn 1.044ha. Các khu công nghiệp thu hút 372 dự án; trong đó có 297 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 9,4 tỷ USD và 75 dự án trong nước với tổng vốn khoảng 9.200 tỷ đồng. Các ngành điện tử, công nghệ cao, sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị viễn thông, máy tính và sản phẩm quang học chiếm tỷ trọng lớn. Nhiều tập đoàn lớn như: Foxconn, Luxshare, Hana Micron đang đầu tư, tạo việc làm cho khoảng 220.000 lao động đến từ nhiều tỉnh, thành phố. Năm 2025, doanh nghiệp tại 4 khu công nghiệp nộp ngân sách nhà nước khoảng 2.500 tỷ đồng.

    Toàn bộ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện đóng góp khoảng 80% giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Riêng các khu công nghiệp tại phường Nếnh đóng góp khoảng 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất nhập khẩu trong các khu công nghiệp; giá trị sản xuất công nghiệp khoảng 600.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất nhập khẩu ước khoảng 40 tỷ USD. Quy mô sản xuất lớn đang tạo cho phường lợi thế đặc biệt trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên cùng với đó là áp lực ngày càng lớn lên giao thông, nhà ở, trường học, y tế, môi trường và các dịch vụ đô thị.

    Ông Lê Hoàng Bách, Chủ tịch UBND phường Nếnh cho biết, địa phương xác định phát triển công nghiệp gắn với hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sống của người dân. Phường không chỉ khai thác hiệu quả các khu công nghiệp hiện hữu mà còn tạo thêm không gian phát triển, tăng cường kết nối giao thông, logistics và bảo đảm điều kiện để người lao động sinh sống ổn định.

    * Hình thành không gian đô thị gắn với an cư

    Giao thông đang được phường Nếnh xác định là một trong những khâu đột phá. Theo ông Nguyễn Đức Sâm, Trưởng Phòng Tài chính phường Nếnh, giai đoạn từ nay đến 2030, địa phương tập trung hoàn thành giải phóng mặt bằng và triển khai tuyến đường nối Khu công nghiệp Quang Châu với Khu công nghiệp Vân Trung, tuyến kết nối Khu công nghiệp Quang Châu với cảng cạn Sen Hồ và mở rộng đường gom cao tốc Hà Nội – Bắc Giang. Phường phối hợp triển khai các dự án cầu vượt đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn tại Km127+500, tuyến đường nối Khu công nghiệp Quang Châu với đường tỉnh 298B, dự án cầu Kim Chân và đường dẫn lên cầu. Cùng với dự án cảng cạn Sen Hồ, các công trình này được kỳ vọng nâng cao năng lực kết nối hành lang công nghiệp dọc sông Cầu, tạo dư địa phát triển logistics.

    Một góc Khu Công nghiệp Đình Trám. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

    Ông Lê Hoàng Bách, Chủ tịch UBND phường Nếnh nêu rõ, hạ tầng cần được nhìn nhận trong tổng thể phát triển công nghiệp và đô thị. Phường phối hợp với các cơ quan chức năng từng bước tháo gỡ điểm nghẽn, bảo đảm an toàn sản xuất; đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Trên địa bàn phường hiện có khoảng 60.000 người thường trú, trong khi số tạm trú khoảng 130.000 người. Lực lượng lao động lớn tạo nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp nhưng cũng làm gia tăng nhu cầu về nhà ở, trường học, y tế, giao thông và các dịch vụ thiết yếu.

    Trước thực tế đó, phường định hướng phát triển theo mô hình “đô thị nén”, ưu tiên các công trình cao tầng với mật độ xây dựng thấp, dành quỹ đất cho trường học, công viên, chợ và các tiện ích công cộng. Địa phương đang hỗ trợ, đôn đốc tiến độ 9 dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân; đồng hành với người lao động trong các thủ tục thuê, mua nhà ở xã hội. Một số dự án khu dân cư, nhà ở chất lượng cao được thúc đẩy, trong đó có khu chung cư tại khu dân cư mới dọc tuyến đường Yên Ninh và Khu đô thị Thái Hà. Việc phát triển nhà ở được đặt trong mối quan hệ với nơi làm việc, giao thông và hệ thống dịch vụ, hướng tới hình thành không gian đô thị mà người lao động có thể sinh sống lâu dài thay vì chỉ là nơi tập trung nhà máy.

    Hệ thống trường lớp đã được kiên cố hóa 100%. Phường có 19 trường đạt chuẩn quốc gia. Địa phương đã phối hợp chuẩn bị đầu tư Trường Trung học phổ thông Việt Yên số 4 và phê duyệt chủ trương đầu tư 7 dự án cải tạo, sửa chữa, đầu tư mới trường học ở cả 3 cấp. Trạm y tế phường được ổn định tổ chức. Địa phương phối hợp triển khai dự án Bệnh viện Đa khoa khu công nghiệp Bắc Giang tại phường Nếnh. Hạ tầng thiết yếu được cải thiện với 100% ngõ xóm có điện chiếu sáng, 98% dân cư được tiếp cận nước sạch đạt chuẩn. Khoảng 87 tấn rác thải phát sinh mỗi ngày được thu gom, xử lý 100%. Việc đồng bộ hóa hạ tầng không chỉ nhằm giải quyết áp lực dân số hiện tại mà còn tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Khi người lao động có nhà ở, trường học, y tế và dịch vụ thiết yếu, phường Nếnh có điều kiện giữ chân nguồn nhân lực; đồng thời mở rộng không gian cho thương mại, dịch vụ và logistics.

    Từ lợi thế công nghiệp, phường Nếnh đang hướng tới hình thành một không gian đô thị công nghiệp gắn với an cư. Đây là bước chuyển cần thiết trong quá trình tái cấu trúc không gian phát triển của Bắc Ninh, khi tăng trưởng công nghiệp không chỉ được đo bằng qui mô sản xuất, vốn đầu tư hay kim ngạch xuất nhập khẩu mà còn bằng khả năng đáp ứng nhu cầu sống, làm việc và phát triển lâu dài của người dân. Với định hướng lấy công nghiệp làm động lực, hạ tầng làm nền tảng và chất lượng sống làm mục tiêu, phường đang góp phần hình thành các cực phát triển mới trong không gian đô thị Bắc Ninh.

    Việc hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và chất lượng dịch vụ đô thị tại địa bàn công nghiệp trọng điểm này góp phần tạo nền tảng để tỉnh hoàn thiện các tiêu chí kinh tế – xã hội, hạ tầng và quản trị, nhất là khi Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 20/9/2026.

    Danh Lam/Vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/hinh-thanh-cac-cuc-phat-trien-moi-trong-khong-gian-do-thi-c55975536.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!