Author: bachdn

  • Bài 3: Từ cam kết đến hành động

    Bài 2: Mở cửa đón dòng vốn mới

    “Luồng xanh” mở lối dòng vốn

    Sau hội nghị xúc tiến đầu tư, câu hỏi đặt ra với tỉnh không còn là thu hút được bao nhiêu vốn, mà là làm gì để những cam kết đầu tư nhanh chóng trở thành dự án, tạo ra sản phẩm, việc làm và nguồn lực cho nền kinh tế.

    Một trong những việc được tỉnh triển khai ngay là cụ thể hóa cam kết về cơ chế “luồng xanh” trong giải quyết thủ tục hành chính. UBND tỉnh đã ban hành danh mục 26 thủ tục hành chính cấp tỉnh và 4 thủ tục cấp xã áp dụng cơ chế “luồng xanh”, tập trung vào những lĩnh vực tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Trong đó, 6 thủ tục thuộc lĩnh vực công thương được cắt giảm tới 70% thời gian; 2 thủ tục lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch giảm 50%; 2 thủ tục lĩnh vực y tế rút ngắn tối đa 70%. Sở Tài chính có 6 thủ tục được cắt giảm từ 60% đến hơn 82% thời gian xử lý. Riêng lĩnh vực nông nghiệp, môi trường và đất đai có 7 thủ tục được rút ngắn từ 43,8% đến 72,2%.

    Cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Điện Biên giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. 

    Theo ông Nguyễn Tiến Cường, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Điện Biên, điểm cốt lõi của cơ chế “luồng xanh” là lựa chọn những thủ tục có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ đầu tư để ưu tiên xử lý, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng khâu. “Mục tiêu là hồ sơ đến đâu phải được xử lý đến đó, không để phát sinh tình trạng chờ đợi, vòng vo hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Rút ngắn thời gian nhưng vẫn phải bảo đảm đúng quy định pháp luật, công khai, minh bạch và kiểm soát được chất lượng giải quyết hồ sơ” – ông Cường cho biết.

    Đó cũng là cách tỉnh cụ thể hóa cam kết được Bí thư Tỉnh ủy Trần Tiến Dũng đưa ra tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư: Phát huy hiệu quả cơ chế “luồng xanh”, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, khắc phục tình trạng “trên thông, dưới tắc”, kiên quyết xử lý biểu hiện né tránh, đùn đẩy, gây phiền hà. Nhờ đó, từ đầu năm đến nay, tỉnh Điện Biên đã trao quyết định đầu tư cho 23 dự án, với tổng vốn 53.000 tỷ đồng. Trong đó, có 3 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với số vốn đăng ký 14.005 tỷ đồng.

    Ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: “Điện Biên đang tạo cơ chế thông thoáng, thuận lợi nhất để nhà đầu tư tiếp cận và hoàn tất các thủ tục dự án, nhất là thủ tục về đất đai. Các dự án trọng điểm được áp dụng cơ chế “luồng xanh”, qua đó rút ngắn tối đa thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tạo điều kiện để dự án sớm được triển khai”.

    Đại diện Công ty Cổ phần Cà phê Detech khảo sát vùng nguyên liệu cà phê tại xã Mường Ảng.

    Tuy nhiên, “luồng xanh” không chỉ là một quy trình hành chính được rút ngắn. Đằng sau những con số giảm thời gian là một thay đổi trong tư duy điều hành: Chính quyền chủ động thiết kế quy trình để phục vụ sự phát triển, thay vì để doanh nghiệp tự tìm cách đi qua những quy trình phức tạp.

    Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư, đây chính là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của địa phương. Bởi doanh nghiệp không chỉ tìm kiếm nơi có tiềm năng, họ còn tìm kiếm một môi trường có thủ tục minh bạch, trách nhiệm rõ ràng, chính quyền đồng hành và những quyết định đầu tư có thể nhanh chóng chuyển thành dự án trên thực địa.

    Cấp ủy, chính quyền đồng hành nhà đầu tư

    Nếu “luồng xanh” là giải pháp tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, thì tại cơ sở, cấp ủy, chính quyền địa phương đang trực tiếp vào cuộc, chủ động phối hợp, đồng hành cùng nhà đầu tư, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để các dự án được triển khai đúng tiến độ.

    Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư, UBND tỉnh trao quyết định chấp thuận nhà đầu tư cho Công ty Cổ phần Năng lượng Vinenergo (Tập đoàn Vingroup) thực hiện dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện Biên 1, công suất 300MW, tổng vốn hơn 5.371 tỷ đồng. Quy mô diện tích khoảng 509ha tại phường Điện Biên Phủ và các xã Mường Ảng, Pu Nhi, Na Son, Mường Lạn, Xa Dung. Ngay sau hội nghị, Tỉnh ủy, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương khẩn trương triển khai giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện để dự án sớm được thực hiện. Đến hết ngày 26/8, chính quyền các địa phương đã phối hợp với nhà đầu tư chi trả cho 505 hộ/417ha, đạt 90% tổng diện tích dự án.

    Cấp ủy, chính quyền xã Na Son vào cuộc quyết liệt, triển khai giải phóng mặt bằng dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện Biên 1.

    Xã Na Son có hơn 197ha nằm trong phạm vi giải phóng mặt bằng, trong đó phần lớn diện tích là đất canh tác của người dân. Do đó, cấp ủy, chính quyền xác định công tác dân vận phải đi trước một bước. UBND xã thành lập tổ hỗ trợ giải phóng mặt bằng, phân công rõ trách nhiệm từng thành viên; đồng thời phát huy vai trò của bí thư chi bộ, trưởng bản, người có uy tín để đưa chủ trương, chính sách đến với người dân.

    Ông Nguyễn Thanh Lâm, Phó Chủ tịch UBND xã Na Son cho biết: “Muốn người dân đồng thuận thì trước hết cán bộ phải hiểu rõ chủ trương, nắm chắc chính sách để giải thích đầy đủ cho bà con. Chúng tôi xác định phải kiên trì tuyên truyền, lắng nghe, đối thoại, giải đáp từng thắc mắc và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân theo đúng quy định”.

    Bản Na Lanh có hơn 30ha đất của gần 30 hộ dân nằm trong vùng dự án. Để người dân đồng thuận, Ban Phát triển bản nhiều lần đến từng hộ tuyên truyền, đối thoại, giải thích về chủ trương đầu tư, chính sách bồi thường, hỗ trợ và định hướng ổn định cuộc sống sau thu hồi đất.

    Bà Lò Thị Mai, Bí thư Chi bộ bản Na Lanh cho biết: “Chúng tôi phân tích để bà con hiểu đây là dự án trọng điểm của tỉnh, khi hoàn thành sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách và tạo thêm cơ hội việc làm. Khi hiểu rõ, bà con đều đồng tình, ủng hộ. Đến thời điểm này, bản Na Lanh đã hoàn thành việc giải phóng mặt bằng vùng dự án”.

    Ông Lò Văn Hoàng, bản Na Lanh cho biết: “Gia đình đã bàn giao 2ha đất sản xuất để thực hiện dự án. Ban đầu tôi rất băn khoăn nhưng được cán bộ giải thích thấu đáo, tôi hiểu đây là dự án phục vụ sự phát triển của địa phương, quyền lợi của người dân cũng được bảo đảm. Do đó, gia đình đã thống nhất bàn giao đất cho dự án”.

    Người dân xã Pu Nhi nhận tiền hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án Nhà máy Điện mặt trời Điện Biên 1.

    Sau hội nghị xúc tiến đầu tư, Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng đô thị số 6 (thuộc Tổng Công ty Thương mại và Xây dựng tỉnh Điện Biên) đã tiến hành khảo sát, đề xuất dự án nhà ở xã hội tại thôn Yên Trường, xã Thanh Yên. Dự án có diện tích khoảng 48.850m², tổng vốn đầu tư sơ bộ hơn 301 tỷ đồng, gồm 280 căn nhà ở xã hội, 36 căn nhà ở thương mại cùng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.

    Để dự án sớm triển khai, cấp ủy, chính quyền xã Thanh Yên xác định phương châm đồng hành từ sớm, từ cơ sở. Ông Nguyễn Văn Toản, Bí thư Đảng ủy xã Thanh Yên cho biết: “Địa phương áp dụng cơ chế “luồng xanh”, phối hợp với nhà đầu tư từ khảo sát, tuyên truyền, vận động người dân đến hoàn thiện các thủ tục liên quan”.

    Theo rà soát ban đầu, 24 hộ dân tại thôn Yên Trường có đất sản xuất nằm trong phạm vi thực hiện dự án. Ông Nguyễn Văn Lượng, Bí thư Chi bộ thôn Yên Trường chia sẻ: “Ban Phát triển thôn đã chủ động tuyên truyền, giúp người dân hiểu rõ mục tiêu, ý nghĩa của dự án. Nhờ đó, đa số hộ dân đồng thuận, mong dự án sớm triển khai, tạo thêm động lực phát triển kinh tế – xã hội địa phương”.

    Không chỉ ở cơ sở, các sở, ngành cấp tỉnh cũng trực tiếp đồng hành cùng doanh nghiệp. Ông Bùi Văn Luyện, Giám đốc Sở Xây dựng cho biết: “Sở phối hợp với các đơn vị liên quan và cấp ủy, chính quyền xã Thanh Yên kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục”.

    Theo kế hoạch, dự án triển khai từ quý III/2026, dự kiến hoàn thành, đưa vào khai thác tháng 3/2027. Theo ông Bùi Anh Tiến, Giám đốc Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng đô thị số 6 cho biết: “Sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cấp ủy, chính quyền và các sở, ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình chuẩn bị đầu tư dự án”.

    Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, dựa án Nhà ở xã hội tại thôn Yên Trường, xã Thanh Yên đã chính thức động thổ.

    Từ những dự án trên, có thể thấy, sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở nhằm tạo môi trường thuận lợi để các nhà đầu tư thực hiện dự án. Ở tỉnh, đó là rút ngắn quy trình, xác định rõ trách nhiệm. Ở sở, ngành, đó là phối hợp để giải quyết hồ sơ. Ở xã, là trực tiếp đối thoại, vận động nhân dân. Ở thôn, bản, là vai trò của chi bộ, trưởng bản, người có uy tín.

    Điều đáng nói trong những chuyển động sau hội nghị xúc tiến đầu tư không chỉ là số ngày thủ tục được rút ngắn hay số dự án được triển khai. Sâu xa hơn, đó là sự thay đổi trong phương thức lãnh đạo, điều hành. Từ chỗ giải quyết công việc theo từng thủ tục, từng lĩnh vực, cấp ủy, chính quyền đang chủ động nhận diện những điểm nghẽn có khả năng cản trở dòng vốn để tập trung tháo gỡ.

    Từ yêu cầu doanh nghiệp tự “đi qua” các quy trình hành chính sang thiết kế quy trình phục vụ doanh nghiệp. Từ vận động người dân đồng thuận chung chung sang đối thoại, giải thích và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân trong từng dự án. Đó là cách đưa nghị quyết của Đảng từ những mục tiêu trên giấy vào từng hồ sơ, từng cuộc đối thoại, từng dự án và từng quyết định ở cơ sở.

    Nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi được chuyển thành những quy trình ngắn hơn, những cuộc đối thoại gần dân hơn, những quyết định nhanh hơn và những dự án hiện hữu trên thực địa. Với Điện Biên, hành trình từ “gỡ điểm nghẽn” đến “đón dòng vốn” đang tạo ra một yêu cầu lớn hơn: Làm thế nào để những dự án hôm nay trở thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời mở rộng không gian phát triển cho tỉnh.

    Bài, ảnh: Phạm Trung – Tuấn Anh

    Bài 4: Mở rộng không gian, tạo động lực mới

    Nguồn https://baomoi.com/bai-3-tu-cam-ket-den-hanh-dong-c55981017.epi

  • Xây dựng cơ chế ưu tiên giải quyết thủ tục hành chính theo ‘Luồng xanh’ trong lĩnh vực đầu tư

    Dự hội nghị có các đồng chí Thường trực Đảng ủy, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy; lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương liên quan.

    Các đại biểu dự hội nghị.

    Tại hội nghị, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh xem xét, cho ý kiến các nội dung về công tác tổ chức, xây dựng Đảng, gồm: kiện toàn cấp ủy Đảng ủy Sở Nông nghiệp và Môi trường; kết luận tiêu chuẩn chính trị đối với cán bộ, đảng viên; xếp ngạch chuyên viên cao cấp đối với công chức lãnh đạo; chủ trương tổ chức lớp trung cấp lý luận chính trị cho viên chức ngành y tế và một số nội dung về công tác cán bộ.

    Hội nghị nghe báo cáo, cho ý kiến đối với chủ trương sử dụng tạm thời một số cơ sở nhà, đất phục vụ giải phóng mặt bằng Dự án mỏ sắt Nà Rụa; đề xuất chủ trương xây dựng cơ chế ưu tiên giải quyết thủ tục hành chính theo “Luồng xanh” trong lĩnh vực đầu tư trên địa bàn tỉnh; xem xét hồ sơ chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án thủy điện Thượng Hà; việc định giá cụ thể giá bán lẻ nước sạch của Công ty TNHH MTV Cấp nước Cao Bằng; đề xuất đăng cai tổ chức Ngày hội văn hóa dân tộc Mông lần thứ V, năm 2031.

    Trên cơ sở các ý kiến tại hội nghị, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh cơ bản thống nhất với các nội dung báo cáo.

    Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp thu, rà soát, hoàn thiện và tổ chức triển khai theo đúng thẩm quyền, quy định.

    Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa kết luận hội nghị.

    Đối với việc sử dụng tạm thời một số cơ sở nhà, đất phục vụ giải phóng mặt bằng Dự án mỏ sắt Nà Rụa, đồng chí thống nhất chủ trương bố trí tạm cư cho 31 hộ dân theo đề xuất; giao tổ công tác và các đơn vị liên quan rà soát, đề xuất phương án phù hợp, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh, bảo đảm ổn định đời sống người dân và tiến độ giải phóng mặt bằng dự án.

    Về cơ chế ưu tiên giải quyết thủ tục hành chính theo “Luồng xanh” trong lĩnh vực đầu tư, Chủ tịch UBND tỉnh thống nhất chủ trương triển khai; yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, xác định rõ tiêu chí lựa chọn dự án áp dụng “Luồng xanh”, bảo đảm đúng thẩm quyền, quy định, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý thủ tục đối với các dự án cần đẩy nhanh tiến độ.

    Đối với hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án thủy điện Thượng Hà, yêu cầu các cơ quan liên quan rà soát, thống nhất số liệu, hoàn thiện lại văn bản theo hướng ngắn gọn, rõ nội dung, bảo đảm chính xác, thống nhất giữa các cơ quan chuyên môn trước khi thực hiện các bước tiếp theo theo quy định.

    Kim Dung – Vĩnh Thuận

    Nguồn https://baomoi.com/xay-dung-co-che-uu-tien-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-theo-luong-xanh-trong-linh-vuc-dau-tu-c55980946.epi

  • Điện lực Quảng Ninh: Đẩy nhanh tiến độ các công trình sửa chữa lớn

    Điện lực Quảng Ninh hiện đang quản lý, vận hành hệ thống lưới điện tại địa bàn 5 xã, gồm: Quảng Ninh, Ninh Châu, Trường Ninh và một phần các xã: Cam Hồng, Trường Sơn, với số lượng là 33.604 khách hàng. Hệ thống tài sản lưới điện đơn vị được giao quản lý, vận hành, gồm: 248,7km đường dây trung thế cấp điện áp 22kV (trong đó tài sản ngành điện 214,58km, tài sản khách hàng 34,12km); 404,7km đường dây 0,4kV và 301 trạm biến áp (TBA) phân phối công cộng, chuyên dùng.

    Ông Nguyễn Mạnh Hiền, Trưởng Điện lực Quảng Ninh cho biết: “Sau thời gian dài vận hành, nhiều hạng mục của hệ thống lưới điện do đơn vị vận hành, quản lý như trụ bê tông ly tâm (BTLT) rạn nứt, xà lâu năm rỉ sét, sứ suy giảm cách điện, dây dẫn và một số thiết bị khác bị xuống cấp…, nên nguy cơ xảy ra sự cố về điện là rất cao.

    Đáng ngại hơn, một số TBA do đặt thấp nên khi có lũ lụt buộc phải thực hiện cắt điện khẩn cấp để bảo đảm an toàn. Bởi vậy, việc đầu tư, SCL là hết sức cần thiết nhằm góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, cải thiện chất lượng điện năng và từng bước hiện đại hóa lưới điện tại khu vực…”.

    Một công trình sửa chữa lớn được Điện lực Quảng Ninh thực hiện trong năm 2026 – Ảnh: V.M

    Với trách nhiệm được giao là bảo đảm vận hành an toàn, tin cậy, cấp điện ổn định cho các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, sản xuất kinh doanh trên địa bàn, nhiệm vụ đặt ra đối với Điện lực Quảng Ninh là không hề đơn giản, đặc biệt là trong bối cảnh ngày càng xuất hiện những đợt nắng nóng kéo dài, gay gắt, một số TBA tải tăng cao đột biến…

    Trong năm 2026, Điện lực Quảng Ninh được giao thực hiện 5 công trình SCL để nâng cấp hệ thống lưới điện trên địa bàn. Khối lượng công việc tương đối nhiều, triển khai thi công trong điều kiện thời tiết nắng nóng oi bức, song nhờ làm tốt công tác chuẩn bị từ khâu khảo sát hiện trường, phương án thi công cùng sự quyết tâm, phối hợp nhịp nhàng của các nhóm công tác, trong 6 tháng đầu năm, Điện lực Quảng Ninh đã hoàn thành sớm 3 công trình SCL để đưa vào vận hành, sử dụng.

    Cụ thể, đối với công trình SCL “Sửa chữa lưới điện trung thế khu vực trung tâm năm 2026”, đơn vị đã thực hiện sửa chữa, thay thế 46 cột BTLT cao 14m; 1 cột BTLT cao 16m; 2 cột BTLT cao 10m; thay thế gần 1,5km đường dây trung thế AC/XLPE-50 đã xuống cấp, bong tróc và thay thế 82 bộ xà các loại; lắp 30 chụp tròn để nâng cao khoảng cách pha đất; cải tạo, sửa chữa 23 TBA (trong đó nâng cao 4 TBA các khu vực thường xuyên xảy ra ngập lụt).

    Đối với công trình SCL “Sửa chữa lưới điện trung thế khu vực Tây Nam năm 2026”, đơn vị đã thực hiện các nhiệm vụ, gồm: Sửa chữa, thay thế 40 cột BTLT cao 14m, 2 cột BTLT cao 16m, 1 cột BTLT cao 12m; thay thế 21 bộ xà các loại; lắp 17 chụp tròn để nâng cao khoảng cách pha đất; cải tạo sửa chữa 19 TBA.

    Tại công trình SCL liên quan đến việc sửa chữa lưới điện hạ thế, Điện lực Quảng Ninh tiếp tục thực hiện thay thế, sửa chữa: 34 cột điện hạ thế cao 8,5m; thay thế dây dẫn hạ thế AV xuống cấp bị bong tróc sang dây hạ thế cáp vặn xoắn, với khối lượng hơn 5km đường dây cáp vặn xoắn ABC4x70; trên 1km đường dây cáp vặn xoắn ABC4x95 và các phụ kiện hạ thế.

    “Việc sớm hoàn thành và đưa vào vận hành, sử dụng 3/5 công trình SCL của năm 2026 đã góp phần giúp Điện lực Quảng Ninh cải tạo, nâng cao cơ lý đường dây, thay thế được nhiều vị trí cột nghiêng, rạn nứt có nguy cơ mất an toàn. Các công trình này còn giúp đơn vị thay thế được nhiều tuyến đường dây dẫn bị xuống cấp, bong tróc, bảo đảm cho quá trình vận hành được lâu dài, an toàn, tin cậy hơn. Nhiều TBA từ lâu được lắp đặt ở vị trí thấp, nằm trong vùng ngập lụt, nay đã được cải tạo nâng cao, góp phần bảo đảm an toàn, nâng cao độ tin cậy khi vận hành, cấp điện trong mùa mưa bão 2026 và những năm tiếp theo”, Trưởng Điện lực Quảng Ninh Nguyễn Mạnh Hiền cho biết thêm.

    Hiện tại, Điện lực Quảng Ninh đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thi công 2 công trình SCL và phấn đấu hoàn thành trước mùa mưa lũ năm 2026, gồm: “Sửa chữa lưới điện hạ thế-Điện lực Quảng Ninh năm 2026” và “Sửa chữa lưới điện trung thế và TBA khu vực Tây Nam-Điện lực Quảng Ninh năm 2026”, với giá trị dự toán hơn 2,3 tỉ đồng. Các công trình SCL này dự kiến sẽ góp phần sửa chữa, thay thế 43 cột BTLT cao 14m, 109 cột BTLT cao 8,5m; 50 bộ xà rỉ rét; lắp 5 chụp đầu cột tròn; sửa chữa 2 TBA (Cổ Hiền 1 và Hữu Tân 2); thay thế 80m cáp nhôm vặn xoắn ABC 4×70 và 146m cáp nhôm vặn xoắn ABC 4×50 cùng nhiều phụ kiện hạ thế đi kèm…

    Vinh Long

    Nguồn https://baomoi.com/dien-luc-quang-ninh-day-nhanh-tien-do-cac-cong-trinh-sua-chua-lon-c55980839.epi

  • Chủ đầu tư chậm bàn giao quỹ bảo trì chung cư có thể bị phạt đến 300 triệu đồng

    Theo Điều 59, Nghị định số 339/2026/NĐ-CP, chủ đầu tư có thể bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng đối với một số hành vi như không mở tài khoản thanh toán để quản lý kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư theo quy định; không hoặc chậm đề nghị UBND cấp xã tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu trong trường hợp không đủ điều kiện về số lượng người tham gia; không thông báo đầy đủ thông tin về tài khoản quản lý kinh phí bảo trì cho cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh.

    Mức phạt từ 80 đến 100 triệu đồng cũng được áp dụng đối với hành vi không lập hoặc lập kế hoạch bảo trì không đúng quy định; không thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo trì, quản lý vận hành, khai thác trong thời gian chưa bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật khu vực có nhà chung cư; không công khai hồ sơ theo quy định cho người mua, thuê mua căn hộ trước khi bàn giao.

    Đối với các vi phạm nghiêm trọng hơn, mức phạt được nâng lên 160 đến 200 triệu đồng. Các hành vi thuộc nhóm này gồm: Xác định kinh phí bảo trì phần sở hữu chung không đúng quy định; không ghi hoặc ghi không đúng thông tin tài khoản thanh toán kinh phí bảo trì trong hợp đồng; không đề nghị tổ chức tín dụng chuyển kinh phí và lãi phát sinh sang tài khoản quản lý kinh phí bảo trì do ban quản trị nhà chung cư lập.

    Đáng chú ý, hành vi bán, cho thuê chỗ để xe ô tô trong nhà chung cư không đúng quy định cũng bị phạt từ 160 đến 200 triệu đồng.

    Mức phạt từ 200 đến 260 triệu đồng được áp dụng đối với các hành vi như không bố trí hoặc bố trí không đủ diện tích nhà sinh hoạt cộng đồng, không tổ chức hội nghị nhà chung cư lần đầu; quản lý, sử dụng kinh phí quản lý vận hành không đúng quy định; không lập hoặc lập không đúng, không đầy đủ tài liệu quyết toán kinh phí bảo trì phần sở hữu chung.

    Đặc biệt, chủ đầu tư có thể bị phạt từ 260 đến 300 triệu đồng nếu không bàn giao, bàn giao chậm, bàn giao không đầy đủ kinh phí bảo trì và tiền lãi gửi từ khoản kinh phí này cho ban quản trị nhà chung cư.

    Chủ đầu tư cũng bị phạt từ 260 đến 300 triệu đồng nếu không đóng hoặc đóng không đầy đủ kinh phí bảo trì đối với phần diện tích thuộc sở hữu của mình đang giữ lại, chưa bán hoặc chưa cho thuê mua tính đến thời điểm bàn giao nhà chung cư vào sử dụng; không bàn giao hoặc bàn giao không đầy đủ, không đúng thời hạn hồ sơ nhà chung cư cho ban quản trị; quản lý, sử dụng kinh phí bảo trì không đúng quy định.

    Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26-8-2026.

    Bảo Minh

    Nguồn https://baomoi.com/chu-dau-tu-cham-ban-giao-quy-bao-tri-chung-cu-co-the-bi-phat-den-300-trieu-dong-c55981018.epi

  • Để người dân được phục vụ tốt hơn

    Yêu cầu cao, áp lực lớn

    Thượng tá Trần Nam Trung, Trưởng Công an phường Nam Đông Hà cho biết, TTHC được đưa lên mạng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân không phải mất thời gian đến cơ quan nhà nước. Nhưng thực tế, sau hơn 1 năm vận hành mô hình mới tại Công an phường Nam Đông Hà, hơn 50% người dân vẫn phải đến trụ sở để được cán bộ hướng dẫn làm thủ tục trên môi trường trực tuyến. Không phải ai cũng quen sử dụng cổng dịch vụ công. Có người có điện thoại thông minh nhưng không biết bắt đầu từ đâu; có người gặp vướng ở từng bước kê khai, xác thực, tải hồ sơ, vậy là cán bộ công an phải hướng dẫn từng thao tác trên cổng dịch vụ công cho đến khi hoàn thiện hồ sơ, xác thực thông tin.

    Chuyện tưởng nhỏ, nhưng nhìn rộng ra lại không nhỏ. Mục tiêu của chuyển đổi số là giảm tiếp xúc trực tiếp, giảm thời gian và chi phí cho người dân, đồng thời giảm áp lực xử lý thủ tục cho cơ quan nhà nước. Nhưng khi một bộ phận lớn người dân chưa thể tự đi hết quy trình số, cán bộ cơ sở lại phải nhận thêm một phần việc khác lẽ ra có thể được người dân tự làm ở nhà.

    Công an phường Nam Đông Hà hướng dẫn người dân cài đặt định danh điện tử – Ảnh: H.T

    Trong lúc ấy, từ ngày 1/4/2025, khi Công an cấp huyện không còn, Công an cấp xã tiếp nhận thêm nhiều nhiệm vụ, việc giải quyết TTHC trên hệ thống cổng dịch vụ công trực tuyến vẫn còn những vướng mắc. Công an cấp xã là cơ quan thường trực Đề án 06 ở cơ sở, phối hợp làm sạch dữ liệu định danh điện tử, cung cấp, kết nối dữ liệu đất đai, y tế, an sinh xã hội, quân sự và nhiều lĩnh vực khác…, đồng thời chịu trách nhiệm xác minh, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác hơn.

    “Từ ngày 1/4/2025 đến nay, Công an phường Nam Đông Hà đã xử lý hơn 9.000 văn bản. Trong cùng khoảng thời gian, cán bộ vẫn phải thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, tiếp dân, hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, quản lý cư trú, dữ liệu dân cư và bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn. Khối lượng và yêu cầu về tiến độ thực hiện nhiệm vụ đối với công an cấp xã hiện nay rất lớn”, thượng tá Trần Nam Trung chia sẻ.

    Ở xã Hiếu Giang, sau sắp xếp, địa bàn rộng, nằm ở nơi giao nhau của nhiều tuyến giao thông huyết mạch Bắc-Nam và Đông-Tây: Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 9, đường Xuyên Á, các tuyến đường tỉnh, đường huyện… Nơi đây không chỉ rộng về không gian quản lý, mà còn có sự dịch chuyển dân cư, phương tiện, hàng hóa và nhiều yếu tố liên quan trực tiếp đến an ninh, trật tự. Công việc của cán bộ phụ trách địa bàn có những chuyến đi dài hơn, nhiều khu dân cư phải nắm chắc hơn, nhiều thông tin phải cập nhật hơn.

    Trong khi đó, những nhiệm vụ hành chính, dữ liệu và Đề án 06 vẫn chạy song song. Trung tá Hoàng Bá Ngọc, Tổ trưởng Tổ phòng, chống tội phạm Công an xã Hiếu Giang cho hay, địa bàn rộng, lực lượng công an mỏng, nên công tác nắm, quản lý địa bàn, phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm chịu nhiều áp lực.

    Cơ sở phải đủ sức đảm đương nhiệm vụ

    Chuyển việc về cơ sở, xét cho cùng, là đưa nơi giải quyết công việc đến gần người dân hơn. Nhưng gần về địa lý chỉ là điều kiện đầu tiên. Để người dân thực sự được phục vụ tốt hơn, cơ sở phải có đủ người, đủ năng lực và đủ công cụ để giải quyết công việc. Cùng với năng lực của bộ máy, kỹ năng số và khả năng tiếp cận dịch vụ số của người dân cũng là yếu tố quan trọng để các dịch vụ công trực tuyến phát huy hiệu quả.

    Chủ tịch UBND xã Cam Lộ Nguyễn Văn Ân cho biết, những nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện được đưa về cấp xã, nhưng nhân lực cấp xã chưa tăng tương ứng, có công chức phải đảm nhận nhiều phần việc trước đây được phân công cho nhiều phòng, ban chuyên môn cấp huyện, nên áp lực là có thật. Khi nhiều nhiệm vụ cùng chuyển xuống, cộng với yêu cầu về tiến độ, hồ sơ, dữ liệu, trách nhiệm giải trình…, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng ngày càng cao.

    Chính quyền địa phương 2 cấp đang vận hành theo hướng giảm tầng nấc trung gian. Việc từ huyện xuống xã là một bước trong quá trình ấy. “Nếu “Bình dân học vụ số” được thực hiện hiệu quả, sẽ giúp người dân tự giải quyết được nhiều TTHC hơn, hệ thống số sẽ phát huy giá trị đầy đủ hơn. Khi người dân biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, cán bộ bớt một phần việc hướng dẫn; người dân cũng bớt đi lại, chờ đợi và phụ thuộc vào sự hỗ trợ trực tiếp của cán bộ. Đó là một mắt xích quan trọng để công việc khi được đưa về cơ sở sẽ phát huy hiệu quả”, ông Nguyễn Văn Ân kỳ vọng.

    Tinh gọn bộ máy, đưa việc về cơ sở chỉ thực sự có ý nghĩa khi năng lực, chất lượng giải quyết công việc để phục vụ người dân cũng được nâng lên tương ứng.

    Thanh Hải

    Nguồn https://baomoi.com/de-nguoi-dan-duoc-phuc-vu-tot-hon-c55980840.epi

  • Phát triển nhà ở xã hội: Đẩy nhanh tiến độ, tăng nguồn cung

    Khu nhà ở xã hội Kim Chung (xã Thiên Lộc). Ảnh: Phạm Hùng

    Nguồn cung được bổ sung

    Theo số liệu báo cáo từ Bộ Xây dựng, đến hết tháng 7-2026, cả nước có 875 dự án nhà ở xã hội đang được triển khai với quy mô 773.457 căn, cùng tổng mức đầu tư khoảng 637.019 tỷ đồng. Trong đó, 289 dự án đã hoàn thành, quy mô 197.805 căn; 270 dự án đã khởi công xây dựng, đang triển khai với quy mô 269.409 căn; 316 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư, quy mô 305.243 căn.

    So với giai đoạn trước, nguồn cung không chỉ tập trung vào các dự án đã hoàn thành mà đang hình thành lượng lớn sản phẩm trong tương lai, tạo dư địa để thị trường tiếp tục bổ sung nhà ở phù hợp khả năng chi trả của người lao động. Đáng chú ý, số lượng dự án đã hoàn thành, khởi công và được chấp thuận chủ trương đầu tư đến nay đạt 77% chỉ tiêu đặt ra tại Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”.

    Kết quả thực hiện trong quý II-2026 tiếp tục ghi nhận những tín hiệu tích cực. Trong quý, cả nước có 62 dự án nhà ở xã hội được khởi công, quy mô 65.065 căn. Tính lũy kế đến nay, tổng số dự án đã khởi công đạt 270 dự án, quy mô 269.409 căn…

    Theo đánh giá của các chuyên gia, với tiến độ hiện nay, khả năng các tỉnh, thành phố hoàn thành đạt khoảng 89.178 căn trên tổng số 158.723 căn, tương đương 56% chỉ tiêu được giao. Kết quả này cho thấy mục tiêu phát triển nhà ở xã hội đang được các địa phương cụ thể hóa bằng những dự án thực tế thay vì chỉ dừng ở khâu chuẩn bị. Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) Hoàng Thu Hằng cho hay: “Tiến độ thực hiện giữa các địa phương đang có sự chuyển biến rõ rệt. Có 14 địa phương có khả năng hoàn thành và vượt chỉ tiêu được giao, trong đó đã hoàn thành trên 90% chỉ tiêu. Bên cạnh đó, 27 địa phương đã khởi công đủ và vượt chỉ tiêu được giao trong năm 2026”.

    Trong số 14 tỉnh, thành phố có khả năng hoàn thành và vượt chỉ tiêu được giao, Hà Nội là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về các thông số này. Cụ thể, đến cuối tháng 7-2026, trên địa bàn thành phố đã có 116 dự án nhà ở, tổng diện tích đất khoảng 4.005.731m2 với 101.295 căn hộ được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư (2 khu đất thí điểm xây dựng nhà ở xã hội tập trung, 114 vị trí ô đất thuộc quỹ đất 20% hoặc 25% đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 10ha trở lên).

    Căn cứ theo Nghị quyết số 07/2026/NQ-CP về chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026-2030, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Thủ đô Hà Nội phải hoàn thành thêm 84.000 căn hộ, riêng năm 2026 cần phát triển 18.700 căn, gấp 3,6 lần số lượng mà thành phố hoàn thành năm ngoái. Tuy nhiên, căn cứ tình hình thực tế, thành phố phấn đấu đưa khoảng 25.000-27.000 căn hộ đủ điều kiện cung ứng ra thị trường; đồng thời cũng đặt mục tiêu khởi công toàn bộ 114 dự án trong năm 2026…

    Tiếp tục tháo gỡ khó khăn

    Nhà ở xã hội không chỉ có ý nghĩa giải quyết nhu cầu chỗ ở cho người thu nhập thấp tại đô thị, mà còn là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp, công nhân tại các khu công nghiệp. Khi các dự án được triển khai đồng bộ với hạ tầng giao thông, trường học, y tế và dịch vụ thiết yếu, người lao động sẽ có thêm lựa chọn ổn định chỗ ở, giảm áp lực về chi phí thuê nhà và thời gian di chuyển.

    Theo Phó Chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam Trần Văn Bình, kết quả triển khai Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030” đến năm 2026 là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, để nguồn cung thực sự đến được đúng đối tượng, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng số lượng dự án mà các địa phương cần tiếp tục rà soát nhu cầu nhà ở, bố trí quỹ đất phù hợp, đồng thời đẩy nhanh thủ tục đầu tư, xây dựng và xác định giá. Đặc biệt, những khu vực tập trung đông công nhân, người lao động, các đô thị có tốc độ gia tăng dân số nhanh cần được ưu tiên phát triển nhà ở xã hội gắn với quy hoạch đô thị và hạ tầng.

    Để hoàn thành chỉ tiêu xây dựng nhà ở xã hội, các chuyên gia cho rằng, các địa phương cần chủ động hơn trong tạo lập quỹ đất, rà soát những khu vực có nhu cầu cao, đồng thời tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đầu tư, xây dựng. Cùng với đó, cần lựa chọn những chủ đầu tư có năng lực tài chính, kinh nghiệm để bảo đảm tiến độ dự án; tháo gỡ điểm nghẽn về vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn tín dụng phù hợp, đồng thời hỗ trợ người thu nhập thấp, công nhân có khả năng vay mua, thuê mua nhà. Đặc biệt, cơ cấu sản phẩm cần được tính toán hợp lý giữa nhà ở để bán và cho thuê. Với công nhân, người lao động có thu nhập chưa cao, khả năng tích lũy hạn chế, nhà ở cho thuê là nhu cầu thiết thực. Vì vậy, phát triển nhà ở xã hội cần đa dạng sản phẩm gắn với nhu cầu thực tế, góp phần bảo đảm mục tiêu an sinh, giúp người lao động ổn định cuộc sống…

    Doãn Thành

    Nguồn https://baomoi.com/phat-trien-nha-o-xa-hoi-day-nhanh-tien-do-tang-nguon-cung-c55981037.epi

  • TP. Đồng Nai bứt phá từ những đại công trình giao thông trọng điểm

    Hình thành “trái tim trung chuyển” của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

    TP. Đồng Nai là địa phương sở hữu đầy đủ 5 loại hình giao thông. Ảnh: Văn Dũng

    Là một trong số ít địa phương sở hữu đầy đủ 5 loại hình giao thông, TP. Đồng Nai có lợi thế đặc biệt trong kết nối liên vùng và quốc tế. Những năm qua, hệ thống hạ tầng giao thông trên địa bàn được đầu tư mạnh mẽ, từng bước hình thành mạng lưới đồng bộ, hiện đại, kết nối các trung tâm kinh tế, đô thị, công nghiệp, logistics lớn của khu vực.

    Điểm nhấn quan trọng nhất là Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Theo kế hoạch, giai đoạn 1 của dự án dự kiến được đưa vào khai thác cuối năm 2026. Cùng với đó, nhiều tuyến cao tốc, đường vành đai cũng đang được đẩy nhanh tiến độ, tạo nên hệ thống kết nối đa hướng giữa Đồng Nai với TP. Hồ Chí Minh và các địa phương trong vùng.

    Giữa tháng 5/2026, sau khoảng 3 năm triển khai xây dựng, tuyến chính cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đã được đưa vào khai thác. Công trình không chỉ tăng năng lực kết nối giữa TP. Hồ Chí Minh với Đồng Nai mà còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành trục giao thông đường bộ từ sân bay Long Thành đến cụm cảng Cái Mép – Thị Vải – những động lực tăng trưởng lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

    Cùng với cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, các dự án Dầu Giây – Liên Khương, Phan Thiết – Dầu Giây, Vành đai 3 và Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh đang từng bước tạo nên mạng lưới giao thông liên hoàn.

    Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đưa vào khai thác toàn tuyến sau 3 năm xây dựng. Ảnh: Văn Dũng

    Theo Phó Bí thư Thành ủy Đồng Nai Võ Tấn Đức, việc đồng loạt triển khai Sân bay Long Thành cùng các tuyến cao tốc, đường vành đai đã đặt Đồng Nai vào vị trí “trái tim trung chuyển” của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

    Một bước tiến mới trong phát triển hạ tầng giao thông của Đồng Nai là việc thúc đẩy các tuyến đường sắt và đường sắt đô thị.

    Ngày 27/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 255/NQ-CP về xây dựng công trình cấp bách đối với Dự án kéo dài tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên đến trung tâm hành chính TP. Đồng Nai và sân bay Long Thành. Đây không chỉ là cơ sở quan trọng để đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án mà còn đánh dấu bước chuyển trong phát triển hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược thế hệ mới.

    Metro được kỳ vọng trở thành một trong những “xương sống” của hệ thống giao thông đô thị hiện đại, góp phần tái cấu trúc không gian đô thị, giảm áp lực cho giao thông đường bộ và tạo động lực hình thành các khu đô thị, thương mại, dịch vụ mới dọc hành lang giao thông công cộng.

    Song song với dự án kéo dài tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên, Đồng Nai đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành. Khi các công trình này hình thành, mạng lưới giao thông quanh sân bay Long Thành sẽ được kết nối bằng nhiều phương thức, gia tăng đáng kể khả năng trung chuyển hành khách, hàng hóa giữa sân bay với TP. Hồ Chí Minh và toàn vùng.

    Từ kết nối giao thông đến tái cấu trúc không gian phát triển

    Theo kế hoạch, giai đoạn 1 của dự án sân bay Long Thành dự kiến được đưa vào khai thác cuối năm 2026. Ảnh: Văn Dung

    Trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai được xác định là những đô thị động lực, có vai trò dẫn dắt tăng trưởng. Vì vậy, phát triển hệ thống giao thông kết nối giữa hai địa phương không đơn thuần nhằm giải quyết nhu cầu đi lại mà còn mở ra những hành lang kinh tế và không gian phát triển mới.

    Các chuyên gia nhận định, tốc độ triển khai các dự án giao thông kết nối TP. Hồ Chí Minh với Đồng Nai thời gian gần đây đã được cải thiện đáng kể. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho tư duy phát triển vùng trong giai đoạn mới.

    Điểm đáng chú ý là các dự án giao thông không còn được nhìn nhận như những công trình hạ tầng riêng lẻ của từng địa phương, mà được đặt trong tổng thể liên kết vùng, trên tinh thần cùng quy hoạch, cùng đầu tư, cùng phát triển và cùng hưởng lợi.

    Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa khi sân bay Long Thành đi vào khai thác. Với hệ thống cao tốc, vành đai, đường sắt và metro kết nối trực tiếp, khu vực sân bay có điều kiện trở thành hạt nhân của một hệ sinh thái kinh tế mới gồm logistics, công nghiệp công nghệ cao, thương mại, dịch vụ, đô thị và các ngành kinh tế gắn với hàng không.

    Nút giao Long Thành kết nối giữa cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây với cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu. Ảnh: Văn Dũng

    Đẩy nhanh các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tăng cường kết nối vùng và hình thành các hành lang phát triển cũng là bước cụ thể hóa một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Chính trị đặt ra tại Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 về xây dựng và phát triển TP. Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065.

    Theo đó, Đồng Nai được định hướng ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược thế hệ mới; xây dựng hệ thống giao thông liên thông giữa các vùng động lực và hành lang phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại, giữ vai trò trục xương sống trong tổ chức không gian phát triển.

    Đáng chú ý, định hướng này đặt trọng tâm vào đầu tư các trục giao thông động lực, hình thành chuỗi logistics và hệ thống hạ tầng hiện đại kết nối Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ – Cảng Cái Mép Hạ – sân bay Long Thành.

    Khi chuỗi kết nối chiến lược này được hoàn thiện, lợi thế của Đồng Nai sẽ không chỉ nằm ở một sân bay quốc tế hay một vài tuyến cao tốc riêng lẻ, mà ở khả năng kết nối đồng bộ giữa hàng không – đường bộ – đường sắt – đường thủy – cảng biển.

    Đó cũng là nền tảng để chuyển lợi thế vị trí địa lý thành động lực tăng trưởng thực chất, đưa Đồng Nai từ một địa bàn trung chuyển trở thành trung tâm logistics, dịch vụ, công nghiệp và đô thị có sức cạnh tranh cao; đồng thời góp phần định hình không gian phát triển mới của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong những thập niên tới.

    Văn Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/tp-dong-nai-but-pha-tu-nhung-dai-cong-trinh-giao-thong-trong-diem-c55980722.epi

  • Nghiên cứu phương án khắc phục ô nhiễm một số con sông Đồng bằng sông Hồng

    Thu gom, xử lý các nguồn thải gây ô nhiễm nước mặt

    Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp, thời gian qua, Bộ đã chủ trì, phối hợp xây dựng dự thảo hồ sơ đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ – Đáy, Ngũ Huyện Khê.

    Dự thảo đề án xác định 3 mục tiêu cụ thể. Thứ nhất, phấn đấu đến 2035 điều hòa, phân phối, phục hồi, phát triển nguồn nước mặt với các giải pháp ưu tiên tự chảy từ sông Hồng vào Bắc Hưng Hải với lưu lượng đến 120m³/s, từ sông Đuống vào Ngũ Huyện Khê với lưu lượng đến 28m³/s, từ sông Đà vào Nhuệ – Đáy với lưu lượng đến 200m³/s. Việc này nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các sông; nâng cao năng lực lấy nước, tiêu úng, giảm thiểu ngập lụt; tiết kiệm tối đa năng lượng và chi phí vận hành.

    Thứ hai, quản lý, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ – Đáy, Ngũ Huyện Khê; triển khai đồng bộ các giải pháp thu gom, xử lý nước thải theo quy định trước khi xả thải vào nguồn nước, qua đó cải thiện chất lượng nước mặt, phục hồi các hệ sinh thái và phát triển cảnh quan ven sông.

    Đến 2035, phấn đấu 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn có hạ tầng thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; 70% nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý; trên 45% nước thải sinh hoạt nông thôn được xử lý bằng các biện pháp tập trung hoặc phân tán phù hợp.

    Thứ ba, thí điểm áp dụng các cơ chế, chính sách để huy động tối đa nguồn lực xã hội, đặc biệt là sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân trong triển khai các giải pháp cải tạo, phục hồi nguồn nước, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.

    Theo Bộ NN&MT, các giải pháp phục hồi nguồn nước được đề xuất mang tính chiến lược, có tính chất thay đổi trạng thái, giải quyết tổng thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước trên toàn lưu vực, bảo đảm bền vững.

    Trên cơ sở đó, dự thảo kế hoạch đề xuất một số nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần triển khai. Theo đó, mục tiêu là thu gom, xử lý các nguồn thải gây ô nhiễm nước mặt nhằm từng bước giảm thiểu tải lượng các chất ô nhiễm đổ vào hệ thống sông, cải thiện chất lượng nguồn nước, phục hồi và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.

    Bên cạnh đó, điều hòa, phân phối nguồn nước nhằm duy trì dòng chảy thường xuyên, liên tục cho các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ – Đáy, Ngũ Huyện Khê. Dự thảo đề án cũng đặt nhiệm vụ đầu tư, nâng cấp, hiện đại hóa 51 điểm quan trắc, giám sát nguồn nước hiện có; bổ sung đầu tư xây dựng mới 8 điểm quan trắc, giám sát nguồn nước; tái cấu trúc không gian phát triển, kết hợp tiêu thoát nước, giảm ngập úng, tạo cảnh quan đô thị, hành lang xanh, không gian công cộng, phát triển kinh tế ven sông, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

    Tại cuộc họp, đại diện Bộ Xây dựng đồng tình với sự cần thiết xây dựng đề án; nhấn mạnh tình trạng ô nhiễm tại ba dòng sông, nguồn nước này đã kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, hoạt động sản xuất, chất lượng phát triển đô thị. Các địa phương liên quan như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình đều có các đô thị lớn, nền tình trạng ô nhiễm các dòng sông tác động đáng kể đến vấn đề môi trường và quá trình phát triển đô thị.

    Bộ NN&MT cần làm rõ 3 vấn đề lớn

    Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, nguồn nước lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình nói chung và các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ – Đáy, Ngũ Huyện Khê nói riêng có vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh nguồn nước, phục vụ sinh hoạt, sản xuất; đồng thời là nhân tố quyết định sức tải về môi trường, không gian phát triển của toàn vùng Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội.

    Dưới tác động của biến đổi khí hậu, áp lực phát triển kinh tế và công tác quản lý, các hệ thống sông này đã vượt ngưỡng chịu tải, đứng trước nguy cơ lớn về môi trường và không còn khả năng tự làm sạch. Thực tế này đòi hỏi phải có một kế hoạch phục hồi mang tính tổng thể.

    Một đoạn sông Nhuệ trong tình trạng ô nhiễm. (Ảnh: Vĩnh Hoàng)

    Phó Thủ tướng lưu ý đây là dự án có phạm vi rất rộng, liên quan 5 tỉnh, thành, cần có cơ chế điều phối, phối hợp đồng bộ giữa các địa phương, đồng thời phân công nhiệm vụ rõ ràng, xác định cụ thể địa phương nào thực hiện nhiệm vụ nào. Bộ NN&MT cần duy trì cơ chế phối hợp, điều phối định kỳ, tổ chức giao ban.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&MT trong quá trình xây dựng dự án làm rõ 3 vấn đề lớn. Thứ nhất, phải xây dựng danh mục công trình theo thứ tự ưu tiên, xác định rõ những công trình cần triển khai trước để tạo hiệu quả, đồng thời bảo đảm tính khả thi trong từng giai đoạn.

    Thứ hai, phải xác định cụ thể nguồn lực thực hiện, trong đó làm rõ Nhà nước đầu tư bao nhiêu, xã hội hóa bao nhiêu, nguồn vốn xã hội hóa được huy động ở đâu và theo hình thức nào. Các địa phương phải chủ động xác định khả năng cân đối nguồn lực và phương án triển khai phù hợp.

    Thứ ba, phải làm rõ cơ chế vận hành khi các công trình hoàn thành, bảo đảm sự đồng bộ trong quá trình khai thác. Hệ thống thu gom và xử lý nước thải phải được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

    Với các công trình điều tiết nước, cần bảo đảm tính khả thi, gắn với việc khơi thông dòng chảy và tạo lập cảnh quan. Hệ thống quan trắc phải được đầu tư hiện đại, đồng bộ, ứng dụng công nghệ; đồng thời cần rút kinh nghiệm từ quá trình triển khai thời gian qua để bảo đảm hiệu quả đầu tư…

    Với các địa phương, Phó Thủ tướng đề nghị tập trung rà soát, đánh giá kỹ các quy hoạch có liên quan đến hệ thống các sông, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các địa phương. Đây là một hệ thống liên kết, vì vậy không thể để quy hoạch, phương án triển khai của địa phương này khác với địa phương khác, dẫn đến xung đột hoặc chồng chéo.

    Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&MT hoàn thiện hồ sơ để trình Thủ tướng phê duyệt; sau đó giao Bộ NN&MT chủ trì tổ chức triển khai.

    Một nội dung được Phó Thủ tướng đặc biệt lưu ý là quản lý, khai thác hiệu quả quỹ đất hình thành sau quá trình phục hồi các dòng sông. Theo báo cáo tại cuộc họp, khu vực này có khoảng 2.100ha đất. Đây là nguồn lực rất lớn nếu được quản lý, quy hoạch và khai thác hiệu quả.

    Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải đồng thời quản lý chặt chẽ, quy hoạch và khai thác hiệu quả quỹ đất, tránh tình trạng lấn chiếm hoặc sử dụng không hiệu quả, qua đó bổ sung nguồn lực cho quá trình phục hồi các dòng sông.

    Cùng với việc cải tạo nguồn nước, các địa phương cần có quy hoạch để cải tạo cảnh quan, tổ chức lại không gian phát triển dọc các dòng sông. Trong đó, chú trọng cảnh quan đô thị, hành lang cây xanh, không gian công cộng, phát triển kinh tế ven sông và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Phó Thủ tướng nhấn mạnh, mục tiêu của dự án không chỉ là phục hồi nguồn nước mà phải tạo ra một không gian phát triển mới, một diện mạo mới cho các đô thị ven sông.

    Gia Hải

    Nguồn https://baomoi.com/nghien-cuu-phuong-an-khac-phuc-o-nhiem-mot-so-con-song-dong-bang-song-hong-c55980756.epi

  • Quảng Trị tìm giải pháp căn cơ xóa vùng ‘trắng’ nước sạch nông thôn

    Công trình nước tự chảy xuống cấp

    Xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị hiện có 5 công trình nước tự chảy. Tuy nhiên, sau khoảng 20 năm vận hành, các công trình đã xuống cấp rõ rệt. Dưới tác động của thời gian, thiên tai và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, nhiều công trình không còn phát huy hiệu quả như trước.

    Theo UBND xã Nam Ba Đồn, địa phương hiện có khoảng 500 hộ dân thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Phần lớn các hộ nằm ở khu vực cao, trong khi hệ thống cấp nước hiện có không đủ khả năng đưa nước đến các khu vực này.

    Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Khánh, Chủ tịch UBND xã Nam Ba Đồn, cho biết: “Trước thực trạng trên, chúng tôi đã kiến nghị UBND tỉnh đầu tư, hỗ trợ kinh phí để nâng cấp các bể chứa nước tại các khe suối, qua đó đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân”.

    Tại xã miền núi Tân Thành, tỉnh Quảng Trị, tình trạng thiếu nước sinh hoạt cũng đang diễn ra. Ông Đinh Thanh Quỳnh, Trưởng phòng Kinh tế UBND xã Tân Thành, cho biết địa phương hiện có 4 công trình nước tự chảy. Tuy nhiên, một số công trình đã xuống cấp, trong khi có công trình dù mới được xây dựng nhưng nguồn nước không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân.

    Do thiếu nước đầu nguồn nên công trình nước sạch tự chảy ở thôn Hóa Thanh, xã Tân Thành vẫn hoạt động không hiệu quả.

    Tại công trình cấp nước Khe Giàn phục vụ 136 hộ dân được xây dựng từ lâu, chưa được tu sửa, nâng cấp nên hoạt động không hiệu quả. Bể thu nước bị bồi lắng, nước yếu, không đáp ứng nhu cầu. Người dân thường xuyên tổ chức nạo vét nhưng tình hình không được cải thiện đáng kể.

    Hay công trình cấp nước thôn Hóa Thanh mới được xây dựng năm 2024, với tổng mức đầu tư 4 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021- 2025 cũng rơi vào tình trạng tương tự.

    Bà Cao Thị Kiều, Trưởng thôn Hóa Thanh chia sẻ với PV, trong thôn có 237 hộ sử dụng nguồn nước từ công trình nước tự chảy tập trung, nhưng trên thực tế nguồn nước chỉ đến được khoảng 100 hộ. Đặc biệt là những hộ ở vị trí cao hầu như không được hưởng lợi từ công trình nước này.

    So với những xã trên, tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở xã Dân Hóa còn cấp bách hơn do địa hình vùng núi cao. Theo thống kê của UBND xã, Dân Hóa hiện có 24 công trình nước tự chảy. Trong đó, 4 công trình hoạt động không ổn định do thiếu nước vào mùa hè, 11 công trình bị hư hỏng do thiên tai.

    Trước sự tác động của thời gian, thiên tai và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, các công trình nước cũng đã không còn phát huy hiệu quả.

    Những con số trên cho thấy các công trình nước tự chảy ở miền núi Quảng Trị phụ thuộc lớn vào nguồn nước khe, suối. Khi nguồn nước tự nhiên suy giảm, công suất cấp nước cũng giảm, thậm chí nhiều công trình không còn nước để vận hành.

    Tình trạng thiếu nước sạch kéo dài ảnh hưởng đáng kể đến đời sống người dân, trong khi nguồn lực địa phương còn hạn chế. Trước mắt, chính quyền các xã triển khai nhiều giải pháp như sửa chữa công trình hư hỏng, tìm nguồn nước mới, khoan giếng. Về lâu dài, các địa phương mong muốn được hỗ trợ đầu tư hệ thống cấp nước sạch ổn định, bền vững.

    Các bể chứa nước cạn trơ đáy.

    Tại Dân Hóa, hiện có 11 công trình nước tự chảy hư hỏng do thiên tai, không còn hoạt động. Tuy nhiên, nguồn lực cấp xã khó đáp ứng yêu cầu đầu tư. UBND xã Dân Hóa đã kiến nghị Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí sửa chữa, nâng cấp các công trình nước.

    Địa phương cũng đề xuất đầu tư dự án nước Dân Hóa phục vụ khu vực trung tâm xã và vùng phụ cận. Dự án gồm công trình thu nước, bể chứa, bể xử lý nước đạt quy chuẩn và hệ thống đường ống truyền tải, phân phối đến các khu dân cư.

    Lộ trình chuyển dịch và giải pháp dài hơi

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tỉnh Quảng Trị, kết quả Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá nước sạch nông thôn năm 2025 cho thấy, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn trên địa bàn tỉnh mới đạt khoảng 64,3%.

    Trong đó, 40,4% hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung, 23,9% sử dụng từ công trình cấp nước quy mô hộ gia đình. Đáng chú ý,  35,7% hộ dân vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước sạch đạt quy chuẩn.

    Có tới 35,7% hộ dân ở nông thôn vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước sạch đạt quy chuẩn.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, Sở NN&MT tỉnh Quảng Trị đã tham mưu UBND tỉnh tổng hợp danh mục các dự án ưu tiên đầu tư trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, đồng thời đề xuất huy động nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi và các nguồn vốn hợp pháp khác, khoảng 2,520 tỷ đồng để triển khai.

    Nguồn lực được ưu tiên cho các địa phương chưa có công trình cấp nước tập trung hoặc có tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch còn thấp, các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực thường xuyên thiếu nước sinh hoạt.

    Theo lộ trình, giai đoạn 2026-2027 sẽ hoàn thành Đề án phát triển cấp nước sạch tỉnh Quảng Trị, cập nhật hiện trạng và ưu tiên sửa chữa các công trình xuống cấp, đầu tư cấp bách tại những khu vực thiếu nước sinh hoạt.

    Giai đoạn 2027-2029, tỉnh sẽ triển khai các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn, các dự án ODA và các nguồn vốn hợp pháp khác, đồng thời mở rộng hệ thống cấp nước liên xã, liên vùng nhằm nâng tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn theo mục tiêu đề ra.

    Từ năm 2030, Quảng Trị đặt mục tiêu tiếp tục hoàn thiện hệ thống cấp nước sạch nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cho biết: “Trước mắt, ưu tiên huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có, đề nghị các địa phương chủ động bố trí kinh phí từ nguồn chi thường xuyên, nguồn thu của đơn vị quản lý (nếu có) và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa công trình;

    Đồng thời rà soát, tổng hợp nhu cầu sửa chữa lớn, nâng cấp các công trình xuống cấp để tham mưu UBND tỉnh ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư công và huy động các nguồn lực hợp pháp khác triển khai thực hiện”.

    Ngô Thị Huyền

    Nguồn https://baomoi.com/quang-tri-tim-giai-phap-can-co-xoa-vung-trang-nuoc-sach-nong-thon-c55980761.epi

  • Nghiên cứu cơ chế, chính sách áp dụng chung cho các tuyến cao tốc

    Theo đó, xét báo cáo của Bộ Xây dựng (Văn bản số 13488/BXD-KHTC ngày 24-8-2026) về việc trình cơ chế, chính sách áp dụng chung cho các tuyến cao tốc giai đoạn 2026-2030, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu Bộ Xây dựng tiếp thu ý kiến Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan, nghiên cứu kỹ lưỡng quy định pháp luật hiện hành về ngân sách nhà nước, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), xây dựng, đấu thầu, quy hoạch, khoáng sản, đất đai… để xác định cụ thể khó khăn, vướng mắc (nếu có).

    Trường hợp cần thiết áp dụng rộng rãi các cơ chế, chính sách đặc thù đã được cấp có thẩm quyền cho phép tại các dự án cụ thể, Bộ Xây dựng cần tổng kết, đánh giá tác động đầy đủ và thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong việc ban hành chính sách, bảo đảm tính đồng bộ và công bằng trong thi hành pháp luật, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để đẩy nhanh tiến độ triển khai các tuyến đường bộ cao tốc nói riêng và các công trình trọng điểm quốc gia nói chung.

    Trong báo cáo gửi Chính phủ ngày 24-8-2026, Bộ Xây dựng cho biết, nhiều cơ chế, chính sách đặc biệt đã được Quốc hội cho phép áp dụng lặp lại tại các dự án có tính chất tương đồng. Việc từng dự án phải trình Quốc hội ban hành một nghị quyết riêng để áp dụng các cơ chế, chính sách cơ bản giống nhau làm kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư, có thể dẫn đến cách xử lý không thống nhất giữa các dự án tương đồng.

    Để đẩy nhanh tiến độ triển khai, huy động nguồn lực và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền các dự án đường bộ cao tốc, Bộ Xây dựng kiến nghị Chính phủ có ý kiến thống nhất áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc biệt của dự án đường Vành đai 5 để áp dụng chung cho các dự án đường bộ cao tốc triển khai đầu tư công trong giai đoạn 2026-2030.

    Việc nghiên cứu cơ chế áp dụng chung được đặt trong yêu cầu vừa tháo gỡ điểm nghẽn, vừa bảo đảm cơ sở pháp lý, tính thống nhất và công bằng giữa các dự án cao tốc.

    Phương Nguyên

    Nguồn https://baomoi.com/nghien-cuu-co-che-chinh-sach-ap-dung-chung-cho-cac-tuyen-cao-toc-c55981195.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!