Author: bachdn

  • Cổng làng sau sáp nhập: giữ lại hay dỡ bỏ?

    Sau những đợt sáp nhập địa giới hành chính, nhiều cổng làng vẫn đang mang tên gọi cũ.

    Hiện nay, trên nhiều vùng quê ở Hà Tĩnh vẫn đang tồn tại những chiếc cổng làng, cổng thôn có tên gọi cũ – lệch với tên hành chính mới. Sự thiếu đồng nhất giữa tên gọi hiển thị tại cổng thôn và tên hành chính mới đang khiến không ít người dân băn khoăn.

    Bà Phan Thị Lương (thôn Bắc Thắng, xã Thạch Lạc) chia sẻ: “Trước đây, thôn Yên Lạc được sáp nhập từ thôn Hòa Yên và Hòa Lạc. Đến ngày 1/7/2026, thôn Yên Lạc tiếp tục sáp nhập với thôn Hòa Bình để trở thành thôn Bắc Thắng như hiện tại. Tuy nhiên, cổng thôn vẫn giữ nguyên tên cũ khiến người dân gặp không ít bất tiện khi chỉ đường cho người lạ”.

    Cổng làng từ bao đời nay không chỉ là mốc giới không gian, mà còn là biểu tượng của hồn quê, in sâu vào tâm thức bao thế hệ. Song theo thời gian, ngoài việc không khớp với tên hành chính mới, không ít chiếc cổng nay đã xuống cấp, xập xệ, mất mỹ quan và cản trở hạ tầng giao thông.

    Bà Phạm Thị Hồng (thôn Gia Thiện, xã Mai Phụ, ngoài cùng bên phải) đề xuất sửa lại tên thôn và cải tạo lại cổng cho phù hợp với hạ tầng hiện tại.

    Bày tỏ trăn trở về hạ tầng địa phương, bà Phạm Thị Hồng (thôn Gia Thiện, xã Mai Phụ) cho biết: “Chiếc cổng làng văn hóa Thanh Tân được xây từ 6 năm trước, nhưng quy mô cổng hiện chưa phù hợp với lòng đường hẹp bên dưới. Tôi mong muốn cổng làng sớm được cải tạo, chỉnh trang để phù hợp với hạ tầng chung của thôn. Ngoài ra tên gọi cũng chưa phù hợp vì từ 1/7/2026, thôn Thanh Tân, thôn Kim Ngọc và thôn Quang Phú cũng được sáp nhập, lấy tên là thôn Gia Thiện”.

    Khi ranh giới địa lý được vẽ lại, những chiếc cổng ấy rơi vào vị thế “dôi dư” về quản lý. Nhưng với người dân, chúng vẫn vẹn nguyên giá trị tình cảm. Từ đây, một bài toán khó được đặt ra: Nên dỡ bỏ để đồng bộ hạ tầng, hay giữ lại như một nét ký ức của làng quê?

    Để giải bài toán ấy, không ít địa phương đã chọn cách “khép lại” quá khứ để “mở lối” cho hiện tại. Việc tháo dỡ các cổng thôn cũ được triển khai xuất phát từ thực tế tên gọi không còn phù hợp, đồng thời đáp ứng yêu cầu mở rộng đường sá, làm thông thoáng lối đi.

    Nhiều tuyến đường thuộc tổ dân phố 6, phường Hà Huy Tập đã rộng rãi hơn sau khi phá bỏ cổng cũ.

    Tại tổ dân phố 6, phường Hà Huy Tập. Sau khi đạt được sự đồng thuận cao từ phía nhân dân, tổ dân phố 6 đã tiến hành dỡ bỏ 3 cổng thôn cũ mang tên Trung Hòa, Thắng Hòa và Tân Tiến – những tên gọi thuộc về xã Tân Lâm Hương trước đây.

    Ở một góc nhìn khác, có những chiếc cổng đã đứng đó hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, mang chiều sâu kiến trúc, văn hóa và tâm linh. Vì vậy, việc giữ hay bỏ không đơn thuần là bài toán hạ tầng, mà là câu chuyện ứng xử với di sản.

    Tiến sỹ Nguyễn Tùng Lĩnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT tỉnh Hà Tĩnh cho rằng: “Mục đích của cổng làng là ghi lại dấu ấn của một làng quê, không phải về mặt hành chính. Do đó, với những chiếc cổng mang giá trị đặc biệt, giải pháp ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo tồn nguyên trạng, hoặc trùng tu, chuyển đổi công năng để hòa nhập với nhịp sống hôm nay”.

    Từ những gợi mở ấy có thể thấy, việc giữ hay bỏ cổng làng sau sáp nhập vốn không thể áp dụng một công thức cứng nhắc. An toàn giao thông và mỹ quan luôn là ưu tiên hàng đầu, nhưng đồng thời cũng tính đến các yếu tố văn hóa và các nguyện vọng chính đáng của cộng đồng. Bởi cổng làng vốn do dân đóng góp, họ có quyền bày tỏ tiếng nói trong việc thay đổi hay tháo dỡ, tránh đồng loạt hành chính hóa một biểu tượng gắn liền với đời sống tinh thần của nhiều người dân.

    Ông Nguyễn Thế Phiệt (xã Mai Hoa) cho rằng, cần nghiên cứu kỹ khi bỏ hay giữ cổng làng sau sáp nhập.

    Nhìn nhận về vấn đề này, ông Nguyễn Thế Phiệt (xã Mai Hoa) – tác giả hơn 20 đầu sách chuyên khảo về văn hóa làng xã Việt Nam nhận định: “Trong bối cảnh sáp nhập hiện nay, mọi quyết định liên quan đến cổng làng đều cần nghiên cứu thấu đáo. Không thể áp đặt một công thức chung là bỏ hay giữ, mà mỗi nơi cần một giải pháp riêng tùy theo bối cảnh. Với những chiếc cổng lâu đời hoặc được đầu tư hàng trăm triệu đồng, chính quyền nhất thiết phải tham vấn ý kiến Nhân dân cùng các nhà khoa học để đưa ra phương án tối ưu nhất”.

    Suy cho cùng, mỗi lựa chọn đều phản ánh cách một cộng đồng gìn giữ ký ức và kiến tạo tương lai. Sáp nhập địa giới hành chính mở ra những không gian phát triển mới, nhưng những giá trị văn hóa, tinh thần vẫn luôn có chỗ đứng trong đời sống hôm nay.

    Điều quan trọng là sự thận trọng, linh hoạt và lắng nghe ý kiến của người dân trong từng quyết định. Để dù giữ lại như một chứng nhân lịch sử hay nhường chỗ cho những con đường mới khang trang, thì điều còn ở lại vẫn là hồn quê, tình làng nghĩa xóm – những giá trị bền vững đồng hành cùng mỗi bước chuyển mình của vùng quê hôm nay.

    Bách Hợp

    Nguồn https://baomoi.com/cong-lang-o-ha-tinh-sau-sap-nhap-giu-lai-hay-do-bo-c55984638.epi

  • “Rõ người, rõ việc” để đồng ruộng không bỏ hoang

    Từ năm 2023, khoảng 5 ha trong tổng số 61 ha ruộng cấy lúa trên địa bàn phải bỏ hoang do nguồn nước tưới bị ô nhiễm, gây lãng phí đất đai, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất và đời sống của người dân.

    Người dân tổ dân phố Trần đã gieo cấy hết diện tích đất sản xuất

    Trước thực tế đó, Chi ủy, Chi bộ tổ dân phố Trần xác định khôi phục diện tích đất bỏ hoang là nhiệm vụ cần tập trung lãnh đạo. Sau khi đánh giá tình hình, Chi bộ ban hành nghị quyết, đề ra các giải pháp cụ thể. Trong đó, chú trọng phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng địa bàn, từng hộ dân theo phương châm “rõ người, rõ việc”. Cách làm này cũng là sự cụ thể hóa việc học và làm theo Bác bằng những việc làm thiết thực, gần dân, sát dân.

    Đồng chí Nguyễn Đăng Quỳnh, Bí thư Chi bộ cho biết: “Các đảng viên được giao nhiệm vụ trực tiếp xuống cơ sở, gặp gỡ những hộ có ruộng bỏ hoang để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng. Từ thực tế từng gia đình, các đảng viên đã trao đổi, vận động người dân khắc phục khó khăn, chuẩn bị điều kiện để sản xuất trở lại. Bên cạnh vận động, Chi bộ phối hợp phản ánh tình trạng ô nhiễm, kiến nghị cơ quan chức năng có giải pháp xử lý. Khi chất lượng nguồn nước từng bước được cải thiện, người dân bắt đầu đưa ruộng trở lại canh tác. Sự vào cuộc của cán bộ, đảng viên cùng với điều kiện sản xuất được tháo gỡ đã giúp diện tích bỏ hoang được khôi phục. Đến nay, toàn bộ 61 ha đất sản xuất nông nghiệp của tổ dân phố Trần đã được gieo cấy”.

    Kết quả trên cho thấy, Nghị quyết phát huy hiệu quả khi được cụ thể hóa bằng nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên gắn với những yêu cầu thực tế của người dân. Từ một vấn đề phát sinh trong sản xuất, Chi bộ đã phát huy vai trò lãnh đạo, huy động sự vào cuộc của cán bộ, đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng để tháo gỡ khó khăn. Việc khôi phục diện tích ruộng bỏ hoang không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn thể hiện vai trò của tổ chức đảng trong giải quyết những vấn đề thiết thực ngay từ cơ sở.

    Bài, ảnh: Xuân Me

    Nguồn https://baomoi.com/ro-nguoi-ro-viec-de-dong-ruong-khong-bo-hoang-c55984637.epi

  • TPHCM kiến nghị gỡ vướng sang tên hơn 20 tàu lưới kéo

    Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng làm việc với TPHCM về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU)

    Sáng 5-9, tại Cảng cá Cát Lở (phường Phước Thắng, TPHCM), Đoàn kiểm tra của Bộ Quốc phòng do Đại tá Bùi Yên Tĩnh, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến làm Trưởng đoàn, đã kiểm tra thực tế công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên địa bàn TPHCM, nhằm đánh giá đợt cao điểm thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC).

    Video Đại tá Bùi Yên Tĩnh phát biểu. Thực hiện: THÀNH HUY

    Phó Chủ tịch UBND TPHCM Bùi Minh Thạnh phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: THÀNH HUY

    Báo cáo với đoàn kiểm tra, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TPHCM Phạm Thị Na cho biết, từ tháng 4-2026 đến nay, các lực lượng chuyên môn đã tăng cường nhân lực, bám địa bàn, rà soát toàn bộ đội tàu.

    Đến nay, 100% trong tổng số 4.426 tàu cá đã được số hóa, cập nhật trên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase). Tỷ lệ tàu cá từ 15m trở lên lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) đạt 99,1%, tương ứng 2.141 tàu.

    TPHCM đã xử phạt 474 tàu cá mất kết nối VMS tồn đọng trong giai đoạn 2024-2025, với tổng số tiền hơn 14,55 tỷ đồng; tỷ lệ thu hồi tiền phạt đạt gần 100%. Thành phố cũng gắn thiết bị định vị GPS có chức năng cảnh báo cho 399 tàu thuộc nhóm “3 không” hoặc không đủ điều kiện hoạt động.

    Theo bà Phạm Thị Na, hơn 20 tàu lưới kéo của TPHCM đã bán cho người dân ngoài tỉnh nhưng chủ mới chưa thể hoàn tất thủ tục đăng ký, sang tên hoặc rút hồ sơ gốc do các địa phương tiếp nhận đang khống chế hạn ngạch nghề lưới kéo.

    Việc này dẫn đến tình trạng mua bán bằng giấy tay hoặc ủy quyền qua công chứng. Trên hệ thống VMS, các tàu vẫn thuộc TPHCM quản lý, trong khi thực tế phương tiện và chủ tàu hoạt động ở địa phương khác, gây khó khăn trong quản lý và xử lý vi phạm. TPHCM kiến nghị cơ quan Trung ương có giải pháp tháo gỡ, vừa bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý.

    Đoàn làm việc với Phòng điều độ cảng cá Cát Lở. Ảnh: THÀNH HUY

    Tàu đánh bắt xa bờ cập cảng cá Cát Lở. Ảnh: THÀNH HUY

    Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Bùi Minh Thạnh khẳng định chống khai thác IUU là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Sau Kết luận của Thanh tra Chính phủ, Thành ủy và UBND TPHCM đã chỉ đạo phân định rõ trách nhiệm, đưa công tác này vào nền nếp.

    Đại tá Bùi Yên Tĩnh đánh giá cao nỗ lực của TPHCM, đồng thời yêu cầu công tác kiểm tra, xử lý vi phạm phải thực chất, tránh tình trạng có quyết định xử phạt nhưng chậm thu hồi tiền phạt. Theo ông, tình trạng tồn đọng kéo dài có thể được Ủy ban châu Âu (EC) kiểm tra, đối chiếu.

    THÀNH HUY – ĐỨC TRUNG

    Nguồn https://baomoi.com/tphcm-kien-nghi-go-vuong-sang-ten-hon-20-tau-luoi-keo-c55984577.epi

  • Thiên Lộc: ‘Xây’ nền tảng triển khai dự án từ giải phóng mặt bằng

    Nghe người dân nói trước khi nói cho dân nghe

    Nhắc đến công tác tuyên truyền GPMB, cán bộ và người dân xã Thiên Lộc vẫn nhớ câu chuyện những tháng đầu năm 2026, khi công tác GPMB Dự án Khu đô thị mới G19 bước vào thời điểm quyết định. Hàng trăm hộ dân đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng, song vẫn còn 20 hộ chưa đồng thuận. Phương án cưỡng chế đã được xác định.

    Nhưng tại Thiên Lộc, quyết định cưỡng chế không đồng nghĩa với việc công tác vận động kết thúc. Các tổ công tác tiếp tục đến từng gia đình. Cán bộ trao đổi về chính sách bồi thường, hỗ trợ, làm rõ những nội dung người dân chưa hiểu, đồng thời lắng nghe những vấn đề khiến các hộ chưa sẵn sàng bàn giao mặt bằng.

    Bà Lê Thị Vân Huyền, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư – hạ tầng xã cho biết: Mỗi gia đình có một hoàn cảnh, một lý do khác nhau nên cách tuyên truyền, vận động cũng được điều chỉnh cho phù hợp. Mục tiêu được đặt ra không chỉ là có mặt bằng đúng tiến độ, mà quan trọng hơn là để người dân hiểu chính sách, giải tỏa băn khoăn và tự nguyện thực hiện. Sự kiên trì ấy đã đem lại kết quả. Cả 20 hộ đều nhận tiền, bàn giao mặt bằng. Kế hoạch cưỡng chế được dừng lại.

    Các tổ công tác đến từng hộ gia đình tuyên truyền, vận động người dân bàn giao mặt bằng. Ảnh: PV

    Tại thôn Đoài, địa bàn có 464 hộ bị ảnh hưởng bởi Dự án G19, ông Nguyễn Bá Thành, Bí thư Chi bộ thôn Đoài, cho biết các chi ủy viên, đảng viên được phân công phụ trách từng ngõ, xóm, từng hộ gia đình. Những đảng viên có đất bị thu hồi gương mẫu thực hiện trước. Cùng với các cuộc họp dân, tổ tuyên truyền, vận động đến từng gia đình để trao đổi, giải thích; đồng thời tranh thủ vai trò của những người có uy tín, trưởng các dòng họ. Sau một năm, toàn bộ 464 hộ đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng; 223 ngôi mộ của 56 hộ cũng được di chuyển.

    Nhìn nhận lại quá trình GPMB các dự án trên địa bàn xã, bà Vương Thị Thu Phương, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Thiên Lộc cho rằng, vận động GPMB không thể áp dụng một công thức chung cho tất cả các hộ. Vì vậy, trước khi vận động, cán bộ phải rà soát, lập danh sách, phân loại từng nhóm hộ. Song, điều quan trọng là phải “nghe dân nói” trước khi “nói cho dân nghe”.

    “Trước hết phải lắng nghe để biết người dân đang lo gì, vướng gì, mong muốn gì; những kiến nghị nào là chính đáng, nội dung nào do chưa hiểu chính sách và vấn đề nào cần cấp có thẩm quyền giải quyết. Khi người dân cảm thấy mình được tôn trọng, được lắng nghe thì việc tuyên truyền, vận động sẽ thuận lợi hơn”, bà Phương chia sẻ.

    Gắn GPMB với đảm bảo sinh kế lâu dài

    Xã Thiên Lộc có 54 dự án cần thu hồi đất, tổng diện tích 259,27ha, liên quan 7.565 hộ gia đình, cá nhân tại 14 thôn. Trong đó, nhiều dự án có quy mô lớn như Cầu Thượng Cát, các khu đô thị mới G8, G19, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, Khu đô thị đa mục tiêu Bắc Thăng Long Urban City…

    Ban Chỉ đạo công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trên địa bàn xã Thiên Lộc giao ban hằng tháng. Ảnh: PV

    Để theo dõi khối lượng công việc lớn, toàn bộ 54 dự án được đưa lên hệ thống theo dõi trực tuyến, cập nhật tiến độ theo ngày, tuần, tháng. Qua đó, lãnh đạo xã và cán bộ phụ trách có thể nắm được từng dự án đang vướng ở đâu, còn bao nhiêu hộ chưa nhận tiền và nguyên nhân liên quan đến nguồn gốc đất, chính sách hay công tác vận động.

    Các đồng chí trong Ban Thường vụ được phân công phụ trách từng cụm địa bàn; Đảng ủy viên phụ trách chi bộ thôn gắn với từng dự án. Những dự án có nguy cơ chậm tiến độ được nhận diện sớm để bố trí lực lượng, xác định trách nhiệm và phương án tháo gỡ.

    Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trên địa bàn xã, đến ngày 25-8, xã đã hoàn thành thu hồi 148,56/259,27ha, đạt 57,3%; chi trả bồi thường, hỗ trợ cho 4.851 hộ với tổng số tiền 1.296,08 tỷ đồng. Có 14/54 dự án cơ bản hoàn thành GPMB. Trong đó, Dự án Cầu Thượng Cát đạt 99,8%; Khu đô thị mới G19 đạt 99,01%; Khu đô thị mới G8 đạt 98,76%. Hiện, xã Thiên Lộc đang chủ động chuẩn bị cho các dự án lớn ngay từ khi chưa bước vào giai đoạn cao điểm GPMB.

    Khen thưởng các hộ gia đình trong công tác GPMB. Ảnh: PV

    Tại hội nghị tổng kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trên địa bàn xã Thiên Lộc mới đây, Bí thư Đảng ủy, Trưởng ban Chỉ đạo Phạm Xuân Toàn thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế như: Tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; hạ tầng khu tái định cư, quỹ đất nghĩa trang còn chậm; một bộ phận cán bộ phụ trách địa bàn chưa sâu sát, chưa quyết liệt, còn tâm lý ngại va chạm.

    Bí thư Đảng ủy xã yêu cầu tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Nơi nào chậm muộn do chủ quan, đùn đẩy, né tránh thì phải kiên quyết xem xét trách nhiệm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

    Đồng thời, một yêu cầu khác được Thiên Lộc đặt ra là phải nhìn xa hơn thời điểm người dân nhận tiền và bàn giao đất. Chính sách có lợi cho nhân dân cần được vận dụng tối đa, gắn GPMB với bảo đảm sinh kế lâu dài.

    “Xã đã chủ động xây dựng Đề án thành lập các hợp tác xã nhằm tạo sinh kế, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi. Tôi yêu cầu UBND xã, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể khẩn trương hoàn thiện, triển khai Đề án, gắn với đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, phát triển sản phẩm địa phương – không dừng lại ở chi trả tiền mặt theo khung quy định. Phải trả lời bằng được câu hỏi lớn nhất của Nhân dân: sau khi bàn giao đất, sinh kế lâu dài của gia đình sẽ ra sao?”, đồng chí Phạm Xuân Toàn nhấn mạnh.

    Quan điểm chỉ đạo này tiếp tục khẳng định một hướng “đi trước” chủ động của chính quyền trong GPMB, “xây” nền tảng để các dự án được triển khai thuận lợi, bền vững.

    Hy Ninh

    Nguồn https://baomoi.com/thien-loc-xay-nen-tang-trien-khai-du-an-tu-giai-phong-mat-bang-c55984925.epi

  • Xây nhà ở riêng lẻ không phép bị phạt 80 triệu đồng, trường hợp nào phải phá dỡ?

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 339/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, quản lý, phát triển nhà và kinh doanh bất động sản.

    Nghị định có hiệu lực từ ngày 26/8/2026. Trong đó, Điều 25 quy định mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về trật tự xây dựng của chủ đầu tư.

    Theo quy định mới, hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình chưa được cấp giấy phép xây dựng trong trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép sẽ bị xử phạt theo từng loại công trình.

    Cụ thể, trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ bị phạt từ 60-80 triệu đồng, trừ những trường hợp được quy định riêng.

    Xây nhà không phép có thể bị phạt tới 80 triệu đồng. Ảnh minh họa: Hồng Khanh

    Mức phạt từ 80-100 triệu đồng áp dụng đối với nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ I của di tích, khu vực di sản thế giới, khu vực bảo vệ II của di tích, vùng đệm của khu vực di sản thế giới và đối với công trình xây dựng khác.

    Đối với công trình phải lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật, mức phạt từ 120-140 triệu đồng.

    Còn công trình phải lập báo cáo nghiên cứu khả thi, chủ đầu tư có thể bị phạt từ 140-160 triệu đồng.

    Xây sai giấy phép có thể bị phạt tới 140 triệu đồng

    Nghị định 339 cũng quy định mức phạt đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không đúng nội dung giấy phép xây dựng giấy phép xây dựng được cấp.

    Theo đó, chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ sai giấy phép có thể bị phạt từ 30-40 triệu đồng.

    Nếu là nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ I của di tích, khu vực di sản thế giới, khu vực bảo vệ II của di tích, vùng đệm của khu vực di sản thế giới hoặc công trình xây dựng khác, mức phạt từ 50-70 triệu đồng.

    Đối với công trình phải lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, mức phạt từ 100-120 triệu đồng.

    Công trình phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi bị phạt từ 120-140 triệu đồng nếu thi công không đúng nội dung giấy phép được cấp.

    Không công khai giấy phép xây dựng cũng bị phạt

    Nghị định 339 quy định mức phạt cụ thể khi không công khai giấy phép xây dựng tại địa điểm thi công trong quá trình xây dựng.

    Đối với nhà ở riêng lẻ, chủ đầu tư có thể bị phạt từ 5-10 triệu đồng.

    Mức phạt từ 10-20 triệu đồng áp dụng với nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ I của di tích, khu vực di sản thế giới, khu vực bảo vệ II của di tích, vùng đệm của khu vực di sản thế giới hoặc công trình xây dựng khác.

    Đối với công trình phải lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, mức phạt từ 20-30 triệu đồng.

    Còn công trình phải lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, mức phạt từ 30-40 triệu đồng.

    Có thể phải phá dỡ công trình

    Đáng chú ý, chế tài đối với các hành vi vi phạm không chỉ dừng ở việc xử phạt bằng tiền. Nghị định 339 quy định các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với từng hành vi vi phạm. Trong một số trường hợp xây dựng sai giấy phép, xây dựng không phép hoặc vi phạm về hồ sơ thiết kế khi công trình đang thi công, chủ đầu tư có thể bị buộc thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép xây dựng, điều chỉnh giấy phép, điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng hoặc điều chỉnh thiết kế theo quy định.

    Tuy nhiên, không phải mọi công trình vi phạm đều có thể được hợp thức hóa bằng việc bổ sung hoặc điều chỉnh hồ sơ.

    Trường hợp hành vi vi phạm đã kết thúc, công trình hoặc phần công trình xây dựng vi phạm thuộc các trường hợp được quy định có thể bị buộc phá dỡ.

    Đối với các hành vi như xây dựng không đúng quy hoạch; cơi nới, lấn chiếm; tiếp tục vi phạm sau khi đã bị lập biên bản hoặc tái phạm theo quy định, chủ đầu tư có thể bị áp dụng biện pháp buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.

    Nghị định cũng nêu rõ, trường hợp xây dựng không đúng nội dung giấy phép được cấp nhưng không thuộc trường hợp phải điều chỉnh thì không bị coi là hành vi xây dựng không đúng nội dung giấy phép và không bị xử phạt vi phạm hành chính.

    Hồng Khanh

    Nguồn https://baomoi.com/xay-nha-o-rieng-le-khong-phep-bi-phat-80-trieu-dong-truong-hop-nao-phai-pha-do-c55984623.epi

  • An Giang đầu tư xây mới 6 trường phổ thông nội trú hơn 1.130 tỷ đồng

    Ngày 5/9, UBND tỉnh An Giang cho biết, địa phương đang triển khai thi công 6 dự án trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới đất liền giai đoạn 2.

    Theo thông tin được công bố, tổng vốn đầu tư các dự án là 1.132.974 tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn ngân sách Trung ương là 1.205.260 tỷ đồng, còn lại 72.286 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh để đầu tư giải phóng mặt bằng, bảo đảm hạ tầng kỹ thuật.

    Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và THCS Vĩnh Gia được xây dựng trong giai đoạn 1, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm học 2026-2027.

    Theo các quyết định chủ trương đầu tư, 6 trường được xây dựng tại các xã Ba Chúc, Phú Hữu, Nhơn Hội, Vĩnh Điều, An Phú và Vĩnh Xương. Các dự án dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng ngày 30/8/2027, phục vụ năm học 2027-2028.

    Cụ thể, dự án Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ba Chúc, xã Ba Chúc, có diện tích khu đất xây dựng 44.433m², vốn đầu tư 186 tỷ đồng. Trường có quy mô 45 lớp với 1.500 học sinh, trong đó 300 học sinh nội trú.

    Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Phú Hữu, xã Phú Hữu, được xây dựng trên khu đất rộng 43.982m², vốn đầu tư 225,3 tỷ đồng. Trường có quy mô 30 lớp với 1.000 học sinh, trong đó 240 học sinh nội trú.

    Tại xã Nhơn Hội, dự án Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Nhơn Hội có diện tích 30.845m², vốn đầu tư 214 tỷ đồng. Trường được đầu tư 30 lớp, đáp ứng 1.000 học sinh, trong đó 180 học sinh nội trú.

    Dự án Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Điều, xã Vĩnh Điều, có diện tích khu đất 29.772m², vốn đầu tư 190 tỷ đồng. Trường có quy mô 30 lớp với 1.000 học sinh, trong đó 300 học sinh nội trú.

    Tại xã An Phú, Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở An Phú được xây dựng trên khu đất 34.520m², vốn đầu tư 217,3 tỷ đồng. Dự án có quy mô 30 lớp, đáp ứng 1.000 học sinh, trong đó khoảng 225 học sinh nội trú.

    Dự án Trường phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Vĩnh Xương, xã Vĩnh Xương, có diện tích khu đất 47.000m². Trường được đầu tư với quy mô 40 lớp, đáp ứng 1.400 học sinh, trong đó 300 học sinh nội trú.

    Việc đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất giáo dục, tạo điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa bàn vùng biên giới của tỉnh An Giang.

    Quốc Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-dau-tu-xay-moi-6-truong-pho-thong-noi-tru-hon-1-130-ty-dong-c55984519.epi

  • Khu vực cửa khẩu Chi Ma rộng 535 ha, định hướng 2 hành lang, 3 vùng phát triển

    Theo đó, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1723/QĐ-TTg ngày 4/9/2026 phê duyệt Quy hoạch chung Khu vực cửa khẩu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2045.

    Xây dựng Khu vực cửa khẩu chính Chi Ma thành một khu kinh tế phát triển năng động. Ảnh: HMT

    Phạm vi Khu vực cửa khẩu Chi Ma thuộc địa phận xã Mẫu Sơn

    Cụ thể, phạm vi lập quy hoạch gồm: Cửa khẩu Chi Ma có chính diện trùng với đường biên giới: Từ Mốc 1220/2 chạy dọc theo đường biên giới đến Mốc 1239, dài khoảng 5,8 km trên tuyến biên giới Việt Nam – Trung Quốc, cách đường quốc lộ 4B khoảng 12 km, cách trung tâm tỉnh Lạng Sơn khoảng 37 km, có vị trí địa chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng tỉnh Lạng Sơn và khu vực biên giới phía Bắc.

    Phạm vi Khu vực cửa khẩu Chi Ma thuộc địa phận xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Ranh giới được xác định cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đường biên giới Việt – Trung; phía Nam giáp đường giao thông liên xã hiện trạng; phía Đông giáp suối Bản Thín; phía Tây giáp đất lâm nghiệp.

    Quy mô lập quy hoạch là 535 ha.

    Mục tiêu của Quy hoạch chung Khu vực cửa khẩu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2045 nhằm xây dựng Khu vực cửa khẩu chính Chi Ma thành một khu kinh tế phát triển năng động, hiệu quả, có tầm quốc tế, là một cực tăng trưởng quan trọng phía Đông tỉnh Lạng Sơn.

    Khu vực cửa khẩu phát triển theo hướng 2 hành lang, 3 vùng phát triển

    Cấu trúc 2 hành lang gồm:

    Hành lang đô thị – dịch vụ – logistics dọc tuyến ĐT.236 và tuyến Chi Ma – Co Sa: Tập trung phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ, logistics, bến bãi, kho ngoại quan và trung tâm phân phối hàng hóa. Dọc hành lang bố trí các khu chức năng như trung tâm logistics kho vận và các cụm dịch vụ hậu cần cửa khẩu. Đồng thời tăng cường các tuyến kết nối ngang nhằm bảo đảm liên kết không gian liên tục và đồng bộ.

    Hành lang biên giới Việt Nam – Trung Quốc: Tập trung thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh kết hợp phát triển kinh tế cửa khẩu.

    Cấu trúc 3 phân vùng phát triển gồm:

    Vùng 1 – Khu vực cửa khẩu Chi Ma hiện hữu: Là trung tâm động lực bao gồm cửa khẩu chính và các hạ tầng trực tiếp phục vụ người qua lại biên giới. Vùng 1 đóng vai trò là bộ mặt đối ngoại, là nơi diễn ra hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa, hợp tác song phương.

    Vùng 2 – Khu dịch vụ hậu cần cửa khẩu tập trung: Được xác định là không gian chuyên biệt phục vụ các hoạt động logistics và hệ thống kho bãi quy mô lớn. Khu vực này đảm nhận các chức năng chủ đạo như kho ngoại quan, bến bãi, trung tâm phân phối hàng hóa, khu lưu chứa hàng hóa chất, khu tái đóng gói, trung tâm logistics và các dịch vụ hỗ trợ vận tải,…

    Vùng 3 – Khu vực nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch: Định hướng chủ đạo là không gian sinh thái cảnh quan gắn với hoạt động nông nghiệp quy mô phù hợp, kết hợp phát triển các loại hình nghỉ dưỡng, lưu trú ngắn hạn và dịch vụ thư giãn phục vụ chủ yếu cho cán bộ, công nhân viên, người lao động tại khu logistics, kho bãi cửa khẩu Chi Ma và các đoàn chuyên gia, đối tác tham gia giao lưu, hội đàm giữa hai nước.

    Đồng thời, khu vực được định hướng là vùng phát triển nông – lâm nghiệp… Khu vực có vai trò bổ trợ chức năng, tạo không gian nghỉ dưỡng, tái tạo sức lao động và dự trữ quỹ đất chiến lược cho toàn khu cửa khẩu.

    Quốc Trần

    Nguồn https://baomoi.com/khu-vuc-cua-khau-chi-ma-rong-535-ha-dinh-huong-2-hanh-lang-3-vung-phat-trien-c55984433.epi

  • Gỡ vướng quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản

    Chính phủ gỡ vướng quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản

    Nghị quyết này quy định việc chuyển chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất và khoáng sản giữa các Bộ: Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng.

    Nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp

    Nghị quyết quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về khu công nghiệp của Bộ Tài chính quy định tại Luật và các Nghị định do Bộ Công Thương thực hiện, cụ thể:

    a) Luật Đầu tư số 143/2025/QH15: Điểm k khoản 2 Điều 44;

    b) Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2022 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2023/NĐ-CP, Nghị định số 129/2025/NĐ-CP, Nghị định số 178/2025/NĐ-CP: Điều 7, 13, 40, 53, 57, 68.

    Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ quy định trên.

    Nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản

    Nghị quyết quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản như sau:

    1- Nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng quy định tại Luật và các Nghị định do Bộ Công Thương thực hiện, cụ thể:

    a) Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 147/2025/QH15: Khoản 4 Điều 10; điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 14; điểm c, điểm d khoản 2 và khoản 3 Điều 20; khoản 1 Điều 29; khoản 2 Điều 31; điểm b khoản 1, khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 33; khoản 1 và khoản 2 Điều 34; điểm d khoản 1 Điều 41; khoản 4 Điều 42; điểm b khoản 1 Điều 43; khoản 6 Điều 44; khoản 3 Điều 45; khoản 6 Điều 47; khoản 2 Điều 49; khoản 6 Điều 50; khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 55; khoản 3 Điều 57; khoản 4 Điều 59; khoản 2 Điều 63; khoản 6 Điều 64; khoản 3 Điều 69; điểm g khoản 2 và khoản 4 Điều 70; khoản 6 Điều 73; khoản 3 Điều 74; điểm c khoản 2 Điều 76; khoản 5 Điều 82; điểm a khoản 2 Điều 84; khoản 2 Điều 85b; Điều 85d; điểm b khoản 2 Điều 88; khoản 4 Điều 89; khoản 5 Điều 90; khoản 2 Điều 93; điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 96; khoản 3 Điều 100; khoản 2 Điều 101; khoản 1 Điều 106; khoản 2 và khoản 3 Điều 107; khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 4 Điều 108;

    b) Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP: Khoản 7 Điều 3; khoản 2 Điều 4; khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 6; khoản 3 Điều 7; khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 9; khoản 1 Điều 10; khoản 2 Điều 13; điểm a khoản 1, điểm d khoản 4 và khoản 9 Điều 14; khoản 2 Điều 16; Điều 17; khoản 2 Điều 18; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19; khoản 2 Điều 20; Điều 21; khoản 3 Điều 22; khoản 2 Điều 23; Điều 25; khoản 4 Điều 32; khoản 4 và khoản 5 Điều 34; khoản 4 và khoản 5 Điều 35; khoản 4 Điều 36; khoản 6 Điều 37; điểm c khoản 2 và khoản 7 Điều 38; khoản 7 Điều 39; điểm đ khoản 1 và khoản 5 Điều 40; khoản 4 Điều 41; khoản 1 và khoản 3 Điều 43; điểm a khoản 3 Điều 44; khoản 1 và khoản 7 Điều 45; điểm a và điểm c khoản 2 Điều 47; khoản 3 Điều 48; Điều 50; khoản 4 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 52; Điều 53; điểm b và điểm c khoản 1, điểm b khoản 7 và khoản 8 Điều 59; điểm b khoản 2 Điều 59a; khoản 8 Điều 61; điểm d khoản 1 Điều 63; điểm c khoản 1 Điều 66; điểm b khoản 3 Điều 67; khoản 4 Điều 67a; khoản 5 Điều 68; khoản 5 và khoản 6 Điều 70; khoản 3 Điều 72; khoản 2 Điều 76; điểm a khoản 2 Điều 77; khoản 8 Điều 90; khoản 9 Điều 91; khoản 4 Điều 92; khoản 7 Điều 93; khoản 4 Điều 95a; khoản 12 Điều 96; khoản 5 Điều 97; điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 98; khoản 3 Điều 99; điểm a khoản 2 và khoản 8 Điều 100a; khoản 1 và khoản 3 Điều 100b; điểm a khoản 2 và khoản 5 Điều 101; khoản 8 Điều 103; khoản 8 Điều 104; khoản 8 Điều 105; khoản 7 Điều 106; khoản 1 và khoản 3 Điều 108; khoản 1, khoản 5 và khoản 7 Điều 110c; khoản 4, khoản 5 và khoản 7 Điều 110d; khoản 2 Điều 110đ; khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 110e; khoản 2 và khoản 3 Điều 110g; điểm a khoản 3, điểm a và điếm b khoản 5 Điều 118; khoản 2 Điều 120; khoản 2 Điều 121; điểm a khoản 1 Điều 122; khoản 1 và khoản 8 Điều 126; khoản 1 và khoản 3 Điều 127; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 129; điểm b khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 130; khoản 4 và khoản 5 Điều 131; khoản 5 Điều 135; khoản 4 Điều 136; khoản 4 Điều 140; khoản 5 Điều 141; khoản 3 Điều 142; điểm a khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 143a; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 144; khoản 3 Điều 146; khoản 3 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 149; khoản 8 Điều 153; khoản 6 Điều 154; điểm a, điểm đ và điểm e khoản 1 Mục III Phụ lục I; và khoản 10 Điều 5 Nghị định số 21/2026/NĐ-CP;

    c) Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, Nghị định số 311/2026/NĐ-CP: Khoản 3 Điều 6;

    d) Nghị định số 36/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP, Nghị định số 290/2025/NĐ-CP: Điều 30, 31, 32, 33, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 45, 46, 47, 49, 54, 54a, 63, 65, 69, 70, 73;

    đ) Nghị định số 70/2026/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch: Phụ lục I;

    e) Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ về việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024: Điểm b khoản 4 Điều 4;

    g) Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia: Điều 5, 6, 7.

    2- Nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng quy định tại các Nghị định do Sở Công Thương thực hiện, cụ thể:

    a) Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 370/2025/NĐ-CP: Điều 8;

    b) Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP: Điều 25.

    Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ quy định tại 1 và 2 nêu trên.

    Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể ngày 15 tháng 9 năm 2026 đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2027. Trường hợp Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật được gia hạn kéo dài thời gian thì thực hiện theo thời hạn được gia hạn của Nghị quyết số 206/2025/QH15.

    Điều khoản chuyển tiếp

    1- Đối với văn bản, giấy phép, quyết định và kết quả giải quyết đã ban hành trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản

    a) Giấy phép, quyết định, văn bản chấp thuận, văn bản xác nhận, kết quả công nhận, phê duyệt và các văn bản khác về địa chất và khoáng sản do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ trưởng hoặc cơ quan chuyên môn thuộc các bộ này và Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực tiếp tục có giá trị pháp lý cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, gia hạn, điều chỉnh, cấp đổi, cấp lại, thay thế, thu hồi, chấm dứt hiệu lực theo quy định của pháp luật;

    b) Không yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục cấp lại, đổi lại hoặc xác nhận lại giấy phép, quyết định, văn bản quy định tại điểm a mục 1 nêu trên chỉ vì lý do thay đổi cơ quan quản lý nhà nước;

    c) Kết quả thẩm định, phiếu đánh giá, biên bản họp, kết luận của Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, Hội đồng thẩm định đề án thăm dò khoáng sản, Hội đồng thẩm định đóng cửa mỏ khoáng sản, Hội đồng thẩm định kết quả xác định chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả và các Hội đồng, tổ chức tư vấn khác do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thành lập trước thời điểm chuyển giao tiếp tục có giá trị sử dụng và được dùng làm căn cứ giải quyết hồ sơ, không phải thẩm định lại. Đối với nội dung đã được các Hội đồng thẩm định nhưng chưa ban hành kết quả trước thời điểm chuyển giao thì được kế thừa kết quả thẩm định.

    2. Đối với hồ sơ, thủ tục hành chính đang giải quyết trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản

    a) Hồ sơ thủ tục hành chính về địa chất và khoáng sản đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng, cơ quan chuyên môn trực thuộc các bộ này hoặc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp nhận hợp lệ trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực mà chưa có kết quả giải quyết được chuyển nguyên trạng sang Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật tại thời điểm nộp hồ sơ;

    b) Tổ chức, cá nhân không phải nộp lại hồ sơ, không phải thực hiện lại các công việc đã hoàn thành và không phải nộp lại phí, lệ phí đã nộp theo quy định;

    c) Các kết quả kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ; kết quả thẩm định, kiểm tra thực địa; ý kiến của bộ, ngành, địa phương, chuyên gia; biên bản Hội đồng; kết quả lấy ý kiến; kết quả xác định nghĩa vụ tài chính và các bước xử lý hồ sơ khác đã hoàn thành trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được kế thừa để tiếp tục giải quyết;

    d) Thời hạn giải quyết thủ tục hành chính không được tính lại từ đầu. Bộ Công Thương tiếp tục tính thời hạn giải quyết trên cơ sở thời gian còn lại theo quy định tại thời điểm Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng bàn giao hồ sơ.

    Trường hợp việc bàn giao hồ sơ làm phát sinh khoảng thời gian cơ quan nhà nước không thể thực hiện việc xử lý hồ sơ do yêu cầu kỹ thuật của việc chuyển giao hệ thống, hồ sơ, dữ liệu thì khoảng thời gian này không tính vào thời hạn giải quyết; cơ quan tiếp nhận phải thông báo cho tổ chức, cá nhân biết.

    đ) Mọi yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện trong trường hợp nội dung hồ sơ chưa đáp ứng quy định pháp luật, không được yêu cầu bổ sung chỉ vì thay đổi tên bộ, cơ quan tiếp nhận, cơ quan thẩm định hoặc người có thẩm quyền.

    3. Đối với nghĩa vụ tài chính về khoáng sản

    a) Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản, chi phí đánh giá tiềm năng khoáng sản, chi phí thăm dò khoáng sản phải hoàn trả và các nghĩa vụ tài chính khác đã ban hành tiếp tục được thực hiện;

    b) Hồ sơ xác định, điều chỉnh, phê duyệt nghĩa vụ tài chính đang được giải quyết tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường được chuyến nguyên trạng sang Bộ Công Thương và tiếp tục xử lý theo mục 2 nêu trên;

    c) Việc thay đổi cơ quan quản lý nhà nước không làm phát sinh việc xác định lại nghĩa vụ tài chính đã được xác định hợp pháp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực, trừ trường hợp pháp luật quy định phải điều chỉnh.

    4. Đối với các chương trình, đề án, dự án và các nhiệm vụ khác về địa chất và khoáng sản

    Các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đối mới sáng tạo và các nhiệm vụ khác về địa chất, khoáng sản đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo quyết định đã được phê duyệt. Bộ Công Thương tiếp nhận, kế thừa quyền, nghĩa vụ và thực hiện việc quản lý, tổ chức thực hiện, điều chỉnh, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật./.

    Nguồn https://baomoi.com/go-vuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-khu-cong-nghiep-dia-chat-khoang-san-c55984452.epi

  • Người dân Gaza tận dụng pallet gỗ viện trợ nhân đạo để làm đồ nội thất

    Người dân Gaza tận dụng pallet gỗ viện trợ nhân đạo để làm đồ nội thất. (Ảnh: UA.News)

    Anh Momen Abu Jarad, 29 tuổi, đang chuẩn bị cho đám cưới và sắp xếp nơi ở tương lai tại khu vực Tal al-Hawa, phía Tây thành phố Gaza. Anh cho biết một bộ đồ nội thất phòng ngủ truyền thống còn sót lại sau chiến tranh có giá hơn 5.000 USD, trong khi một bộ làm từ gỗ pallet chỉ khoảng 1.300 USD, chưa bằng một phần ba giá bộ thông thường.

    Theo anh Abu Jarad, đồ nội thất làm từ pallet đã trở thành lựa chọn của nhiều gia đình và người trẻ vì mức giá dễ chấp nhận hơn, dù loại đồ này chưa hoàn toàn đúng với hình dung của anh về ngôi nhà tương lai.

    Thiếu gỗ và dụng cụ

    Trước chiến tranh, các xưởng mộc ở Gaza sử dụng nhiều loại gỗ nhập khẩu và có đầy đủ thiết bị sản xuất đồ nội thất. Phần lớn ngành nghề này đã bị phá hủy: xưởng mộc hư hỏng hoặc san phẳng, thiết bị thất lạc, trong khi việc nhập khẩu nguyên liệu mới vẫn bị hạn chế.

    Ông Ahmed Abu Hadra, chủ một xưởng mộc tại thành phố Gaza hiện gần như chỉ sử dụng gỗ pallet. Ông cho biết một pallet trước chiến tranh có giá khoảng 5 shekel, nay đã tăng lên 70-100 shekel, tương đương 23-33 USD. Dù giá tăng, nhu cầu vẫn không ngừng lớn do các gia đình cần giường, tủ quần áo, bàn học, kệ và ghế.

    Thợ mộc phải tháo dỡ pallet bằng tay, nhổ đinh, cắt gọt các tấm ván không bằng phẳng, sau đó bào nhẵn và lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh. Theo ông Abu Hadra, khó khăn chính là chi phí điện cao cùng tình trạng thiếu dụng cụ, thiết bị, trong đó có cả cưa. Một tủ quần áo cho hai người có giá khoảng 330 USD, một chiếc bàn học khoảng 130 USD.

    Pallet dùng để dựng nhà tạm

    Không chỉ dùng để làm đồ nội thất, một số người Palestine phải rời bỏ nhà cửa còn sử dụng pallet để dựng nhà ở tạm. Anh Mohammed Farwana (36 tuổi, đến từ Deir al-Balah) cho biết, sau 2 năm rưỡi sống trong lều, anh đang dùng pallet gỗ để làm một căn nhà một phòng. Anh bắt đầu thi công cách đây hai tháng và dự kiến hoàn thành trong tháng này. Theo anh, quyết định này xuất phát từ điều kiện sống khó khăn trong lều, đặc biệt là trước khi mùa mưa đông đến.

    UA.News, The National

    Thu Hà

    Nguồn https://baomoi.com/nguoi-dan-gaza-tan-dung-pallet-go-vien-tro-nhan-dao-de-lam-do-noi-that-c55984350.epi

  • Chính sách bồi thường thỏa đáng, người dân đồng thuận

    Hỗ trợ thêm giúp dân ổn định cuộc sống

    Cụm chung cư lô số Thanh Đa (phường Bình Quới) đã xuống cấp nghiêm trọng sau nhiều năm sử dụng. Tuy nhiên, do vướng mắc về pháp lý đất đai, nhà ở, việc triển khai dự án cải tạo, xây dựng lại 8 lô chung cư tại đây khá chậm. Đến tháng 6-2025, phương án bồi thường, tái định cư của dự án mới được phê duyệt.

    Giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 13, dự án thành phần 1 (phường Hiệp Bình, TPHCM). ẢNH: HOÀNG HÙNG

    Hiện phường Bình Quới đang đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nhận được sự đồng thuận của phần lớn người dân bị ảnh hưởng. Là một trong những hộ sớm bàn giao mặt bằng, ông Nguyễn Văn Ngà (ngụ lô 11, chung cư Thanh Đa), cho biết, từ năm 2017, người dân đã được thông báo về chủ trương di dời để xây dựng lại chung cư. Đến tháng 10-2025, địa phương triển khai phương án thu hồi đất, bồi thường cho các hộ dân.

    “Khi bàn giao căn hộ 44m2, gia đình tôi được bố trí tái định cư tại chỗ với căn hộ hơn 50m2. Tháng 3-2026, tôi tìm nơi ở tạm và nhận hơn 300 triệu đồng tiền hỗ trợ. Chính sách như vậy khá hợp lý, người dân có kinh phí thuê chỗ ở trong thời gian chờ và sau này được trở về căn hộ mới khang trang hơn”, ông Nguyễn Văn Ngà chia sẻ.

    Ông Nguyễn Tiến Phước, Trưởng phòng Kinh tế – Hạ tầng – Đô thị phường Bình Quới, thông tin, hiện có 739/1.001 hộ đồng ý di dời, chiếm 73,9%; 698 trường hợp đã bàn giao mặt bằng. Đối với nhà thuộc sở hữu nhà nước, có 353 căn hộ, trong đó phường đã tiếp xúc 195 hộ đang sinh sống tại chung cư. Đến nay, 187 hộ đồng ý di dời, 58 hộ đã bàn giao mặt bằng cho Trung tâm Quản lý nhà TPHCM.

    Theo ông Nguyễn Tiến Phước, chính sách bồi thường, tái định cư được triển khai theo hai lựa chọn. Trường hợp hộ dân nhận tiền bồi thường để tự lo nơi ở mới, đơn giá bồi thường hơn 50 triệu đồng/m2, với hệ số K là 1,29 đối với tầng trệt và 1,17 đối với các tầng trên. Trường hợp lựa chọn tái định cư, chủ đầu tư thanh toán tiền tạm cư để người dân tự lo chỗ ở trong thời gian chờ. Ngoài ra, cả hai nhóm đều được hưởng thêm một số khoản hỗ trợ.

    Tương tự, tại dự án Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 13, dự án thành phần 1 (đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình, thuộc phường Hiệp Bình), đại diện UBND phường Hiệp Bình cho biết, nhờ chính sách bồi thường, hỗ trợ phù hợp, dự án nhận được sự đồng thuận cao của người dân.

    Dự án có 1.041 trường hợp bị ảnh hưởng. Phường đã chi trả trực tiếp cho 759 trường hợp và gửi tiền bồi thường vào ngân hàng đối với 277 trường hợp. Đến nay, 544 trường hợp đã bàn giao mặt bằng. Phường phấn đấu đến ngày 30-9 hoàn tất công tác thu hồi đất đối với toàn bộ 1.041 trường hợp.

    Chính sách có lợi hơn cho người dân

    Từ thực tiễn tại các dự án, TPHCM đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có đất bị thu hồi, đồng thời đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

    Thành phố đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí, hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư độc lập trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư; Quy định cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TPHCM trước khi trình HĐND TPHCM.

    Đặc biệt, dự thảo Nghị quyết được xây dựng trên cơ sở những cơ chế của Luật Phát triển đô thị, kỳ vọng rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng cho các dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị, đồng thời hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống.

    Theo dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí, hồ sơ, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, người bị thu hồi đất đủ điều kiện tái định cư nhưng không nhận nhà, đất được bố trí và tự lo chỗ ở mới sẽ được hỗ trợ bằng tiền.

    Cụ thể, trường hợp địa bàn cấp xã nơi thu hồi đất chưa có quỹ nhà, đất tái định cư để bố trí, mức hỗ trợ được tính bằng giá đất ở theo bảng giá đất nhân với diện tích tối thiểu được tách thửa tại nơi có đất thu hồi. Trường hợp địa bàn đã có quỹ nhà, đất tái định cư, mức hỗ trợ bằng 50% mức nêu trên.

    Dự thảo cũng quy định thời hạn bàn giao mặt bằng và cơ chế thưởng đối với trường hợp bàn giao mặt bằng sớm. Theo Sở NN-MT TPHCM, dự thảo đang tiếp tục được lấy ý kiến và dự kiến hoàn thiện, trình HĐND TPHCM trong tháng 9.

    TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TPHCM:

    Luật Phát triển đô thị cùng với các quy định pháp luật hiện hành, trong đó có Luật Đất đai, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai. Theo đó, thành phố được phép tách công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành một dự án độc lập. Cơ chế này cho phép thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi triển khai dự án đầu tư, qua đó rút ngắn thời gian thực hiện và hạn chế lãng phí nguồn lực. Khi thực hiện chính sách bồi thường, thành phố có thể áp dụng linh hoạt hình thức bồi thường bằng đất hoặc nhà ở tái định cư phù hợp, thay vì chỉ thực hiện theo phương thức bồi thường bằng đất cùng loại hoặc bằng tiền.

    THANH HIỀN

    Nguồn https://baomoi.com/chinh-sach-boi-thuong-thoa-dang-nguoi-dan-dong-thuan-c55984306.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!