Author: bachdn

  • Tập trung giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm

    Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu đoạn tuyến qua tỉnh Sơn La tại phường Vân Sơn.

    Hiện nay, trên địa bàn phường Vân Sơn hiện đang triển khai nhiều dự án trọng điểm, như: Đường bộ cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu đoạn qua tỉnh Sơn La; đường trục chính đô thị – nội thị Mộc Châu; Khu đô thị dịch vụ cửa ngõ Mộc Châu; Khu đô thị mới lân cận trung tâm du lịch trọng điểm tại phường Vân Sơn;… Các dự án có diện tích đất thu hồi lớn, đặt ra yêu cầu đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ thi công và hiệu quả đầu tư. Ông Trương Hoa Bắc, Chủ tịch UBND phường Vân Sơn, cho biết: Để công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng chặt chẽ, hiệu quả, phường thành lập các tổ công tác trực tiếp xuống từng tổ dân phố, từng hộ gia đình tuyên truyền, giải thích về ý nghĩa, tầm quan trọng của các dự án và những lợi ích lâu dài đối với sự phát triển của địa phương. Các kiến nghị, vướng mắc phát sinh được tiếp thu, xem xét, đề xuất phương án giải quyết phù hợp, bảo đảm quyền lợi chính đáng của nhân dân. Phường phối hợp thành lập hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; công khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất; tổ chức điều tra, đo đạc, kiểm đếm bám sát tiến độ đề ra.

    Dự án đường trục chính đô thị – nội thị Mộc Châu, đoạn đi qua địa bàn phường Vân Sơn.

    Cùng với công khai các chủ trương, chính sách liên quan, cán bộ phường thường xuyên xuống cơ sở, gặp gỡ, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và giải đáp những vấn đề người dân quan tâm. Qua đó, tạo sự đồng thuận, góp phần tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai các dự án. Điển hình là Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu đoạn tuyến qua tỉnh Sơn La. Đến nay, phường Vân Sơn đã hoàn thành giải phóng và bàn giao toàn bộ 10,57 ha mặt bằng, đáp ứng yêu cầu triển khai thi công.

    Gia đình ông Đinh Văn Thuận, tổ dân phố Đoàn Kết, có hơn 11.000 m² đất thuộc diện thu hồi phục vụ dự án, chia sẻ: Chúng tôi mong tuyến cao tốc sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng, giúp việc đi lại của nhân dân thuận tiện hơn. Vì vậy khi được chính quyền địa phương tuyên truyền, gia đình đã đồng thuận và bàn giao mặt bằng theo quy định.

    Nhân dân tháo dỡ tài sản để triển khai dự án đường trục chính đô thị – nội thị Mộc Châu.

    Đối với Dự án đường trục chính đô thị – nội thị Mộc Châu, công tác giải phóng mặt bằng còn gặp khó khăn do vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất, phương án bồi thường, bố trí quỹ đất tái định cư và tạo sự đồng thuận của một số hộ dân. Phường Vân Sơn đang tập trung tuyên truyền, vận động; huy động dân quân, đoàn viên thanh niên hỗ trợ các hộ di chuyển tài sản, bàn giao mặt bằng. Đến nay đã có 100/140 hộ bàn giao mặt bằng, với chiều dài khoảng 2,5 km.

    Bà Quách Thị Hiếu, tổ dân phố Bó Bun, có hơn 700 m² đất thuộc diện thu hồi, cho biết: Được chính quyền giải thích về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư, gia đình tôi đã đồng thuận thực hiện theo quy định; đồng thời, vận động người thân ủng hộ dự án, cung cấp hồ sơ để cơ quan chức năng kiểm đếm, lập phương án giải phóng mặt bằng.

    Người dân phường Vân Sơn chi trả bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho nhân dân.

    Công tác giải phóng mặt bằng đối với Dự án Khu đô thị dịch vụ cửa ngõ Mộc Châu cũng đang được đẩy nhanh, đã thu hồi 12,97 ha đất, đạt hơn 36,5% khối lượng. Anh Vũ Thái Chung, Giám đốc Ban Đầu tư, Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng VINA2, thông tin: Dự án có tổng diện tích khoảng 387.403 m², quy mô dân số dự kiến 2.600 người. Doanh nghiệp đang tập trung hoàn thiện hồ sơ quy hoạch và chuẩn bị phương án thi công hạ tầng ngay khi được bàn giao mặt bằng, phấn đấu đưa dự án về đích đúng tiến độ, tạo điểm nhấn cảnh quan tại cửa ngõ Khu du lịch quốc gia Mộc Châu.

    Với phương châm công khai, minh bạch, sát dân và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc từ cơ sở, phường Vân Sơn tiếp tục đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm. Sự đồng thuận của nhân dân là điều kiện quan trọng để các dự án được triển khai đúng tiến độ, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị Vân Sơn hiện đại, văn minh, góp phần nâng tầm diện mạo Khu du lịch quốc gia Mộc Châu.

    Huy Thành

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-giai-phong-mat-bang-cac-du-an-trong-diem-c56008163.epi

  • Nghệ An quyết liệt gỡ khó nguồn cung và ổn định giá vật liệu xây dựng

    Công trường thi công thi công tiểu dự án cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị Hoàng Mai. Ảnh: Phan Quỳnh.

    Chiều 8/9/2026, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức cuộc họp về công tác quản lý vật liệu xây dựng trên địa bàn. Một trong những vấn đề được đặt ra là nguy cơ thiếu nguồn cung đá, cát xây dựng và đất san lấp khi nhu cầu phục vụ các dự án hạ tầng đang tăng nhanh.

    NGUỒN CUNG CHƯA THEO KỊP NHU CẦU

    Theo dự báo, riêng trong năm 2026, Nghệ An thiếu khoảng 951.584 m3 đá xây dựng, 1,773 triệu m3 cát xây dựng và 9,865 triệu m3 đất san lấp. Đáng chú ý, nếu tính trong giai đoạn 2026-2030, nguồn cung hiện tại mới đáp ứng khoảng 69% nhu cầu đá xây dựng, 39% nhu cầu cát xây dựng và 31% nhu cầu đất san lấp.

    Tình trạng thiếu hụt diễn ra cục bộ tại nhiều địa phương như Nam Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Vinh, Diễn Châu, Kỳ Sơn, Thanh Chương, Tương Dương, Tân Kỳ…

    Trong đó, Nam Đàn là khu vực có nhu cầu vật liệu tăng cao do đang triển khai nhiều dự án giao thông trọng điểm và công trình hạ tầng quy mô lớn.

    Toàn cảnh cuộc họp. Ảnh: Kim Oanh.

    Từ năm 2025 đến nay, nhiều dự án giao thông trọng điểm quốc gia và của tỉnh, các công trình phòng chống thiên tai, hạ tầng khu công nghiệp… đồng loạt được triển khai đã tạo sức ép lớn lên thị trường vật liệu xây dựng.

    Trước đó, Nghệ An đã ban hành Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050. Công tác quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường giai đoạn 2010-2025 cơ bản hoàn thành mục tiêu, góp phần bảo đảm nguồn cung cho hoạt động xây dựng.

    Tuy nhiên, quy mô đầu tư hạ tầng tăng nhanh đang khiến khả năng cung ứng hiện tại không còn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế.

    SIẾT QUẢN LÝ GIÁ TẠI CHÂN MỎ

    Không chỉ thiếu nguồn cung, thị trường vật liệu xây dựng Nghệ An còn gặp vấn đề về giá bán và tính minh bạch của dữ liệu giá.

    Qua khảo sát tại một số mỏ, cơ quan chức năng nhận thấy giá ghi trên hóa đơn xuất bán có trường hợp thấp hơn nhiều so với giá giao dịch thực tế. Khoảng chênh lệch này gây khó khăn cho việc xác định và công bố giá vật liệu xây dựng sát với thị trường.

    Một số doanh nghiệp cung cấp thông tin chưa đầy đủ, báo giá chưa phản ánh đúng thực tế. Khi nguồn cung khan hiếm, còn xuất hiện tình trạng găm hàng, nâng giá, làm gia tăng chi phí đầu vào của các nhà thầu và chủ đầu tư.

    Ông Lê Quang Huy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đề xuất các giải pháp tháo gỡ vướng mắc về nguồn cung vật liệu xây dựng. Ảnh: Kim Oanh.

    Trong khi đó, dữ liệu về giá vật liệu hiện còn phân tán ở nhiều cơ quan, khiến việc tổng hợp và cập nhật giá chưa thực sự linh hoạt.

    Trước thực tế này, ông Hoàng Phú Hiền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An yêu cầu Sở Xây dựng tham mưu thành lập Tổ công tác liên ngành gồm: Công an, Thuế, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng để trực tiếp làm việc tại các chân mỏ, xác định giá bán thực tế và lập biên bản làm căn cứ quản lý.

    Cơ quan Thuế được giao rà soát, kiểm tra hóa đơn, chứng từ của các chủ mỏ, xử lý tình trạng khai lách giá hoặc đẩy chi phí vận chuyển nhằm gian lận sản lượng và gây thất thu thuế.

    Sở Xây dựng được yêu cầu nghiên cứu đổi mới phương thức công bố giá vật liệu xây dựng theo hướng linh hoạt hơn, giúp chủ đầu tư và nhà thầu có cơ sở tính toán chi phí vận chuyển sát thực tế, hạn chế phát sinh trong quá trình thi công.

    MỞ THÊM NGUỒN CUNG, GỠ ĐIỂM NGHẼN VẬT LIỆU

    Để giải bài toán thiếu vật liệu, tỉnh Nghệ An yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường làm việc với toàn bộ các chủ mỏ trên địa bàn, hoàn thiện thủ tục cấp phép, gia hạn mỏ trong tháng 9, chậm nhất tháng 10/2026.

    Đối với việc cấp phép nâng công suất hoặc gia hạn mỏ, tỉnh yêu cầu bổ sung các điều kiện ràng buộc pháp lý, trong đó doanh nghiệp phải niêm yết đúng giá thực tế, xuất hóa đơn chính xác và định kỳ cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý. Trường hợp vi phạm sẽ bị xem xét đình chỉ hoặc hạ công suất trong đợt cấp phép tiếp theo.

    Ông Hoàng Phú Hiền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: Kim Oanh.

    Cùng với đó, các ngành chức năng sẽ rà soát những khu vực đang thiếu vật liệu để bổ sung vào quy hoạch, hoàn thiện bản đồ tổng thể phân vùng nguồn vật liệu trong tháng 10, làm cơ sở tổ chức đấu giá.

    Đối với các khu vực miền núi, nơi điều kiện khai thác và thu hút đầu tư còn khó khăn, Nghệ An dự kiến nghiên cứu cơ chế đặc thù, chủ động thực hiện thủ tục quy hoạch, đền bù và hỗ trợ nhà đầu tư nhằm rút ngắn thời gian đưa các mỏ vào khai thác.

    Lãnh đạo UBND tỉnh Nghệ An cũng yêu cầu các đơn vị quản lý dự án chủ động khảo sát, đề xuất danh mục công trình trọng điểm và nhu cầu vật liệu đặc thù. Với những dự án có nhu cầu lớn, tỉnh sẽ xem xét phương án bố trí các mỏ vật liệu phục vụ riêng, bảo đảm nguồn cung trong suốt quá trình triển khai.

    Nguyễn Thuấn

    Nguồn https://baomoi.com/nghe-an-quyet-liet-go-kho-nguon-cung-va-on-dinh-gia-vat-lieu-xay-dung-c56008118.epi

  • Huổi Một nỗ lực hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai

    Trụ sở xã Huổi Một.

    Sau sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của xã Huổi Một và xã Nậm Mằn, huyện Sông Mã cũ, hồ sơ đất đai qua nhiều thời kỳ còn nhiều bất cập, như một số thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa khớp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; có trường hợp chủ sử dụng đất đã qua đời, chuyển đi nơi khác hoặc không còn cư trú tại địa phương. Một số thửa đất đã biến động qua nhiều thời kỳ nhưng chưa đăng ký, chỉnh lý, dẫn đến chênh lệch giữa thực tế và hồ sơ.

    Bản Pá Mằn, xã Huổi Một.

    Đẩy mạnh đo đạc, lập bản đồ, hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, UBND xã Huổi Một thành lập Ban Chỉ đạo và các tổ công tác; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên, tập trung rà soát, chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu. Cán bộ vừa nhập dữ liệu, vừa trực tiếp xuống cơ sở thu thập, đối chiếu thông tin, xử lý những trường hợp còn vướng mắc. Các tổ công tác thực hiện phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, tìm chủ sử dụng đất, liên hệ những người đi làm ăn xa để bổ sung thông tin. Với trường hợp chủ sử dụng đất đã qua đời, cán bộ trực tiếp hướng dẫn gia đình hoàn thiện thủ tục liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định.

    Lãnh đạo xã Huổi Một xác minh hiện trạng thửa đất trên bản đồ.

    Ông Lương Văn Vịnh, Chủ tịch UBND xã Huổi Một, cho biết: Để đẩy nhanh tiến độ, xã tập trung rà soát hồ sơ, đối chiếu thông tin và cập nhật dữ liệu liên tục. Các tổ công tác vừa nhập dữ liệu tại trụ sở, vừa xuống các bản thu thập, rà soát thông tin, kịp thời tháo gỡ vướng mắc. Bình quân mỗi ngày, xã cập nhật khoảng 200 thửa đất.

    Phòng Kinh tế xã Huổi Một hiện có 6 biên chế, mỗi cán bộ phải phụ trách nhiều lĩnh vực. Trong thời gian cao điểm, nhiều cán bộ làm việc ngoài giờ để xử lý hồ sơ. Bà Hà Thị Ngọc Oanh, Trưởng phòng, chia sẻ: Khối lượng công việc rất lớn, trong khi cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực. Với tinh thần “Chỉ bàn làm, không bàn lùi”, cán bộ của phòng thường xuyên làm thêm giờ, tập trung xử lý hồ sơ, bảo đảm tiến độ nhiệm vụ được giao.

    Cán bộ Phòng Kinh tế, xã Huổi Một cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu đất đai trên hệ thống.

    Nhờ cách làm quyết liệt, đến ngày 17/7/2026, xã Huổi Một đã hoàn thành chuyển đổi toàn bộ 11.899 thửa đất từ nhóm 2 (chưa đạt chuẩn, thông tin dữ liệu còn thiếu sót hoặc bị sai lệch) sang nhóm 1 “Đúng – Đủ – Sạch – Sống”. Đối với dữ liệu không gian, 33 thửa đất đã được đồng bộ thành công lên hệ thống VBDLIS; 119 thửa đủ điều kiện bắt buộc, có hồ sơ quét và sẵn sàng đồng bộ; 101 thửa còn lại tiếp tục được rà soát để trình UBND xã ban hành thông báo xác nhận.

    Hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai mới chỉ là bước đầu, xã Huổi Một tiếp tục quản lý, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu đã được xây dựng; thường xuyên cập nhật, chỉnh lý các biến động phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn.

    Minh Thu

    Nguồn https://baomoi.com/huoi-mot-no-luc-hoan-thien-co-so-du-lieu-dat-dai-c56008161.epi

  • Đề xuất 18 lĩnh vực nông nghiệp môi trường người có chức vụ không được lập doanh nghiệp sau thôi chức

    Sẽ có danh mục mới về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường mà người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã. Ảnh: Chinhphu.vn

    Đề xuất người có chức vụ 18 lĩnh vực nông nghiệp môi trường không được lập doanh nghiệp sau thôi chức

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang dự thảo Thông tư quy định danh mục các lĩnh vực và thời hạn mà người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã sau khi thôi giữ chức vụ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

    Theo dự thảo, các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường mà người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó sau khi thôi giữ chức vụ không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm: Quản lý nhà nước về lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật; Quản lý nhà nước về lĩnh vực chăn nuôi và thú y; Quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy lợi; Quản lý nhà nước về lĩnh vực đê điều và phòng, chống thiên tai;  Quản lý nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp; Quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy sản.

    Danh mục còn có các lĩnh vực quản lý nhà nước về lĩnh vực: biến đổi khí hậu; môi trường; đất đai; đo đạc và bản đồ; tài nguyên nước; phát triển nông thôn; Quản lý nhà nước về lĩnh vực chất lượng, chế biến và phát triển thị trường; diêm nghiệp; viễn thám; khí tượng thủy văn; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Các chương trình, dự án, đề án thuộc các lĩnh vực được quy định ở trên cũng thuộc danh mục này.

    Như vậy so với Thông tư số 02/2024/TT-BNNPTNT ngày 27/3/2024 quy định danh mục các lĩnh vực và thời hạn mà người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, dự thảo Thông tư tăng 5 lĩnh vực.

    Dự thảo nêu rõ, trong thời hạn đủ 24 tháng kể từ ngày thôi giữ chức vụ, quyền hạn theo quyết định của cấp có thẩm quyền, người có chức vụ, quyền hạn công tác trong các lĩnh vực được quy định từ khoản 1 đến khoản 11 của dự thảo trên không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã trong lĩnh vực đó.

    Trong thời hạn đủ 12 tháng kể từ ngày thôi giữ chức vụ, quyền hạn theo quyết định của cấp có thẩm quyền, người có chức vụ, quyền hạn công tác trong các lĩnh vực được quy định từ khoản 12 đến khoản 17 nêu trên không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã trong lĩnh vực đó.

    Thời hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã đối với người thôi giữ chức vụ khi đang là cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp nghiên cứu, xây dựng hoặc thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án, đề án quy định tại khoản 18 nêu trên là thời hạn thực hiện xong chương trình, dự án, đề án.

    Đỗ Phong

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-18-linh-vuc-nong-nghiep-moi-truong-nguoi-co-chuc-vu-khong-duoc-lap-doanh-nghiep-sau-thoi-chuc-c56008093.epi

  • Phường Lĩnh Nam: Làng cổ Thúy Lĩnh trong nhịp sống mới

    Niềm vui của người dân làng cổ

    Thúy Lĩnh là làng cổ của phường Lĩnh Nam, nơi những con ngõ, nếp nhà, không gian sinh hoạt cộng đồng và tình làng nghĩa xóm đã tạo nên một bản sắc riêng. Với nhiều người dân, đây không chỉ là nơi ở, mà còn là quê hương gắn với ký ức gia đình, dòng họ và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

    Làng cổ Thuý Lĩnh, phường Lĩnh Nam. Ảnh: PV

    Trong phương án điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000 để thực hiện Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, làng Thúy Lĩnh được xác định là một trong 7 cụm làng, làng lâu đời thuộc diện cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Theo phương án, khu vực này có diện tích khoảng 71,4ha, quy mô dân số 12.677 người, tương ứng 3.245 hộ.

    Với người dân, việc làng được xác định là khu vực cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc mang đến niềm vui không nhỏ. Ông Nguyễn Văn Sáng, 72 tuổi, người dân làng Thúy Lĩnh, nay thuộc tổ dân phố 26 cho biết, dòng họ nhà ông đã có mặt ở đây khoảng 800 năm, trong khi làng Thúy Lĩnh có lịch sử khoảng 1.000 năm. Nhà ngay mặt phố Thúy Lĩnh, ông Sáng cho rằng, nếu có những thay đổi về nhà cửa, đất đai của một số hộ dân, trong đó có gia đình ông, để phục vụ công tác chỉnh trang, tôn tạo thì người dân sẵn sàng chia sẻ. “Quan trọng là bản sắc và hồn cốt của làng vẫn được bảo tồn, là quý rồi”, ông Nguyễn Văn Sáng nói.

    Ông Nguyễn Văn Sáng thực hiện góp ý phương án quy hoạch. Ảnh: PV

    Ông Vũ Văn Hạnh phấn khởi chia sẻ bởi phương án quy hoạch làng Thuý Lĩnh trong khu vực tôn tạo, chỉnh trang. Ảnh: PV

    Cùng chung niềm vui, ông Vũ Văn Hạnh, số nhà 2 phố Thúy Lĩnh, thuộc tổ dân phố 20 cho biết, nhà ông cách cơ đê Hữu Hồng khoảng 60-70m. Trước đây, cả gia đình ông đều ở trong làng, nhưng từ năm 1992 được cấp đất giãn dân nên gia đình chuyển ra mặt phố, mở hàng ăn mưu sinh.

    Khi biết Thúy Lĩnh là một trong 7 cụm làng, làng lâu đời thuộc diện cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc, theo ông Hạnh, cả làng đều rất vui mừng, gia đình ông cũng vậy, dù có thể nhà mình bị ảnh hưởng bởi phương án chỉnh trang. Ông mong muốn, nếu sau này gia đình thuộc diện bị ảnh hưởng bởi dự án thì chính sách bồi thường, hỗ trợ được thực hiện thỏa đáng, để người dân yên tâm trước những thay đổi liên quan đến chỗ ở, phương kế mưu sinh.

    Một ngõ nhỏ của làng Thuý Lĩnh. Ảnh: PV

    Những chia sẻ ấy cho thấy, người dân Thúy Lĩnh không đứng ngoài quá trình phát triển. Họ sẵn sàng chia sẻ, thậm chí chấp nhận những thay đổi nhất định vì lợi ích chung, nhưng mong muốn sự đổi thay được thực hiện thấu đáo, để những giá trị đã tạo nên căn cốt của làng tiếp tục được gìn giữ.

    Để làng quê tiếp tục góp sức trong sự phát triển chung của đô thị

    Theo định hướng điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, khu vực phía Nam sông Hồng được nghiên cứu phát triển các chức năng thương mại, dịch vụ, nông nghiệp sinh thái, du lịch và trải nghiệm sáng tạo; đồng thời bảo tồn, phục hồi các giá trị lịch sử, văn hóa.

    Hệ thống làng nghề, làng lâu đời trong phạm vị lập quy hoạch phân khu. Ảnh: PV

    Trong tổng thể 12 cụm làng, làng lâu đời, làng nghề truyền thống,… thuộc khu vực lập quy hoạch, phương án xác định các nhóm có định hướng xử lý khác nhau. 7 cụm làng, làng lâu đời và 1 cụm làng nghề truyền thống thuộc diện cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc.

    Vì vậy, việc đưa làng Thúy Lĩnh vào nhóm cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc cần được hiểu trong mối quan hệ với đặc điểm lịch sử, văn hóa và không gian làng. Đây không phải định hướng áp dụng đồng nhất cho tất cả các cụm làng trong khu vực nghiên cứu, mà là cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình, từng điều kiện thực tế.

    Theo định hướng quy hoạch, không gian sông Hồng được nghiên cứu trở thành trục cảnh quan, văn hóa, lịch sử và môi trường; hình thành hệ thống công viên, cây xanh, không gian công cộng, đường dạo cảnh quan, các điểm sinh hoạt văn hóa, du lịch và thể thao. Trong tổng thể đó, những không gian làng quê như Thúy Lĩnh có thể trở thành một phần giá trị của đô thị mới.

    Làng Thuý Lĩnh hôm nay. Ảnh: PV

    Việc đưa các làng lâu đời vào nghiên cứu quy hoạch cho thấy phát triển đô thị không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc thay thế toàn bộ những gì đã có. Việc nghiên cứu giữ lại, cải tạo những khu vực mang giá trị về lịch sử, văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng và kết nối với không gian mới có thể tạo nên một diện mạo đô thị vừa hiện đại, vừa có chiều sâu.

    Để làm được điều đó, việc chỉnh trang cần đi cùng đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; kết nối giao thông, cải thiện môi trường sống, bổ sung không gian cây xanh, công viên, các thiết chế văn hóa, thể thao và địa điểm sinh hoạt cộng đồng. Đồng thời, rà soát cụ thể từng khu vực, từng công trình, từng không gian có giá trị để xác định cách thức bảo tồn phù hợp.

    Từ câu chuyện Thúy Lĩnh, có thể thấy, hiệu quả của quy hoạch không chỉ được đo bằng những tuyến đường mới, những công trình hiện đại hay diện mạo đô thị thay đổi. Quan trọng hơn là quy hoạch phải tạo ra một không gian sống tốt hơn cho người dân, đồng thời giữ được những giá trị làm nên bản sắc.

    Thương Huế

    Nguồn https://baomoi.com/phuong-linh-nam-lang-co-thuy-linh-trong-nhip-song-moi-c56008087.epi

  • Hà Nội dẫn đầu cả nước về giải ngân vốn đầu tư công

    Đà giải ngân tích cực đang tạo chuyển biến rõ nét tại các dự án hạ tầng giao thông, đô thị và thoát nước, đồng thời thúc đẩy Thành phố tiếp tục tháo gỡ vướng mắc, tập trung nguồn lực cho các dự án có sức lan tỏa lớn.

    Tại nhóm dự án giao thông trọng điểm, cầu Trần Hưng Đạo đang có tiến độ nổi bật trong số các công trình cầu qua sông Hồng. Đến giữa tháng 8, dự án đã hoàn thành 128 cọc khoan nhồi và 7/7 bệ trụ cầu chính; năm trụ chính giữa sông đạt khoảng 85-88% khối lượng. Những nhịp vòm thép đầu tiên dự kiến lắp dựng từ cuối tháng 8, đầu tháng 9/2026.

    Dự án cầu Hồng Hà được tổ chức thi công với 30 mũi, đã hoàn thành 931/941 cọc khoan nhồi, 59/70 bệ và thi công thân 56/70 trụ, sản lượng đạt khoảng 42,62%. Dự án phấn đấu thông xe kỹ thuật vào tháng 7/2027 và hoàn thành toàn bộ trong tháng 10/2027.

    Với Vành đai 2,5, các đoạn Dịch Vọng-Dương Đình Nghệ, Vũ Phạm Hàm-Trần Duy Hưng và Ngụy Như Kon Tum-Nguyễn Trãi có tổng mức đầu tư hơn 432 tỷ đồng. Mặt bằng cả 3 đoạn đã được bàn giao, sản lượng xây lắp đạt khoảng 23%, tỷ lệ giải ngân vốn năm 2026 đạt 83,86%. Nhà thầu đang tập trung thi công hệ thống thoát nước, hào kỹ thuật và nền đường.

    Đối với Vành đai 4-Vùng Thủ đô, Dự án thành phần 2.1 xây dựng đường song hành trên địa bàn Hà Nội đã hoàn thành gần 90% trong tổng số 40/50,76km bê tông nhựa, phấn đấu hoàn thành trong quý 3/2026. Vành đai 1 đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục đã thông xe kỹ thuật dịp Quốc khánh 2/9, góp phần cải thiện giao thông nội đô.

    Cùng với giao thông, Thành phố tập trung nguồn lực cho các dự án hồ điều hòa Phú Đô, Mễ Trì và cụm hồ Yên Nghĩa, góp phần hoàn thiện hạ tầng, nâng năng lực tiêu thoát nước và chống ngập phía Tây.

    Hà Nội cũng tiếp tục thực hiện chương trình phát triển 5 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 303,5km, tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 1,3 triệu tỷ đồng; thúc đẩy các dự án nhà ở cho thuê gắn với mô hình TOD và phát triển các khu đô thị mới.

    Để duy trì đà giải ngân trong những tháng cuối năm, Thành phố xác định đầu tư công và xây dựng là động lực trực tiếp, chủ động cao. Các dự án giao thông, cầu, đường sắt, hồ điều hòa, thoát nước và hạ tầng đô thị đang bước vào giai đoạn cao điểm thi công, nhiều công trường duy trì nhịp độ “3 ca, 4 kíp”. Tiến độ giải ngân được cụ thể hóa đến từng dự án, gắn với trách nhiệm người đứng đầu.

    Thành phố cũng đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn từ cơ sở. Việc phân cấp gắn với phân bổ nguồn lực, cùng các tổ công tác trực tiếp hỗ trợ xã, phường, giúp xử lý vướng mắc và điều chuyển vốn tới dự án có khả năng giải ngân tốt.

    Giới chuyên gia kinh tế đánh giá, tốc độ giải ngân cao không chỉ giúp nâng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách mà còn tạo thêm khối lượng đầu tư cho nền  kinh tế, kích thích nhu cầu vật liệu, xây dựng, dịch vụ và việc làm. Quan trọng hơn, hạ tầng được hoàn thiện đồng bộ sẽ góp phần thu hút dòng vốn tư nhân và FDI, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.             

    T.X.

    Nguồn https://baomoi.com/ha-noi-dan-dau-ca-nuoc-ve-giai-ngan-von-dau-tu-cong-c56008089.epi

  • Sáng tạo giải bài toán thiếu đất san lấp mặt bằng – Kỳ 2: Gỡ điểm nghẽn bằng cơ chế thông thoáng

    Kịp thời bổ sung nguồn

    Xác định nguồn vật liệu phải được chuẩn bị trước khi các dự án bước vào cao điểm thi công, tỉnh tập trung tháo gỡ thủ tục cấp phép, đồng thời tạo điều kiện để các mỏ đang hoạt động nâng công suất trong phạm vi được phép, ưu tiên cung cấp cho công trình, dự án trọng điểm.

    Cán bộ xã Kép kiểm tra hoạt động khai thác đất san lấp mặt bằng tại mỏ của Công ty trách nhiệm hữu hạn Trung Anh VINA.

    Trước thực tế đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh thiếu đất san lấp, cơ quan chức năng đã nhanh chóng tham mưu, tháng 6 vừa qua, tỉnh đã cấp giấy phép khai thác khoáng sản cho Công ty TNHH một thành viên Xây dựng Hải Thọ tại khu vực núi Trúc Tay, phường Nếnh. Mỏ đất có trữ lượng hơn 3,1 triệu m3, thời hạn khai thác 2 năm và công suất tối đa 1,8 triệu m³/năm. Theo ông Nguyễn Văn Thọ, Giám đốc Công ty, sau khi hoàn tất các thủ tục, đơn vị đã huy động thiết bị, nhân lực, khai thác và vận chuyển đất với khối lượng lớn nhất cung cấp cho dự án này theo đúng giấy phép.

    Nguồn vật liệu bổ sung kịp thời giúp nhiều gói thầu thuộc tuyến đường này tăng tốc trở lại. Ông Phạm Văn Tấn, Chỉ huy trưởng công trường gói thầu số 16, dự án đường Vành đai 4 cho biết: “Trước đây, do thiếu đất san nền, nhiều thời điểm đơn vị phải dừng máy chờ vật liệu. Từ khi có nguồn cung ổn định, chúng tôi chủ động tổ chức các mũi thi công đồng loạt, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, tiến độ”.

    Công ty TNHH một thành viên Xây dựng Hải Thọ vận chuyển đất phục phục thi công đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

    Đối với tuyến đường kết nối từ đường tỉnh 292 qua Khu công nghiệp An Hà đến đường Vành đai Đông Bắc, khó khăn cũng được tháo gỡ. Cùng với nguồn đất từ các mỏ được cấp phép, địa phương đẩy nhanh giải phóng mặt bằng để sớm tận dụng nguồn đất đào trong phạm vi dự án cho đắp nền. Tại dự án nâng cấp, mở rộng đường tỉnh 293, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã trình Chủ tịch UBND tỉnh bố trí hai khu vực cung cấp vật liệu, gồm khu vực thôn Đồi Hồng, xã Bố Hạ và thôn Biềng, xã Nam Dương nhằm bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ thi công.

    Để chủ động tháo gỡ khó khăn, từ cuối năm 2025, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 502/QĐ-UBND phê duyệt 44 khu vực không đấu giá quyền khai thác đất san lấp và cát kết đồi. Quyết định này là cơ sở để bố trí vật liệu phục vụ các công trình, dự án trọng điểm quốc gia và dự án kết nối liên vùng theo cơ chế đặc thù của Chính phủ. Theo đó, các khu vực khoáng sản được phân bố tại nhiều địa phương với trữ lượng khoảng 311 triệu m³. Trong đó khu vực đất san lấp có trữ lượng dự báo hơn 274 triệu m³, còn lại là cát kết đồi. Khối lượng này đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vật liệu cho nhiều công trình lớn những năm tiếp theo. Việc khoanh định trước các khu vực có tiềm năng giúp tỉnh không những chuyển từ xử lý thiếu hụt trước mắt mà còn chủ động chuẩn bị vật liệu cho các dự án dài hạn.

    Nhà thầu thi công hạng mục san nền Khu công nghiệp Song Mai – Nghĩa Trung.

    Tại xã Cẩm Lý, tháng 4 năm nay, tỉnh đã cấp cho Công ty cổ phần Thái Minh Group 2 giấy phép khai thác tại thôn Hoàng Lạt và thôn Vũ Xá với trữ lượng hơn 12,6 triệu m3 đất. Các điểm mỏ này cung cấp cho công trình trọng điểm Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và khu tái định cư. Theo ông Nguyễn Ngọc Hưng, Giám đốc điều hành mỏ thuộc Công ty cổ phần Thái Minh Group, sau khoảng 3 tháng hoạt động, đơn vị đã khai thác gần 90 vạn m3 đất cung cấp cho dự án và sẽ tăng công suất đáp ứng đủ tiến độ thi công.

    Ở xã Kép, mỏ đất của Công ty TNHH Khai thác đất Tân Hưng đang cung cấp khoảng 480 nghìn m³/năm cho các khu công nghiệp, dự án. Hay như, xã Nghĩa Phương hiện có 10 khu vực mỏ được tỉnh cấp phép khai thác đất, trữ lượng khoảng 44 triệu m³. Tại mỏ đất của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng 68 Trường Sinh, từ đầu năm đến nay, doanh nghiệp đã khai thác khoảng 600 nghìn m3 phục vụ thi công đường Vành đai 4 -Vùng Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh và dự án nâng cấp, mở rộng đường tỉnh 293.

    Nhờ chủ động nguồn đất san lấp, đường Vành đai 4 – Vùng Thủ đô Hà Nội, đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang được hoàn thiện.

    Cùng với mở rộng nguồn cung, tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường công khai danh mục, kiểm soát chặt khu vực chưa cấp phép, ngăn khai thác trái phép và bảo đảm tài nguyên được sử dụng đúng mục đích. Các địa phương có khoáng sản lấy ý kiến Nhân dân, tăng cường quản lý, bảo vệ khu vực mỏ chưa được cấp phép; ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép.

    Dự báo sát, khai thác điểm mỏ theo công trình

    Theo ông Bùi Quang Phát, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhu cầu về khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường cho các dự án, công trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh giai đoạn 2025-2030 là hơn 602 triệu m3. Trong khi đó, mỏ đất san lấp đã quy hoạch là 259 điểm với tài nguyên dự báo hơn 668 triệu m3. Tỉnh đã khoanh định và chấp thuận cho khảo sát, thăm dò các mỏ với trữ lượng hơn 650 triệu m3 đất, bảo đảm đủ đất san lấp cho các công trình đang thi công. Với tinh thần chủ động, linh hoạt, tỉnh liên tiếp ban hành các quyết định điều chỉnh, bổ sung khu vực khoáng sản không đấu giá quyền khai thác. Việc bổ sung không dàn trải mà bám sát nhu cầu thực tế từng công trình, từng nhóm dự án và giai đoạn thi công.

    Tỉnh tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong trình tự, thủ tục cấp phép khai thác mỏ, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian đưa mỏ vào hoạt động. Trước đây, để hoàn tất thủ tục đưa một mỏ đất vào khai thác, thời gian có thể mất khoảng 2,5-3 năm, qua nhiều khâu. Từ thăm dò, đánh giá trữ lượng, lập và thẩm định hồ sơ về chấp thuận chủ trương đầu tư, môi trường, chuyển mục đích sử dụng rừng, đến thẩm định và cấp phép khai thác.

    Nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

    Hiện nay, thực hiện cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ, đồng thời triển khai các cơ chế, chính sách đã được luật hóa, tỉnh tập trung chỉ đạo rà soát, kiến nghị tháo gỡ những vướng mắc và các quy định chưa đồng bộ. Nhờ đó, thời gian cấp phép rút ngắn đáng kể. Đối với những mỏ đủ điều kiện, thời gian thực hiện thủ tục cấp phép được đẩy nhanh, chỉ còn khoảng 3 tháng, giảm 85% so với trước đây. Qua đó giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa các mỏ đủ điều kiện vào khai thác, bổ sung kịp thời nguồn cung cho các công trình, dự án trên địa bàn.

    Tháng 6 vừa qua, tỉnh phê duyệt bổ sung 10 khu vực đất san lấp với khoảng gần 100 triệu m³. Trong đó, khu vực xã Trường Sơn chiếm gần một nửa trữ lượng khoáng sản, định hướng phục vụ các dự án hạ tầng, công nghiệp, logistics trên địa bàn. Tại các xã: Nghĩa Phương, Tam Tiến, Đồng Kỳ, Bố Hạ, Nam Dương và phường Phượng Sơn được bổ sung cung cấp vật liệu cho nhiều công trình giao thông, hạ tầng công nghiệp và logistics. Riêng khu vực xã Nam Dương và phường Phượng Sơn ưu tiên phục vụ dự án xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.

    Chỉ trong thời gian ngắn, Bắc Ninh đã khoanh định 75 khu vực khoáng sản để đưa vào khảo sát, thăm dò, cấp phép. 8 tháng năm nay, tỉnh đã cấp phép 19 điểm mỏ đất. Thời gian thực hiện thủ tục cấp phép chỉ còn khoảng 3 tháng, giảm 85% so với trước đây.

    Chưa đầy một tháng sau, khi nhu cầu vật liệu tiếp tục tăng, tỉnh tiếp tục quyết định điều chỉnh, bổ sung 21 khu vực khoáng sản vào danh mục không đấu giá quyền khai thác. Quyết định này mở rộng đáng kể nguồn cung đất san lấp, với hơn 110 triệu m³ khoáng sản. Điểm khác biệt của lần điều chỉnh này là việc phân bổ khoáng sản được tính toán theo từng nhóm công trình ưu tiên. Các công trình trọng điểm quốc gia, tỉnh bổ sung một số khu vực đất san lấp tại xã Xuân Lương phục vụ tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội. Nhóm dự án đầu tư công, vật liệu được bố trí cho cầu Kênh Vàng và đường dẫn kết nối với Hải Phòng, các tuyến đường tỉnh cùng một số công trình thủy lợi, đê điều. Cùng đó là nhóm dự án phát triển kinh tế – xã hội ưu tiên nguồn đất cho các khu công nghiệp, khu đô thị và hạ tầng quan trọng.

    Chỉ trong thời gian ngắn, Bắc Ninh đã khoanh định 75 khu vực khoáng sản để đưa vào khảo sát, thăm dò, cấp phép. 8 tháng năm nay, tỉnh đã cấp phép 19 điểm mỏ đất. Hiện toàn tỉnh có 54 mỏ đất san lấp được cấp phép, tổng trữ lượng hơn 150 triệu m3, công suất khai thác gần 43 triệu m3/năm, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trước mắt cho các công trình, dự án trên địa bàn. Tuy nhiên, khi ngày càng nhiều mỏ hoạt động, bài toán tiếp theo là phải quản lý chặt chẽ việc khai thác và sử dụng đúng mục đích gắn với hoàn nguyên tài nguyên bảo đảm hài hòa, bền vững.

    (còn nữa)

    Bảo Khánh – Minh Linh

    Nguồn https://baomoi.com/sang-tao-giai-bai-toan-thieu-dat-san-lap-mat-bang-ky-2-go-diem-nghen-bang-co-che-thong-thoang-c56008060.epi

  • Lắng nghe, giải quyết việc dân

    Ông Lưu Hoàng Ân, Chủ tịch UBND xã Hiệp Đức tiếp công dân, lắng nghe và trực tiếp chỉ đạo giải quyết các kiến nghị, phản ánh của người dân. Ảnh: ĐVCC

    Giải quyết từ cơ sở

    Tại xã Hiệp Đức, công tác tiếp công dân được xác định là nhiệm vụ thường xuyên nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Ông Lưu Hoàng Ân, Chủ tịch UBND xã Hiệp Đức cho biết, từ đầu năm 2026 đến nay, UBND xã đã tiếp 159 lượt công dân, tiếp nhận 43 đơn thư, kiến nghị, phản ánh.

    Trong quá trình tiếp nhận và xử lý vụ việc, địa phương chú trọng phân loại ngay từ đầu để xác định hướng giải quyết phù hợp. Việc thuộc thẩm quyền thì tập trung xử lý, việc cần kiểm tra thì xác minh, vượt thẩm quyền thì kiến nghị cấp trên xem xét, giải quyết theo quy định.

    Thời gian tới, chính quyền địa phương tiếp tục duy trì nền nếp tiếp công dân, tăng cường đối thoại trực tiếp nhằm kịp thời nắm bắt tình hình từ cơ sở. Qua đó, tập trung giải quyết thỏa đáng các kiến nghị chính đáng của người dân, hạn chế tình trạng đơn thư kéo dài và tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

    Công tác tiếp công dân cũng được xã Việt An duy trì định kỳ vào thứ Năm hằng tuần. Bà Trần Thị Hằng, Bí thư Đảng ủy xã cho biết, từ ngày 1/1/2026 đến ngày 7/9/2026, UBND xã đã tiếp 172 lượt công dân. Trong đó, Chủ tịch UBND xã tiếp định kỳ 112 lượt, công chức chuyên môn được phân công tiếp thường xuyên 60 lượt.

    Cùng với đó, địa phương chú trọng việc tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn thư. Từ đầu năm 2026 đến nay, UBND xã đã tiếp nhận, xử lý 43 đơn, gồm 23 đơn kiến nghị, phản ánh và 20 đơn đề nghị hòa giải tranh chấp đất đai. Đến nay, 27 đơn đã được giải quyết dứt điểm, 16 đơn còn lại đang được các cơ quan chuyên môn tham mưu xử lý theo quy định.

    Lãnh đạo xã Việt An tiếp công dân, lắng nghe và tiếp nhận các kiến nghị, phản ánh của người dân. Ảnh: ĐVCC

    Theo bà Trần Thị Hằng, nội dung phản ánh của người dân tập trung vào các vấn đề liên quan đến đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng, nghĩa trang, hạ tầng giao thông, chính sách an sinh xã hội, cư trú, địa giới và đất ở. Trong đó, các kiến nghị và yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai chiếm tỷ lệ đáng kể.

    Đây là những vấn đề gắn trực tiếp với tài sản, nơi ở, sinh kế và quyền lợi lâu dài của người dân. Vì vậy, quá trình giải quyết không chỉ đòi hỏi tuân thủ đúng quy định pháp luật mà còn cần sự thận trọng, khách quan, công khai và sát với thực tiễn.

    Lắng nghe dân nói

    Để đưa chính quyền đến gần dân hơn, công tác tiếp công dân tại xã Hòa Tiến không chỉ bó hẹp vào ngày thứ Năm hằng tuần; bất cứ khi nào phát sinh đơn thư hay vụ việc, địa phương đều kịp thời tiếp nhận và xử lý.

    Khối lượng công việc tại đây là khá lớn. Ông Nguyễn Tấn Khoa, Chủ tịch UBND xã Hòa Tiến cho biết, từ đầu năm 2026 đến nay, UBND xã đã tổ chức tiếp 235 lượt với 247 công dân, tương ứng 235 vụ việc và 235 đơn thư. Trong đó, tiếp công dân thường xuyên đạt 186 lượt với 186 người, 186 vụ việc và 186 đơn thư; lãnh đạo tiếp công dân định kỳ và đột xuất đạt 49 lượt với 61 người, tương ứng 49 vụ việc và 49 đơn thư.

    Việc tiếp công dân tại xã Hòa Tiến được duy trì thường xuyên, qua đó kịp thời lắng nghe, tiếp nhận và giải quyết các kiến nghị, phản ánh của người dân. Ảnh: ĐVCC

    Một trong những vụ việc được chính quyền xã Hòa Tiến trực tiếp lắng nghe, rà soát là kiến nghị của bà Nguyễn Thị Thế liên quan đến việc bố trí đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp, mở rộng quốc lộ 14B, đoạn qua địa bàn xã Hòa Tiến.

    Theo hồ sơ, diện tích đất ở và đất khuôn viên của hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thế bị thu hồi là 68,9m2 . Diện tích này chưa đủ điều kiện để bố trí đất tái định cư theo kế hoạch đã được phê duyệt.

    Tuy nhiên, thay vì chỉ căn cứ vào các tiêu chí cứng nhắc để trả lời kiến nghị, UBND xã Hòa Tiến đã tổ chức tiếp công dân, lắng nghe tâm tư của gia đình. Qua đối thoại và tình hình thực tế, UBND xã báo cáo UBND thành phố, đề xuất xem xét, thống nhất chủ trương bố trí đất tái định cư cho gia đình bà Thế.

    Trên cơ sở đề xuất của UBND xã Hòa Tiến, UBND thành phố đã thống nhất chủ trương. Hiện UBND xã Hòa Tiến phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất – Chi nhánh khu vực IV hoàn tất thủ tục liên quan để sớm bố trí tái định cư cho gia đình bà Thế.

    Việc sâu sát, lắng nghe người dân giúp chính quyền có thêm cơ sở đánh giá toàn diện vụ việc, từ đó đề xuất phương án xử lý thấu tình đạt lý, vừa bảo đảm đúng quy định pháp luật, vừa đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.

    Cách làm này không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, mà còn giúp các hộ dân yên tâm bàn giao mặt bằng, góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trên địa bàn.

    PHƯỚC AN

    Nguồn https://baomoi.com/lang-nghe-giai-quyet-viec-dan-c56008016.epi

  • Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng: Mở ra không gian phát triển mới cho Thủ đô Hà Nội

    LTS: Sông Hồng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của Hà Nội, nhưng giá trị của dòng sông chưa được khai thác tương xứng với nhịp bước mới của thủ đô. UBND TP Hà Nội đã báo cáo về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, để thực hiện dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, đồng thời tổ chức lấy ý kiến từ ngày 7-9 đến ngày 27-9-2026.

    Không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông, phát triển đô thị

    Theo Quy hoạch, Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được xác định là 1 trong 9 động lực phát triển của Thủ đô Hà Nội. Đây cũng là trục chiến lược, trục không gian xanh trung tâm, đồng thời là trục kinh tế, thương mại, dịch vụ và đô thị gắn với văn hóa sáng tạo, khoa học công nghệ dọc hai bên sông.

    Phối cảnh quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng (Nguồn: UBND TP Hà Nội)

    Phạm vi nghiên cứu dự án kéo dài khoảng 40km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, thuộc 16 xã, phường của Hà Nội. Tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418ha, dân số hiện trạng gần 280.000 người. Khu vực quy hoạch có giá trị lớn về lịch sử, văn hóa với 123 công trình di tích, trong đó có 1 di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố, 61 di tích chưa xếp hạng. Ngoài ra còn có 14 địa điểm lưu niệm các sự kiện cách mạng, kháng chiến.

    Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được định hướng trở thành không gian chiến lược về cảnh quan, giao thông và phát triển đô thị của thủ đô, với tư duy tổ chức không gian mới, chuyển từ mô hình đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”. Qua đó khai thác hiệu quả giá trị cảnh quan, văn hóa, lịch sử của sông Hồng và tạo diện mạo đô thị hiện đại, văn minh.

    Một trong những nguyên tắc cốt lõi của quy hoạch là “thích ứng với lũ”, đặt yêu cầu an toàn hệ thống đê điều và khả năng thoát lũ của sông Hồng lên hàng đầu. “Nguyên tắc cốt lõi là không thu hẹp không gian thoát lũ và không đề xuất giải pháp xây đê mới nằm trong đê cũ”, báo cáo của TP Hà Nội nêu.

    3 phân đoạn không gian

    * Từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long: Diện tích khoảng 3.436ha, dân số khoảng 160.000 người. Khu vực này được định hướng tái thiết đô thị, cải tạo, chỉnh trang các làng xóm truyền thống; phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và các không gian thể dục, thể thao.

    * Từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì: Diện tích khoảng 4.548ha, dân số khoảng 541.000 người. Đây là khu vực trọng tâm – “phòng khách đô thị”, tập trung phát triển các khu vực tái thiết đô thị, trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn liên kết Hồ Tây – Cổ Loa.

    * Từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở: Diện tích khoảng 3.435ha, dân số khoảng 499.000 người. Khu vực này tập trung các cụm công viên, phát triển đô thị (khu đô thị định cư và đa mục tiêu tại phường Lĩnh Nam), khu dịch vụ – thương mại, khu bảo tồn làng nghề Bát Tràng và các không gian nông nghiệp sinh thái.

    Bên cạnh đó, TP Hà Nội định hướng các giải pháp cảnh quan được nghiên cứu theo hướng linh hoạt, như công trình có thể tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang, vườn mưa giữ phù sa. Tuyến đường bộ được định hướng bám sát hệ thống đê hiện hữu, tận dụng hạ tầng sẵn có và đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt về phòng, chống lũ.

    Không gian hai bên sông được tổ chức thành hành lang xanh đặc trưng, kết hợp cây xanh, mặt nước, không gian văn hóa – lịch sử, công viên, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí và các công trình công cộng. Đây sẽ là không gian tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội, du lịch, qua đó phát huy giá trị sông Hồng và tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội.

    Trục đô thị có kết nối tốt hơn

    Trong tổ chức không gian, 3 định hướng “An toàn – Sinh thái – Giao thông” được ưu tiên. Các khu vực thoát lũ được tích hợp giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, thiên tai, bảo đảm tiêu thoát nước tự nhiên và phù hợp với cảnh quan bãi sông.

    Khu dân cư ven sông Hồng tại các phường Vĩnh Tuy, Hồng Hà, Hà Nội. Ảnh: QUANG PHÚC

    Cùng với đó, hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật được phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, liên hoàn. Mạng lưới đường ven sông kết nối với các tuyến trục, các cầu qua sông, giao thông đường bộ, đường thủy và đường sắt đô thị, tạo sự liên kết giữa hai bờ sông Hồng, nâng cao khả năng tiếp cận hạ tầng, mở rộng không gian phát triển mới cho thủ đô.

    Với trục đại lộ, TP Hà Nội sẽ xây dựng sông Hồng từ một không gian còn bị chia cắt bởi hệ thống đê, hạ tầng thiếu đồng bộ, khả năng tiếp cận hạn chế trở thành một trục đô thị có kết nối tốt hơn, nhiều không gian xanh và công cộng hơn, đồng thời tạo thêm điều kiện cho hoạt động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ, sinh hoạt cộng đồng. Người dân có thêm khả năng tiếp cận các công viên, đường dạo, không gian cộng đồng, thể dục thể thao, văn hóa, lễ hội và cảnh quan ven sông theo các khu vực được quy hoạch phù hợp. Hệ thống giao thông ven sông, cầu vượt sông, đường bộ, đường thủy được định hướng kết nối thành hệ thống liên hoàn, mở rộng khả năng đi lại và liên kết giữa hai bờ sông, giữa khu vực ven sông với các khu vực phát triển khác.

    Về quy hoạch xây dựng nhà ở, tổng diện tích nghiên cứu khoảng 11.418ha, dân số dự báo từ 800.000 đến 1,2 triệu người. Chỉ tiêu sử dụng đất dân dụng khoảng 55m2/người; chỉ tiêu sử dụng đất đơn vị ở khoảng 15m2/người. Mật độ xây dựng gộp tại khu dịch vụ – công cộng khoảng 60%; nhóm nhà ở 35% – 40%; khu công viên chuyên đề 25% và khu công viên công cộng 5%. Tầng cao công trình phổ biến từ 30 – 45 tầng. Công trình điểm nhấn, biểu tượng đô thị là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng. Đối với các làng xóm truyền thống, tầng cao dự kiến 3 tầng và sẽ được đánh giá theo tiêu chí cụ thể của từng dự án trong quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500.

    NGUYỄN HƯỞNG

    Nguồn https://baomoi.com/truc-dai-lo-canh-quan-song-hong-mo-ra-khong-gian-phat-trien-moi-cho-thu-do-ha-noi-c56008006.epi

  • Đà Nẵng: Vàng Núi Kẽm và bài toán quản trị tài nguyên theo hướng kinh tế xanh

    Xem xét cấp giấy phép thăm dò vàng tại khu vực Núi Kẽm, xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng cho thấy giá trị của nguồn tài nguyên khoáng sản này, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị tài nguyên, kiểm soát hoạt động thăm dò và bảo đảm lợi ích kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

    Khoáng sản chiến lược và giá trị của tài nguyên lòng đất

    Theo Thông báo số 9384/TB-BNNMT ngày 17/8/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Công ty TNHH CKC là đơn vị duy nhất nộp hồ sơ đề nghị lựa chọn để cấp giấy phép thăm dò khoáng sản tại khu vực vàng Núi Kẽm. Đáng chú ý, về mặt địa giới hành chính, khu vực mỏ hiện nay thuộc xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng (trước đây là xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam).

    Xem xét cấp giấy phép thăm dò vàng tại khu vực Núi Kẽm, xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng.

    Trên cơ sở hồ sơ và kết quả thẩm định của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định Công ty TNHH CKC là tổ chức được lựa chọn để xem xét cấp giấy phép thăm dò tại khu vực này theo quy định hiện hành.

    Ở góc độ kinh tế tài nguyên, việc cấp phét thăm dò, đánh giá trữ lượng và khai thác vàng đều tác động đến cách Nhà nước xác lập giá trị, phân bổ và bảo toàn một nguồn lực hữu hạn trong lòng đất.

    Trong đó, giá trị của mỏ không chỉ nằm ở lượng vàng có thể thu hồi mà còn nằm ở cách thức khai thác, hiệu quả sử dụng tài nguyên, nghĩa vụ tài chính và chi phí môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời dự án.

    Không đánh đổi tài nguyên lấy tăng trưởng ngắn hạn

    Theo đó, việc doanh nghiệp được lựa chọn để xem xét cấp giấy phép thăm dò không đồng nghĩa với việc dự án đã được phép khai thác vàng.

    Cụ thể; Thăm dò là bước quan trọng nhằm xác định đặc điểm địa chất, quy mô và tiềm năng của thân quặng, qua đó cung cấp cơ sở cho những quyết định tiếp theo. Chính vì vậy, đây cũng là giai đoạn Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng hồ sơ, năng lực của tổ chức thực hiện và việc tuân thủ pháp luật.

    Trong trường hợp Núi Kẽm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu doanh nghiệp bổ sung đầy đủ các tài liệu theo quy định; đồng thời phải gửi báo cáo về tình hình hoạt động khoáng sản của tổ chức nếu có, trong đó làm rõ việc chấp hành pháp luật về địa chất và khoáng sản, tình trạng vi phạm và việc xử lý vi phạm trong thời hạn 5 năm gần nhất, kèm tài liệu chứng minh.

    Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Công ty TNHH CKC là đơn vị duy nhất nộp hồ sơ đề nghị lựa chọn tổ chức, cá nhân để cấp giấy phép thăm dò khoáng sản tại khu vực vàng Núi Kẽm.

    Yêu cầu này cho thấy một nguyên tắc quan trọng trong quản trị tài nguyên: năng lực khai thác tài nguyên phải đi cùng năng lực tuân thủ pháp luật.

    Bên cạnh đó, đối với khoáng sản có giá trị cao như vàng, nếu chỉ nhìn vào giá trị thương mại của sản phẩm cuối cùng mà bỏ qua chi phí môi trường và xã hội thì hiệu quả kinh tế của dự án sẽ không được phản ánh đầy đủ.

    Đồng thời, quá trình khai thác có thể phát sinh đất đá thải, nước thải, nguy cơ biến đổi địa hình, tác động đến hệ sinh thái và áp lực lên hạ tầng địa phương.

    Do đó, bài toán kinh tế tài nguyên không phải là khai thác được bao nhiêu vàng, mà là mỗi đơn vị tài nguyên được khai thác tạo ra bao nhiêu giá trị ròng sau khi tính đầy đủ các chi phí môi trường và nghĩa vụ phục hồi.

    “Tài nguyên vàng” phải được nhìn bằng tư duy kinh tế xanh

    Vàng là tài nguyên hữu hạn, khi được đưa ra khỏi lòng đất, trữ lượng đó sẽ giảm đi vĩnh viễn. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa khai thác khoáng sản với những ngành kinh tế dựa trên nguồn lực có khả năng tái tạo.

    Qua đó, hiệu quả của hoạt động khoáng sản cần được đặt trong một chuỗi giá trị dài hơn: từ điều tra địa chất, thăm dò, đánh giá trữ lượng, khai thác, chế biến cho đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường.

    Cùng với đó, nếu một dự án chỉ tạo ra lợi ích trong thời gian khai thác nhưng để lại một khu vực suy thoái môi trường trong nhiều năm sau khi đóng cửa mỏ, thì phần chi phí đó không thể xem là “chi phí bên ngoài” của nền kinh tế. Về bản chất, đó vẫn là một phần chi phí của hoạt động khai thác tài nguyên.

    Một trong những vấn đề quan trọng nhất của quản trị khoáng sản là minh bạch toàn bộ vòng đời dự án.

    Theo đó, từ thời điểm doanh nghiệp xin thăm dò, cơ quan quản lý cần làm rõ năng lực tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm, lịch sử tuân thủ pháp luật và khả năng thực hiện các nghĩa vụ môi trường. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần chứng minh rằng lợi ích kinh tế từ khai thác tài nguyên sẽ không được xây dựng trên sự đánh đổi môi trường.

    Cụ thế, đối với Núi Kẽm, điều đáng quan tâm trong các bước tiếp theo không chỉ là có bao nhiêu trữ lượng vàng được xác định mà còn là phương án công nghệ nào được lựa chọn, mức độ thu hồi tài nguyên ra sao, chất thải được quản lý thế nào, nguồn nước được bảo vệ ra sao và trách nhiệm phục hồi môi trường được bảo đảm bằng cơ chế nào.

    Một vấn đề cần đặt ra đối với dự án này nếu được chấp thuận triển khai thì, chúng ta nhận thấy:  Khai thác vàng sinh ra một lượng lớn xỉ và đất đá thải. Vậy giải pháp công nghệ nhằm tái chế, tái sử dụng các chất thải này, biến chúng thành vật liệu san lấp hoặc vật liệu xây dựng có được chủ đầu tư thông tin rõ ràng hay không? qua đó giảm thiểu tối đa áp lực lên môi trường địa phương. Đồng thời, đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản (như vàng) bắt buộc phải tích hợp báo cáo Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) vào hoạt động của mình. 

    Hồ sơ thông tin dự án vàng Núi Kẽm:

    Cơ quan thụ lý: Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

    Doanh nghiệp đề xuất: Công ty TNHH CKC (đơn vị duy nhất nộp hồ sơ).

    Vị trí: Xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng (trước đây là xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam).

    Cơ sở pháp lý: Quyết định số 2868/QĐ-BNNMT ngày 23/7/2026; Quyết định số 3792/QĐ-BNNMT ngày 17/9/2025; Nghị định 193/2025/NĐ-CP; Nghị định 21/2026/NĐ-CP.

    Những con số và thông tin đáng chú ý

    Công ty TNHH CKC nộp hồ sơ đề nghị lựa chọn để xem xét cấp giấy phép thăm dò tại khu vực vàng Núi Kẽm là doanh nghiệp duy nhất.

    Hồ sơ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp nhận ngày 24/7/2026.

    Khu vực vàng Núi Kẽm thuộc khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản, theo danh mục Đợt 7 được phê duyệt tại Quyết định số 2868/QĐ-BNNMT ngày 23/7/2026.

    Vàng thuộc Danh mục khoáng sản chiến lược, quan trọng của Việt Nam giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Trọng Nghị

    Nguồn https://baomoi.com/da-nang-vang-nui-kem-va-bai-toan-quan-tri-tai-nguyen-theo-huong-kinh-te-xanh-c56007899.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!