Author: bachdn

  • Thủ tướng chủ trì họp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai

    Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì họp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

    Thủ tướng Lê Minh Hưng kết luận cuộc họp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

    Thủ tướng Lê Minh Hưng và Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì họp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

    Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì họp về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai; Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

    TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc

    Nguồn https://baomoi.com/thu-tuong-chu-tri-hop-ve-du-an-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-luat-dat-dai-c56008756.epi

  • Đề xuất chấm điểm tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 34 tỉnh, thành phố

    Quản lý đất đai. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

    Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn thiện phương án chấm điểm các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Trước đó, ngày 5/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 9057/VPCP-NN, truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng về đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường liên quan phương án chấm điểm các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các địa phương rà soát, hoàn thiện phương án chấm điểm thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, bảo đảm phản ánh đúng mức độ hoàn thành của từng địa phương; thuyết minh cơ sở lựa chọn tiêu chí, kiểm chứng tính khách quan, công bằng, khả thi bằng số liệu thực của 34 tỉnh, thành phố trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Theo nội dung Tờ trình 9695/TTr-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian qua, bộ đã phối hợp Bộ Công an và các địa phương triển khai nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trong đó có Chiến dịch làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; xây dựng Hệ thống giám sát tiến độ và đồng bộ dữ liệu từ địa phương lên Trung ương.

    Tuy vậy, kết quả giữa các địa phương chưa đồng đều; tiến độ xây dựng, làm sạch và đồng bộ dữ liệu còn chênh lệch lớn; việc đánh giá hiện chủ yếu dựa trên báo cáo định kỳ, chưa phản ánh đầy đủ; chưa có công cụ đánh giá thống nhất, khách quan để theo dõi mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng địa phương theo thời gian thực.

    Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất thiết lập cơ chế đánh giá thống nhất trên toàn quốc, chấm điểm tự động dựa trên số liệu thực tế được đồng bộ từ địa phương lên Trung ương; theo dõi tiến độ hằng tháng, hằng quý và cả năm. Kết quả chấm điểm, xếp hạng sẽ là nguồn thông tin phục vụ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đồng thời làm căn cứ biểu dương, nhắc nhở và tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu.

    Theo dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất kết quả xếp hạng 34 tỉnh, thành phố được xác định trên cơ sở 6 tiêu chí, với tổng điểm từ 6 đến 204 điểm.

    Trong đó, tiêu chí số 1 về tổng số thửa đất có dữ liệu và dữ liệu căn hộ chung cư được đồng bộ từ địa phương lên Trung ương. Tiêu chí thứ 2 đánh giá số thửa đất đáp ứng tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống” đã được đồng bộ từ địa phương lên Trung ương. Tiêu chí 3 đánh giá tổng số thửa đất chưa đáp ứng tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống” đã được đồng bộ từ địa phương lên Trung ương. Tiêu chí 4 theo tổng số thửa đất chưa xây dựng cơ sở dữ liệu. Tiêu chí 5 theo khối lượng đo đạc lập bản đồ địa chính. Tiêu chí 6 tỷ lệ hoàn thành khối lượng phải thực hiện được xác định theo mức độ hoàn thành các chỉ tiêu được phân bổ, theo thứ tự từ cao xuống thấp.

    Việc phân loại được thực hiện định kỳ hằng tháng, hằng quý và cả năm. Theo phương án, khối lượng thửa đất đã có dữ liệu nhưng chưa đạt tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống” được phân bổ để hoàn thành trong 4 tháng, từ tháng 9-12/2026. Với các thửa đất chưa được xây dựng cơ sở dữ liệu và diện tích cần đo đạc lập bản đồ địa chính, thời gian thực hiện được phân bổ trong 16 tháng, từ tháng 9/2026 đến hết tháng 12/2027.

    Với phương án trên, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm rà soát, báo cáo số liệu tổng số thửa đất, giấy chứng nhận căn hộ chung cư và diện tích cần đo đạc lập bản đồ địa chính, đồng thời cập nhật số liệu đến cấp xã trên Hệ thống giám sát tiến độ; chủ động phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để kịp thời điều chỉnh số liệu, bảo đảm chính xác, thống nhất.

    Đối với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan này sẽ phân bổ chi tiết khối lượng nhiệm vụ cho 34 tỉnh, thành phố; hướng dẫn cập nhật số liệu, chấm điểm, xếp hạng định kỳ và truyền dữ liệu sang Hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ; phối hợp các địa phương cập nhật, điều chỉnh số liệu theo thời gian thực và báo cáo kết quả đánh giá, xếp hạng định kỳ hằng tháng, hằng quý và cả năm./.

    Phương án chấm điểm các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, được xây dựng trong bối cảnh Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 đặt mục tiêu đến hết năm 2026 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin, dữ liệu; đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu.

    (Vietnam+)

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-cham-diem-tien-do-xay-dung-co-so-du-lieu-dat-dai-34-tinh-thanh-pho-c56008646.epi

  • Chủ tịch Thành phố Cần Thơ chỉ đạo ‘nóng’

    Nội dung được ông Trương Cảnh Tuyên – Chủ tịch UBND TP Cần Thơ chỉ đạo ngày 8/9. Cụ thể, thời gian qua, các sở ngành và UBND các xã phường đã tập trung triển khai nhiệm vụ được giao, góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    Tuy nhiên, tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm; việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đôi lúc chưa kịp thời; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có việc chưa chặt chẽ; tính chủ động, quyết liệt trong tham mưu và tổ chức thực hiện một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.

    Chủ tịch UBND TP Cần Thơ yêu cầu giám đốc sở, thủ trưởng sở ngành, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Kết quả thực hiện là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu.

    Các đơn vị chủ động rà soát, xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá và điểm nghẽn để tập trung nguồn lực giải quyết dứt điểm. Tuyệt đối không đùn đẩy, né tránh hoặc để công việc tồn đọng, kéo dài. Trong tháng 9 này, khẩn trương rà soát, sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền, giải quyết dứt điểm việc thừa số lượng cấp phó phòng.

    Giải ngân đầu tư công 8 tháng của Cần Thơ đạt chưa tới 30% kế hoạch năm.

    Với nhiệm vụ có nguy cơ chậm tiến độ, ông Tuyên yêu cầu người đứng đầu phải chủ động báo cáo, đề xuất phương án xử lý trước thời hạn; không để đến khi quá hạn mới báo cáo khó khăn, vướng mắc. Xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ có tác động trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội để tập trung chỉ đạo, điều hành.

    Giám đốc Sở Nội vụ được giao theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đề xuất xem xét trách nhiệm đối với trường hợp thiếu quyết liệt, chậm tham mưu, không chủ động xử lý hoặc để nhiệm vụ chậm, trễ do nguyên nhân chủ quan.

    Theo Sở Tài chính Cần Thơ, trong 8 tháng đầu năm nay, đầu tư công giải ngân của thành phố mới đạt hơn 5.600 tỷ đồng, tương đương gần 29% tổng vốn cả năm, khá thấp so với bình quân chung cả nước (khoảng 50%).

    “Để đạt mục tiêu, riêng trong tháng 9 này thành phố phải giải ngân thêm 9.500 tỷ đồng, đây là một áp lực rất lớn”, Sở Tài chính Cần Thơ nhận định.

    Bên cạnh đó, chi đầu tư phát triển từ dự toán chỉ đạt gần 27% trong khi chi thường xuyên đạt 63%, cho thấy độ trễ lớn giữa hai nguồn chi; nguồn lực ngân sách chưa chuyển hóa kịp thời thành các công trình, dự án phục vụ tăng trưởng.

    Thu ngân sách dù đạt hơn 74% dự toán, nhưng có 9/17 khoản thu nội địa chưa đạt tiến độ bình quân. Đặc biệt, thu tiền sử dụng đất mới đạt gần 44%; thuế bảo vệ môi trường đạt 35%; thu từ tiền bán nhà/thuê thuộc sở hữu nhà nước chỉ đạt hơn 18%. Đây là nhóm nguồn thu có dư địa lớn nhưng chưa khai thác tương xứng…

    Cảnh Kỳ

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-thanh-pho-can-tho-chi-dao-nong-c56008630.epi

  • Đề xuất luật hóa nhà ở thương mại giá ‘vừa túi tiền’

    Trong văn bản vừa gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, HoREA đề nghị giữ lại và hoàn thiện chính sách phát triển “nhà ở thương mại giá phù hợp” từng được đưa vào dự thảo Luật Nhà ở ngày 22/7/2026 nhưng không còn trong dự thảo ngày 5/8. HoREA cho rằng đây là phân khúc cần được luật hóa để đáp ứng nhu cầu nhà ở của một bộ phận rất lớn người dân đô thị.

    Thị trường gần như không có căn hộ nhà ở thương mại giá phù hợp được đưa ra bán hiện nay.

    Thực tế cho thấy nguồn cung nhà ở thương mại liên tục sụt giảm, đặc biệt phân khúc nhà ở giá bình dân vắng bóng trên thị trường, trong khi nhà ở cao cấp chiếm tỷ trọng lớn dẫn đến tình trạng lệch pha cung cầu.

    Theo HoREA, số lượng dự án và nguồn cung nhà ở thương mại liên tục sụt giảm mạnh từ năm 2018 cho đến năm 2024, từ 92 dự án với 42.991 căn nhà năm 2017 giảm còn 77 dự án với 28.316 căn nhà năm 2018; 42 dự án với 23.046 căn nhà năm 2019; 31 dự án với 16.895 căn nhà năm 2020; 20 dự án với 14.443 căn nhà năm 2021; 25 dự án với 12.147 căn nhà năm 2022; 19 dự án với 17.753 căn nhà năm 2023; 06 dự án với 3.845 căn nhà năm 2024.

    Tỷ trọng nhà ở thương mại giá phù hợp cũng bị sụt giảm mạnh trong 6 năm gần đây. Cụ thể, năm 2020 chỉ có 163 căn hộ nhà ở thương mại giá phù hợp, chỉ chiếm 1% tổng số nhà ở thương mại đưa ra thị trường, nhưng kể từ năm 2021 đến năm 2024 thì không còn căn hộ nhà ở thương mại giá phù hợp đưa ra thị trường.

    Ngược lại, từ năm 2019 đến năm 2023, tỷ trọng nhà ở thương mại cao cấp tăng rất mạnh, chiếm trên dưới 70% tổng số nhà ở thương mại đưa ra thị trường. Tại TP Hồ Chí Minh (cũ), phân khúc nhà ở thương mại cao cấp chiếm 100% thị trường nhà ở của Thành phố.

    Để giải quyết bài toán này, HoREA cho rằng việc luật hóa phân khúc nhà ở thương mại giá phù hợp sẽ tạo hành lang pháp lý khuyến khích doanh nghiệp tham gia, đồng thời giảm áp lực rất lớn cho chương trình phát triển nhà ở xã hội của Nhà nước. Phân khúc này sẽ đáp ứng trực tiếp nhu cầu của người có thu nhập trung bình, người có thu nhập thấp không thuộc diện mua nhà ở xã hội, cũng như một bộ phận người dân có nhu cầu sở hữu nhà ở thực.

    Hiệp hội kiến nghị thiết kế một khung pháp lý riêng cho loại hình này với các cơ chế tháo gỡ cụ thể. Cụ thể, về đối tượng thụ hưởng, chính sách mở rộng cho cá nhân trong nước có thu nhập trung bình, thu nhập thấp và các tổ chức có nhu cầu. Về quỹ đất, địa phương chủ động bố trí từ quỹ đất phát triển nhà ở thương mại, đất xây dựng nhà ở xã hội hoặc các loại đất phù hợp với quy hoạch để triển khai dự án.

    Bên cạnh đó, HoREA đề xuất áp dụng các thủ tục đầu tư ưu tiên theo luồng xanh để rút ngắn thời gian thực hiện, đồng thời cho phép UBND cấp tỉnh quyết định các chỉ tiêu quy hoạch linh hoạt nhằm gia tăng nguồn cung căn hộ diện tích vừa và nhỏ.

    Về giá bán, HoREA kiến nghị, thay vì khống chế lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp, Nhà nước chỉ nên quy định mức giá trần tối đa theo khu vực để doanh nghiệp chủ động tính toán, cân đối chi phí và tự quyết định tham gia dựa trên hiệu quả kinh doanh. Người mua nhà ở thương mại giá phù hợp cũng sẽ được tạo điều kiện tiếp cận các gói vay vốn với lãi suất ưu đãi từ các tổ chức tín dụng.

    Bất động sản TP Hồ Chí Minh cũng đề nghị bỏ quy định người mua nhà ở thương mại giá phù hợp không được bán lại trong thời hạn tối thiểu 5 năm kể từ ngày nhận bàn giao. HoREA cho rằng khi người mua đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì họ có quyền chuyển nhượng tài sản và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.

    Võ Vinh

    Nguồn https://baomoi.com/de-xuat-luat-hoa-nha-o-thuong-mai-gia-vua-tui-tien-c56008600.epi

  • Ninh Bình kiến tạo hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại hướng tới thành phố trực thuộc Trung ương

    Thi công dự án xây dựng tuyến đường kết nối giữa Nam Đồng bằng Sông Hồng với vùng núi Tây Bắc và vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (giai đoạn 1). Ảnh: Anh Tuấn

    Mở những trục phát triển mới

    Ninh Bình là một trong 7 tỉnh có Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội đi qua. Đoạn qua địa bàn tỉnh dài khoảng 35,3km, đi qua 10 xã, phường, được quy hoạch theo tiêu chuẩn đường cao tốc 6 làn xe, có đường song hành và đường gom kết nối với giao thông địa phương. Tuyến đường sẽ tăng cường kết nối, mở rộng không gian phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tại các khu đô thị, công nghiệp, dịch vụ, logistics được quy hoạch dọc tuyến.

    Tỉnh đã triển khai các dự án đường song hành gồm các đoạn: Từ đường D5 đến đê sông Nhuệ; từ đê sông Nhuệ đến đường 68m; từ nút giao Phú Thứ đến nút giao Bình Nghĩa; từ nút giao Bình Nghĩa đến nút giao Thái Hà. Các đoạn có tổng chiều dài khoảng 29km, diện tích thực hiện khoảng 415,7ha.

    Đến nay, các địa phương đã giải phóng mặt bằng, bàn giao khoảng 257ha, đạt gần 61%; còn khoảng 158,7ha chưa được bàn giao, chủ yếu tại các xã, phường Kim Bảng, Phù Vân, Tam Chúc, Lê Hồ và Nam Xang. Trên phần mặt bằng đã tiếp nhận, các đơn vị thi công hoàn thành đào nền khoảng 13,2km, xử lý nền đất yếu 7,3km, đắp nền K95 và K98 khoảng 10,9km, thi công cấp phối đá dăm khoảng 2,2km.

    Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3 tỉnh cho biết, Ban đang phối hợp với các địa phương rà soát những vị trí còn vướng mắc; yêu cầu nhà thầu tập trung nhân lực, thiết bị thi công trên các đoạn đã được bàn giao mặt bằng. Thực hiện phương châm có mặt bằng đến đâu thi công đến đó, nhiều hạng mục như cầu Đen, cầu Kênh Thủy lợi, cầu Tiên Tân, cầu Long Xuyên đã cơ bản hoàn thành hoặc đang thi công phần dầm, mố, trụ. Đoạn từ đê sông Nhuệ đến đường 68m đã cơ bản hoàn thành nền đường, hệ thống thoát nước, cây xanh, chiếu sáng và an toàn giao thông. Trong khi các dự án đường song hành Vành đai 5 được đẩy nhanh tiến độ, tỉnh chuẩn bị đầu tư một tuyến giao thông mới kết nối Hoa Lư với Nam Định.

    Ngày 24/8/2026, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3182/QĐ-UBND phê duyệt Dự án xây dựng tuyến đường trục động lực phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Ninh Bình (Hoa Lư – Nam Định). Đây là dự án nhóm A, công trình giao thông cấp I; riêng cầu vượt sông Đáy là công trình cấp đặc biệt.

    Dự án có tổng chiều dài 39km, tổng mức đầu tư 7.140 tỷ đồng, chưa bao gồm dự án thành phần độc lập về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng; thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2029. Tuyến đường được đầu tư để tăng khả năng kết nối giữa Hoa Lư và Nam Định, phục vụ đi lại, giao thương, phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ. Hướng tuyến đi qua nhiều địa bàn có di tích lịch sử, văn hóa, qua đó kết nối các không gian du lịch trong tỉnh sau hợp nhất.

    Việc đầu tư tuyến Hoa Lư – Nam Định được đặt trong định hướng tổ chức lại không gian đô thị khu vực trung tâm. Tỉnh đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu khu vực đô thị hai bên sông Đáy, với phạm vi nghiên cứu khoảng 6.670ha, quy mô dân số dự kiến khoảng 650 nghìn người, thuộc các phường Hoa Lư, Tây Hoa Lư, Đông Hoa Lư và các xã Gia Trấn, Phong Doanh, Ý Yên, Yên Đồng. Khu vực quy hoạch được xác định là đô thị động lực, trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, dịch vụ của tỉnh; đồng thời là đầu mối giao thông, cửa ngõ phía Nam vùng Đồng bằng Sông Hồng.

    Theo định hướng, sông Đáy trở thành trục cảnh quan và không gian công cộng trung tâm. Bờ Đông được định hướng phát triển đô thị mới hiện đại, đồng bộ, thông minh; bờ Tây chú trọng bảo tồn cấu trúc làng xóm, hệ thống mặt nước và các giá trị văn hóa, lịch sử. Không gian hai bờ được tổ chức thống nhất về chức năng, hạ tầng và hoạt động kinh tế – xã hội.

    Cùng với các tuyến giao thông và quy hoạch đô thị động lực, tỉnh đang thực hiện 52 nhiệm vụ, đề án, dự án trọng điểm. Trong đó có 5 dự án trọng điểm quốc gia do Trung ương xác định thực hiện trên địa bàn và 47 nhiệm vụ, dự án trọng điểm của tỉnh, gồm 22 dự án sử dụng vốn đầu tư công, 25 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách.

    UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 1566/QĐ-UBND, phê duyệt danh mục 27 dự án thu hút đầu tư đợt 1 năm 2026, với tổng diện tích hơn 1.834ha, tổng vốn đầu tư dự kiến gần 7.000 tỷ đồng, thuộc 6 lĩnh vực. Đây là nguồn lực bổ sung để tỉnh từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và các tiêu chí của thành phố trực thuộc Trung ương.

    Thi công tuyến đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng đoạn qua xã Khánh Nhạc. Ảnh: Anh Tuấn

    Hoàn thiện các tiêu chí của thành phố trực thuộc Trung ương

    Đề án xây dựng Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỉnh đạt tiêu chí đô thị loại I; phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng tiêu chuẩn phân loại đô thị và tiêu chuẩn đơn vị hành chính theo quy định.

    Sau hợp nhất, tỉnh Ninh Bình có 4 đô thị loại II gồm Hoa Lư, Nam Định, Phủ Lý, Tam Điệp và 34 đô thị loại III theo quy định chuyển tiếp. Mỗi đô thị trung tâm có chức năng, thế mạnh riêng và giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 mới đạt khoảng 36%; số tuyến đường trục, đường khung còn thấp so với nhu cầu kết nối các đô thị, khu công nghiệp, vùng du lịch và khu vực ven biển.

    Thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 30/1/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, tỉnh định hướng tổ chức không gian theo mô hình “một trục động lực – hai đầu phát triển – ba cực phát triển – bốn vùng kinh tế – năm hành lang kinh tế”.

    Theo đó, các công trình giao thông được ưu tiên đầu tư để kết nối đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch với hệ thống giao thông quốc gia, tạo thêm điều kiện phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài khu vực đô thị trung tâm, tỉnh định hướng phát triển các đô thị gắn với ga đường sắt tốc độ cao, cảng hàng không, cảng biển, khu kinh tế, khu công nghiệp và khu du lịch.

    Các khu vực phát triển mới phải được chuẩn bị đồng bộ về giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và công trình xã hội thiết yếu. Đây là điều kiện để quá trình đô thị hóa tuân thủ quy hoạch, phù hợp khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng. Lộ trình hoàn thiện các tiêu chí được xác định theo từng năm.

    Năm 2026, tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ đô thị hóa lên từ 40%, có thêm ít nhất 4 phường đạt trình độ phát triển đô thị loại II; tiếp tục rà soát, nâng cao tiêu chí giao thông vận tải hành khách công cộng, bảo đảm bao phủ 100% đối với đô thị loại II. Năm 2027, tỷ lệ đô thị hóa phấn đấu đạt từ 45%, có tối thiểu 50% số phường đạt trình độ phát triển đô thị loại II.

    Tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành ít nhất 3 đầu mối hạ tầng giao thông cấp khu vực, cửa ngõ chính, trung tâm kết nối vùng; hoàn thiện hồ sơ đề án công nhận tỉnh Ninh Bình đạt tiêu chí đô thị loại I, trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

    Đến năm 2028, tỷ lệ đô thị hóa phấn đấu đạt từ 50%; tỉnh hoàn thành và nâng cao các tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc Trung ương, hoàn thiện hồ sơ đề án thành lập thành phố Ninh Bình trực thuộc Trung ương. Năm 2029, tỷ lệ đô thị hóa phấn đấu đạt từ 55%; các tiêu chuẩn đối với phường, đô thị thông minh, đô thị loại I và thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục được duy trì, nâng cao. Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh phấn đấu đạt trên 60%.

    Cùng với các chỉ tiêu về tỷ lệ đô thị hóa, tỉnh phải bảo đảm năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu của các đô thị; phát triển giao thông công cộng; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ người dân. Vì vậy, đầu tư giao thông cần thống nhất với quy hoạch đô thị, kế hoạch sử dụng đất và yêu cầu bảo vệ môi trường.

    Từ nay đến năm 2030, khối lượng công việc còn lớn, trong khi nhiều dự án vẫn vướng giải phóng mặt bằng, tái định cư, nguồn vật liệu và di chuyển công trình hạ tầng kỹ thuật. Việc tháo gỡ những khó khăn này, đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm và tổ chức thực hiện tốt các quy hoạch đã được phê duyệt sẽ tạo nền tảng để Ninh Bình từng bước hoàn thiện các tiêu chí, hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

    Nguyễn Thơm

    Nguồn https://baomoi.com/ninh-binh-kien-tao-he-thong-ha-tang-dong-bo-hien-dai-huong-toi-thanh-pho-truc-thuoc-trung-uong-c56008569.epi

  • Thành lập tổ công tác xây dựng đề án thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

    Tổ công tác do Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Quang Bửu làm Tổ trưởng; Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm Tổ phó Thường trực.

    Tổ Công tác có sự tham gia của đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan cùng các chuyên gia, nhà khoa học. Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan thường trực Tổ công tác.

    Tổ Công tác có chức năng tham mưu, giúp Chủ tịch UBND thành phố chỉ đạo, điều phối việc xây dựng đề án; nghiên cứu, đề xuất các định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách phục vụ xây dựng Đề án, bảo đảm chất lượng, tiến độ và phù hợp quy định của pháp luật; tổ chức nghiên cứu, khảo sát, thu thập thông tin, đánh giá thực trạng và tổng hợp kinh nghiệm trong nước, quốc tế để đề xuất mô hình, giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển của thành phố.

    MINH LÊ

    Nguồn https://baomoi.com/thanh-lap-to-cong-tac-xay-dung-de-an-thi-diem-phat-trien-kinh-te-khong-gian-tam-thap-c56008637.epi

  • Sắp có dự án đường Nguyễn Sinh Sắc nối dài hơn 9.400 tỷ đồng tại Hòa Khánh

    Hiện trạng tuyến đường Nguyễn Sinh Sắc.

    Dự án tuyến đường Nguyễn Sinh Sắc nối dài với tổng chiều dài khoảng hơn 2,5 km; điểm đầu tuyến tại ngã ba giao nhau đường Tôn Đức Thắng với đường Nguyễn Sinh Sắc, điểm cuối tuyến giao với đường Hoàng Văn Thái, bề rộng nền đường 60m với tổng kinh phí đầu tư hơn 9.400 tỷ đồng.

    Thời gian thực hiện dự án từ năm 2026 đến năm 2032. Công trình tạo trục giao thông xuyên suốt từ đường Nguyễn Tất Thành thuộc phân khu Ven vịnh đến đường Hoàng Văn Thái thuộc phân khu Lõi xanh, kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng như Vành đai phía Tây 1, Vành đai phía Tây 2 và cao tốc Hòa Liên – Túy Loan.

    Qua đó, từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông theo quy hoạch, tăng cường khả năng liên kết giữa khu vực phía Đông và phía Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    Sau khi nghe chủ đầu tư kiêm điều hành dự án và các đơn vị liên quan báo cáo phương án cụ thể, các hộ dân bày tỏ sự phấn khởi và thống nhất cao với chủ trương thực hiện dự án. Đồng thời, mong muốn dự án sớm triển khai cũng như quan tâm đến chính sách giải tỏa, đền bù, tái định cư.

    PHƯƠNG KIẾM-QUANG THẮNG

    Nguồn https://baomoi.com/sap-co-du-an-duong-nguyen-sinh-sac-noi-dai-hon-9-400-ty-dong-tai-hoa-khanh-c56008575.epi

  • Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo chấm dứt hiện tượng học sinh đi học bằng bè, mảng qua sông

    Lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo chấm dứt hiện tượng học sinh đi học bằng bè, mảng qua sông. Ảnh: Q.H

    Với trách nhiệm là người đứng đầu chính quyền tỉnh, ông Nguyễn Cảnh Toàn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, vừa có chuyến kiểm tra thực tế điều kiện đi lại của học sinh tại một số khu vực trên địa bàn. Cụ thể, ông Nguyễn Cảnh Toàn trực tiếp kiểm tra khu vực sông Bắc Giang thuộc địa phận thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa và khu vực Bản Mè, xã Thiện Hòa.

    Xã Quý Hòa và xã Thiện Hòa là các địa bàn miền núi, địa hình phức tạp, dân cư phân tán, có sông, suối chia cắt một số khu dân cư với trung tâm xã và các tuyến đường giao thông chính; cách trung tâm của tỉnh khoảng 150km, đường sá đi lại khó khăn.

    Tại các điểm kiểm tra, lãnh đạo xã Quý Hòa và xã Thiện Hòa đã báo cáo nhanh tình hình thực tế về điều kiện đi lại của học sinh trên địa bàn. Sông Bắc Giang chảy qua một số thôn thuộc xã Quý Hòa và xã Thiện Hòa. Trong đó, người dân xóm Soong Phụ (thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa) đi lại, sinh hoạt hằng ngày qua sông bằng bè mảng. Còn người dân thôn Bản Mè đi lại, sinh hoạt, học tập hàng ngày chủ yếu qua sông bằng cầu tự chế.

    Những chiếc bè mảng được người dân và học sinh ở xóm Soong Phụ (xã Quý Hòa) thường sử dụng để qua sông. 

    Năm học 2026 – 2027, xóm Soong Phụ có 9 học sinh (2 học sinh mầm non, 4 học sinh tiểu học và 3 học sinh THCS) phải đi bè mảng qua sông để đến trường. Còn tại xã Thiện Hòa, 4 thôn (Bản Mè, Khuổi Mè, Khuổi Chặng, Khuổi Cọ) có 109 học sinh thường xuyên phải đi lại qua sông để đến trường. Vào mùa mưa lũ, nước sông Bắc Giang dâng cao, dòng chảy mạnh khiến các phương tiện tạm thời như bè, mảng hoặc cầu tự chế tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, đồng thời có thể làm khu dân cư bị chia cắt. Chính quyền địa phương đánh giá việc đi lại, học tập của học sinh tại các điểm này gặp nhiều khó khăn khi thời tiết diễn biến bất lợi.

    Chỉ đạo “nóng”

    Sau khi kiểm tra thực tế, nghe báo cáo của các cơ quan, đơn vị và chính quyền cơ sở, ông Nguyễn Cảnh Toàn, Chủ tịch UBND tỉnh, cho rằng, việc người dân vẫn phải sử dụng bè, mảng tự chế hoặc cầu tạm để đi lại qua sông Bắc Giang, vào mùa mưa lũ thường xảy ra tình trạng ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, nhất là việc học tập của học sinh. Khi nước sông dâng cao, việc đi lại của người dân và học sinh gặp nhiều nguy hiểm, có thời điểm bị chia cắt.

    Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Cảnh Toàn (giữa) chỉ đạo khắc phục việc người dân, học sinh qua sông bằng bè. mảng. Ảnh: LS

    Thời gian qua, chính quyền 2 xã đã chủ động thực hiện một số giải pháp trước mắt như: bố trí áo phao, biển cảnh báo, tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng phòng, chống đuối nước và xây dựng phương án bảo đảm an toàn cho học sinh. Tuy nhiên, đây mới là các giải pháp tình thế, chưa giải quyết căn bản tình trạng giao thông.

    “Các sở, ngành và UBND xã Quý Hòa, xã Thiện Hòa phải xác định việc bảo đảm an toàn cho Nhân dân, nhất là trẻ em và học sinh là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, không để việc sử dụng bè, mảng tự chế qua sông, suối trở thành giải pháp thường xuyên, kéo dài đối với học sinh. Các sở, ngành và chính quyền 2 xã phải xây dựng phương án phù hợp để học sinh được đến trường an toàn, ổn định; khẩn trương nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư công trình giao thông kiên cố để giải quyết căn cơ, lâu dài”, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo.

    Trong thời gian tới, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ rõ: Đối với khu vực xóm Soong Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa, từ ngày 8/9/2026, chấm dứt ngay tình trạng học sinh qua sông Bắc Giang bằng bè, mảng tự chế để đến trường. UBND xã Quý Hòa khẩn trương nghiên cứu, bố trí phương án ăn, ở phù hợp cho học sinh trong thời gian chờ đầu tư xây dựng cầu; trước mắt bố trí học sinh ở nội trú tại trường, ở cùng họ hàng, người thân hoặc địa điểm khác phù hợp. Tỉnh bố trí kinh phí hỗ trợ ăn, ở, bảo đảm học sinh được đến trường an toàn, không bị gián đoạn việc học tập. Hội Chữ thập đỏ tỉnh xem xét, nghiên cứu phương án hỗ trợ học sinh tại các khu vực khó khăn, trước mắt ưu tiên học sinh xóm Soong Phụ trong thời gian thực hiện phương án bố trí ăn, ở thay thế việc qua sông bằng bè, mảng.

    Đoàn công tác các cấp đến kiểm tra các địa điểm người dân và học sinh qua sông bằng bè, mảng. 

    Đồng thời, sở Xây dựng tham mưu UBND tỉnh thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng cầu cứng bằng bê tông cốt thép nhằm bảo đảm khai thác ổn định, lâu dài, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân và học sinh. Kinh phí xây dựng cầu (khoảng 10 tỷ đồng) sẽ được xem xét đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa, phấn đấu hoàn thành trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm kiểm tra thực tế; Sở Xây dựng rà soát, đề xuất phương án đầu tư đường dẫn 2 đầu cầu đối với cầu tại thôn Soong Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa vào Đề án phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2026 – 2030 để kịp thời đầu tư xây dựng cùng với công trình cầu.

    Đối với cầu Pác Ma, thôn Bản Mè, xã Thiện Hòa, lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh thực hiện như phương án đã đề xuất trong Dự án “Nâng cấp giao thông địa phương hiệu quả và thích ứng biến đổi khí hậu – tỉnh Lạng Sơn (REPTIP)”, dự kiến sử dụng nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB) (hiện nay, Bộ Tài chính đang xem xét, tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khoản vay cho dự án).

    Chung tay, giúp sức

    Trước tình trạng người dân và học sinh qua sông bằng bè mảng tiềm ẩn rủi ro, mới đây, đoàn công tác của UBND xã Quý Hòa do ông Tô Văn Tuấn – Phó Chủ tịch UBND xã – làm Trưởng đoàn đã đến trao tặng áo phao cho người dân tại thôn Khuổi Luông, xóm Khuổi Màn, bản Xoong Phụ.

    Đoàn công tác của xã Quý Hòa tặng áo phao cho người dân và học sinh. 

    Những chiếc áo phao được trao tận tay bà con không chỉ là món quà thiết thực mà còn mang theo sự quan tâm của địa phương đối với an toàn của người dân. Đây sẽ là vật dụng cần thiết, giúp người dân chủ động hơn trong việc bảo vệ an toàn tính mạng, nhất là trong những thời điểm thời tiết diễn biến phức tạp, mưa lũ xảy ra.

    Qua công tác nắm địa bàn, tình hình đời sống và học hành của người dân, nhất là việc đến trường của các em học sinh khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng gần sông suối, tiêu biểu như hoàn cảnh của hai em nhỏ Dương Thị Bảo Ngọc (SN 2017) và Dương Thị Thu Thủy (SN 2019) tại thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa. Nhà các em nhỏ ở phía bên kia bờ sông Bắc Giang, cách trường học khoảng 09km, vào mùa mưa đi lại khó khăn do khu vực này chưa có cầu. Trước hoàn cảnh đó, từ năm 2025 gia đình các em đã mượn đất, dựng nhà tạm ở bên này sông, cạnh đường tỉnh 231B để thuận tiện cho các em trên hành trình đi tìm con chữ. 

    Công an tỉnh Lạng Sơn trao tặng kinh phí theo chương trình “Mẹ đỡ đầu” hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng 2 cháu Dương Thị Bảo Ngọc và Dương Thị Thu Thủy (xã Quý Hòa). 

    Thấu hiểu hoàn cảnh khó khăn của gia đình, cũng như mong muốn được đi học của các em nhỏ, Công an tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức trao tặng kinh phí theo chương trình “Mẹ đỡ đầu” hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Dương Thị Bảo Ngọc và Dương Thị Thu Thủy số tiền 10 triệu đồng; đồng thời tiếp tục rà soát, hỗ trợ các trường hợp gặp khó khăn khác. Đây là hoạt động rất thiết thực, kịp thời hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn, động viên, khích lệ tinh thần học tập của các em học sinh vùng đặc biệt khó khăn để các em có thêm niềm tin và động lực trên con đường đến trường.

    Rà soát, thống kê các địa điểm học sinh phải qua sông, suối

    UBND tỉnh Lạng Sơn cũng đã có văn bản số: 2492 /UBND-KGVX về việc rà soát, thống kê các địa điểm học sinh phải qua sông, suối khi đến trường. 

    Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn còn nhiều hộ dân sống hai bên bờ sông, suối phải đi lại bằng bè, mảng rất nguy hiểm. 

    Theo đó, thực hiện Thông báo số 456/TB-VPCP, ngày 29/8/2026 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại Hội nghị tổng kết năm học 2025 – 2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026 – 2027, để tiếp tục chuẩn bị các điều kiện cần thiết, bảo đảm an toàn cho học sinh đến trường, Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn chỉ đạo: Yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND các xã, phường khẩn trương rà soát, thống kê tổng thể, chính xác các vị trí, địa điểm, số học sinh thường xuyên phải sử dụng bè, mảng, xuồng… để qua sông, suối khi đến trường và các điểm thường xuyên bị ngập, lụt, mức độ ảnh hưởng, kiến nghị, đề xuất giải pháp khắc phục và các nội dung khác có liên quan. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, Chủ tịch UBND xã, phường chịu trách nhiệm toàn diện về sự chính xác của nội dung thông tin thống kê. UBND các xã, phường báo cáo UBND tỉnh, đồng thời gửi Sở Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp chậm nhất trước 11h00 ngày 08/9/2026. Sở Giáo dục và Đào tạo tổng hợp chung, báo cáo UBND tỉnh trong ngày 08/9/2026.

    Nguyễn Duy Chiến

    Nguồn https://baomoi.com/chu-tich-ubnd-tinh-lang-son-chi-dao-cham-dut-hien-tuong-hoc-sinh-di-hoc-bang-be-mang-qua-song-c56008651.epi

  • Cần cơ chế đột phá xây 1 triệu nhà cho thuê

    Theo các doanh nghiệp, để tạo đột phá, cần có cơ chế và chính sách hỗ trợ đủ mạnh. Bộ Xây dựng mới đây cũng đề xuất giao chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê để các địa phương bổ sung vào chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội…

    Những địa phương tiên phong

    Theo khảo sát của PV Báo Xây dựng, 3 dự án nhà ở cho thuê quy mô lớn được khởi công vào cuối tháng 6 vừa qua hiện đang trong quá trình xây dựng phần móng, tầng hầm. Trên công trường, các nhà thầu huy động tối đa nhân lực, thiết bị thi công hối hả.

    Khu nhà học sinh, sinh viên tại Pháp Vân – Tứ Hiệp (Hà Nội) bị bỏ hoang nhiều năm đang được cải tạo, chuyển đổi công năng thành nhà ở xã hội cho thuê. Ảnh: Lê Minh.

    Ba dự án với hơn 6.000 căn hộ, tổng vốn đầu tư dự kiến 34.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch, từ cuối năm 2028, người dân có thể tiếp cận nhà ở cho thuê tại các dự án này.

    Trong đó, dự án tại Khu đô thị mới Pháp Vân – Tứ Hiệp (phường Yên Sở), gồm 3 tòa nhà (A2, A3, A4) với 1.176 căn hộ, tổng mức đầu tư khoảng 1.396 tỷ đồng từ ngân sách thành phố. Trong số này, các tòa A2, A3 cải tạo chuyển đổi công năng từ nhà ở sinh viên, tòa A4 xây mới.

    Với dự án tại phường Việt Hưng do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng TP Hà Nội làm chủ đầu tư, gồm 7 tòa nhà cao 12 – 13 tầng với 1.166 căn hộ, tổng mức đầu tư hơn 3.562 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư công, do Vinhomes thi công.

    Dự án còn lại là Khu nhà ở hỗn hợp Him Lam Long Biên do Tập đoàn Him Lam triển khai, dự kiến cung cấp khoảng 4.000 căn hộ cho thuê.

    Tại Đà Nẵng, Phó giám đốc Sở Xây dựng Lê Văn Tuấn thông tin, thành phố đang giao Trung tâm Quản lý và Khai thác nhà quản lý, bố trí cho thuê 10.794 căn hộ chung cư và 1.874 phòng ký túc xá sinh viên; tham mưu triển khai 2 dự án nhà ở xã hội cho thuê từ nguồn vốn đầu tư công.

    Lãnh đạo Sở Xây dựng cũng đang đôn đốc tiến độ triển khai 4 dự án có bố trí 20% diện tích sàn nhà ở xã hội cho thuê, dự kiến hoàn thành trong năm 2026 – 2027. Đồng thời, xây dựng Đề án phát triển nhà ở cho thuê trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2030.

    Tại Quảng Ninh, thành phố đã khởi công dự án nhà ở xã hội cho thuê quy mô 150 căn tại phường Cao Xanh. Hiện nhà thầu đang huy động nhân lực, máy móc đẩy nhanh tiến độ thi công. Dự án có diện tích 25.125,8m², tổng mức đầu tư 2.226 tỷ đồng, quy mô dân số dự kiến khoảng 3.750 người.

    Còn tại Ninh Bình, ông Nguyễn Anh Chức, Phó chủ tịch UBND tỉnh cho biết, địa phương có dự án nhà ở cho thuê Bảo Minh tại phường Trường Thi, diện tích 3ha, tổng mức đầu tư 500 tỷ đồng, do Công ty CP Đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Bảo Minh làm chủ đầu tư.

    Khi hoàn thành, dự án cung cấp 848 căn hộ cho thuê, diện tích từ 25 – 70m², đáp ứng chỗ ở cho khoảng 1.500 người, dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trong quý IV/2028.

    Nhu cầu rất lớn

    Tại Hà Nội, dù nhu cầu rất lớn, song theo ông Nguyễn Văn Đính, Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, nguồn cung nhà ở cho thuê tương lai tại thành phố sẽ khá dồi dào.

    Theo đó, ngoài các dự án nhà ở cho thuê đã và sẽ thực hiện, Hà Nội đang triển khai kế hoạch khởi công 29 dự án nhà ở xã hội mới trong năm 2027. Các dự án này bắt buộc phải dành tối thiểu 20% diện tích sàn để cho thuê.

    Bên cạnh đó, một số dự án chuẩn bị hoàn thiện thủ tục đầu tư sẽ áp dụng mô hình đô thị đa mục tiêu. Cơ cấu sản phẩm sẽ cho phép linh hoạt chuyển đổi công năng giữa nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại và nhà ở xã hội, nhà cho thuê tùy theo nhu cầu thực tế của thị trường.

    Tại TP.HCM, nhà ở lưu trú công nhân và nhà ở cho thuê là phân khúc có nhu cầu rất lớn, doanh nghiệp đã bắt đầu tham gia mạnh hơn. Những mô hình tiên phong của Thiên Phát, Lê Thành hay Bcons đều cho thấy nguồn cung nhà ở cho thuê phù hợp với khả năng chi trả của người lao động luôn thiếu so với nhu cầu.

    Trong đó, Thiên Phát hiện có khoảng 350 căn hộ cho thuê và đang tiếp tục triển khai các dự án mới. Lê Thành nhiều năm phát triển mô hình căn hộ cho thuê dài hạn, hiện phục vụ khoảng 4.500 hộ thuê; dự án Lê Thành Tân Kiên vừa công bố có 1.443 căn nhà ở xã hội cho thuê, với mức giá tạm tính 1,7 – 1,9 triệu đồng/tháng. Trong khi đó, Bcons đang vận hành khoảng 3.000 căn hộ, phòng cho thuê và tiếp tục xây dựng khoảng 6.000 căn khác.

    Thực tế cho thấy, bài toán không nằm ở đầu ra. Người lao động, công nhân và người trẻ có nhu cầu thuê nhà ổn định, dài hạn rất lớn, nhất là khi không gian TP.HCM sau sắp xếp, mở rộng với các khu công nghiệp, logistics, dịch vụ và đô thị phát triển trên địa bàn rộng.

    Doanh nghiệp cần cơ chế mạnh hơn

    Từ kinh nghiệm đầu tư và vận hành khu lưu trú công nhân Thiên Phát, ông Nguyễn Văn Lợi Chủ tịch HĐQT Công ty Thiên Phát cho rằng, nhu cầu về nhà ở cho thuê giá phù hợp của công nhân và người lao động nhập cư rất bức thiết. Tuy nhiên, khoảng cách giữa giá thuê tính đúng, tính đủ theo suất đầu tư và khả năng chi trả thực tế của người lao động đang là vấn đề lớn nhất.

    Tại Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi” do VCCI và Bộ Tư pháp tổ chức vừa qua, ông Vương Duy Dũng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, Bộ Xây dựng cho biết: Dự thảo Luật Nhà ở 2026 bổ sung chương mới quy định về phát triển nhà ở cho thuê, bao gồm nhà ở cho thuê được đầu tư xây dựng bằng vốn Nhà nước, nhà ở cho thuê được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài Nhà nước và nhà ở lưu trú công nhân trong khu công nghiệp.

    Dự thảo Luật sẽ tăng cường phân quyền, phân cấp triệt để cho chính quyền địa phương, có tới 20/21 thủ tục hành chính đối với lĩnh vực nhà ở sẽ do địa phương quyết định. Có 3 thủ tục được bãi bỏ, 21 thủ tục được sửa đổi theo hướng rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thành phần hồ sơ và không làm phát sinh thủ tục hành chính mới; cắt giảm 3/4 điều kiện kinh doanh.

    Ông Lợi dẫn chứng: Khu lưu trú công nhân của Thiên Phát có hơn 350 căn hộ, diện tích khoảng 35m²/căn. Theo tính toán của doanh nghiệp, nếu tính đủ chi phí đầu tư, giá thuê mỗi căn phải khoảng 4 triệu đồng/tháng. Nhưng để phù hợp với thu nhập công nhân, nhiều năm qua doanh nghiệp chỉ cho thuê khoảng 1,8 – 2,5 triệu đồng/tháng và phải bù lỗ.

    Ông Lợi cho biết, việc doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ chính sách của TP.HCM đã giúp giảm một phần chi phí đầu tư, song với mô hình nhà ở cho thuê dài hạn, chỉ nguồn lực của doanh nghiệp là không đủ.

    Theo ông Lợi, Nhà nước và địa phương cần có chính sách hỗ trợ trực tiếp cho mô hình nhà ở xã hội cho thuê, bởi nếu để doanh nghiệp tự đầu tư theo cơ chế thị trường thì giá thuê sẽ vượt quá khả năng chi trả của người thu nhập thấp.

    “Hỗ trợ quỹ đất, vốn vay ưu đãi và cơ chế giảm chi phí đầu tư là điều kiện quan trọng để vừa bảo đảm doanh nghiệp có thể duy trì dự án lâu dài, vừa giữ giá thuê ở mức người lao động có thể tiếp cận”, ông Lợi đề xuất.

    Là một trong những doanh nghiệp kiên trì với mô hình nhà ở cho thuê nhiều năm tại TP.HCM, ông Lê Hữu Nghĩa, Tổng giám đốc Công ty Lê Thành cho rằng, phát triển nhà ở xã hội cho thuê cần được nhìn nhận bằng cơ chế đầu tư khác với nhà ở để bán.

    “Nhà đầu tư phải bỏ vốn lớn nhưng dòng tiền thu hồi kéo dài nhiều năm, trong khi giá thuê phải phù hợp với khả năng chi trả của người lao động. Nhà nước cần chủ động tạo lập quỹ đất dành cho nhà ở xã hội cho thuê và có cơ chế giao đất, lựa chọn nhà đầu tư thuận lợi hơn”, ông Nghĩa kiến nghị.

    Thực tế, Lê Thành đang tiếp tục triển khai dự án nhà ở xã hội Tân Kiên với 1.443 căn dành cho thuê, dự kiến hoàn thành từ năm 2027 – 2030; giá cho thuê tạm tính được công bố khoảng 1,7 – 1,9 triệu đồng/tháng. Đây là minh chứng cho thấy mô hình nhà ở cho thuê có thể tạo ra nguồn cung lớn nếu có quỹ đất và cơ chế tài chính phù hợp.

    Trong khi đó, ông Dương Kim Quân, Tổng giám đốc Tập đoàn Bcons cho rằng, phát triển nhà ở cho thuê không nhất thiết phải thực hiện theo mô hình các dự án độc lập, tách biệt khỏi khu dân cư và hệ thống tiện ích. Từ kinh nghiệm của Bcons, doanh nghiệp chủ động dành một phần quỹ nhà trong các dự án để bán để phát triển cho thuê, qua đó tận dụng chung hạ tầng và tiện ích của khu đô thị.

    Hiện Bcons đang vận hành khoảng 3.000 căn hộ và phòng cho thuê, với mức giá từ khoảng 2,5 triệu đồng đến dưới 6 triệu đồng/tháng, đồng thời tiếp tục xây dựng khoảng 6.000 căn khác và cam kết phát triển 10.000 căn trong thời gian tới.

    Doanh nghiệp cũng hình thành nguồn nhà cho thuê từ các quỹ đất nhỏ, đất chưa kịp đưa vào dự án lớn và phát triển các căn hộ diện tích phù hợp với người lao động.

    Theo ông Quân, việc tích hợp nhà ở cho thuê trong các khu đô thị giúp người thuê, dù ở căn hộ diện tích nhỏ, vẫn có thể tiếp cận hệ thống hạ tầng, trường học và các tiện ích chung. Đây là hướng phát triển phù hợp với một đô thị lớn như TP.HCM.

    Kiểm soát chặt mức giá cho thuê

    Từ góc độ địa phương, ông Luyện Văn Phương, Phó giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, với những dự án nhà ở cho thuê của Nhà nước và tư nhân sẽ có sự khác biệt về giá thuê. Chẳng hạn, dự án của Nhà nước đầu tư trước đây như dự án CT19A, giá khoảng 35.000 đồng/m2/tháng. Còn dự án Kim Chung, chủ đầu tư tính theo giá thuê nhà ở xã hội khoảng 85.000 đồng/m2/tháng.

    Khu nhà ở xã hội khu dân cư An Hòa – Sun Home ở phường Sơn Trà, TP Đà Nẵng do Công ty Cổ phần Tập đoàn Mặt Trời làm chủ đầu tư, gồm 221 căn để bán, 126 căn hộ cho thuê. Giá thuê hiện chưa được công bố.

    Tới đây, thành phố sẽ ban hành khung giá để khống chế mức thuê đối với các dự án nhà ở cho thuê trên địa bàn do thành phố kêu gọi đầu tư. Mức giá này dự kiến 5 năm thay đổi một lần và thời hạn cho thuê có thể kéo hết vòng đời của dự án.

    Để kêu gọi đầu tư, TP Hà Nội vừa ban hành nghị quyết về chính sách nhà ở, trong đó có nhà ở cho thuê. Đối với nhà ở cho thuê, sẽ có cơ chế ưu đãi rất lớn như miễn tiền sử dụng đất; dành quỹ đất nhất định của dự án cho nhà đầu tư bán để thu lợi nhuận theo giá thương mại, cho phép các dự án nhà ở cho thuê được áp dụng các cơ chế và trình tự đầu tư giống như nhà ở xã hội.

    Ngoài ra, thành phố cũng kiến nghị các cấp có thẩm quyền tiếp tục ban hành quy định những nội dung như cho phép nhà đầu tư được vay với lãi suất thấp giống như nhà ở xã hội, thời hạn lâu dài từ 20 – 30 năm, hạn mức tín dụng lên đến 80% tổng mức đầu tư của dự án. Đồng thời cần có cơ chế thu hồi đất riêng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư có thể tham gia vào dự án nhà ở cho thuê.

    Trong khi đó, đại diện lãnh đạo Sở Xây dựng Quảng Ninh cho biết, bên cạnh việc đảm bảo tăng nguồn cung, thành phố sẽ kiểm soát chặt giá thành của nhà ở cho thuê.

    Về phương án quy hoạch và thiết kế kiến trúc, thành phố định hướng áp dụng các mẫu thiết kế linh hoạt, đa dạng diện tích căn hộ từ 25 – 70m². Việc gia tăng tỷ lệ căn hộ diện tích nhỏ được kỳ vọng sẽ giải bài toán tài chính phù hợp hơn với sức chi trả của đông đảo công nhân và người lao động thu nhập thấp.

    Bổ sung giao chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê

    Tại tờ trình dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030, Bộ Xây dựng đề xuất bổ sung giao chỉ tiêu phát triển nhà ở cho thuê vào Đề án để các địa phương bổ sung vào chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    Cũng theo Bộ Xây dựng, cả nước có 205.074 căn nhà ở cho thuê thuộc tài sản công. Trong đó, có 13.450 căn nhà ở xã hội, 78.476 căn nhà ở công vụ, 64.808 căn nhà ở sinh viên, 14.297 căn nhà ở phục vụ tái định cư, 30.957 căn nhà ở cũ thuộc tài sản công, 3.086 căn nhà ở thuộc tài sản công khác. Hiện đang bố trí cho thuê 188.025 căn, chưa cho thuê 17.049 căn.

    Về nhu cầu nhà ở cho thuê, tổng nhu cầu thuê nhà ở của các Bộ, cơ quan trực thuộc Trung ương là 22.407 căn (trong đó 1.642 căn nhà ở công vụ, 20.765 căn nhà ở cho thuê khác).

    Tổng nhu cầu thuê nhà ở của các địa phương lên tới hơn 1 triệu căn. Trong đó, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là 98.059 căn; lực lượng vũ trang nhân dân là 11.293 căn; công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp là 855.703 căn; đối tượng được thuê nhà ở công vụ là 6.146 căn; học sinh, sinh viên là 12.656 căn; đối tượng khác là 28.330 căn.

    Trên cơ sở tổng hợp báo cáo và ý kiến góp ý của các địa phương, Bộ Xây dựng đã tổng hợp, dự thảo điều chỉnh giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê giai đoạn 2026 – 2030 như sau: Tổng chỉ tiêu giai đoạn 2026 – 2030 là 931.414 căn, bao gồm chỉ tiêu nhà ở xã hội (để bán, cho thuê mua) 785.525 căn; chỉ tiêu nhà ở cho thuê 145.889 căn (riêng chỉ tiêu năm 2026 là 15.131 căn).

    Theo đó 9 địa phương đề xuất điều chỉnh giảm chỉ tiêu (tổng số giảm 87.407 căn): Đồng Nai, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Quảng Trị, Đắk Lắk, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang. 4 địa phương đề xuất điều chỉnh tăng chỉ tiêu (tổng số tăng 45.350 căn): Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Khánh Hòa.

    Như vậy, chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê của Đề án giai đoạn 2021 – 2030 sau khi điều chỉnh đạt 1.101.543 căn, bảo đảm mục tiêu phấn đấu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ đã đề ra.

    Nhóm phóng viên

    Nguồn https://baomoi.com/can-co-che-dot-pha-xay-1-trieu-nha-cho-thue-c56007475.epi

  • Ô Diên: Người dân góp ý cho diện mạo quê hương tương lai

    Không gian ven sông Hồng qua địa bàn Ô Diên, nơi quy hoạch mở ra những cơ hội phát triển mới. Ảnh: Đỗ Duẩn

    Theo phương án được công khai, đoạn Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng qua xã Ô Diên dài khoảng 4,7km, cơ bản bám theo tuyến đê, mặt cắt ngang khoảng 54m và diện tích ảnh hưởng khoảng 60,66ha. Phương án cũng nghiên cứu tránh chùa Chổi – Thượng Trì, đình Liên Hà và tổ chức nút giao liên thông với cầu Hồng Hà.

    Ông Nguyễn Đại Kết, Bí thư Chi bộ thôn Bồng Lai, cho biết cơ bản người dân đồng tình, nhất trí với chủ trương. Tuy nhiên, người dân mong muốn được quan tâm đến phương án tái định cư tại chỗ, qua đó duy trì sự gắn kết với cộng đồng dân cư bản địa.

    Bên cạnh việc công khai, thông tin quy hoạch còn được địa phương phổ biến qua Fanpage, Zalo và các kênh thông tin khác, tạo điều kiện để người dân tiếp cận hồ sơ, nghiên cứu bản đồ và tham gia đóng góp ý kiến.

    Với ông Doãn Văn Dũng, người dân thôn Bồng Lai luôn tôn trọng pháp luật và sẵn sàng đồng hành với các chủ trương phát triển. Tuy nhiên, điều ông và nhiều người dân quan tâm là trong quá trình triển khai, những vấn đề gắn với đời sống, cộng đồng, phong tục và quê hương cần được xem xét thấu đáo, hài hòa.

    Người dân Ô Diên tìm hiểu các nội dung quy hoạch. Ảnh: Đỗ Duẩn

    Từ những mong muốn cụ thể của người dân, yêu cầu đặt ra với công tác lấy ý kiến là bảo đảm thông tin đầy đủ, minh bạch và tạo điều kiện để các đề xuất từ cơ sở được tiếp nhận, xem xét trong quá trình lập quy hoạch. Để thực hiện điều đó, xã Ô Diên xác định công tác thông tin và lấy ý kiến phải được tổ chức bài bản, công khai, đúng đối tượng và đúng quy trình.

    Ông Phạm Hồng Hoàn, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Ô Diên, cho biết địa phương chú trọng cung cấp thông tin để cán bộ cơ sở nắm chắc nội dung, từ đó tuyên truyền, giải thích những vấn đề người dân quan tâm. Đồng thời, xã duy trì dòng thông tin liên tục để người dân hiểu đúng mục đích, phạm vi, nội dung quy hoạch, cũng như nắm rõ thời gian, địa điểm, hình thức tiếp cận hồ sơ và cách thức tham gia góp ý.

    Các ý kiến của người dân được tiếp nhận, tổng hợp và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, qua đó phát huy quyền làm chủ của nhân dân và phản ánh sát thực tế địa bàn.

    Địa phương đồng thời chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phát huy vai trò của bí thư chi bộ, trưởng thôn, ban công tác mặt trận và lực lượng cơ sở để kịp thời giải thích, định hướng thông tin, hạn chế phát sinh điểm nóng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự.

    Ông Nguyễn Đại Kết, Bí thư Chi bộ thôn Bồng Lai, cho biết đa số người dân đồng thuận với chủ trương quy hoạch. Ảnh: Đỗ Duẩn

    Ở Ô Diên, sự đồng thuận được hình thành khi người dân được biết, được xem, được hỏi và tham gia góp ý; chính quyền lắng nghe, tiếp nhận thông tin và tổng hợp ý kiến từ cơ sở. Mỗi ý kiến đều góp thêm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện quy hoạch, từ viêc lựa chọn tuyến đường hợp lý dến hạn chế tác động và gìn giữ những giá trị cộng đồng.

    Quy hoạch hướng tới tương lai, nhưng được góp ý từ cuộc sống hôm nay để phương án sát thực tế hơn, góp phần xây dựng Ô Diên văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.

    Đỗ Duẩn

    Nguồn https://baomoi.com/o-dien-nguoi-dan-gop-y-cho-dien-mao-que-huong-tuong-lai-c56008208.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!