Author: bachdn

  • Tập trung giải phóng mặt bằng, tạo đà phát triển các khu, cụm công nghiệp

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Xuân Trường chủ trì Hội nghị.

    Dự Hội nghị có các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy; Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Thường trực HĐND, UBND tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, các địa phương liên quan.

    Theo báo cáo tại Hội nghị, giai đoạn 2020-2025, bình quân mỗi năm, các khu công nghiệp (KCN) đạt doanh thu khoảng 30 tỷ USD, giá trị xuất khẩu 28 tỷ USD, nộp ngân sách khoảng 9.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho trên 100 nghìn lao động.

    Các đồng chí lãnh đạo tỉnh dự Hội nghị.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thế Mạnh dự Hội nghị.

    Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đại biểu dự Hội nghị.

    Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 15 KCN, khu công nghệ số tập trung với 384 dự án còn hiệu lực, gồm 202 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 19.144 triệu USD và 182 dự án DDI, tổng vốn đăng ký 65.109 tỷ đồng. Tuy nhiên, công tác giải phóng mặt bằng tại một số KCN còn gặp khó khăn. Một số chủ đầu tư hạ tầng chưa bố trí đủ nguồn vốn ứng trước để chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; quỹ đất tái định cư còn thiếu.

    Đối với CCN, theo Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, toàn tỉnh được quy hoạch 74 CCN, tổng diện tích 4.069 ha. Đến nay, 41 CCN đã được thành lập, còn 33 CCN chưa thành lập. Lũy kế đến hết tháng 9/2026, các CCN trên địa bàn tỉnh thu hút 101 dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho khoảng 16.800 lao động.

    Khó khăn hiện nay là tiến độ một số dự án còn chậm do vướng mắc trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thủ tục đất đai. Hạ tầng giao thông chưa được triển khai theo tiến độ, ảnh hưởng đến việc đấu nối giao thông và đầu tư các hạng mục điện, nước, viễn thông. Một số chủ đầu tư chưa tập trung đầy đủ nguồn lực để triển khai dự án theo tiến độ đề xuất.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thế Mạnh phát biểu tại Hội nghị.

    Đại biểu các sở, ngành phát biểu ý kiến.

    Đại biểu địa phương phát biểu ý kiến.

    Tại buổi làm việc, các ý kiến tập trung phân tích việc xác định rõ thứ tự ưu tiên trong đầu tư, tránh dàn trải nguồn lực, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn cho giải phóng mặt bằng và xây dựng các khu tái định cư rất lớn; đề nghị rà soát từng khu, cụm công nghiệp để xác định khả năng triển khai, nhu cầu sử dụng đất và khả năng thu hút nhà đầu tư thứ cấp; ưu tiên những khu đã có nhà đầu tư, có khả năng triển khai thực tế, hạ tầng kết nối thuận lợi.

    Về giải phóng mặt bằng và tái định cư, các ý kiến đề nghị rà soát quy hoạch, quy mô các khu tái định cư theo nhu cầu thực tế, bảo đảm diện tích và hạ tầng thiết yếu phù hợp. Đồng thời cần rà soát trách nhiệm, năng lực tài chính của các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, nhất là những trường hợp chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính phục vụ giải phóng mặt bằng.

    Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy đề nghị trong điều hành phải căn cứ khả năng cân đối nguồn lực để lựa chọn công việc ưu tiên; quy hoạch phải có tính kế thừa, gối đầu, nhưng triển khai theo lộ trình, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí.

    Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư phải bảo đảm nguyên tắc thống nhất, minh bạch; quy hoạch khu tái định cư phải phù hợp với khu vực đã và đang giải phóng mặt bằng. Cùng với đó hạ tầng giao thông, điện, nước, môi trường phải được tính toán đồng bộ ngay từ khâu quy hoạch.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Xuân Trường phát biểu kết luận.

    Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Trịnh Xuân Trường ghi nhận, biểu dương Đảng ủy UBND tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương thời gian qua đã triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng trong phát triển các khu, CCN, thu hút đầu tư trên địa bàn.

    Đồng chí nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự vào cuộc của các cấp chính quyền, sự đồng thuận của nhân dân là rất quan trọng. Trong định hướng phát triển của tỉnh đến năm 2030, công nghiệp tiếp tục là trọng tâm, với mục tiêu thu hút trên 30 tỷ USD vốn đầu tư. Để tạo dư địa cho mục tiêu này, tỉnh cần khoảng 6.000ha đất KCN; trong đó còn khoảng 3.000ha cần giải phóng mặt bằng và phấn đấu hoàn thành vào cuối năm 2027. 

    Các đại biểu dự Hội nghị.

    Từ yêu cầu đó, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu việc phát triển khu, CCN phải chuyển mạnh từ tư duy quy hoạch sang chủ động chuẩn bị các điều kiện để thu hút và triển khai dự án. Trong đó, cần đồng bộ quỹ đất sạch, tái định cư và hạ tầng, xác định rõ khu vực ưu tiên, tránh dàn trải nguồn lực, đồng thời lựa chọn, đánh giá đúng năng lực nhà đầu tư và kiểm soát chặt việc thực hiện cam kết.

    Đối với 15 KCN đang triển khai, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng và hạ tầng. Với 23 KCN còn lại trong quy hoạch, đồng chí yêu cầu Đảng ủy UBND tỉnh chỉ đạo UBND tỉnh, các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện quy hoạch phân khu, xác định rõ lộ trình để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.

    Đối với các CCN cần đánh giá thực chất hiệu quả sử dụng đất, năng lực chủ đầu tư và khả năng thu hút đầu tư, từ đó xây dựng phương án phù hợp, tạo thêm giá trị cho ngân sách nhà nước.

    Bản đồ quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

    Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng yêu cầu rà soát lại toàn bộ quy hoạch, đầu tư các khu tái định cư; công tác giải phóng mặt bằng phải được thực hiện đồng bộ với giao thông, điện, nước và các hạ tầng thiết yếu. Những vướng mắc vượt thẩm quyền kịp thời báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh để chỉ đạo giải quyết.

    Đồng thời, UBND tỉnh phải làm việc cụ thể với các nhà đầu tư để đánh giá năng lực và việc thực hiện cam kết; kiên quyết tháo gỡ khó khăn những dự án còn vướng mắc, có giải pháp đối với những dự án chậm triển khai. Phân bổ nguồn lực cần bám sát khả năng hấp thụ vốn, ưu tiên những dự án có tính khả thi, nhu cầu thực tế và khả năng tạo ra những hiệu quả rõ ràng.

    Thu Trà – Nguyên Ngọc

    Nguồn https://baomoi.com/tap-trung-giai-phong-mat-bang-tao-da-phat-trien-cac-khu-cum-cong-nghiep-c56181231.epi

  • Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2026-2030

    Theo Nghị Quyết 303/NQ-CP, về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030, theo đó Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành có liên quan và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Đẩy mạnh triển khai Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030.

    Giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp (ảnh: AI).

    Quan điểm về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê

    1. Phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm hiện thực hóa quan điểm về “quyền có nơi ở hợp pháp là quyền cơ bản của công dân” và bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận nhà ở an toàn, phù hợp với khả năng chỉ trå.

    2. Bên cạnh nhà ở để bán, cần xác định nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược, dài hạn cho số đông người dân, giúp bảo đảm an sinh xã hội, an ninh trật tự, nâng cao năng suất lao động và góp phần ổn định thị trường bất động sản.

    3. Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, nhất là mô hình chung cư cho thuê có hạ tầng đồng bộ tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu vực phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD), vùng động lực và các hành lang kinh tế quan trọng.

    4. Ưu tiên bố trí quỹ đất sạch, nguồn vốn ngân sách nhà nước thông qua Qũy nhà ở của địa phương để phát triển nhà ở cho thuê.

    5. Không hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là các doanh nghiệp bất động sản lớn, có năng lực, kinh nghiệm, trách nhiệm xã hội, tham gia phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê.

    Mục tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê

    1. Đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp.

    2. Các địa phương căn cứ chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao (tại các Phụ lục kèm theo Nghị quyết này), thực hiện hoàn thành hoặc vượt chỉ tiêu để góp phần hoàn thành mục tiêu chung của cả nước.

    Tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê

    1. Bộ Xây dựng

    Theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp kết quả triển khai của các địa phương, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    a) Đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê được giao tại Nghị quyết này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm để triển khai thực hiện;

    b) Rà soát các dự án đã có trong quy hoạch, Chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh để triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu được giao;

    c) Đối với các dự án đã khởi công xây dụng, phải đôn đốc các chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực để thực hiện, quyết tâm hoàn thành trong năm 2026;

    d) Nghiên cứu, chỉ đạo các Chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tăng chỉ tiêu nhà ở xã hội cho thuê, cho thuê mua, giảm nhà ở xã hội để bán;

    đ) Tổ chức lập, phê duyệt danh mục vị trí khu đất đã được xác định để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; bố trí đủ quỹ đất để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê tại các vị trí thuận lợi, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội;

    e) Có cơ chế khuyến khích nhà đầu tư đã có sẵn quỹ đất sạch phù hợp với quy hoạch, đáp ứng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, có đủ năng lực tài chính đề xuất dự án để thực hiện giao chủ đầu tư theo quy định;

    g) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC), đưa các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê vào nhóm “luồng xanh”, “luồng ưu tiên”; thực hiện đồng thời, song song các quy trình về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường; rút ngắn tối đa thời gian thẩm định, phê duyệt dự án, giao đất, cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan đảm bảo cắt giảm tối đa thời gian thực hiện TTHC;

    h) Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất, rà soát, tổng hợp, báo cáo tiến độ triển khai, khó khăn, vướng mắc (nếu có) về Bộ Xây dựng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    3. Các bộ, ngành có liên quan và địa phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê. Tăng cường hoạt động giám sát của cộng đồng để các công trình, dự án được thực hiện đúng quy hoạch, thiết kế, đảm bảo chất lượng, tránh thất thoát, lãng phí.

    4. Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026 – 2030.

    Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

    Nghị Quyết 303/NQ-CP

    Xem tại đây

    Hải Lê

    Nguồn https://baomoi.com/dau-tu-xay-dung-it-nhat-1-trieu-can-nha-o-xa-hoi-giai-doan-2026-2030-c56181164.epi

  • 5 kiểu bàn ăn nhìn sang, tiện nhưng dùng lâu mới thấy bất tiện

    Nếu ưu tiên sự tiện dụng và độ bền, đây là 5 kiểu bàn ăn mà người mua nội thất nên cân nhắc kỹ trước khi xuống tiền.

    Bàn ăn kéo dài

    Bàn ăn kéo dài hấp dẫn nhờ khả năng thay đổi kích thước. Ngày thường có thể thu gọn để tiết kiệm diện tích, khi nhà có khách lại mở rộng để đủ chỗ ngồi. Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng thực sự cần tính năng này thường xuyên.

    Cơ cấu ray trượt, khóa, bản lề và các bộ phận liên kết có thể trở nên cứng, kẹt hoặc phát ra tiếng động sau thời gian sử dụng. Các khe nối cũng dễ tích tụ dầu mỡ, bụi bẩn và vụn thức ăn, khiến việc vệ sinh phức tạp hơn.

    Nếu gia đình hiếm khi tổ chức những bữa ăn đông người, một chiếc bàn kích thước cố định vừa đủ dùng có thể thực dụng hơn. Thiết kế càng ít cơ cấu chuyển động thì nguy cơ phát sinh lỗi vặt càng thấp.

    Bàn ăn kéo dài thường xuyên bị kẹt, phát ra tiếng động, dễ tích tụ bụi bẩn sau thời gian sử dụng

    Bàn tích hợp bếp từ

    Bàn ăn tích hợp bếp từ từng được xem là giải pháp tiện lợi cho những gia đình thường xuyên ăn lẩu, nướng hoặc muốn giữ món ăn nóng ngay trên bàn. Tuy nhiên, nếu một năm chỉ sử dụng vài lần, tính năng này có thể không thực sự đáng để đánh đổi.

    Khi bếp từ gặp trục trặc, việc sửa chữa hoặc thay thế cũng phức tạp hơn bếp di động thông thường. Một số mẫu sử dụng thiết kế riêng nên khó tìm linh kiện tương thích. Trong khi đó, hệ thống điện và bộ phận tản nhiệt được bố trí bên dưới mặt bàn đòi hỏi việc lắp đặt phải được thực hiện cẩn thận.

    Với nhu cầu ăn lẩu không quá thường xuyên, một chiếc bếp từ di động có thể linh hoạt hơn: dùng xong cất đi, khi hỏng cũng dễ thay thế.

    Bàn màu sáng, bề mặt mờ

    Những chiếc bàn màu trắng, kem, xám nhạt hoặc có bề mặt mờ rất phù hợp với phong cách tối giản, tạo cảm giác sạch sẽ và hiện đại. Nhưng đây cũng là nhóm bàn dễ khiến gia chủ phải chăm sóc nhiều hơn.

    Nước tương, cà phê, dầu mỡ, sốt cà chua hay tương ớt đều có thể để lại dấu vết. Với bề mặt nhám hoặc mờ, vết bẩn đôi khi bám sâu vào những lỗ nhỏ của lớp phủ, trong khi chất tẩy rửa mạnh lại có nguy cơ ảnh hưởng đến lớp hoàn thiện.

    Nếu bàn được sử dụng hàng ngày và gia đình thường xuyên nấu ăn, nên ưu tiên những bề mặt dễ lau, ít bám màu. Vân gỗ hoặc các tông màu trung tính thường có tính thực dụng cao hơn.

    Bàn có quá nhiều khe, rãnh

    Những đường rãnh, mối ghép hoặc các thanh gỗ ghép có thể tạo điểm nhấn cho bàn ăn, nhưng cũng dễ trở thành nơi vụn thức ăn và chất lỏng tích tụ.

    Một chút cơm, nước canh hay vụn bánh lọt xuống khe nhỏ có thể rất khó lấy ra. Nếu chất lỏng thấm vào bên trong và không được làm sạch kỹ, lâu ngày có thể xuất hiện mùi hoặc nấm mốc.

    Nếu ưu tiên sự tiện dụng, mặt bàn càng liền mạch càng tốt. Ít khe, ít mối nối đồng nghĩa với việc lau chùi nhanh hơn và dễ giữ bàn luôn sạch sẽ.

    Bàn có chân xòe

    Chân bàn xòe chéo ra ngoài thường tạo cảm giác chắc chắn và là điểm nhấn thiết kế. Tuy nhiên, phần chân nhô ra có thể trở thành vật cản trong quá trình sử dụng.

    Người ngồi dễ vướng chân khi đưa chân vào hoặc đứng lên. Khi nhiều người cùng ngồi, khoảng trống để chân càng trở nên hạn chế. Đáng chú ý, diện tích mà chiếc bàn thực sự chiếm dụng có thể lớn hơn đáng kể so với kích thước mặt bàn.

    Đặc biệt với căn hộ nhỏ, phần chân xòe thêm vài chục centimet cũng có thể khiến lối đi trở nên chật chội. Các mẫu chân thẳng, chân thu gọn vào trong hoặc thiết kế áp tường thường phù hợp hơn với không gian hạn chế.

    Chân bàn xòe chéo ra ngoài có thể trở thành vật cản trong quá trình sử dụng

    Có thể thấy, khi mua nội thất, những thiết kế nhiều chức năng hoặc kiểu dáng khác biệt thường dễ thu hút sự chú ý. Tuy nhiên, bàn ăn là món đồ được sử dụng lâu dài, vì vậy sự đơn giản đôi khi lại mang đến giá trị thực tế hơn.

    Thay vì chỉ nhìn vào kiểu dáng, người mua nên kiểm tra khả năng vệ sinh, độ chắc chắn, diện tích chiếm dụng và tần suất sử dụng các tính năng đi kèm.

    Một chiếc bàn ăn đáng tiền có thể không phải mẫu nhiều tính năng nhất, mà là chiếc bàn ăn không rung, lau không mệt và sử dụng nhiều năm vẫn thuận tiện.

    Kỳ Anh

    Nguồn https://baomoi.com/5-kieu-ban-an-nhin-sang-tien-nhung-dung-lau-moi-thay-bat-tien-c56181225.epi

  • Xã Thiên Lộc bàn giao đồ án Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết 1/500 dự án X2 Kim Chung

    Quang cảnh hội nghị. Ảnh: PV

    Đồ án được UBND xã Thiên Lộc phê duyệt tại Quyết định số 10622/QĐ-UBND ngày 19-9-2026, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024. Khu vực nghiên cứu thuộc ô quy hoạch IV.2-1, phân khu đô thị N4 trên địa bàn xã Thiên Lộc, với tổng diện tích khoảng 20,15 ha, quy mô dân số dự kiến khoảng 5.236 người.

    Về nội dung điều chỉnh, đồ án tập trung tối ưu hóa cơ cấu sử dụng đất và các chỉ tiêu phát triển nhà ở. Cụ thể, đồ án điều chỉnh tăng diện tích đất ở thấp tầng thêm 10.034 m², giảm diện tích đất nhà ở cao tầng 27.461 m², đồng thời dành 20,95% quỹ đất để bổ sung chức năng đất nhà ở xã hội (tầng cao 22 tầng) theo quy định.

    Đồ án cũng tách 4.499 m² đất đường nội bộ ra khỏi diện tích nhà ở thấp tầng để chuẩn hóa số liệu; điều chỉnh mật độ xây dựng nhà ở thấp tầng lên 78 – 87%, nhà ở cao tầng lên 45 – 50% và nâng tầng cao nhà ở thương mại cao tầng từ 17 tầng lên 30 tầng. Sau điều chỉnh, tuy tổng diện tích đất ở giảm 17.427 m² nhưng tổng diện tích sàn nhà ở tăng thêm 80.465 m², nâng cao đáng kể hiệu quả khai thác quỹ đất.

    Phối cảnh minh hoạ các không gian chức năng của dự án. Ảnh: PV

    Đáng chú ý, việc điều chỉnh được thực hiện trên nguyên tắc giữ nguyên khung giao thông chính, chỉ tiêu hạ tầng xã hội, trục cây xanh và quy mô dân số toàn khu. Điểm nhấn kiến trúc của dự án là khu nhà ở 30 tầng đặt tại vị trí cửa ngõ, hướng tầm nhìn về phía trục đường bờ kênh theo hướng Bắc Thăng Long – Nội Bài. Khu nhà ở xã hội cao 22 tầng được bố trí ở phía Bắc, tạo thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng đồng bộ.

    Việc công bố và bàn giao đồ án là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng quản lý, triển khai dự án theo đúng quy hoạch, góp phần hình thành khu đô thị xanh, hiện đại và đồng bộ tại địa phương.

    Hy Ninh

    Nguồn https://baomoi.com/xa-thien-loc-ban-giao-do-an-dieu-chinh-cuc-bo-quy-hoach-chi-tiet-1-500-du-an-x2-kim-chung-c56181076.epi

  • Toàn Đảng bộ tiếp tục phát huy tinh thần: “Đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã làm phải có kết quả”

    Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ 17.

    Sáng 2/10, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa khóa XX tổ chức Hội nghị lần thứ 17 để thảo luận, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ 9 tháng, bàn nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 3 tháng cuối năm 2026 và cho ý kiến vào một số nội dung quan trọng khác.

    Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thái và các đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

    Đồng chí Lê Đức Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh; các đồng chí: Nguyễn Hồng Phong, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Tô Anh Dũng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Trịnh Tuấn Sinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh chủ trì hội nghị.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Thanh Hóa.

    Dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

    Hội nghị được tổ chức trực tiếp và kết nối đến các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh.

    Nhận diện điểm nghẽn, mở dư địa tăng trưởng

    Tại hội nghị, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tập trung đánh giá những kết quả đạt được trong 9 tháng, nhất là phân tích, làm rõ những kết quả tạo sức bật mới trong quý III; phân biệt rõ những kết quả có tính bền vững với những kết quả còn phụ thuộc vào yếu tố thời điểm. Qua đó nhận diện những “điểm nghẽn” đang cản trở tăng trưởng và đề xuất giải pháp trọng tâm, khả thi trong 3 tháng cuối năm.

    Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Nguyễn Hồng Phong điều hành thảo luận.

    Một trong những vấn đề được tập trung thảo luận là yêu cầu tạo dư địa mới cho tăng trưởng. Với mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm 2026 ở mức 11%, trong khi 9 tháng tăng 8,54%, nhiệm vụ đặt ra cho quý IV rất lớn.

    Các đại biểu cho rằng, cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, dự án và cơ sở sản xuất, kinh doanh; tập trung nguồn lực cho những dự án có khả năng hoàn thành, đưa vào hoạt động và tạo giá trị gia tăng ngay trong quý IV.

    Với mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm 2026 ở mức 11%, trong khi 9 tháng tăng 8,54%, nhiệm vụ đặt ra cho quý IV rất lớn.

    Các ngành, địa phương cần rà soát cụ thể từng lĩnh vực, dự án, sản phẩm và nguồn lực còn dư địa; xác định rõ khả năng đóng góp vào tăng trưởng, tránh đề ra giải pháp chung chung nhưng không lượng hóa được kết quả đầu ra.

    Gỡ vướng đầu tư công, khơi thông nguồn lực

    Thảo luận về đầu tư công, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tập trung phân tích nguyên nhân khiến tiến độ giải ngân tại một số dự án còn chậm, nhất là những vướng mắc về giải phóng mặt bằng, xác định giá đất, thủ tục đầu tư, nguồn vật liệu xây dựng và năng lực tổ chức thực hiện của chủ đầu tư.

    Chủ tịch UBND tỉnh Tô Anh Dũng phát biểu tại hội nghị.

    Các ý kiến đề nghị phân loại cụ thể từng nhóm dự án, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và khả năng hoàn thành trong thời gian còn lại của năm. Những dự án có khả năng giải ngân phải được ưu tiên tháo gỡ ngay các vướng mắc; đối với dự án không có khả năng giải ngân, cần chủ động điều chuyển vốn theo quy định, tránh để vốn chờ dự án.

    Đối với các dự án tồn đọng, kéo dài, hội nghị yêu cầu không chỉ dừng ở rà soát, thống kê mà phải giải quyết thực chất từng trường hợp. Những vấn đề thuộc thẩm quyền của tỉnh phải được tập trung xử lý dứt điểm; những nội dung vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền tháo gỡ, qua đó giải phóng nguồn lực đất đai, vốn đầu tư đang bị ách tắc.

    Trưởng Thống kê tỉnh Thái Bá Minh phát biểu thảo luận.

    Trưởng Thuế tỉnh Nguyễn Văn Thủy phát biểu thảo luận.

    Các đại biểu cũng tập trung làm rõ 7 chỉ tiêu dự báo khó hoàn thành theo kế hoạch năm; phân tích nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan; xác định chỉ tiêu còn khả năng cải thiện, mức cải thiện có thể đạt được và giải pháp tương ứng.

    Tinh thần chung được đặt ra là chuyển từ cách tiếp cận “phấn đấu” sang xác định rõ việc phải làm, nguồn lực cần huy động, thời gian hoàn thành và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Mỗi nhiệm vụ trong quý IV phải có địa chỉ cụ thể, tiến độ kiểm đếm và khả năng đánh giá kết quả.

    Tinh thần chung được đặt ra là chuyển từ cách tiếp cận “phấn đấu” sang xác định rõ việc phải làm, nguồn lực cần huy động, thời gian hoàn thành và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Bí thư Đảng ủy phường Sầm Sơn Lê Văn Tuấn phát biểu thảo luận.

    Bí thư Đảng ủy xã Yên Định Lê Minh Nghĩa phát biểu thảo luận.

    Bí thư Đảng ủy xã Trung Lý Hà Văn Ca phát biểu thảo luận.

    Về thu ngân sách, các đại biểu đề nghị tiếp tục khai thác những nguồn thu còn dư địa nhưng phải chú trọng tính bền vững; mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, nuôi dưỡng nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh, khai thác hợp lý nguồn thu từ đất, bảo đảm nguồn lực cho ngân sách nhưng không phụ thuộc vào các khoản thu mang tính thời điểm.

    Trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, trật tự, an toàn xã hội, các đại biểu đề nghị nâng cao chất lượng nắm tình hình, dự báo và xử lý ngay từ cơ sở; tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, địa phương, không để những vụ việc nhỏ tích tụ thành vấn đề phức tạp, phát sinh điểm nóng.

    Quyết liệt hành động, rõ người, rõ việc, rõ kết quả

    Phát biểu kết luận hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thái nhấn mạnh, quý IV là thời gian quyết định kết quả thực hiện nhiệm vụ cả năm 2026, đồng thời tạo nền tảng cho năm 2027 và những năm tiếp theo. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất với 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu trong báo cáo và các ý kiến tại hội nghị.

    Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thái phát biểu kết luận hội nghị.

    Để thực hiện mục tiêu đề ra, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu các cấp, các ngành, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; trong đó tập trung cao nhất cho tăng trưởng, sản xuất, kinh doanh và thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu năm 2026.

    Khẩn trương cập nhật kịch bản tăng trưởng quý IV, xác định rõ dư địa theo từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm, doanh nghiệp và dự án có đóng góp lớn; tập trung vào các động lực có khả năng tạo kết quả ngay trong quý IV.

    Ngay sau hội nghị, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh khẩn trương cập nhật kịch bản tăng trưởng quý IV, xác định rõ dư địa theo từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm, doanh nghiệp và dự án có đóng góp lớn; tập trung vào các động lực có khả năng tạo kết quả ngay trong quý IV, hoàn thành trước ngày 10/10/2026.

    Cùng với đó, phải khơi thông mạnh mẽ các nguồn lực cho phát triển, tạo chuyển biến rõ về đầu tư công, các dự án lớn, đất đai, giải phóng mặt bằng và môi trường đầu tư. Xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của quý IV; rà soát đến từng dự án, gói thầu, chủ đầu tư, xác định rõ khối lượng, khả năng giải ngân, vướng mắc, trách nhiệm và thời hạn xử lý. Vướng ở đâu phải xử lý ngay ở đó; kịp thời điều chuyển vốn đối với dự án không có khả năng giải ngân, không để dồn khối lượng vào cuối năm.

    Xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của quý IV; rà soát đến từng dự án, gói thầu, chủ đầu tư, xác định rõ khối lượng, khả năng giải ngân, vướng mắc, trách nhiệm và thời hạn xử lý.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Thanh Hóa.

    Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu tập trung xử lý đồng bộ các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, đất đai, giá đất, vật liệu xây dựng. Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh khẩn trương xây dựng dự thảo Chỉ thị về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy trước ngày 10/10/2026.

    Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; chuyển mạnh xúc tiến đầu tư từ “ký kết, trao giấy” sang “hiện thực hóa dự án”, mỗi dự án lớn phải có đầu mối theo dõi xuyên suốt.

    Hoàn thành việc sắp xếp, xử lý cơ sở nhà, đất dôi dư trước ngày 20/11/2026; đưa tài sản vào quản lý, sử dụng, khai thác hiệu quả, không để bỏ trống, xuống cấp, gây thất thoát, lãng phí.

    Chuyển mạnh xúc tiến đầu tư từ “ký kết, trao giấy” sang “hiện thực hóa dự án”. Hoàn thành việc sắp xếp, xử lý cơ sở nhà, đất dôi dư trước ngày 20/11/2026.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Thanh Hóa.

    Về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bí thư Tỉnh ủy yêu cầu hoàn thiện các phân hệ của Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC), các cơ sở dữ liệu và nền tảng dùng chung; chuẩn hóa, kết nối, khai thác dữ liệu hiệu quả, phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Đồng thời, nâng cao hiệu quả vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; kịp thời xử lý khó khăn, bất cập, tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ cấp xã, bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu quả.

    Cùng với phát triển kinh tế, phải chăm lo tốt đời sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, giữ vững quốc phòng – an ninh và ổn định xã hội; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Thanh Hóa.

    Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thái nhấn mạnh: Năm 2026 đã đi qua ba phần tư chặng đường. Phần việc còn lại chủ yếu là những việc khó, những điểm nghẽn, những nhiệm vụ đòi hỏi quyết tâm lớn hơn và trách nhiệm cao hơn. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy sẽ tăng cường kiểm tra, kiểm đếm tiến độ các nhiệm vụ trọng tâm; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm căn cứ quan trọng để đánh giá tập thể, cán bộ và người đứng đầu cuối năm.

    Đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Tỉnh ủy Thanh Hóa.

    “Đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã làm phải có kết quả”. Tinh thần đó, theo đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, phải tiếp tục được lan tỏa trong toàn Đảng bộ; khắc phục bằng được tình trạng chậm trễ, né tránh, đùn đẩy; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; quyết tâm hoàn thành ở mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, tạo nền tảng vững chắc để bước vào năm 2027 với khí thế mới và kết quả cao hơn.

    Minh Hiếu

    Nguồn https://baomoi.com/toan-dang-bo-tiep-tuc-phat-huy-tinh-than-da-noi-la-lam-da-cam-ket-phai-thuc-hien-da-lam-phai-co-ket-qua-c56181234.epi

  • Hà Tĩnh: Gỡ ‘nút thắt’, đổi cách làm để đưa nước sạch về nông thôn

    Khát vọng nước sạch và những “nút thắt”

    Chia sẻ với phóng viên Báo Xây dựng, ông Nguyễn Mậu Đại, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Tĩnh cho biết: “Tại nhiều địa phương ở Hà Tĩnh, không ít công trình cấp nước tập trung từng rơi vào tình trạng hoạt động kém hiệu quả, xuống cấp hoặc chậm tiến độ do vướng mắc nhiều mặt.

    Giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu phân bổ ngân sách trung ương và địa phương để đầu tư mở rộng đồng loạt 13 công trình cấp nước sạch hiện có. Giải pháp tối ưu hóa công suất từ các trạm cấp nước thô sẵn có này sẽ giúp tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư mới và tăng nhanh tỷ lệ bao phủ”. 

    Việc xây dựng hệ thống ống dẫn và trạm xử lý ở các vùng nông thôn, miền núi đòi hỏi kinh phí rất cao. Trong khi đó, giá nước thấp và số lượng người dùng phân tán khiến các doanh nghiệp tư nhân e ngại đầu tư.

    Hạ tầng không đồng bộ, nhiều trạm cấp nước xây dựng từ nhiều năm trước nay đã cũ hỏng, công nghệ lạc hậu, mạng lưới đường ống chưa phủ kín các khu dân cư thưa thớt.

    Trong khi đó, cơ chế quản lý bất cập. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và đơn vị vận hành đôi khi còn lúng túng trong việc phân chia vùng cấp nước, tính toán giá dịch vụ hay bố trí kinh phí duy tu, sửa chữa nhỏ”.

    Thay đổi chiến lược để bứt phá

    Trước thực trạng trên, tỉnh Hà Tĩnh đang đẩy mạnh nhiều giải pháp quyết liệt nhằm khơi thông nguồn lực, tháo gỡ khó khăn cho các dự án.

    Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Tiến Hùng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Tĩnh cho biết: “Cái khó lớn nhất trước đây nằm ở nguồn lực đầu tư hạ tầng quá lớn trong khi mật độ dân cư nông thôn thưa thớt, dẫn đến suất đầu tư trên mỗi hộ gia đình ở mức cao. Thêm vào đó, việc biến đổi khí hậu gây ô nhiễm, suy giảm nguồn nước thô và hạ tầng cũ xuống cấp cũng là những rào cản rất lớn.

    Người dân phấn khởi khi được sử dụng nguồn nước sạch.

    Để khắc phục, chúng tôi đã tham mưu UBND tỉnh thay đổi hoàn toàn chiến lược: Không dàn trải đầu tư nhà máy mới, mà tập trung cao độ vào việc mở rộng mạng lưới, đấu nối từ các công trình đầu mối sẵn có. Phương án này giúp phát huy tối đa công suất thiết kế, giảm giá thành xây dựng và đưa nước sạch đến nhà dân nhanh nhất. 

    Ngoài ra, việc lồng ghép linh hoạt nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và ban hành các chính sách ưu đãi giai đoạn 2026 – 2030 đang tạo động lực rất lớn cho các đơn vị thi công”.

    “Chúng tôi xác định công trình xây xong phải chạy tốt và bền vững. Tỉnh đã thực hiện bàn giao các trạm cấp nước hoạt động kém hiệu quả ở địa phương về cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn làm đầu mối quản lý chuyên nghiệp. Đơn vị vận hành phải áp dụng công nghệ số, như phối hợp qua ứng dụng i-HaTinh để tiếp nhận và xử lý sự cố rò rỉ, nước yếu ngay lập tức theo phản ánh của người dân.

    Đồng thời, ngành phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã để tăng cường tập huấn, nâng cao ý thức bảo vệ hành lang nguồn nước của cộng đồng. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo quyền tiếp cận nước sạch công bằng, chất lượng cho mọi người dân nông thôn, biến nước sạch trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội vững chắc cho các vùng quê Hà Tĩnh”, ông Hùng nói thêm.

    Tính đến tháng 9/2026, toàn tỉnh có 81.462/293.534 hộ dân nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn từ công trình tập trung (đạt 27,75%). Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Hà Tĩnh quản lý 8 công trình lớn phục vụ trên 41.300 hộ, với thêm 10.256 hộ được đấu nối từ đầu năm 2026.

    Thủy Linh

    Nguồn https://baomoi.com/ha-tinh-go-nut-that-doi-cach-lam-de-dua-nuoc-sach-ve-nong-thon-c56181286.epi

  • Rà soát, hoàn thiện chính sách bảo đảm quyền lợi đối với người có công

    Cùng dự có: lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các sở, ngành, địa phương và đông đảo cử tri các xã Khánh Vĩnh, Bắc Khánh Vĩnh, Nam Khánh Vĩnh, Tây Khánh Vĩnh, Trung Khánh Vĩnh.

    Tại buổi tiếp xúc, đại biểu Nguyễn Thanh Ngân đã báo cáo nhanh tới cử tri kết quả kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, dự kiến chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI; trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri các địa phương trong đợt TXCT trước Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.

    Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lê Hữu Trí cùng các đại biểu tại buổi tiếp xúc cử tri

    Sau khi nghe báo cáo tóm tắt từ Đoàn ĐBQH tỉnh về kết quả kỳ họp, nhiều cử tri bày tỏ tin tưởng và kỳ vọng Quốc hội sẽ tiếp tục ban hành những quyết sách thiết thực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Tại buổi tiếp xúc, cử tri kiến nghị việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách bảo đảm quyền lợi đối với người có công, tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại Lào, Campuchia nhưng chưa được nhận chế độ của Nhà nước; quan tâm đầu tư, hỗ trợ một số chính sách an sinh xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

    Quang cảnh buổi tiếp xúc

    Các đại biểu tham dự buổi tiếp xúc

    Cử tri các xã tham dự buổi tiếp xúc

    Sau khi lắng nghe các ý kiến, kiến nghị, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lê Hữu Trí đã trực tiếp giải đáp một số thắc mắc về chính sách để cử tri được rõ; đồng thời, đề nghị các địa phương liên quan rà soát, nắm bắt để giải quyết theo thẩm quyền, bảo đảm các quyền lợi chính đáng của cử tri, Nhân dân, tổng hợp báo cáo gửi Đoàn ĐBQH để có cơ sở trình cơ quan có thẩm quyền.

    Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lê Hữu Trí lưu ý, hiện nay sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, các nguồn lực đã được bố trí, cơ chế ngày càng thông thoáng, phân cấp mạnh hơn. Vì vậy, các địa phương cần chủ động trong chuẩn bị đầu tư, lập dự án, phê duyệt danh mục và giải ngân vốn.

    Đại biểu Nguyễn Thanh Ngân báo cáo nhanh tới cử tri kết quả kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, dự kiến chương trình Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI

    Cử tri phát biểu ý kiến, kiến nghị tại buổi tiếp xúc

    Cử tri phát biểu ý kiến, kiến nghị tại buổi tiếp xúc

    Bên cạnh đó, đại biểu Lê Hữu Trí nhấn mạnh, các xã thuộc khu vực Khánh Vĩnh có tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số cao, hiện nay Trung ương có nhiều chính sách ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc chậm triển khai một công trình hay chính sách có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống đồng bào. Do đó, các xã cần rà soát kỹ hồ sơ, thủ tục từng dự án, xác định rõ vướng mắc thuộc thẩm quyền nào để xử lý.

    Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lê Hữu Trí giải đáp một số kiến nghị của cử tri

    Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Lê Hữu Trí cũng chỉ ra, các xã khu vực Khánh Vĩnh có nhiều lợi thế về nguồn lực đất đai, hệ sinh thái. Trước đây, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng, tạo cơ sở pháp lý triển khai và quản lý các quy hoạch của địa phương. Do đó, các địa phương cần rà soát, bám theo quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế theo hướng bền vững, tập trung các ngành công nghiệp có lợi thế về nguồn nguyên liệu, các ngành nghề truyền thống.

    Đặc biệt, tập trung phát triển các mô hình tiểu đô thị sinh thái núi rừng, thân thiện với thiên nhiên, tận dụng lợi thế về điều kiện khí hậu và hệ thống rừng đặc trưng, biến thành các trung tâm du lịch và văn hóa – sinh thái gắn với sản xuất nông nghiệp sạch, trong đó bảo tồn đa dạng sinh học rừng.

    Kết thúc buổi tiếp xúc, Đoàn ĐBQH tỉnh đã ghi nhận, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử, tổng hợp để gửi đến Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

    Trùng Dương

    Nguồn https://baomoi.com/ra-soat-hoan-thien-chinh-sach-bao-dam-quyen-loi-doi-voi-nguoi-co-cong-c56181137.epi

  • 2 dự án nhà ở xã hội mới khởi động tại Hưng Yên

    Chiều 1/10, UBND xã Hoàn Long, tỉnh Hưng Yên đã tổ chức các hội nghị triển khai công tác giải phóng mặt bằng cho hai dự án nhà ở xã hội lớn trên địa bàn, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển đô thị và đưa xã trở thành phường vào cuối năm 2026.

    1. Dự án Khu nhà ở xã hội tại thôn Ngân Hạnh

    Dự án thứ nhất là Khu nhà ở xã hội tại thôn Ngân Hạnh có tổng vốn đầu tư hơn 1.835 tỉ đồng, do Liên danh C BHI – THC INVEST – HHB làm chủ đầu tư. Dự án được triển khai trên diện tích GPMB khoảng 3,7 ha (gồm 2,84 ha đất nông nghiệp của 89 hộ dân và 0,86 ha đất công), cung cấp khoảng 1.390 căn hộ chung cư và 47 căn liền kề cho gần 3.600 người. Dự án góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở cho người dân, người lao động và thực hiện Đề án 1 triệu căn NOXH của Chính phủ.

    Hiện nay để đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân, nhiều địa phương trên cả nước đã đẩy mạnh triển khai nhiều dự án nhà ở xã hội.

    2. Dự án Nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang Quân đội tại thôn Kênh Xá

    Dự án thứ hai là Nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang Quân đội tại thôn Kênh Xá với quy mô 9,4 ha, tổng vốn khoảng 2.331 tỉ đồng và thời hạn hoạt động 50 năm. Do Liên danh Thiết bị Vật tư Du lịch – Thành An 386 – Trưởng Phú làm chủ đầu tư, dự án gồm 3 tòa nhà cao 15 tầng với khoảng 1.900 căn hộ, đáp ứng nhu cầu ở cho khoảng 7.600 người.

    Tại các hội nghị, chính quyền xã Hoàn Long và Ban Quản lý dự án đã công khai các căn cứ pháp lý, quy trình giải phóng mặt bằng cùng chính sách bồi thường, hỗ trợ. Đồng thời, đại diện địa phương cũng trực tiếp giải đáp các thắc mắc của người dân về nguồn gốc đất, đơn giá bồi thường và tài sản trên đất, tạo sự đồng thuận để quá trình thu hồi đất diễn ra minh bạch, đúng tiến độ và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

    Hồng Thủy

    Nguồn https://baomoi.com/2-du-an-nha-o-xa-hoi-moi-khoi-dong-tai-hung-yen-c56181091.epi

  • An Giang mở cửa đón dòng vốn vào hai trục cao tốc

    Nằm trong mục tiêu đó, An Giang kích hoạt, thu hút dòng vốn theo hình thức đối tác công tư (PPP) để xây dựng hai trục cao tốc huyết mạch trên địa bàn gồm: Cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu (đoạn Hà Tiên – Rạch Giá) và tuyến đường kết nối Rạch Giá – Long Xuyên.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức nhấn mạnh, tỉnh có diện tích hơn 9.889 km², vừa có đường biên giới đất liền giáp Vương quốc Campuchia gần 150 km, với các cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương, Khánh Bình và Hà Tiên, vừa có vùng biển, đảo rộng lớn với đặc khu Phú Quốc phát triển thành trung tâm kinh tế du lịch, dịch vụ tổng hợp tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

    Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng giai đoạn 1, đoạn qua địa bàn tỉnh An Giang đến nay đạt 80,18%/79,95% sản lượng (vượt khoảng 0,23%) so với giá trị hợp đồng. Ảnh: Công Mạo-TTXVN

    Hàng hóa, du khách từ Campuchia, từ biển đảo vào đất liền và ngược lại đều phải đi qua mạng lưới giao thông của tỉnh, là nguồn lưu lượng và doanh thu bền vững cho các dự án. Việc triển khai thành công đoạn cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá và tuyến kết nối Rạch Giá – Long Xuyên sẽ giải quyết điểm nghẽn giao thông, nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và mở ra không gian phát triển kinh tế biên giới, biển đảo cho toàn vùng tứ giác Long Xuyên nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

    Theo thiết kế, cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu dài khoảng 194 km, 4 làn xe, là trục ngang thứ ba của vùng, nối cửa khẩu quốc tế Hà Tiên với Quốc lộ 1 tại Bạc Liêu (tỉnh Cà Mau), giao cắt và kết nối các cao tốc Lộ Tẻ – Rạch Sỏi, Cần Thơ – Cà Mau, gắn với cảng Hà Tiên, cảng Rạch Giá và cửa ngõ ra đặc khu Phú Quốc. Bộ Xây dựng đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, dự kiến khởi công năm 2027, hoàn thành năm 2030.

    Đặc biệt, đoạn Hà Tiên – Rạch Giá dài khoảng 87 km, dự kiến vốn ban đầu khoảng 56.000 tỷ đồng đã được Bộ Xây dựng đưa vào nhóm ưu tiên 1 của danh mục kêu gọi đầu tư theo phương thức PPP. Đoạn tuyến này nằm trọn trên địa bàn An Giang, đi qua khu kinh tế cửa khẩu, các khu công nghiệp, vùng du lịch biển và vùng nguyên liệu đá xây dựng của tỉnh.

    Dự án cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu, đặc biệt là đoạn tuyến Hà Tiên – Rạch Giá, khi đầu tư xây dựng hoàn thành có ý nghĩa chiến lược to lớn, tạo bước đột phá mạnh mẽ cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và kinh tế – xã hội tỉnh An Giang nói riêng.

    Theo đó, đoạn Hà Tiên – Rạch Giá mang lại những động lực phát triển then chốt, phát huy tối đa thế mạnh khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên và các khu công nghiệp trọng điểm như vùng công nghiệp xi măng Kiên Lương, các cụm công nghiệp tại Rạch Giá, giúp giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư FDI và trong nước vào các dự án sản xuất quy mô lớn. Đồng thời, tuyến đường đi qua các vùng nguyên liệu đá xây dựng lớn Kiên Lương và vùng trọng điểm sản xuất nông – thủy sản của tứ giác Long Xuyên. Việc lưu thông nhanh chóng giúp bảo quản nông – thủy sản tươi sống tốt hơn, giảm hao hụt, nâng cao giá trị xuất khẩu cho người dân và doanh nghiệp.

    Dự án cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng giai đoạn 1, đoạn qua địa bàn tỉnh An Giang tại nút giao Tỉnh lộ 945 trên địa bàn xã Thạnh Mỹ Tây (tỉnh An Giang do Công ty Cổ phần Đầu tư và Giao thông Phương Thành đảm nhận thi công vẫn còn tập kết ngổn ngang vật liệu. Ảnh: Công Mạo-TTXVN

    Cạnh đó, cao tốc này tạo ra dư địa lớn để quy hoạch các khu đô thị mới, trung tâm dịch vụ, thương mại dọc tuyến. Dự án trực tiếp nâng cấp vị thế kết nối đất liền với đảo Ngọc du lịch Phú Quốc thông qua các bến tàu cao tốc tại Rạch Giá và Hà Tiên, biến dải ven biển này thành một trục đô thị – dịch vụ năng động, hiện đại khu vực Tây Nam Bộ. Ngoài ra, nằm ở vị trí biên giới Tây Nam, tuyến cao tốc giúp nâng cao năng lực cơ động, bảo đảm an ninh biên giới và chủ quyền biển đảo quốc gia.

    Tiếp đến, tuyến đường kết nối Rạch Giá – Long Xuyên là trục động lực “xương sống” của tỉnh An Giang, nối trực tiếp hai đô thị trung tâm: Rạch Giá – trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh và Long Xuyên – trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ của vùng tứ giác Long Xuyên.

    Ông Lê Việt Bắc, Giám đốc Sở Xây dựng An Giang thông tin, hiện nay, giao thông giữa hai đô thị chủ yếu dựa vào Quốc lộ 80 – tuyến có lưu lượng phương tiện rất lớn, mặt đường hẹp, chạy qua nhiều khu dân cư, thường xuyên quá tải; nhu cầu đi lại của người dân, doanh nghiệp và vận chuyển hàng hóa giữa hai trung tâm tăng mạnh và sẽ tiếp tục tăng.

    Tuyến đường nối liền cảng hàng không Rạch Giá, cảng hành khách Rạch Giá đi Phú Quốc và các đảo trên vùng biển Tây Nam; kết nối với Long Xuyên và các tỉnh trong vùng. Hiện, tỉnh đang chuẩn bị nâng cấp cảng hàng không Rạch Giá lên cấp 4C đón các tàu bay lớn, sau khi sân bay được nâng cấp, tuyến đường sẽ trở thành trục tiếp cận hàng không chính cho người dân, khách du lịch khu vực Long Xuyên, Châu Đốc…

    Theo Sở Xây dựng An Giang tuyến đường kết nối Rạch Giá – Long Xuyên dài hơn 53 km, lộ giới 80 m, giai đoạn 1 đầu tư 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ, tốc độ thiết kế 80 km/h, kết hợp nền đắp và cầu cạn để thích ứng với mạng lưới kênh rạch dày đặc và biến đổi khí hậu; giai đoạn hoàn chỉnh 8 làn xe. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 khoảng 16.000 tỷ đồng, tỉnh kêu gọi đầu tư theo phương thức PPP, phấn đấu khởi công trong giai đoạn 2026 – 2027.

    Lãnh đạo tỉnh An Giang nhấn mạnh, nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng cao tốc giai đoạn 2026 – 2030 của cả nước là rất lớn. Đây là cơ hội đầu tư dài hạn, ổn định cho các doanh nghiệp có năng lực và An Giang mong muốn là một trong những điểm đến của nhà đầu tư để đầu tư hai trục cao tốc huyết mạch trên địa bàn: Cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu (đoạn Hà Tiên – Rạch Giá) và tuyến đường kết nối Rạch Giá – Long Xuyên.

    Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn tập trung thảm bê tông nhựa những vị trí đạt yêu cầu kỹ thuật, nhằm đẩy nhanh tiến độ Dự án cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng giai đoạn 1, đoạn qua địa bàn tỉnh An Giang . Ảnh: Công Mạo – TTXVN

    Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, các trục đường như Lộ Tẻ – Rạch Sỏi, cao tốc Cần Thơ – Cà Mau đã khai thác. Đặc biệt, dự án thành phần 1 thuộc tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng dài hơn 57 km do tỉnh An Giang làm cơ quan chủ quản đã đạt 85% khối lượng thi công, phấn đấu thông xe kỹ thuật đoạn đầu tuyến trước Tết Nguyên đán Đinh Mùi năm 2027. Vì vậy, hai dự án mới sắp triển khai sẽ đóng vai trò “mắt xích” hoàn thiện mạng lưới liên vùng, góp phần phục vụ chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là An Giang.

    Cạnh đó, An Giang sở hữu nguồn vật liệu xây dựng với đá xây dựng trữ lượng lớn tập trung tại các mỏ thuộc Tịnh Biên, Tri Tôn, Kiên Lương và Hòn Đất; nguồn cát sông cùng với nguồn nhập khẩu bổ sung nhờ giáp biên giới Campuchia, tỉnh có khả năng mở rộng tiếp nhận nguồn vật liệu cát, đá nhập khẩu trực tiếp khi nhu cầu tăng cao, giúp nhà đầu đảm bảo thời gian, tiến độ thi công dự án, công trình.

    Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Ngô Công Thức cho biết, trong giai đoạn 2026 – 2030, tỉnh tập trung kêu gọi nguồn vốn ngoài ngân sách theo phương thức PPP vào hai dự án động lực lan tỏa lớn là cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu (đoạn Hà Tiên – Rạch Giá) và tuyến đường kết nối Rạch Giá – Long Xuyên. An Giang cam kết chủ động tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ; ưu tiên cân đối, điều phối nguồn cát, đá cho dự án và tạo thuận lợi tiếp nhận vật liệu qua cửa khẩu; thành lập tổ công tác hỗ trợ nhà đầu tư theo cơ chế “một đầu mối”, giải quyết thủ tục trong thời gian ngắn nhất; nghiên cứu cân đối phần vốn địa phương tham gia theo khả năng ngân sách.

    Để các dự án PPP ở Đồng bằng sông Cửu Long hấp dẫn hơn với nhà đầu tư, An Giang đề nghị Chính phủ và Bộ Xây dựng cho phép tỷ lệ vốn Nhà nước tham gia ở mức tối đa theo quy định (đến 70%) đối với các dự án có địa chất yếu, lưu lượng những năm đầu còn thấp; quy định cụ thể, định lượng cơ chế chia sẻ phần giảm doanh thu; đưa rủi ro biến động giá vật liệu vào cơ chế chia sẻ trong hợp đồng PPP, sớm hướng dẫn xác định giá vật liệu từ các mỏ cấp phép theo cơ chế đặc thù và ban hành cơ chế nhập khẩu cát, đá từ Campuchia; đồng thời, ưu tiên phần vốn Nhà nước cho các hạng mục cầu cạn trên vùng đất yếu, giúp giảm vật liệu đắp và rủi ro thi công cho nhà đầu tư; cho phép khai thác quỹ đất dọc tuyến, khu vực nút giao để tạo nguồn đối ứng, tăng hiệu quả tài chính dự án.

    Lê Huy Hải/vnanet.vn

    Nguồn https://baomoi.com/an-giang-mo-cua-don-dong-von-vao-hai-truc-cao-toc-c56181124.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!