Author: bachdn

  • Quảng Ngãi miễn tiền thuê đất cho doanh nghiệp không đúng

    Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

    Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Tiến Đạt vừa ký thông báo Kết luận thanh tra về phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước quản lý tại tỉnh Quảng Ngãi.

    Kết luận thanh tra đã chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, vi phạm như việc một số cơ sở nhà, đất chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý; một số xã chưa hoàn thiện hồ sơ địa chính để quản lý đất công ích, có địa phương chưa thực hiện đăng ký vào hồ sơ địa chính đối với đất chưa sử dụng là thực hiện không đúng quy định.

    UBND tỉnh Quảng Ngãi (trước sắp xếp) và UBND tỉnh Kon Tum chưa thực hiện cập nhật đầy đủ dữ liệu về các cơ sở nhà, đất vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công theo quy định.

    Theo kết luận, các cơ quan, đơn vị được giao quản lý vận hành nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước còn để xảy ra tình trạng nợ đọng tiền thuê nhà kéo dài nhiều năm, có cơ sở nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước không có hợp đồng cho thuê nhà, một số hợp đồng thuê nhà đã hết hạn, không được gia hạn, người thuê nhà không trả lại nhà thuê, không trả đủ tiền thuê nhà, Sở Xây dựng, Công ty QISC, Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Quảng Ngãi không xử lý, thực hiện không đúng quy định.

    Cụ thể, năm 2019, UBND tỉnh Quảng Ngãi quyết định miễn, giảm tiền thuê nhà với số tiền hơn 454 triệu đồng cho Công ty Phát hành sách và Văn hóa tổng hợp Quảng Ngãi không đúng đối tượng được miễn, giảm tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu Nhà nước.

    Đáng chú ý, UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành quyết định số 547/QĐ-UBND miễn tiền thuê đất cho Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn với diện tích gần 368.000m2 (kể từ ngày ban hành quyết định cho thuê đất đến ngày 1/3/2047) để thực hiện dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất (xã Bình Thuận và xã Bình Trị, huyện Bình Sơn cũ, tỉnh Quảng Ngãi) nhưng dự án không đủ điều kiện được miễn.

    Ban quản lý các cảng cá chưa nộp tiền thuê đất vào ngân sách Nhà nước trên 7,5 tỷ đồng và gần 1 tỷ đồng tiền phạt chậm nộp (từ 2017 tới thời điểm thanh tra).

    27 cơ sở nhà đất bỏ trống

    Kết luận còn chỉ ra, 27 cơ sở nhà đất bỏ trống, trong đó nhiều nhà, đất là các cơ sở giáo dục, trụ sở, cơ sở sự nghiệp không còn nhu cầu sử dụng.

    Cũng tại kết luận thanh tra, năm 2016 Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án khu dân cư phía Bắc đường Huỳnh Thúc Kháng (thuộc nhóm B) sử dụng vốn ngân sách nhà nước không đúng thẩm quyền.

    Năm 2019 UBND tỉnh Quảng Ngãi quyết định miễn, giảm tiền thuê nhà trên 454 triệu đồng cho Công ty Phát hành sách và Văn hóa tổng hợp Quảng Ngãi không đúng đối tượng được miễn, giảm tiền thuê nhà ở cũ thuộc sở hữu nhà nước. Năm 2020, UBND tỉnh Quảng Ngãi chuyển giao quỹ nhà đất thuộc sở hữu nhà nước cho Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh không đúng quy định.

    Theo kết luận thanh tra, trách nhiệm đối với những tồn tại, hạn chế, vi phạm nêu trên thuộc về UBND tỉnh Quảng Ngãi (trước sắp xếp), UBND tỉnh Kon Tum, các sở, ngành tham mưu như: Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Môi trường (trước sắp xếp); UBND thành phố Kon Tum, UBND thành phố Quảng Ngãi, UBND huyện Kon Plông; Chủ đầu tư dự án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng cơ sở nhà đất và các tổ chức, đơn vị, tập thể, cá nhân theo từng thời kỳ có liên quan.

    Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo, tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm để xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, tập thể, cá nhân theo từng thời kỳ có liên quan đến các tồn tại, hạn chế, vi phạm nêu trong kết luận thanh tra.

    Đồng thời tổ chức rà soát, lập và hoàn thiện phương án sắp xếp, xử lý cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý; xử lý dứt điểm các cơ sở bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả, không đúng mục đích; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các cơ sở nhà, đất công, tránh thất thoát, lãng phí.

    Đối với dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, kiến nghị rà soát, xử lý việc miễn tiền thuê đất không đúng quy định, bảo đảm thu đúng, thu đủ, không để thất thoát ngân sách Nhà nước.

    Trong quá trình thực hiện kết luận thanh tra, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

    Thanh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/quang-ngai-mien-tien-thue-dat-cho-doanh-nghiep-khong-dung-c56184903.epi

  • TP. Hồ Chí Minh sắp vận hành dự án chống ngập 10.000 tỷ đồng

    Hoàn thiện những hạng mục cuối

    Cống Mương Chuối (xã Nhà Bè) là cống ngăn triều lớn nhất và có khẩu độ rộng nhất (160m) của dự án. Ảnh: Tịnh Hà

    Dự án có tổng vốn đầu tư gần 10.000 tỷ đồng, được triển khai theo hình thức hợp đồng BT, nhằm kiểm soát ngập do triều cho khu vực khoảng 570km² với khoảng 6,5 triệu dân ở khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TP. Hồ Chí Minh.

    Công trình gồm 6 cống kiểm soát triều lớn, 2 cống nhỏ cùng hệ thống đê, kè và các cống kiểm soát triều quy mô nhỏ. Sau khi được tái khởi động từ đầu năm 2026, dự án đang được triển khai đồng loạt tại nhiều vị trí.

    Theo cập nhật mới nhất, tổng tiến độ đã đạt khoảng 95%, hơn 1.000 công nhân đang tập trung hoàn thiện các hạng mục còn lại. Nhà đầu tư đặt mục tiêu hoàn thành và bàn giao công trình trong tháng 11.

    Cống Tân Thuận (phường Tân Thuận) đạt khoảng 96% khối lượng. Ảnh: Tịnh Hà

    Tại các cống kiểm soát triều, nhiều hạng mục đã đạt trên 90% khối lượng. Cống Bến Nghé đạt khoảng 99%, đã được nghiệm thu và bàn giao, đồng thời được vận hành thử từ tháng 2/2026. Cống Tân Thuận đạt khoảng 95%, cống Phú Xuân khoảng 95%, cống Mương Chuối và Cây Khô khoảng 94%, trong khi cống Phú Định đạt khoảng 93%.

    Các nhà thầu hiện tập trung hoàn thiện thiết bị cơ điện, hệ thống điều khiển tự động SCADA, máy bơm, nhà quản lý, đường vận hành, kè và cảnh quan. Theo kế hoạch, cống Tân Thuận, Phú Xuân và Cây Khô dự kiến vận hành thử trong tháng 10; cống Mương Chuối và Phú Định dự kiến vận hành thử trong tháng 11.

    Tạo tuyến kiểm soát triều cho khu vực đô thị

    Cống Phú Định (phường Phú Định) là một trong sáu hạng mục cống kiểm soát triều lớn thuộc dự án. Ảnh: TNG

    Việc các cống lần lượt được vận hành thử là bước quan trọng trước khi toàn bộ hệ thống được đưa vào khai thác. Khi hoàn thành, hệ thống cống kiểm soát triều sẽ tạo thành tuyến kiểm soát nước tại các cửa sông, rạch lớn, kết hợp với đê, kè và các cống nhỏ để hạn chế tác động của triều cường đối với khu vực được bảo vệ.

    Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt đồng thời với triều cường, mưa lớn và tình trạng ngập tại nhiều khu vực. Kế hoạch chống ngập năm 2026 của thành phố xác định 31 điểm ngập cần tiếp tục theo dõi, xử lý bằng nhiều dự án và giải pháp khác nhau. Điều này cho thấy dự án ngăn triều 10.000 tỷ đồng là một cấu phần quan trọng trong hệ thống chống ngập.

    Với khối lượng còn lại khoảng 5%, dự án đang bước vào giai đoạn quyết định, chuyển từ hoàn thiện xây dựng sang kiểm tra, vận hành và đánh giá hiệu quả thực tế. Ảnh: Tịnh Hà

    Tại buổi tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khoá XVI, chiều 25/9, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang cho biết, dự án dự kiến kết thúc vào ngày 15/11/2026. Sau đó, thành phố sẽ tổ chức vận hành thử, rà soát và bổ sung một số hạng mục nhằm phát huy hiệu quả công trình.

    Với khối lượng còn lại khoảng 5%, dự án đang bước vào giai đoạn quyết định, chuyển từ hoàn thiện xây dựng sang kiểm tra, vận hành và đánh giá hiệu quả thực tế. Yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thành các hạng mục đúng tiến độ, mà quan trọng hơn là bảo đảm hệ thống được vận hành đồng bộ, an toàn, phát huy hiệu quả kiểm soát triều, góp phần giảm ngập cho khu vực được bảo vệ.

    Việc dự án tiến gần ngày vận hành cũng tạo thêm cơ sở để TP. Hồ Chí Minh từng bước hoàn thiện mạng lưới công trình kiểm soát ngập, nhất là tại khu vực phía Nam và trung tâm thành phố, nơi chịu tác động rõ của triều cường và mưa lớn.

    Tịnh Hà

    Nguồn https://baomoi.com/tp-ho-chi-minh-sap-van-hanh-du-an-chong-ngap-10-000-ty-dong-c56186154.epi

  • Vì sao lưới điện do hợp tác xã quản lý chưa thể chuyển giao?

    Người dân mong muốn, HTX tha thiết bàn giao

    Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh, những hệ thống lưới điện được đầu tư từ hàng chục năm trước hiện vẫn do các HTX trực tiếp quản lý, vận hành.

    Qua thời gian, hạ tầng điện ngày càng lạc hậu, không đáp ứng sự gia tăng nhanh chóng của phụ tải sinh hoạt và sản xuất. Ở những khu vực này, người dân là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất.

    Lưới điện xuống cấp, sụt áp kéo dài khiến người dân và các HTX ở Hà Tĩnh mong muốn sớm hoàn tất việc bàn giao cho ngành điện.

    Ông Nguyễn Viết Diên (TDP Thắng Lợi, phường Hoành Sơn) chia sẻ: “Vào mùa hè, nhất là buổi trưa và ban đêm, điều hòa không thể khởi động nổi do điện quá yếu. Chúng tôi rất mong HTX sớm chuyển giao lưới điện cho Điện lực Hà Tĩnh quản lý để được đầu tư, nâng cấp đồng bộ.”

    Tương tự, tại thôn Hoàng Càn (xã Thiên Cầm) khu vực có hoạt động du lịch, dịch vụ phát triển mạnh, người dân cũng đang mòn mỏi chờ đợi. Ông Tôn Đức Hồng bức xúc: “Địa phương phát triển nhiều nhà hàng, khách sạn nên nhu cầu sử dụng điện rất lớn. Tuy nhiên, trạm biến áp hiện tại quá tải, không đáp ứng nổi nguồn điện, nhất là vào mùa hè và các dịp lễ, tết. Người dân tha thiết đề nghị khẩn trương bàn giao lưới điện cho ngành điện.”

    Ông Tôn Đức Hồng, thôn Hoàng Càn (xã Thiên Cầm): Trạm biến áp hiện tại quá tải, không đáp ứng nổi nguồn điện, nhất là vào mùa hè và các dịp lễ, tết, phục vụ du lịch tại địa phương.

    Không chỉ người dân, chính các HTX cũng đang chịu áp lực rất lớn. Quản lý một hệ thống điện không đơn thuần là vận hành đường dây, trạm biến áp mà còn gắn liền với trách nhiệm tài sản, an toàn điện và nguồn lực duy trì. Trong điều kiện tài chính hạn hẹp, việc gồng gánh những hệ thống đã vận hành hàng chục năm khiến các HTX rơi vào thế “lực bất tòng tâm”.

    Hiện trên địa bàn Hà Tĩnh còn 5 HTX trực tiếp quản lý, mua bán điện đến người dân, gồm: HTX Tiền Phương, HTX Dịch vụ tổng hợp Thành Tâm, HTX Dịch vụ điện Xuân Viên, HTX Dịch vụ điện Xuân Liên và HTX Dịch vụ điện nông thôn Sơn Tây.

    Vướng mắc từ cơ sở pháp lý và cơ chế hoàn trả vốn đầu tư

    Chủ trương chuyển giao lưới điện hạ áp nông thôn về ngành điện quản lý đã có từ lâu, nhưng thực tế triển khai lại gặp muôn vàn vướng mắc. Để một hệ thống có thể chuyển giao, điều kiện tiên quyết là phải xác định được nguồn gốc tài sản, hồ sơ pháp lý và giá trị còn lại. Đây lại chính là “nút thắt” lớn nhất hiện nay.

    Thứ nhất là vướng mắc về cơ sở pháp lý và đối tượng tiếp nhận. Theo ông Trần Đức Sơn, Phó Giám đốc Điện lực Hà Tĩnh, Thông tư liên tịch số 32/2013/TTLT-BCT-BTC (thay thế Thông tư 06/2010) chỉ có quy định hướng dẫn tiếp nhận tài sản do HTX đầu tư trước ngày 12/2/2009. Trong khi đó, hoàn toàn chưa có hướng dẫn đối với các công trình trạm biến áp, đường dây trung áp và các hạng mục phụ trợ được đầu tư sau mốc thời gian này. Khoảng trống pháp lý này khiến ngành điện và các HTX không có căn cứ để làm thủ tục bàn giao. Điện lực Hà Tĩnh đã kiến nghị lên Tổng Công ty nhưng đến nay vẫn chưa nhận được hướng dẫn cụ thể.

    Thứ hai là bài toán định giá tài sản, hoàn trả vốn và áp lực công nợ ngân hàng. Để cải thiện chất lượng điện phục vụ người dân, thời gian qua nhiều HTX đã phải tự huy động vốn hoặc vay ngân hàng để đầu tư trạm biến áp và cải tạo đường dây. Tuy nhiên, khi bàn giao, chính sách đền bù hiện mới chỉ áp dụng cho đường dây hạ thế, còn trạm biến áp lại chưa có cơ chế hoàn vốn.

    Người dân và các HTX tại Hà Tĩnh đều thiết tha bàn giao lưới điện hạ áp xuống cấp cho ngành điện quản lý.

    Ông Đoàn Văn Tạnh, Giám đốc HTX Tiền Phương (phường Hoành Sơn) trăn trở: “HTX hoàn toàn đồng thuận bàn giao theo chủ trương. Nhưng 4 trạm biến áp do HTX vay vốn đầu tư hiện chưa có chính sách đền bù. Nếu chưa giải quyết được khoản này, HTX lấy nguồn đâu để trả nợ ngân hàng?”

    Cùng chung khó khăn, ông Nguyễn Trọng Hoàng, Giám đốc HTX Kinh doanh tổng hợp Thành Tâm (xã Thiên Cầm) – đơn vị dù đã có tên trong danh sách bàn giao từ năm 2019 nhưng đến nay vẫn “đóng băng” – cho biết thêm: “Quy định về định giá tài sản và mức khấu hao đối với các hạng mục HTX tự bỏ vốn đầu tư chưa rõ ràng. Lưới điện vận hành nhiều năm thì hao mòn ra sao, giá trị còn lại bao nhiêu cần có hướng dẫn cụ thể để tránh thiệt thòi cho HTX và bảo toàn vốn đầu tư.”

    Cần giải pháp quyết liệt, tháo gỡ từ gốc

    Qua khảo sát thực tế của Ban Kinh tế – Ngân sách HĐND tỉnh, tình trạng điện yếu, sụt áp giờ cao điểm và tổn thất điện năng cao tại các HTX là vô cùng nghiêm trọng. Ông Lê Ngọc Hà, Ủy viên chuyên trách Ban Kinh tế – Ngân sách, HĐND tỉnh Hà Tĩnh khẳng định: “Dù các HTX từng có đóng góp lớn trong giai đoạn trước, nhưng hiện nay nguồn lực của họ không còn đủ để tái đầu tư. Nguyện vọng của Nhân dân về việc bàn giao cho ngành điện là hoàn toàn chính đáng. Quan điểm của ban là việc chuyển giao phải đúng pháp luật nhưng phải làm quyết liệt, không để kéo dài, khẩn trương đưa lưới điện nông thôn về điện lực quản lý an toàn, hiệu quả.”

    Ban Kinh tế – Ngân sách, HĐND tỉnh Hà Tĩnh tổ chức khảo sát thực trạng quản lý, vận hành, kinh doanh bán lẻ điện của Hợp tác xã Kinh doanh tổng hợp Thành Tâm, xã Thiên Cầm.

    Để tháo gỡ “điểm nghẽn” kéo dài này, sự vào cuộc của các sở, ngành cấp tỉnh và bộ, ngành Trung ương là yếu tố quyết định. Ông Dương Thanh Hòa, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Tĩnh cho biết: “Thời gian tới, Sở Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với Sở Tài chính tham vấn ý kiến của Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và Tập đoàn Điện lực Việt Nam để tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế hoàn trả vốn sau mốc tháng 2/2009. Đồng thời, sở sẽ phối hợp với Điện lực tỉnh và các HTX tiến hành đánh giá, thẩm định chính xác giá trị tài sản còn lại để trình Hội đồng thẩm định tỉnh, xây dựng kế hoạch tiếp nhận hiện trạng và hoàn trả vốn cho các HTX theo đúng quy định.”

    Chủ trương đã rõ, nguyện vọng của người dân và các HTX đã nhất quán. Tuy nhiên, chuyển giao lưới điện không thể chỉ dừng lại ở mặt chủ trương hay những cuộc họp bàn kéo dài. Điều người dân và các HTX tại Hà Tĩnh đang chờ đợi lúc này là sự phân công trách nhiệm rõ ràng, lộ trình xử lý công nợ – tài sản cụ thể từ các cơ quan chức năng, để hệ thống lưới điện nông thôn sớm được quản lý an toàn, ổn định, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.

    Văn Thành

    Nguồn https://baomoi.com/vi-sao-luoi-dien-do-hop-tac-xa-quan-ly-chua-the-chuyen-giao-c56186207.epi

  • Sân bay Phú Quốc bổ sung nhiều hạng mục để mở rộng hệ sinh thái hàng không

    Phối cảnh sân bay Phú Quốc. Nguồn: Sun Group.

    Theo phương án điều chỉnh, quy mô khu vực quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc còn khoảng 1.040,43 ha, giảm so với 1.050,1 ha trong quy hoạch được phê duyệt trước đó do làm rõ phần diện tích dành cho tuyến đường sắt nhẹ LRT trong phạm vi sân bay.

    Một trong những thay đổi đáng chú ý là năng lực sân đỗ máy bay được điều chỉnh tăng đáng kể. Khu vực sân đỗ trước Nhà ga T2 và sân đỗ hiện hữu được bố trí khoảng 42 vị trí, tăng 12 vị trí so với phương án trước. Đồng thời, quy hoạch bổ sung khu sân đỗ giữa T1 và nhà khách VIP, hàng không chung với khoảng 45 vị trí.

    Cùng với sân đỗ, các công trình phục vụ kỹ thuật và khai thác tàu bay cũng được điều chỉnh. Khu hangar sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay phía Bắc được mở rộng từ khoảng 24,7 ha lên 30,4 ha, tăng 5,7 ha. Cơ sở cung cấp xăng dầu hàng không từ vị trí phía Đông Nam được chuyển lên phía Bắc, với diện tích khoảng 7,2 ha.

    Nhà máy cung cấp suất ăn hàng không cũng được bố trí lại, từ khu vực phía Nam sân bay về phía Đông Nam Nhà ga T2, gần hơn với khu vực khai thác hành khách và sân đỗ. Cách tổ chức này đưa các hạng mục phục vụ tàu bay như bảo dưỡng, nhiên liệu, suất ăn và dịch vụ mặt đất vào cùng một cấu trúc quy hoạch.

    Quy hoạch điều chỉnh đồng thời mở rộng không gian thương mại, dịch vụ. Khoảng 51 ha đất tại phía Nam sân bay và phía Nam khu vực nhà khách VIP, hàng không chung được dành cho khách sạn, thương mại và dịch vụ, cùng với văn phòng cho thuê và trung tâm điều hành các hãng hàng không.

    Phối cảnh khu nhà ga Vip Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc. Nguồn: Sun Group

    Đáng chú ý, phương án mới bổ sung khoảng 12,6 ha đất dành cho cơ sở đào tạo hàng không tại quỹ đất dự phòng phía Bắc sân bay. Đây là cấu phần chưa được thể hiện trong quy hoạch năm 2025.

    Việc bổ sung khu đào tạo tạo thêm một mắt xích trong cấu trúc phát triển dài hạn của sân bay, bên cạnh các hạng mục khai thác trực tiếp. Quỹ đất này có thể phục vụ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực hàng không khi quy mô khai thác tại Phú Quốc tiếp tục được mở rộng, bao gồm các lĩnh vực khai thác, kỹ thuật, bảo dưỡng và dịch vụ hàng không.

    Quy hoạch điều chỉnh được phê duyệt trong bối cảnh dự án mở rộng Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc đang được triển khai với quy mô lớn. Dự án có quy mô khoảng 1.050 ha, giai đoạn 1 được thiết kế phục vụ 20-24 triệu lượt hành khách mỗi năm vào năm 2030.

    Được biết, tại công trường, Nhà ga T2 đang triển khai các hạng mục hoàn thiện mặt ngoài, hệ mái và không gian bên trong. Phần kết cấu bê tông khu nhà ga chính đã hoàn thành khoảng 95%, công tác xây trát và hoàn thiện đạt khoảng 95%, trong khi hệ thống xử lý hành lý đạt khoảng 60%, theo báo cáo cập nhật tháng 9/2026.

    Ngoài nhà ga, đường cất hạ cánh số 2 đã hoàn thành và bay hiệu chuẩn ngày 27/7, dự kiến đưa vào khai thác từ ngày 30/9. Nhà ga VIP và Nhà máy Suất ăn Hàng không Phú Quốc cũng đang được triển khai theo các mốc tiến độ riêng, hướng tới hoàn thiện trước thời điểm tổ chức Tuần lễ Cấp cao APEC 2027.

    Việc điều chỉnh quy hoạch lần này tạo cơ sở để các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, khai thác, dịch vụ và đào tạo được tổ chức trong cùng một tổng thể, đồng thời dành dư địa cho việc mở rộng hoạt động hàng không tại Phú Quốc trong giai đoạn đến năm 2050.

    Dũng Huỳnh

    Nguồn https://baomoi.com/san-bay-phu-quoc-bo-sung-nhieu-hang-muc-de-mo-rong-he-sinh-thai-hang-khong-c56186193.epi

  • Hàng nghìn cơ sở nhà, đất công ở Đà Nẵng chưa hoàn tất hồ sơ

    Thanh tra Chính phủ vừa công bố Thông báo số 3550/TB-TTCP ngày 30/9/2026 về kết luận thanh tra công tác phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước tại Đà Nẵng.

    Theo kết luận, trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Đà Nẵng và Quảng Nam có tổng cộng 5.487 cơ sở nhà, đất thuộc diện sắp xếp, xử lý. Sau khi sắp xếp, số cơ sở thuộc phạm vi Nghị định 03/2025/NĐ-CP còn 3.942 cơ sở.

    Tuy nhiên, tại thời điểm 1/7/2025, Đà Nẵng còn 1.394 cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi Nghị định 03/2025/NĐ-CP chưa hoàn tất hồ sơ về tài sản công. Đến thời điểm thanh tra vào tháng 11/2025, có 1.019 cơ sở chưa hoàn thành việc xác định giá trị tài sản. Đáng chú ý, tại nhiều cơ sở, giá trị quyền sử dụng đất chưa được xác định để tính vào giá trị tài sản. 

    Thanh tra cũng cho biết 212 cơ sở nhà, đất chưa được phê duyệt phương án sắp xếp theo quy định trước đó. Đến thời điểm thanh tra, 201 cơ sở vẫn chưa được sắp xếp, xử lý. Cơ quan thanh tra cho rằng việc lập, trình và báo cáo phương án sắp xếp, xử lý tại một số đơn vị còn chậm.

    Cùng với đó, qua kiểm tra trực tiếp 35 cơ sở nhà, đất, Thanh tra ghi nhận nhiều tồn tại về hồ sơ pháp lý, đất đai và quản lý tài sản. Trong số này, 22 cơ sở chưa hoàn tất thủ tục về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa xác định giá trị quyền sử dụng đất; 5 cơ sở chưa đăng ký đất đai; 4 cơ sở chưa có đầy đủ hồ sơ tài sản công. 

    Đáng chú ý, 8 cơ sở được kiểm tra trực tiếp đang bỏ trống hoặc không sử dụng trong thời gian trên 12 tháng. Có những khu đất tại Đà Nẵng được giao, cho thuê nhưng để trống trong thời gian rất dài.

    Cụ thể, hai khu đất giao, cho thuê cho Công ty Xổ số kiến thiết và Dịch vụ in Đà Nẵng được xác định bỏ trống trong khoảng 18-21 năm. Riêng khu đất B2-29, B2-30 cũng trong tình trạng không sử dụng dù thời hạn sử dụng được gia hạn trước đó.

    Thanh tra yêu cầu địa phương kiểm tra, xử lý các cơ sở nhà, đất bỏ trống, sử dụng không hiệu quả hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; đồng thời xác định nguyên nhân, trách nhiệm và hậu quả để có biện pháp xử lý phù hợp.

    Một trong những vấn đề được chỉ ra là tình trạng biến động diện tích đất tại hai cơ sở, với tổng diện tích 1.864,3 m². Trong đó, 1.828 m² được xác định bị lấn chiếm hoặc sử dụng không đúng quy định; 36,3 m² bị giảm diện tích nhưng chưa xác định được nguyên nhân. 

    Tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, số 100 Tô Hiến Thành, Thanh tra ghi nhận chưa hoàn tất thủ tục giao đất. Khu đất này cũng nằm trong nhóm trường hợp cần được rà soát, xử lý về diện tích bị lấn chiếm.

    Về nghĩa vụ tài chính, đến ngày 31/12/2025, 4 doanh nghiệp Nhà nước còn nợ tổng cộng hơn 17,52 tỷ đồng tiền thuê đất. Khoản nợ lớn nhất thuộc về Công ty CP Giao nhận kho vận ngoại thương Đà Nẵng với hơn 11,48 tỷ đồng. Tiếp theo là Công ty TNHH MTV Xây lắp và Công nghiệp tàu thủy Miền Trung hơn 4,8 tỷ đồng và Công ty CP Xây dựng Công trình Đà Nẵng gần 1,2 tỷ đồng.

    Trước những tồn tại trên, Thanh tra yêu cầu Đà Nẵng tổ chức thu hồi hơn 17,52 tỷ đồng tiền thuê đất còn nợ, đồng thời thu hồi hơn 2,78 tỷ đồng tiền thuê nhà còn lại theo kết luận thanh tra.

    Thanh tra cũng yêu cầu UBND TP Đà Nẵng đẩy nhanh việc xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư, hoàn thiện phương án đối với toàn bộ cơ sở thuộc diện sắp xếp; xử lý các cơ sở bỏ trống, sử dụng không hiệu quả hoặc sai mục đích.

    Địa phương cũng phải hoàn thiện hồ sơ đối với 1.394 cơ sở chưa đầy đủ tài liệu quản lý tài sản công; xác định giá trị tài sản, bao gồm quyền sử dụng đất, đối với 1.019 cơ sở; đồng thời rà soát các cơ sở cho thuê, liên doanh, liên kết trước đây nhưng chưa thực hiện theo phương án được phê duyệt.

    Thanh tra Chính phủ đồng thời yêu cầu các cơ quan liên quan rà soát trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong giai đoạn 2019-2025 đối với những tồn tại được chỉ ra trong kết luận.

    Núi Thành

    Nguồn https://baomoi.com/hang-nghin-co-so-nha-dat-cong-o-da-nang-chua-hoan-tat-ho-so-c56186185.epi

  • Khi ý kiến người dân được lắng nghe

    Người dân bản Mển, xã Thanh Nưa tiếp nhận xe thu gom rác.

    Bắt đầu từ việc dân cần

    Trước đây, rác thải sinh hoạt từng là nỗi băn khoăn của nhiều hộ dân bản Mển, xã Thanh Nưa. Không có nơi tập kết, thiếu phương tiện thu gom, một số hộ phải tự xử lý bằng cách chôn, đốt, thậm chí đem rác ra ven suối, vừa ảnh hưởng cảnh quan, vừa tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường. Sau nhiều lần người dân phản ánh, xã Thanh Nưa rà soát nhu cầu, cân đối nguồn sự nghiệp môi trường để trang bị phương tiện thu gom rác cho các thôn, bản. Bà Lò Thị Liên, bản Mển cho biết, từ khi có xe chứa rác và đơn vị môi trường thu gom thường xuyên, tình trạng vệ sinh trong bản đã cải thiện rõ rệt.

    Chiếc xe thu gom rác không phải khoản đầu tư lớn song giải quyết đúng điều người dân đang vướng. Điều này càng có ý nghĩa khi Thanh Nưa sau sáp nhập có địa bàn rộng, được hình thành từ 5 xã, diện tích tự nhiên gần 17.700ha, dân số hơn 29.000 người; địa bàn trải từ vùng thấp lòng chảo Mường Thanh đến vùng cao biên giới nên nhu cầu dân sinh, sản xuất ở mỗi khu vực cũng khác nhau. Theo bà Lò Thị Cương, Phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Thanh Nưa, những kiến nghị thuộc lĩnh vực chuyên môn sau khi tiếp nhận đều được xem xét, thẩm định; vấn đề vượt khả năng giải quyết được tham mưu UBND xã tìm phương án xử lý.

    Chủ tịch UBND xã Thanh Nưa Chu Văn Bách cho rằng: Việc bố trí nguồn lực phải xuất phát từ nhu cầu cụ thể của từng địa bàn. Những vấn đề dân sinh có thể xử lý ngay thì chủ động cân đối nguồn lực; trong phát triển sản xuất, cần lựa chọn cây trồng, mô hình phù hợp và hỗ trợ kỹ thuật để người dân có thể duy trì lâu dài. Cách làm ấy được Thanh Nưa vận dụng vào sản xuất. Toàn xã hiện có hơn 377ha cây ăn quả; 194ha cà phê, trong đó hơn 48ha đã cho kinh doanh và 411ha mắc ca. Riêng năm 2026, xã trồng mới 96ha cà phê, đạt 160% kế hoạch tỉnh giao.

    Ở xã Sam Mứn, câu chuyện lại bắt đầu từ đoạn đường thường xuyên ngập nước tại thôn Hòa Bình. Tuyến đường đã được bê tông hóa nhưng chưa có rãnh thoát nước, mỗi khi mưa lớn, nước tràn mặt đường, có thời điểm vào tận sân, vườn của người dân. Từ kiến nghị của bà con, xã hỗ trợ nguyên vật liệu, người dân đóng góp ngày công xây dựng rãnh thoát nước. Ông Đào Đức Trọng, Bí thư Chi bộ thôn Hòa Bình cho biết, sau khi rãnh hoàn thành, tình trạng ngập khi mưa lớn cơ bản được khắc phục. Cách giải quyết ở đây không phải chính quyền làm thay tất cả, mà Nhà nước hỗ trợ phần cần thiết, người dân góp sức hoàn thành công trình phục vụ chính cộng đồng.

    Từ vướng mắc đến sinh kế

    Không phải kiến nghị nào của người dân cũng là đề nghị hỗ trợ tiền hoặc vật chất. Có lúc điều người dân thiếu nhất lại là kiến thức và người hướng dẫn để bắt đầu một cách làm mới.

    Câu chuyện 20ha cà phê ở bản Na Hai, xã Sam Mứn là một trường hợp như vậy. Khi chủ trương phát triển cây cà phê được triển khai, nhiều hộ đăng ký tham gia nhưng phần lớn chưa có kinh nghiệm, từ đào hố, trồng đến chăm sóc. Xã đã cử cán bộ chuyên môn xuống tận bản hướng dẫn kỹ thuật ngay từ những khâu đầu tiên. Đến nay, Na Hai đã trồng được 20ha cà phê. Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị trồng cà phê, sử dụng mắc ca làm cây che bóng có 39 hộ tham gia. Từ chỗ chưa quen với cây trồng mới, bà con từng bước nắm kỹ thuật, tạo tiền đề thay đổi phương thức sản xuất. Na Hai cũng nằm trong bước chuyển lớn hơn của nông nghiệp Sam Mứn. Sau hơn 6 tháng triển khai kế hoạch trồng cà phê, mắc ca, toàn xã đã trồng 82ha, đạt 205% kế hoạch tỉnh giao, gồm 61ha cà phê và 21ha mắc ca.

    Theo Chủ tịch UBND xã Sam Mứn Phạm Thiết Chùy, trong chuyển đổi sản xuất, trước hết phải xác định diện tích phù hợp và người dân đang thiếu điều kiện gì để hỗ trợ đúng phần đó. Với các hộ lần đầu trồng cà phê ở Na Hai, trước mắt là giúp bà con nắm kỹ thuật, chăm sóc đúng quy trình; về lâu dài phải gắn vùng nguyên liệu với liên kết sản xuất để cây trồng mới thực sự đem lại thu nhập.

    Tuy nhiên, không phải vấn đề nào ở cơ sở cũng có thể giải quyết ngay. Tại thôn Thanh Trường, xã Thanh Nưa, một số hộ thuộc diện giải tỏa phục vụ dự án Khu đô thị mới, du lịch nghỉ dưỡng và dịch vụ thể thao phía Tây Bắc phường Điện Biên Phủ còn có ý kiến liên quan đến nguồn gốc, loại đất và phương án bồi thường. Những nội dung liên quan đến đất đai, pháp luật và quyền lợi của nhiều bên cần được kiểm tra hồ sơ, xác minh, đối thoại và giải quyết theo quy định.

    Thực tế ở Thanh Nưa và Sam Mứn cho thấy mỗi kiến nghị cần một cách xử lý khác nhau. Có việc chính quyền có thể giải quyết ngay; có việc Nhà nước hỗ trợ một phần, người dân cùng làm; có việc cần cán bộ chuyên môn xuống tận nơi hướng dẫn; cũng có vấn đề phải qua nhiều bước xác minh mới có thể trả lời thấu đáo.

    Từ chiếc xe thu gom rác ở bản Mển, đoạn rãnh thoát nước ở Hòa Bình đến 20ha cà phê của 39 hộ dân Na Hai, điểm chung đều bắt đầu từ nhu cầu thực tế của người dân. Hiệu quả của chính quyền cơ sở vì thế không chỉ nằm ở những công trình lớn hay những con số tăng trưởng, mà còn hiện hữu trong một con đường không ngập sau mưa, một bản không còn rác ven suối hay những nương cà phê mới bén rễ. Khi ý kiến của người dân được lắng nghe và trả lời bằng những việc làm cụ thể, chủ trương mới thực sự đi vào cuộc sống.

    Kông Thao

    Nguồn https://baomoi.com/khi-y-kien-nguoi-dan-duoc-lang-nghe-c56186091.epi

  • Lắng nghe, tiếp thu những trăn trở, kiến nghị của cử tri

    Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị tiếp xúc cử tri xã Đồng Lê. Ảnh: Mai Hoa

    Tại các địa phương, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Minh Tâm thông tin dự kiến nội dung, chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI và một số hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị từ sau Kỳ họp thứ nhất đến nay, cử tri bày tỏ sự tin tưởng, phấn khởi trước những kết quả quan trọng của đất nước, của tỉnh và những đóng góp tích cực của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh trong thời gian qua.

    Tại xã Đồng Lê, cử tri kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; bảo đảm nhân lực, kinh phí, thiết chế sinh hoạt cho thôn, tổ dân phố sau sáp nhập; giải quyết chế độ đối với cán bộ dôi dư, người có công và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Cử tri cũng đề nghị sửa chữa, nâng cấp cầu, đường dân sinh, đường gom kết nối với Quốc lộ 12A; bố trí đất nghĩa trang; hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng; tuyên truyền, hướng dẫn chính sách miễn, giảm khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, tháo gỡ vướng mắc trong tuyển dụng lực lượng quân sự địa phương; bảo đảm việc chi trả lương hưu, trợ cấp và nâng cao chất lượng khám sức khỏe, khám bệnh miễn phí cho người dân. Đại diện lãnh đạo địa phương và các sở, ngành đã trực tiếp trao đổi, làm rõ những kiến nghị, đề xuất thuộc thẩm quyền.

    Ghi nhận và tiếp thu các ý kiến của cử tri, đồng chí Trần Vũ Khiêm trân trọng cảm ơn sự tin tưởng, quan tâm và kỳ vọng của cử tri đối với các đại biểu Quốc hội. Đồng chí nhấn mạnh, những kiến nghị, đề xuất của cử tri là kênh thông tin quan trọng để Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh thực hiện tốt hơn vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đồng chí Trần Vũ Khiêm đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị và các địa phương tập trung chỉ đạo, giải quyết nghiêm túc, trách nhiệm những vấn đề thuộc thẩm quyền, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh sẽ theo dõi, giám sát việc thực hiện. Đối với những kiến nghị thuộc thẩm quyền Trung ương, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh sẽ tổng hợp, chuyển đến Quốc hội và các cơ quan chức năng hoặc nghiên cứu đưa vào nội dung chất vấn tại kỳ họp.

    Đồng chí cũng đề nghị Sở Xây dựng khẩn trương hoàn thành thủ tục nâng cấp hai cầu treo trên địa bàn. Các địa phương nghiên cứu, giải quyết đề xuất về đất nghĩa trang, hỗ trợ xây dựng nhà ở cho thân nhân liệt sĩ, ưu tiên bố trí các trụ sở xã dôi dư làm điểm sinh hoạt cộng đồng; thực hiện chủ trương cấp ngân sách để chi trả chế độ cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập theo quy định. Đồng thời, đồng chí Trần Vũ Khiêm yêu cầu việc tổng hợp kiến nghị của cử tri phải bảo đảm khách quan, khoa học; chú trọng theo dõi, đôn đốc và thông tin kịp thời kết quả giải quyết đến cử tri thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Cử tri xã Đồng Lê phát biểu những vấn đề cử tri địa phương quan tâm. Ảnh: Mai Hoa

    Tại xã Minh Hóa, cử tri kiến nghị xử lý dứt điểm tình trạng xe quá tải làm hư hỏng đường giao thông; có kế hoạch duy tu, sửa chữa các tuyến đường nhằm bảo đảm an toàn cho nhân dân; chống lãng phí trong quản lý, sử dụng trụ sở sau sáp nhập; xây dựng sơ đồ cứu nạn, cứu hộ trong bão lũ. Kịp thời khắc phục ảnh hưởng của một số công trình hạ tầng sau thi công đối với hộ dân; giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở một số khu dân cư; quan tâm chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã và các tổ chức hội, đoàn thể.

    Sau khi đại diện lãnh đạo địa phương và các sở, ngành trao đổi, làm rõ một số nội dung thuộc thẩm quyền, đồng chí Trần Vũ Khiêm tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri và thông tin thêm về việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, những khó khăn, áp lực ở cấp xã, thôn và các giải pháp tháo gỡ. Về sắp xếp, quản lý tài sản công sau sáp nhập, đồng chí yêu cầu các địa phương bám sát chỉ đạo của tỉnh để triển khai thực hiện hiệu quả.

    Trước tình trạng xuống cấp của một số tuyến đường, đồng chí đề nghị các địa phương, sở, ngành rà soát, kiến nghị nâng cấp theo thứ tự ưu tiên, đồng thời mong cử tri chia sẻ với những khó khăn về nguồn lực của tỉnh. Đối với những vướng mắc trong chuyển đổi số, tỉnh tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan, đơn vị tháo gỡ. Những vấn đề thuộc trách nhiệm cấp xã cần được địa phương quan tâm giải quyết, đồng thời giải thích rõ để người dân hiểu, đồng thuận. Những kiến nghị thuộc thẩm quyền Trung ương sẽ được Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tổng hợp, chuyển đến Quốc hội, các cơ quan chức năng hoặc nghiên cứu đưa vào nội dung chất vấn tại kỳ họp.

    Đồng chí Trần Vũ Khiêm cũng thông tin thêm về những kết quả nổi bật của tỉnh trong thời gian qua, đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ tiếp tục phát huy tinh thần nêu gương, nỗ lực hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ được giao; mong muốn cử tri tiếp tục đồng hành, giám sát, góp phần cùng cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ trong thời gian tới.

    Viết Lam

    Nguồn https://baomoi.com/lang-nghe-tiep-thu-nhung-tran-tro-kien-nghi-cua-cu-tri-c56186045.epi

  • Hồ Dầu Tiếng: Rõ thẩm quyền, không để khoảng trống bảo vệ nguồn nước

    Hồ Dầu Tiếng không chỉ là một công trình thủy lợi quy mô lớn mà còn là nguồn nước quan trọng phục vụ sản xuất, dân sinh và điều tiết cho khu vực hạ du. Thế nhưng, cùng với quá trình khai thác các giá trị kinh tế, tại một số khu vực ven hồ và trên mặt nước đang xuất hiện hoạt động cắm trại, kinh doanh dịch vụ, nuôi cá lồng bè, chăn thả gia súc, gia cầm.

    Điều đáng lưu ý là đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành hồ cho biết họ có thể kiểm tra, lập biên bản và kiến nghị xử lý, nhưng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

    Trong khi đó, hồ Dầu Tiếng nằm trên địa bàn nhiều địa phương, còn một số cơ chế phối hợp được thiết lập trước khi sắp xếp đơn vị hành chính đang được rà soát, điều chỉnh. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xác định rõ trách nhiệm, đầu mối và phương thức phối hợp để không tạo khoảng trống trong quản lý, bảo vệ công trình và nguồn nước.

    Khi người giữ hồ chỉ có quyền kiểm tra, kiến nghị

    Từ những khu vực ven bờ xuất hiện lều trại, điểm kinh doanh dịch vụ đến các lồng bè nuôi cá và đàn gia cầm trên mặt nước, hoạt động khai thác tại hồ Dầu Tiếng đang diễn ra với nhiều hình thức.

    Hồ Dầu Tiếng giữ vai trò quan trọng về an ninh nguồn nước, nhưng quản lý hoạt động ven hồ vẫn vướng thẩm quyền và cơ chế phối hợp, đặt ra yêu cầu rõ trách nhiệm.

    Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Chi nhánh Dầu Tiếng – Phước Hòa, Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam, tình trạng nuôi cá lồng bè, chăn vịt không chỉ gây khó khăn cho công tác tuần tra mà còn tiềm ẩn nguy cơ tác động đến chất lượng nguồn nước. Một số điểm du lịch tự phát cũng hoạt động khi các thủ tục cần thiết chưa đầy đủ.

    Trao đổi với phóng viên ngày 9/9, ông Mạnh cho biết khó khăn lớn của đơn vị hiện nay là không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

    “Anh em chúng tôi chỉ có quyền đi kiểm tra, lập biên bản sự việc, sau đó báo cáo và phối hợp với chính quyền địa phương, chuyển biên bản về cho UBND cấp xã xử lý”, ông Mạnh nói.

    Quy trình này cho thấy ranh giới giữa quản lý công trình và quản lý nhà nước về xử lý vi phạm khá rõ. Đơn vị khai thác công trình có trách nhiệm trực tiếp tuần tra, phát hiện và ghi nhận vụ việc, nhưng quyền xử lý tiếp theo thuộc cơ quan có thẩm quyền.

    Vấn đề phát sinh ở chỗ hồ Dầu Tiếng có diện tích mặt nước rộng, phạm vi quản lý liên quan đến nhiều địa bàn. Để kiểm tra các vị trí trên hồ, lực lượng quản lý phải sử dụng canô, mất nhiều thời gian và chi phí. Sau khi lập biên bản, hồ sơ tiếp tục phải chuyển đến chính quyền địa phương để xử lý theo thẩm quyền.

    Theo ông Mạnh, thực tế có trường hợp lực lượng chức năng kiểm tra một điểm du lịch có dấu hiệu lấn chiếm nhưng người quản lý tại chỗ chỉ cung cấp số điện thoại của chủ cơ sở và cho biết người này đang ở TP.HCM. Việc xác định người chịu trách nhiệm trực tiếp vì vậy cũng trở thành một khâu khó khăn.

    Đối với tình trạng chăn thả vịt trên hồ, đơn vị quản lý chủ yếu vận động người dân di dời. Có trường hợp người dân được yêu cầu ký cam kết đưa đàn vịt ra khỏi lòng hồ trong thời hạn 10 ngày trước khi xuất bán và không tái đàn.

    “Việc cưỡng chế, xử phạt không thuộc thẩm quyền của chúng tôi”, ông Mạnh cho biết.

    Đây không đơn thuần là câu chuyện về một vài điểm cắm trại hay những đàn vịt trên mặt hồ. Vấn đề lớn hơn nằm ở cơ chế quản lý đối với một công trình có vai trò quan trọng về nguồn nước: khi đơn vị trực tiếp phát hiện vi phạm không có quyền xử lý cuối cùng, cơ chế chuyển tiếp và phối hợp phải đủ nhanh, rõ và hiệu quả để hành vi vi phạm không kéo dài.

    Thực tế, các hoạt động sản xuất, nuôi trồng, kinh doanh dịch vụ nếu không được kiểm soát có thể tạo thêm áp lực lên hành lang bảo vệ công trình, môi trường nước và an toàn vận hành hồ.

    Các kết quả quan trắc được công bố trong năm 2026 cho thấy chất lượng nước khu vực lòng hồ Dầu Tiếng vẫn duy trì ở mức khá đến tốt, với chỉ số chất lượng nước dao động 83-94 điểm trong giai đoạn theo dõi từ năm 2018. Tuy nhiên, nguồn nước vẫn chịu tác động từ hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt trên lưu vực.

    Vì vậy, kiểm soát từ nguồn, thay vì chỉ xử lý khi sự việc đã phát sinh, có ý nghĩa đặc biệt đối với một hồ chứa có dung tích thiết kế khoảng 1,58 tỷ m³ và đảm nhiệm nhiều mục tiêu sử dụng nước.

    Địa giới thay đổi, cơ chế phối hợp cũng phải theo kịp

    Quản lý hồ Dầu Tiếng vốn đã là bài toán liên địa phương từ nhiều năm qua.

    Ngày 10/11/2022, UBND tỉnh Bình Phước và UBND tỉnh Tây Ninh ký Chương trình hợp tác số 3888/CTr-UBND-BP-TN, trong đó có nội dung phối hợp thanh tra, kiểm tra các trang trại chăn nuôi xả nước thải vào lưu vực hồ Dầu Tiếng; phối hợp bảo đảm an ninh trật tự, quản lý con người và hoạt động khai thác thủy sản trên hồ.

    Hồ Dầu Tiếng: Rõ thẩm quyền, không để khoảng trống bảo vệ nguồn nước

    Ngày 12/5/2023, UBND tỉnh Bình Dương và UBND tỉnh Tây Ninh tiếp tục ký Chương trình hợp tác số 1386/CTr-UBND-BD-TN, đề cập việc phối hợp quản lý tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường và phát triển rừng đầu nguồn hồ Dầu Tiếng.

    Ở phạm vi rộng hơn, thỏa thuận hợp tác giữa TP.HCM và các tỉnh vùng Đông Nam Bộ ký tháng 3/2023 cũng đặt vấn đề phối hợp bảo vệ hệ thống hồ chứa nước, hành lang hồ chứa và nguồn nước.

    Những cơ chế này cho thấy yêu cầu phối hợp liên vùng trong quản lý hồ Dầu Tiếng đã được đặt ra từ trước. Tuy nhiên, bối cảnh quản lý hiện nay đã thay đổi đáng kể.

    Từ tháng 7/2025, việc sắp xếp đơn vị hành chính làm thay đổi địa giới và tổ chức chính quyền tại khu vực. Bình Dương được sắp xếp cùng TP.HCM; Bình Phước sắp xếp cùng Đồng Nai; Long An sắp xếp cùng Tây Ninh. Với một công trình trải rộng trên nhiều địa bàn như Dầu Tiếng, thay đổi này tất yếu tác động đến cách thức tổ chức và phối hợp quản lý.

    Đáng chú ý, tại văn bản số 21246/SNNMT-CCTL ngày 24/9/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh cho biết Quy chế phối hợp số 04/QCPH-BNN-UBND ngày 2/6/2022 về trách nhiệm giữa Bộ Nông nghiệp và các tỉnh trong quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa đang được rà soát.

    Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, nguyên nhân xuất phát từ sự thay đổi về địa giới hành chính và tổ chức bộ máy. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước đây đã giao Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Miền Nam rà soát, đề xuất điều chỉnh quy chế cho phù hợp với tình hình mới.

    Việc rà soát là cần thiết để cơ chế phối hợp không bị lệch khỏi thực tế quản lý. Nhưng trong thời gian chờ hoàn thiện các quy định, trách nhiệm xử lý vi phạm trên hồ vẫn phải được thực hiện theo thẩm quyền của từng cơ quan, từng địa phương.

    Đây chính là điểm cần được làm rõ hơn trong thực tiễn quản lý.

    Bởi với hồ Dầu Tiếng, một hành vi vi phạm trên mặt nước không chỉ liên quan đến hoạt động kinh doanh hay sử dụng đất, mà trong một số trường hợp còn có thể tác động đến hành lang bảo vệ công trình, an toàn vận hành và chất lượng nguồn nước.

    Những cảnh báo về nguồn gây ô nhiễm trên hệ thống Dầu Tiếng – Phước Hòa thời gian qua cho thấy yêu cầu này không mang tính lý thuyết. Đơn vị quản lý từng phải xử lý tình trạng xác động vật trôi về các điểm chắn rác trên tuyến kênh dẫn nước; cơ quan báo chí và đơn vị quản lý đều cảnh báo nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn nước nếu không được xử lý kịp thời.

    Do đó, câu hỏi đặt ra không phải là có nên khai thác các giá trị kinh tế, du lịch của hồ Dầu Tiếng hay không. Vấn đề là khai thác đến đâu, trong điều kiện nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm kiểm soát khi phát sinh vi phạm.

    Một hồ chứa có thể được khai thác đa mục tiêu, nhưng mọi hoạt động khai thác phải nằm trong giới hạn bảo đảm an toàn công trình, hành lang bảo vệ và chất lượng nguồn nước.

    Để làm được điều đó, cần một cơ chế phối hợp mới, rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền và rõ trách nhiệm. Đơn vị quản lý hồ phải có kênh chuyển thông tin, hồ sơ vi phạm đến đúng cơ quan có thẩm quyền; chính quyền địa phương cần có đầu mối tiếp nhận và xử lý; các cơ quan chuyên môn phải phối hợp khi vụ việc liên quan đến môi trường, đất đai, thủy lợi, xây dựng hoặc hoạt động kinh doanh.

    Quan trọng hơn, việc rà soát các quy chế sau khi thay đổi địa giới hành chính cần được gắn với những tình huống cụ thể trên thực địa, thay vì chỉ dừng ở việc điều chỉnh tên cơ quan, địa bàn hay đầu mối.

    Bảo vệ hồ Dầu Tiếng, vì thế, không thể chỉ là nhiệm vụ của những người trực tiếp vận hành công trình. Đó phải là trách nhiệm được phân định và thực thi xuyên suốt từ lòng hồ, vùng ven hồ đến toàn bộ lưu vực.

    Khai thác đa giá trị là hướng đi có thể đặt ra đối với hồ Dầu Tiếng, nhưng điều kiện tiên quyết vẫn là bảo đảm an toàn công trình và an ninh nguồn nước. Khi quyền hạn của người trực tiếp giữ hồ có giới hạn, một cơ chế phối hợp đủ rõ và đủ hiệu lực càng trở nên cần thiết.

    Thế Dương – Tấn Đạt

    Nguồn https://baomoi.com/ho-dau-tieng-ro-tham-quyen-khong-de-khoang-trong-bao-ve-nguon-nuoc-c56186079.epi

  • Tại sao nước uống luôn được đặt ở phía cuối cửa hàng tiện lợi hay siêu thị?

    Nếu từng vào cửa hàng tiện lợi chỉ để mua một chai nước, bạn có thể nhận thấy tủ đồ uống lạnh thường được đặt khá sâu bên trong thay vì ngay cạnh cửa. Muốn lấy một chai nước, khách đôi khi phải đi qua nhiều dãy hàng khác. Cách bố trí này không hoàn toàn ngẫu nhiên mà liên quan đến cả vận hành cửa hàng và hành vi mua sắm.

    Tủ lạnh không thể đặt ở bất kỳ đâu

    Khác với kệ hàng thông thường, tủ đồ uống lạnh cần nguồn điện, hệ thống làm lạnh và khoảng không gian nhất định để nhân viên bổ sung sản phẩm. Đồ uống cũng thường được nhập với số lượng lớn và phải liên tục chuyển từ kho ra khu vực bán hàng.

    Vì vậy, tủ lạnh thường được bố trí ở nơi thuận tiện cho việc nhận hàng, bảo quản và bổ sung sản phẩm. Nếu đặt gần khu vực kho hoặc lối nhập hàng, nhân viên có thể rút ngắn quãng đường vận chuyển, đồng thời việc kiểm tra và sắp xếp hàng cũng dễ dàng hơn.

    Khác với kệ hàng thông thường, tủ đồ uống lạnh cần nguồn điện, hệ thống làm lạnh và khoảng không gian nhất định để nhân viên bổ sung sản phẩm. Ảnh minh họa.

    Nước uống có thể trở thành “điểm đến” của khách

    Nước là một trong những mặt hàng mà khách thường biết rõ mình cần gì trước khi bước vào cửa hàng. Người mua thường không mất quá nhiều thời gian cân nhắc mà chỉ muốn nhanh chóng đến tủ lạnh, lấy sản phẩm rồi thanh toán.

    Chính vì vậy, khu vực đồ uống có thể được xem như một “điểm đến”. Khi tủ nước nằm ở phía trong, khách phải đi qua những khu vực khác trước khi đến nơi. Trên đường đi, họ có thể nhìn thấy bánh, snack, đồ ăn nhanh, cà phê hoặc các sản phẩm đang được khuyến mãi.

    Khách hàng không nhất thiết sẽ mua thêm, nhưng việc sản phẩm xuất hiện trước mắt đã tạo thêm cơ hội để họ chú ý và phát sinh nhu cầu.

    Cách sắp xếp hàng hóa ảnh hưởng đến hành trình mua sắm

    Trong bán lẻ, vị trí của sản phẩm có vai trò nhất định. Những món hàng được đặt ở nơi dễ nhìn thấy thường có nhiều cơ hội thu hút sự chú ý hơn.

    Một người ban đầu chỉ định mua chai nước có thể vô tình nhìn thấy một món ăn nhẹ hấp dẫn trên đường đến tủ lạnh. Nếu sản phẩm phù hợp với nhu cầu hoặc đang có chương trình giảm giá, họ có thể quyết định mua thêm.

    Đây không phải lúc nào cũng là một “chiêu” bán hàng. Cùng một cách bố trí có thể đồng thời giải quyết bài toán vận hành và tạo ra luồng di chuyển thuận tiện cho cửa hàng.

    Từng mét vuông đều được tính toán

    Cửa hàng tiện lợi thường có diện tích hạn chế nhưng phải trưng bày rất nhiều nhóm sản phẩm. Bởi vậy, vị trí của từng kệ hàng, tủ lạnh, quầy thanh toán hay lối đi đều cần được cân nhắc.

    Đặt tủ nước ở phía cuối có thể giúp tận dụng không gian phía trong, đồng thời giữ khu vực cửa ra vào thông thoáng. Với một số cửa hàng, đây còn là cách tổ chức luồng khách đi qua nhiều khu vực thay vì tập trung ngay ở cửa.

    Tuy nhiên, không phải cửa hàng tiện lợi nào cũng đặt đồ uống ở phía sau. Một số nơi bố trí nước lạnh gần cửa hoặc quầy thanh toán để phục vụ khách muốn mua nhanh. Cách sắp xếp phụ thuộc vào diện tích, thiết kế mặt bằng và mô hình kinh doanh của từng cửa hàng.

    Từng mét vuông đều được tính toán. Ảnh minh họa.

    Không nên chỉ nghĩ rằng cửa hàng muốn khách mua thêm

    Nếu chỉ nhìn từ góc độ người mua, việc phải đi gần hết cửa hàng để lấy một chai nước có thể khiến người ta nghĩ rằng đây là cách để khách nhìn thấy nhiều sản phẩm hơn. Điều này có thể đúng trong một số trường hợp, nhưng chưa phải lời giải thích duy nhất.

    Với đồ uống lạnh, yếu tố hậu cần rất quan trọng. Tủ lạnh cần điện, cần không gian hoạt động và phải thuận tiện cho việc bổ sung hàng. Vị trí phía sau đôi khi đơn giản là nơi phù hợp nhất với kho, lối giao nhận và cách vận hành của cửa hàng.

    Vì thế, lần tới khi bước vào cửa hàng tiện lợi chỉ để mua một chai nước, hãy thử để ý đường đi của mình. Có thể bạn sẽ nhận ra rằng trước khi đến được tủ lạnh, mình đã đi qua rất nhiều sản phẩm khác.

    Đằng sau cách bố trí tưởng như đơn giản ấy là sự kết hợp giữa bảo quản hàng hóa, vận hành, tận dụng mặt bằng và thiết kế hành trình mua sắm. Một chai nước vì thế không chỉ là món hàng khách tìm kiếm, mà còn có thể trở thành “điểm đến” được tính toán trong toàn bộ không gian cửa hàng.

    Trà My (t/h)

    Nguồn https://baomoi.com/tai-sao-nuoc-uong-luon-duoc-dat-o-phia-cuoi-cua-hang-tien-loi-hay-sieu-thi-c56186031.epi

  • Chung cư xây trước và sau 1994: Quyền lợi chủ căn hộ khác nhau thế nào?

    Khi một chung cư xuống cấp phải phá dỡ, điều người dân quan tâm nhất không phải là những khái niệm pháp lý, mà là căn hộ mới được bao nhiêu mét vuông, có phải bỏ thêm tiền, được bố trí ở đâu và nếu không xây lại chung cư thì sẽ được bồi thường thế nào.

    Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) lần đầu bổ sung khái niệm “chung cư cũ”, xác định là nhà chung cư được đầu tư xây dựng từ năm 1994 trở về trước. Mốc này cũng được dùng để phân định cơ chế bồi thường, tái định cư giữa chung cư cũ và các công trình xây dựng sau năm 1994.

    Căn hộ mới được bao nhiêu m²?

    Với chung cư xây dựng từ năm 1994 trở về trước, khi cải tạo, xây dựng lại, chủ sở hữu được bồi thường theo hệ số K. Nếu khu đất tiếp tục được quy hoạch xây dựng chung cư, người dân được tái định cư tại chỗ theo phương án bồi thường được phê duyệt.

    Theo quy định hiện hành, hệ số K đối với căn hộ tầng 1 dao động từ 1-2 lần diện tích sử dụng ghi trên giấy chứng nhận; với căn hộ từ tầng 2 trở lên là 1-1,5 lần.

    Chẳng hạn, căn hộ tầng 2 trở lên có diện tích 50 m², nếu phương án áp dụng hệ số K 1,5 thì diện tích tính theo hệ số là 75 m². Đây là cách minh họa cơ chế tính, còn diện tích thực tế người dân được nhận phụ thuộc phương án bồi thường, tái định cư được phê duyệt và các khoản chênh lệch liên quan.

    Với cả hai nhóm chung cư trước và sau năm 1994, diện tích căn hộ tái định cư không được thấp hơn diện tích tối thiểu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Theo quy chuẩn hiện hành, căn hộ chung cư có diện tích sử dụng tối thiểu 25 m².

    Có phải đóng tiền xây lại?

    Đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa hai nhóm. Với chung cư cũ từ năm 1994 trở về trước, dự thảo không đặt ra phương án để chủ sở hữu tự đóng góp kinh phí xây dựng lại. Thay vào đó, chủ sở hữu được lựa chọn một trong bốn hình thức bồi thường: nhà ở phục vụ tái định cư, nhà ở xã hội, tiền hoặc quyền sử dụng đất có giá trị tương đương nhà ở phục vụ tái định cư.

    Trong khi đó, với chung cư xây dựng sau năm 1994, chủ sở hữu có quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất có nhà chung cư để tự cải tạo, xây dựng lại thông qua đóng góp kinh phí.

    Khoản tiền đóng góp được xác định theo tỷ lệ diện tích sử dụng căn hộ với suất đầu tư xây dựng mới 1 m² sàn nhà ở tại thời điểm phá dỡ.

    Như vậy, cùng là một tòa chung cư phải phá dỡ, nhưng nghĩa vụ tài chính của chủ căn hộ có thể khác nhau tùy thời điểm công trình được xây dựng. Nhóm trước năm 1994 tập trung vào cơ chế bồi thường, tái định cư; nhóm sau năm 1994 gắn việc xây dựng lại với trách nhiệm đóng góp kinh phí của chủ sở hữu.

    Được tái định cư ở đâu?

    Nếu quy hoạch khu đất tiếp tục xây dựng chung cư, chủ sở hữu chung cư cũ được bố trí tái định cư tại chỗ.

    Tuy nhiên, đây không phải lựa chọn duy nhất. Dự thảo cho phép chủ sở hữu chung cư cũ lựa chọn nhận nhà tái định cư, nhà ở xã hội, tiền hoặc quyền sử dụng đất có giá trị tương đương căn hộ tái định cư.

    Trong thời gian dự án triển khai, người dân có nhu cầu tái định cư bằng nhà ở, thuê nhà hoặc quyền sử dụng đất được bố trí chỗ ở tạm thời. Cơ quan được giao hoặc chủ đầu tư có trách nhiệm bố trí nơi ở hoặc trả tiền để người dân tự thuê.

    Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp với cư dân tại các khu tập thể, chung cư đã tồn tại hàng chục năm, khi việc phá dỡ không chỉ đặt ra câu chuyện về căn hộ mới mà còn là khoảng thời gian người dân phải rời nơi ở hiện tại.

    Nếu không xây lại chung cư, người dân nhận gì?

    Với nhóm chung cư xây dựng sau năm 1994, nếu chủ sở hữu không đóng góp kinh phí xây dựng lại, dự thảo đề xuất bồi thường giá trị quyền sử dụng đất có nhà chung cư theo tỷ lệ phần quyền sử dụng đất tại thời điểm phá dỡ.

    Nếu khu đất sau khi phá dỡ theo quy hoạch không còn là đất xây dựng nhà chung cư, các chủ sở hữu cũng được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo tỷ lệ phần quyền sử dụng đất được xác định theo pháp luật về đất đai tại thời điểm bồi thường.

    Trong khi đó, với chung cư cũ từ năm 1994 trở về trước, chủ sở hữu được lựa chọn bồi thường bằng nhà, nhà ở xã hội, tiền hoặc quyền sử dụng đất có giá trị tương đương nhà tái định cư.

    Theo bà Hoàng Thu Hằng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ lâu nay là một điểm nghẽn. Một trong những nguyên nhân là người dân lo ngại quyền lợi bị ảnh hưởng khi công trình bị phá dỡ, khiến chủ đầu tư và cơ quan quản lý gặp khó khăn trong triển khai.

    Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) vì vậy đang đi theo hướng làm rõ ngay từ đầu quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu. Với người dân, mốc năm 1994 sẽ quyết định họ bước vào cơ chế bồi thường, tái định cư hay cơ chế gắn với việc tự đóng góp kinh phí xây dựng lại.

    Các quy định trên hiện vẫn nằm trong dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) và có thể tiếp tục được điều chỉnh trước khi Quốc hội xem xét, thông qua.

    Phong Lam

    Nguồn https://baomoi.com/chung-cu-xay-truoc-va-sau-1994-quyen-loi-chu-can-ho-khac-nhau-the-nao-c56186042.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!