Author: bachdn

  • Từ 1/9/2027, dự án PPP đấu thầu rộng rãi lựa chọn nhà đầu tư qua mạng

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 377/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2026 và sửa đổi một số nội dung của Nghị định số 243/2025/NĐ-CP, trong đó đáng chú ý là lộ trình áp dụng lựa chọn nhà đầu tư qua mạng.

    Từ ngày 1/9/2027, việc lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án đối tác công tư (PPP) áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi sẽ được thực hiện qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Ảnh chụp màn hình

    Hai mốc nhà đầu tư cần lưu ý trong năm 2027

    Theo quy định mới, từ ngày 1/1/2027, thủ tục nộp văn bản đề xuất dự án PPP theo các trường hợp được quy định tại Nghị định số 243/2025/NĐ-CP phải thực hiện trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    Tiếp đó, từ ngày 1/9/2027, việc lựa chọn nhà đầu tư qua mạng được áp dụng đối với các dự án PPP lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đấu thầu rộng rãi.

    Đối với dự án PPP áp dụng hình thức đàm phán cạnh tranh, chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, việc lựa chọn nhà đầu tư qua mạng không được áp dụng.

    Tuy nhiên, thông tin về quá trình lựa chọn nhà đầu tư đối với các trường hợp này vẫn phải được công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

    Từ phát hành hồ sơ đến kiến nghị đều thực hiện trên hệ thống

    Nghị định 377/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể quy trình lựa chọn nhà đầu tư qua mạng.

    Theo đó, các bước từ mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu qua mạng; sửa đổi, làm rõ hồ sơ mời thầu; nộp, sửa đổi, thay thế hoặc rút hồ sơ dự thầu đến mở thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu đều được thực hiện trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    Sau khi hoàn tất đánh giá hồ sơ dự thầu, kết quả lựa chọn nhà đầu tư được phê duyệt và đăng tải công khai trên hệ thống.

    Trường hợp có kiến nghị liên quan đến quá trình lựa chọn nhà đầu tư qua mạng, nhà đầu tư sẽ gửi đơn kiến nghị qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo lộ trình áp dụng.

    Trong thời gian chưa triển khai lựa chọn nhà đầu tư qua mạng, đơn kiến nghị vẫn được gửi đến bộ phận hành chính của người có trách nhiệm giải quyết kiến nghị.

    Hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà đầu tư PPP

    Một nội dung đáng chú ý khác của quy định mới là việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà đầu tư trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

    Cơ sở dữ liệu này bao gồm thông tin về tình trạng pháp lý và năng lực của nhà đầu tư, trong đó có báo cáo tài chính hoặc tài liệu chứng minh năng lực tài chính nếu có.

    Hệ thống cũng lưu trữ lịch sử nhà đầu tư bị ngừng hoặc chấm dứt hoạt động đầu tư tại địa phương triển khai dự án; thông tin xử lý vi phạm pháp luật về đầu tư PPP; cũng như kết quả thực hiện các hợp đồng trước đó.

    Đối với kết quả thực hiện hợp đồng, dữ liệu có thể bao gồm tiến độ thực hiện, các vi phạm hợp đồng, trường hợp hợp đồng bị chấm dứt và nguyên nhân.

    Nhà đầu tư có trách nhiệm đăng ký trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước khi kết quả lựa chọn nhà đầu tư được phê duyệt, đăng tải; đồng thời phải thường xuyên cập nhật và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin pháp lý, năng lực do mình cung cấp.

    Thông tin về lịch sử ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư và xử lý vi phạm được Sở Tài chính hoặc cơ quan được giao quản lý hoạt động PPP cập nhật lên hệ thống. Thông tin về tình hình thực hiện hợp đồng do cơ quan ký kết hợp đồng đăng tải, cập nhật.

    Cơ sở dữ liệu quốc gia về nhà đầu tư được công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Dữ liệu này được sử dụng trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu, đồng thời là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tổ chức lựa chọn nhà đầu tư và giám sát hoạt động lựa chọn nhà đầu tư.

    Việc đưa từng bước của quá trình lựa chọn nhà đầu tư PPP lên môi trường điện tử vì vậy không chỉ dừng ở khâu nộp hồ sơ, mà còn bao gồm công khai kết quả, xử lý kiến nghị và xây dựng dữ liệu phục vụ quá trình lựa chọn, giám sát nhà đầu tư.

    Hoàng Anh

    Nguồn https://baomoi.com/tu-1-9-2027-du-an-ppp-dau-thau-rong-rai-lua-chon-nha-dau-tu-qua-mang-c56186940.epi

  • Xử lý vi phạm kinh tế: Triển khai cơ chế đặc thù, bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung

    Triển khai cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Ảnh minh họa: Chinhphu.vn

    Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1916/QĐ-TTg ngày 2/10/2026, ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 37/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội.

    Nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

    Các chính sách nhằm khuyến khích, bảo vệ cán bộ, công chức, viên chức và chủ thể năng động, sáng tạo, “dám nghĩ, dám làm” vì lợi ích chung; xử lý nghiêm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không hình sự hóa các quan hệ kinh tế. Qua đó, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, thúc đẩy phát triển kinh tế và ứng dụng khoa học, công nghệ.

    Xây dựng hướng dẫn về hình sự, tố tụng và xử lý kỷ luật

    Theo Kế hoạch, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan xây dựng, ban hành thông tư liên tịch của các cơ quan liên ngành tư pháp Trung ương.

    Thông tư hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự của Nghị quyết để xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh.

    Bộ Nội vụ được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực này nhưng vì lợi ích chung, nhằm thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết.

    Đối với người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý kỷ luật đối với các trường hợp vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích chung.

    Kế hoạch cũng yêu cầu rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới văn bản để phù hợp với Nghị quyết.

    Rà soát vụ việc, vụ án; ngăn lợi dụng chính sách để trục lợi

    Một nhiệm vụ trong Kế hoạch là rà soát, xử lý các vụ việc, vụ án thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết; đồng thời giám sát việc thực hiện cam kết khắc phục hậu quả thiệt hại và tổ chức thực hiện chính sách đối với tổ chức, cá nhân được áp dụng cơ chế đặc thù.

    Cùng với đó, các cơ quan phải xây dựng cơ chế phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi lợi dụng chính sách đặc thù để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trục lợi hoặc bao che vi phạm. Nhiệm vụ này được thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 3 và khoản 4 Điều 13 của Nghị quyết.

    Kế hoạch gồm 10 nhóm nhiệm vụ, từ quán triệt, truyền thông, phổ biến Nghị quyết; xây dựng văn bản hướng dẫn; rà soát quy định pháp luật đến tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hướng dẫn thi hành.

    Nghị quyết cùng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cũng được cập nhật vào Bộ pháp điển ở các đề mục hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, kinh tế và khoa học, công nghệ.

    Các nhiệm vụ còn bao gồm tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị; kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình thực hiện; sơ kết, tổng kết và báo cáo kết quả triển khai.

    Việc phân công cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp được thực hiện theo yêu cầu “06 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả”, bảo đảm thi hành Nghị quyết kịp thời, thống nhất, hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.

    Hoàng Anh

    Nguồn https://baomoi.com/xu-ly-vi-pham-kinh-te-trien-khai-co-che-dac-thu-bao-ve-nguoi-dam-lam-vi-loi-ich-chung-c56186937.epi

  • Khánh Hòa quy định hệ số K trong chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạm ứng không quá 80%

    Ảnh minh hoạ.

    Theo quy định, hệ số K được xác định cho từng lô rừng, làm cơ sở tính toán mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ, điều tiết tiền dịch vụ môi trường rừng và xác định mức chi trả cho bên nhận khoán bảo vệ rừng từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng.

    Hệ số K được xác định theo công thức K = K1 x K2 x K3 x K4. Trong đó, K1 là hệ số điều chỉnh theo trữ lượng rừng; K2 điều chỉnh theo mục đích sử dụng rừng; K3 điều chỉnh theo nguồn gốc hình thành rừng; K4 điều chỉnh theo mức độ khó khăn của địa bàn cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

    Cụ thể, K1 được áp dụng ở mức 1,00 đối với rừng giàu; 0,95 đối với rừng trung bình và 0,90 đối với rừng nghèo, rừng nghèo kiệt, rừng chưa có trữ lượng, rừng tre nứa, rừng không phân chia trữ lượng và rừng trồng.

    Đối với K2, mức 1,00 áp dụng cho rừng đặc dụng, 0,95 đối với rừng phòng hộ và 0,90 đối với rừng sản xuất.

    Hệ số K3 có mức 1,00 đối với rừng tự nhiên và 0,90 đối với rừng trồng. Trong khi đó, K4 được xác định theo khu vực xã nơi có diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

    Theo đó, xã khu vực III áp dụng hệ số 1,00; khu vực II áp dụng 0,95; khu vực I và các xã chưa được Thủ tướng Chính phủ quy định thuộc khu vực áp dụng hệ số 0,90.

    Việc xác định hệ số K theo từng lô rừng nhằm làm căn cứ tính toán mức chi trả phù hợp với đặc điểm rừng và điều kiện địa bàn cung ứng dịch vụ. Khi có thay đổi về trữ lượng, mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành và mức độ khó khăn, hệ số K của từng lô rừng được xác định theo quy định.

    Về tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng, căn cứ kế hoạch tài chính hằng năm được UBND tỉnh phê duyệt, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Khánh Hòa thực hiện tạm ứng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

    Số lần tạm ứng tối đa 3 lần/năm, vào các quý II, III và IV. Tổng số tiền tạm ứng không vượt quá 80% số tiền thực thu sau khi trích kinh phí quản lý của Quỹ và kinh phí dự phòng theo quy định.

    UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị liên quan kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

    Các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xác định hệ số K của từng lô rừng khi các yếu tố liên quan có thay đổi.

    Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh được giao hướng dẫn bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng xác định hệ số K; phối hợp xác định số tiền chi trả hằng năm bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng quy định.

    Đồng thời, Quỹ căn cứ số tiền thực thu để xác định thời gian, số tiền tạm ứng cho từng bên cung ứng dịch vụ và tổ chức chi tạm ứng theo quy định.

    Văn Thực

    Nguồn https://baomoi.com/khanh-hoa-quy-dinh-he-so-k-trong-chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung-tam-ung-khong-qua-80-c56186915.epi

  • Xử lý nghiêm vi phạm về môi trường

    Trong đó, có 7 vụ thuộc lĩnh vực xây dựng và môi trường đô thị với số tiền phạt là 87 triệu đồng; 3 vụ liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm với tổng số tiền phạt 192 triệu đồng; 7 vụ vi phạm thuộc các lĩnh vực khác với số tiền xử phạt 329 triệu đồng, trong đó vi phạm về tài nguyên, khoáng sản 3 vụ với tổng tiền phạt gần 319 triệu đồng.

    Lũy kế 9 tháng năm 2026, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 378 vụ, 414 đối tượng, tổng số tiền phạt hơn 10,4 tỷ đồng.

    Trong đó, 161 vụ vi phạm về an toàn thực phẩm với tổng số tiền phạt gần 1,6 tỷ đồng; 57 vụ vi phạm về xây dựng, môi trường đô thị với tổng tiền phạt 580 triệu đồng và 160 vụ vi phạm khác liên quan đến các lĩnh vực khác, như y tế; khai thác tài nguyên, khoáng sản; sản xuất công nghiệp… với tổng số tiền phạt gần 8,3 tỷ đồng.

    T.BÌNH

    Nguồn https://baomoi.com/xu-ly-nghiem-vi-pham-ve-moi-truong-c56186796.epi

  • Quy định xử lý đất đai với đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi

    Cụ thể, tại Nghị định 373/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định xử lý đất đai với đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi tại Điều 12 của Nghị định. 

    Xử lý về đất đai với đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi

    1. Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý, sử dụng tài sản công là cơ sở nhà, đất: Đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi phải được phê duyệt phương án sử dụng đất trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định công bố giá trị đơn vị sự nghiệp công lập. Phương án sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bao gồm các phần diện tích nhà, đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng sau chuyển đổi để thực hiện việc cung ứng dịch vụ công (trong đó có các phần diện tích nhà, đất đã được phê duyệt phương án giữ lại tiếp tục sử dụng theo quy định của pháp luật quản lý, sử dụng tài sản công – nếu có).

    2. Đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp với:

    a) Quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

    b) Lĩnh vực hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của đơn vị.

    Hình thức sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi

    3. Về hình thức sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi:

    a) Đối với diện tích đất đơn vị sự nghiệp công lập đang thực hiện thuê đất trả tiền hằng năm thì tiếp tục được thực hiện thuê đất trả tiền hằng năm;

    b) Đối với diện tích đất đã được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền sử dụng đất, đất do đơn vị sự nghiệp công lập nhận chuyển nhượng thì đơn vị sự nghiệp công lập chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền hằng năm. 

    Số tiền đơn vị sự nghiệp công lập đã nộp hoặc đã trả nhưng chưa hạch toán vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tính đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xác định là khoản đã trả trước và được trừ vào tiền thuê đất mà công ty cổ phần phải trả hằng năm theo quy định của pháp luật về đất đai.

    c) Việc thuê đất của doanh nghiệp chuyển đổi từ đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Nguyên tắc xác định giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm

    4. Đối với diện tích đất đang thuê trả tiền hằng năm phải xác định giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm trong giá trị đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi. Việc xác định giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm thực hiện theo nguyên tắc sau:

    a) Chỉ thực hiện xác định giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm đối với diện tích đất của đơn vị sự nghiệp công lập đã và đang có văn bản thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với trường hợp không có văn bản cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đã hết thời hạn thuê đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố có trách nhiệm rà soát, thu hồi hoặc đấu giá quyền thuê đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

    b) Giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm do tổ chức tư vấn xác định theo phương pháp phù hợp với các chuẩn mực thẩm định giá. Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập đang thực hiện hình thức thuê đất, giá trị được tạo bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm do tổ chức tư vấn xác định theo phương pháp phù hợp với các chuẩn mực thẩm định giá nhưng không thấp hơn giá trị được xác định theo thời hạn thuê đất còn lại và chênh lệch dương (nếu có) giữa tiền thuê đất tính theo giá đất do tổ chức tư vấn xác định tại thời điểm xác định giá khởi điểm trừ đi tiền thuê đất tính theo giá đất mà đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi đang thực hiện trả tiền thuê đất. 

    Trường hợp thời hạn thuê đất còn lại ít hơn 05 năm thì thời hạn thuê đất còn lại được xác định là 05 năm;

    c) Đối với trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập thuê đất và được miễn tiền thuê đất theo quy định của pháp luật đất đai thì diện tích đất thuê được miễn tiền thuê đất được loại trừ khi xác định giá trị đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi. 

    Đối với diện tích đất đang được miễn tiền thuê đất nhưng không còn đáp ứng điều kiện để được miễn tiền thuê đất thì đơn vị sự nghiệp công lập phải tham gia đấu giá quyền thuê đất, nộp tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

    5. Khi chuyển đổi, đơn vị sự nghiệp công lập không được chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích đất đang quản lý, sử dụng so với phương án sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi đã được phê duyệt. 

    Sau chuyển đổi, trường hợp doanh nghiệp thay đổi mục đích sử dụng đất thì thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và pháp luật có liên quan. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giám sát việc sử dụng đất của các đơn vị sự nghiệp công lập sau chuyển đổi./.

    Nguồn https://baomoi.com/quy-dinh-xu-ly-dat-dai-voi-don-vi-su-nghiep-cong-lap-chuyen-doi-c56186799.epi

  • Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra dự án khu đô thị tại phường Đồng Hới

    Đồng chí Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch UBND tỉnh nghe lãnh đạo Sở Xây dựng báo cáo tình hình thực hiện dự án – Ảnh: T.Đ

    Đồng chí Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch UBND tỉnh và đoàn công tác của UBND tỉnh đã trực tiếp đến kiểm tra tiến độ thực hiện dự án Khu đô thị Eurowindow Grand City.

    Dự án do Liên danh Công ty CP Eurowindow Quảng Bình Five Star và Công ty TNHH Thăng Long làm chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư dự kiến 440 tỉ đồng, với quy mô 1,5ha và thời hạn hoàn thành đến tháng 7/2030 sau khi có quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

    Đến nay, nhà đầu tư đã hoàn thành một số thủ tục về quy hoạch, đấu nối hạ tầng kỹ thuật, cấp điện, cấp nước và đánh giá tác động môi trường. Về giải phóng mặt bằng, đã thực hiện chi trả bồi thường đối với diện tích 0,3ha cho 1 hợp tác xã.

    Tuy nhiên, hiện còn một số hộ dân chưa thống nhất với phương án bồi thường đã được phê duyệt, không chấp hành nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng.

    Đồng chí Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu phường Đồng Hới tiếp tục tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của người dân trong công tác giải phóng mặt bằng – Ảnh: T.Đ

    Tại buổi kiểm tra, sau khi nghe các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư báo cáo về tình hình thực hiện dự án, đồng chí Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Phường Đồng Hới tiếp tục tuyên truyền, vận động, đối thoại để tạo sự đồng thuận của người dân trong việc thu hồi đất, nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho dự án. Trước ngày 15/10 phải hoàn thành việc tuyên truyền, vận động, đối thoại với người dân. Sau ngày 30/10 thực hiện các bước tiếp theo để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án.

    Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu chủ đầu tư cam kết trong thời gian 3 tháng sau khi bàn giao mặt bằng phải thực hiện khởi công dự án. Đề nghị các sở, ngành liên quan tiếp tục hỗ trợ nhà đầu tư trong quá trình triển khai các thủ tục pháp lý để sớm khởi công dự án theo quy định.

    Trung Đức – Ngọc Hải

    Nguồn https://baomoi.com/dong-chi-chu-tich-ubnd-tinh-kiem-tra-du-an-khu-do-thi-tai-phuong-dong-hoi-c56186653.epi

  • Hơn 90km metro TP.HCM chuẩn bị khởi công: Một trục kinh tế mới đang hình thành?

    Gần 90km đường ray mới

    TP.HCM đang hoàn tất thủ tục để cuối năm 2026 khởi công thêm 3 tuyến đường sắt đô thị gồm metro số 1 đoạn Thành phố mới Bình Dương – Suối Tiên, metro số 2 đoạn TP. Thủ Dầu Một – TP.HCM và metro số 6 giai đoạn 1, đoạn Tân Sơn Nhất – Phú Hữu.

    Rào chắn phục vụ khoan khảo sát địa chất tuyến metro Tân Sơn Nhất – Phú Hữu tại phường Long Trường, TP.HCM, tháng 8.2026. Ảnh: QUỐC HÙNG/SGGP

    Theo HĐND TP.HCM, 3 dự án có tổng chiều dài khoảng 89,5km, tổng vốn sơ bộ khoảng 254.530 tỉ đồng, dự kiến đầu tư bằng vốn ngân sách. Đây là 3 trong 8 dự án metro được thành phố ưu tiên triển khai giai đoạn 2026-2030.

    Cập nhật ngày 2.10, ông Phan Công Bằng, Trưởng Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM cho biết, Thành phố đang hoàn tất các thủ tục để trình phê duyệt và khởi công 3 tuyến vào cuối năm nay. Cùng với các dự án đang triển khai, TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 255km đường sắt đô thị.

    Con số này cho thấy metro đang được đặt trong một chiến lược lớn hơn thay vì chỉ giải quyết bài toán vận tải. Nghị quyết 09-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 TP.HCM hoàn thành khoảng 200km đường sắt đô thị; Thành phố hiện đang hướng tới quy mô mạng lưới cao hơn mục tiêu này.

    Metro kéo theo đô thị

    Điểm đáng chú ý trong kế hoạch phát triển metro của TP.HCM là đường sắt đô thị được triển khai đồng thời với mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Khi đó, nhà ga không chỉ là nơi hành khách lên xuống tàu mà trở thành hạt nhân để tổ chức lại không gian đô thị xung quanh.

    Một bước cụ thể vừa được TP.HCM thông qua là quy định về quy hoạch khu vực TOD. Theo đó, phạm vi quy hoạch có thể lên tới 1.000m tính từ tâm nhà ga hoặc depot; hệ số sử dụng đất gộp đối với một số khu chức năng hỗn hợp, thương mại – dịch vụ và khu ở có thể được tăng tối đa 1,5 lần so với quy chuẩn, nhưng phải phù hợp khả năng đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1.10.2026.

    Cách tiếp cận này mở ra khả năng hình thành các khu đô thị có mật độ hoạt động kinh tế cao hơn quanh các đầu mối giao thông. Người dân có thể tiếp cận nhà ở, văn phòng, thương mại, dịch vụ và không gian công cộng trong khoảng cách thuận tiện, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.

    Theo ông Phan Công Bằng, trong giai đoạn 2026-2030, TP.HCM xác định ưu tiên triển khai 8 dự án metro. Việc chuẩn bị nhiều tuyến song song cho thấy thành phố đang hướng tới một mạng lưới thay vì phát triển từng tuyến đơn lẻ.

    Đây cũng là khác biệt quan trọng giữa đầu tư một tuyến giao thông đơn thuần và xây dựng hệ thống đường sắt đô thị. Khi các tuyến kết nối với nhau, giá trị của từng nhà ga không chỉ nằm ở khả năng trung chuyển mà còn ở khả năng tạo ra các điểm tập trung dân cư, việc làm và dịch vụ.

    Hình thành những cực kinh tế mới

    Khi mạng lưới metro được triển khai đồng bộ, tác động lớn hơn không nằm ở số kilomet đường ray mà ở khả năng hình thành các cực đô thị mới quanh nhà ga. Những khu vực trước đây phụ thuộc nhiều vào đường bộ có thể được tổ chức lại không gian theo hướng tập trung dân cư, thương mại, dịch vụ và việc làm quanh các đầu mối giao thông công cộng.

    Ba tuyến chuẩn bị khởi công có ý nghĩa đáng chú ý ở khả năng mở rộng kết nối giữa trung tâm TP.HCM với các khu vực đô thị, công nghiệp và đầu mối giao thông quan trọng. Trong đó, tuyến Tân Sơn Nhất – Phú Hữu tạo thêm liên kết giữa khu vực sân bay với phía Đông; các tuyến kết nối với Bình Dương cũ mở rộng không gian giao thông giữa TP.HCM và các khu vực đô thị – công nghiệp phía Bắc.

    Theo các định hướng phát triển metro của TP.HCM, đường sắt đô thị còn được xem là một trong những trụ cột để tổ chức mô hình đô thị đa cực, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và khai thác hiệu quả quỹ đất quanh nhà ga.

    Tuy nhiên, metro tự thân không tạo ra một “trục kinh tế” nếu thiếu quy hoạch đô thị và cơ chế khai thác giá trị gia tăng từ hạ tầng. Nhà ga phải được đặt trong một hệ sinh thái gồm không gian công cộng, nhà ở, thương mại, dịch vụ và kết nối với các phương thức vận tải khác.

    Vì vậy, gần 90km metro chuẩn bị triển khai có thể được xem là phần khung ban đầu của một cấu trúc phát triển mới. Giá trị cuối cùng không chỉ được đo bằng số kilomet đường ray hay số hành khách, mà còn ở khả năng biến hạ tầng giao thông thành không gian đô thị, thương mại, dịch vụ và những cực tăng trưởng mới cho TP.HCM.

    TUẤN ĐÔNG

    Nguồn https://baomoi.com/hon-90km-metro-tp-hcm-chuan-bi-khoi-cong-mot-truc-kinh-te-moi-dang-hinh-thanh-c56186651.epi

  • Chung cư giảm giá cả tỷ đồng/căn nhưng vẫn khó bán

    Căn hộ chung cư giảm cả tỷ đồng vẫn chưa tìm được người mua

    Chị Ái, một người đang rao bán căn hộ tại Hà Đông, Hà Nội cho biết, gia đình chị chuyển vào Huế sinh sống nên quyết định bán căn hộ đang ở tại Hà Nội. Tuy nhiên, dù đã chuyển đi được hơn nửa năm nhưng căn hộ ở Hà Nội vẫn chưa tìm được người mua.

    Ban đầu, chị Ái rao bán căn hộ với giá 5,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau một thời gian không tìm được khách, gia đình đã liên tục điều chỉnh giá. Hiện căn hộ được rao hơn 4 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 1 tỷ đồng so với mức giá ban đầu, nhưng vẫn chưa có người mua thực sự xuống tiền.

    “Ban đầu tôi rao 5,4 tỷ đồng, sau đó phải giảm dần. Đến nay giá chỉ còn hơn 4 tỷ đồng nhưng vẫn chưa có người mua. Số lượng khách liên hệ để xem nhà cũng rất ít, chỉ có vài người”, chị Ái chia sẻ.

    Không chỉ trường hợp trên, vợ chồng chị Trang, anh Quý, đang có nhu cầu tìm mua nhà tại Hà Nội, cho biết, thời gian gần đây hai vợ chồng vẫn thường xuyên tìm hiểu, xem căn hộ nhưng chưa quyết định xuống tiền.

    Căn hộ chung cư rao bán nửa năm nay vẫn chưa bán được. Ảnh: NVCC.

    Theo chị Trang, khả năng tài chính là rào cản lớn nhất. Hai vợ chồng chị hiện chỉ tích lũy được khoảng 1 tỷ đồng, trong khi những căn hộ chung cư thương mại thứ cấp, đã qua sử dụng, phù hợp với nhu cầu có giá khoảng 4-6 tỷ đồng. Nếu mua nhà ở mức giá này, gia đình sẽ phải vay hoặc huy động thêm một khoản tiền rất lớn.

    “Chúng tôi vẫn tìm hiểu và đi xem nhà, nhưng nếu mua căn khoảng 4 tỷ đồng thì số tiền phải vay, mượn quá lớn. Hai vợ chồng chỉ tích cóp được khoảng 1 tỷ đồng nên cũng không dám vay quá nhiều”, chị Trang chia sẻ.

    Vợ chồng chị Trang, anh Quý cho biết đang có tâm lý chờ giá giảm thêm trước khi quyết định. Bên cạnh đó, gia đình cũng tìm hiểu chính sách và chờ hoàn tất hồ sơ để có cơ hội mua nhà ở xã hội, bởi mức giá phù hợp hơn với khả năng tài chính.

    Theo chị Trang, nếu giá căn hộ thương mại tiếp tục ở mức cao, trong khi nguồn cung nhà ở xã hội được cải thiện, gia đình sẽ cân nhắc kỹ giữa việc mua căn hộ thương mại ở thời điểm hiện tại và tiếp tục chờ cơ hội mua nhà ở xã hội.

    Nguồn cung mới tạo thêm áp lực

    Theo anh Huy, nhân viên môi giới bất động sản khu vực phía Tây Hà Nội, thị trường hiện có sự cạnh tranh rõ hơn giữa căn hộ thứ cấp và nguồn cung mới từ các dự án đang mở bán, nhất là dự án nhà ở xã hội.

    Anh Huy cho biết, trước đây người mua có ít lựa chọn hơn nên nhiều người chấp nhận tìm mua căn hộ chuyển nhượng. Tuy nhiên, khi hàng loạt dự án mới được triển khai, khách hàng có thêm nhiều phương án để cân nhắc, đặc biệt là những người mua để ở.

    “Bây giờ khách đi xem nhà thường so sánh rất kỹ. Họ không chỉ nhìn vào giá căn hộ mà còn tính toán về chính sách thanh toán, các khoản ưu đãi, tiện ích và chất lượng của dự án mới. Nếu căn hộ cũ không có mức giá đủ hấp dẫn thì rất khó thuyết phục khách xuống tiền”, anh Huy cho biết.

    Theo môi giới này, nguồn cung mới tăng không đồng nghĩa nhu cầu mua nhà giảm, nhưng khả năng hấp thụ của từng phân khúc có sự khác biệt. Những căn hộ thứ cấp có vị trí tốt, pháp lý rõ ràng và giá bán cạnh tranh vẫn có khách quan tâm, trong khi các căn có mức giá chưa tạo được khoảng cách đủ lớn so với sản phẩm mới thường mất nhiều thời gian hơn để tìm người mua.

    Nhiều vợ chồng trẻ vẫn đang phải thuê trọ tại Hà Nội. Ảnh: Quỳnh Mai.

    Anh Huy cũng cho rằng tâm lý của người mua hiện thận trọng hơn. Với những gia đình phải sử dụng đòn bẩy tài chính lớn, chỉ cần giá căn hộ cao hơn khả năng chi trả vài trăm triệu đồng cũng có thể khiến họ tiếp tục chờ đợi thay vì quyết định mua ngay.

    Chị Phạm Huyền, quản lý một công ty bất động sản tại Hà Nội cũng cho biết, thanh khoản căn hộ thứ cấp đang chậm hơn rất nhiều so với hơn nửa năm trước.

    Theo chị Huyền, thời gian qua nhiều dự án được triển khai, mở bán, khiến quỹ hàng căn hộ mới tăng lên đáng kể. Người mua có thêm nhiều lựa chọn, qua đó tạo áp lực cạnh tranh đối với các căn hộ chuyển nhượng.

    “Giờ muốn bán nhanh phải giảm sâu hơn thị trường nhiều”, chị Huyền khẳng định.

    Theo nữ quản lý, một số trường hợp, giá căn hộ thứ cấp đã giảm tới cả tỷ đồng/căn so với hơn nửa năm trước nhưng vẫn khó tìm được người mua. Nguyên nhân không chỉ nằm ở giá bán mà còn liên quan đến sức mua thực tế và khả năng tài chính của khách hàng.

    Khi nguồn cung mới tiếp tục được bổ sung, người mua có nhiều cơ sở để so sánh trước khi xuống tiền. Trong khi đó, những chủ nhà thực sự cần bán có xu hướng phải điều chỉnh kỳ vọng, chấp nhận thương lượng sâu hơn để tìm được khách phù hợp.

    Trong khi thị trường căn hộ thương mại chịu áp lực từ khả năng chi trả, Hà Nội đang đẩy mạnh nguồn cung nhà ở xã hội. Theo Bộ Xây dựng, hiện thành phố đã chấp thuận chủ trương đầu tư 151 dự án nhà ở xã hội với quy mô khoảng 135.400 căn hộ. Trong 6 tháng đầu năm 2026, 30 dự án đã được khởi công và đang triển khai, với khoảng 24.000 căn hộ.

    Riêng năm 2026, Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành tối thiểu 18.700 căn hộ, hướng tới đưa khoảng 25.000-27.000 căn nhà ở xã hội đủ điều kiện cung ứng ra thị trường. Thành phố cũng đặt mục tiêu khởi công 114 dự án nhà ở xã hội đã được chấp thuận chủ trương đầu tư trong năm nay.

    Quỳnh Mai

    Nguồn https://baomoi.com/chung-cu-giam-gia-ca-ty-dong-can-nhung-van-kho-ban-c56186687.epi

  • Hiện trạng khu dân cư có thể di dời để làm công viên ở ngã tư Thái Hà – Hoàng Cầu

    Nằm ở ngã tư phố Thái Hà – Hoàng Cầu có một khu dân cư có thể bị di dời theo quy hoạch. Vị trí khu dân cư này trước đây là khu vực ao Thước Thợ, ở nơi giáp ranh giữa phường Trung Liệt, Láng Hạ, quận Đống Đa và phường Thành Công, quận Ba Đình trước sáp nhập (nay là phường Ô Chợ Dừa, TP Hà Nội). (Ranh giới dự án được vẽ tương đối).

    Ranh giới của khu dân cư được xác định cụ thể là phía đông nam giáp phố Hoàng Cầu; phía đông bắc giáp phố Đặng Tiến Đông và trường Mầm non Hoa Sen; phía tây nam giáp phố Thái Hà; phía tây bắc giáp Trung tâm Chiếu phim Quốc gia.

    Theo quy hoạch phân khu đô thị H1-3 TP Hà Nội được phê duyệt năm 2021, phần lớn khu dân cư đều nằm trong ô quy hoạch có ký hiệu E.1/CXĐT1, có chức năng là cây xanh đô thị. Phần mặt tiền phố Thái Hà của khu vực nằm trong ô đất có ký hiệu E.1/P, có chức năng bãi đỗ xe. Khu vực này được xác định là ranh giới dự kiến xây dựng ga đường sắt đô thị và các công trình phụ trợ, chi tiết thực hiện theo dự án riêng.

    Khu đất này hiện là một khu dân cư đông đúc với mật độ công trình được xây dựng dày đặc. Nằm ở phố Hoàng Cầu hiện có một sân bóng đá.

    Theo tìm hiểu, vào năm 2001, khu vực này được Hà Nội quyết định thu hồi hơn 7 ha đất để giao cho Ban Quản lý dự án quận Đống Đa để xây dựng dự án Công viên văn hóa Đống Đa giai đoạn I. Đến năm 2007, Hà Nội đã có văn bản giao cho một doanh nghiệp đề xuất lập quy hoạch, đầu tư xây dựng dự án.

    Đầu tháng 4/2008, dự án được nhà đầu tư Hungary xin nghiên cứu đầu tư. Tuy nhiên, nhà đầu tư có đề nghị điều chỉnh lại quy hoạch, dành một phần diện tích để kinh doanh, không đúng với quy hoạch đã được phê duyệt và không đủ năng lực tài chính để triển khai.

    Vào tháng 11/2011, CTCP Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (nay là Tập đoàn Geleximco – CTCP) đã đề nghị xây dựng dự án theo hình thức BT và nghiên cứu, phối hợp với Viện Quy hoạch Hà Nội để lập quy hoạch dự án.

    Đến năm 2017, Hà Nội đã giao cho chủ đầu tư là doanh nghiệp từng được thành phố có văn bản giao đề xuất lập quy hoạch, đầu tư xây dựng dự án vào năm 2007. Trong giai đoạn 2023 – 2024, thành phố cũng đã có các quyết định liên quan đến việc lập điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chi tiết Công viên Đống Đa, tỷ lệ 1/500.

    Dự án này từng được đưa vào danh mục thu hồi đất. Tuy nhiên, tháng 5/2026, tại kỳ họp thứ 2 – Khóa XVII, HĐND TP Hà Nội đã thông qua danh mục 3.113 công trình, dự án thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn giai đoạn 2026 – 2030, giảm 2.689 dự án so với tờ trình ban đầu. Trong số các dự án tiếp thu, đưa ra khỏi đưa ra khỏi danh mục thu hồi đất có dự án Công viên văn hóa Đống Đa.

    Mặt tiền phố Thái Hà hiện có nhiều của hàng kinh doanh.

    Tiến Dũng

    Nguồn https://baomoi.com/hien-trang-khu-dan-cu-co-the-di-doi-de-lam-cong-vien-o-nga-tu-thai-ha-hoang-cau-c56186532.epi

  • Giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026: Một số bộ ngành, địa phương còn chậm

    27 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công dưới bình quân chung cả nước

    Bộ Tài chính đã có báo cáo số 818/BC-BTC ngày 02/10/2026 về tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026; các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.

    Số vốn đã được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương là 1.022.607 tỷ đồng; bao gồm: vốn ngân sách trung ương (NSTW) là 372.380,4 tỷ đồng (vốn trong nước là 354.716,3 tỷ đồng và vốn nước ngoài là 17.664,1 tỷ đồng) và vốn ngân sách địa phương (NSĐP) là 650.226,6 tỷ đồng.

    Tổng số vốn còn lại thuộc thẩm quyền của Chính phủ chưa giao (so với số vốn Quốc hội quyết định) là 83.216,4 tỷ đồng (vốn NSTW).

    Tổng kế hoạch giao năm 2026 đến thời điểm báo cáo (gồm: kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng, kế hoạch các năm trước chuyển sang) là 1.204.283,5 tỷ đồng.

    Đến hết tháng 9, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ, giao kế hoạch đầu tư vốn năm 2026 chi tiết cho danh mục nhiệm vụ, dự án là 1.049.808,3 tỷ đồng (bao gồm: vốn NSTW là 352.798,8 tỷ đồng, vốn NSĐP là 697.009,5 tỷ đồng). Nếu không tính kế hoạch vốn cân đối NSĐP các địa phương giao tăng (46.782,9 tỷ đồng), tổng số vốn đã phân bổ chi tiết là 1.003.025,4 tỷ đồng, đạt 98,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (bao gồm 5% tiết kiệm NSĐP cho đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng).

    Tốc độ giải ngân 9 tháng vốn đầu tư công kế hoạch năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm 2025

    Về giải ngân vốn kế hoạch năm 2026, Bộ Tài chính cho biết, luỹ kế giải ngân đến hết ngày 30/9/2026 là 642.961,6 tỷ đồng, đạt 62,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao; trong đó: vốn NSTW là 164.315,3 tỷ đồng, đạt 44,1%, vốn NSĐP là 478.646,3 tỷ đồng, đạt 73,6%. So với cùng kỳ năm 2025, kết quả giải ngân cao hơn 12,9% về tỷ lệ và 202.559,3 tỷ đồng về số tuyệt đối. Tốc độ giải ngân trong tháng 9 bằng 1,58 lần so với tốc độ giải ngân trong tháng 8, đạt tốc độ giải ngân hàng tháng ở mức tích cực so với diễn biến giải ngân những tháng đầu năm.

    Tỷ lệ giải ngân đến hết ngày 30/9/2026 của cả nước là 64,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (991.931,6 tỷ đồng) nếu không tính 5% kế hoạch vốn đầu tư công NSĐP (tương đương 30.675,4 tỷ đồng) thực hiện tiết kiệm để dự kiến đầu tư cho đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

    Kết quả giải ngân tính đến hết ngày 30/9/2026, so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, có 06 bộ, cơ quan trung ương và 19 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên bình quân chung cả nước, bao gồm:

    Bộ, cơ quan trung ương: Ngân hàng Chính sách xã hội; Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC); Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Bộ Công Thương; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an.

    Địa phương: Thành phố Bắc Ninh; thành phố Hà Nội; Lào Cai; Hà Tĩnh; thành phố Hải Phòng; Thái Nguyên; Nghệ An; thành phố Đà Nẵng; thành phố Quảng Ninh; Tây Ninh; Khánh Hòa; Thành phố Hồ Chí Minh; Điện Biên; thành phố Đồng Nai; Cà Mau; Lai Châu; Lạng Sơn; Tuyên Quang; Phú Thọ.

    Một số bộ và địa phương giải ngân khối lượng vốn lớn (lũy kế giải ngân 9 tháng trên 20 nghìn tỷ đồng) như:

    Bộ Quốc phòng (34,3 nghìn tỷ đồng), Bộ Công an (32,3 nghìn tỷ đồng).

    Thành phố Hà Nội (115,5 nghìn tỷ đồng), Thành phố Hồ Chí Minh (104,2 nghìn tỷ đồng); thành phố Hải Phòng (30,8 nghìn tỷ đồng), Tây Ninh (22,5 nghìn tỷ đồng), Hưng Yên (26,2 nghìn tỷ đồng).

    Một số địa phương ghi nhận chuyển biến tích cực về tốc độ giải ngân trong những ngày cuối tháng 9, đồng thời đạt kết quả tỷ lệ giải ngân vốn ngân sách trung ương trên 50% như: Thành phố Hà Nội (77,2%); Lai Châu (63,4%), An Giang (53,1%) và Hưng Yên (51,3%), cao hơn tỷ lệ giải ngân bình quân vốn ngân sách trung ương của cả nước là 44,1%.

    Còn 27 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước. Trong đó, một số bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 15% và chưa giải ngân gồm: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Đài Truyền hình Việt Nam; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam…

    Triển khai phương án chấm điểm giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công

    Bộ Tài chính cho biết, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026, Bộ Tài chính đã nghiên cứu và hoàn thành xây dựng Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính; có văn bản số 10950/BTC-PTHT ngày 24/7/2026 hướng dẫn cách thức chấm điểm để các bộ, cơ quan trung ương và địa phương triển khai thực hiện. Căn cứ kết quả giải ngân và dữ liệu do các cơ quan cập nhật trên Hệ thống, Bộ Tài chính đã tổng hợp, lấy ý kiến các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về kết quả chấm điểm thử giải ngân vốn đầu tư công kỳ tháng 7; tổng hợp báo cáo Chính phủ kết quả chấm điểm thử kỳ tháng 7 và tháng 8.

    Để thống nhất cách hiểu và cách thức thực hiện, trong tháng 9/2026, Bộ Tài chính đã tổ chức Hội nghị tập huấn toàn quốc về triển khai phương án chấm điểm giải ngân vốn đầu tư công (ngày 10/9/2026). Trên cơ sở kết quả chấm điểm thử kỳ tháng 7, tháng 8 và ý kiến trao đổi tại Hội nghị, Bộ Tài chính tiếp tục tổ chức chấm điểm thử kỳ tháng 9/2026 theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg; đồng thời tiếp tục hoàn thiện Hệ thống để triển khai chấm điểm chính thức từ kỳ tháng 10/2026.

    Việc xây dựng phương án chấm điểm có tác động lan tỏa rất lớn tới các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và các chủ đầu tư tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch giải ngân và triển khai các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án. Đến nay, một số bộ, cơ quan trung ương và địa phương đang chủ động nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá nội bộ đối với các đơn vị trực thuộc, qua đó theo dõi tiến độ của đơn vị trực thuộc, từng chủ đầu tư; kịp thời nhận diện khó khăn, vướng mắc, xác định trách nhiệm và đôn đốc xử lý, góp phần thúc đẩy giải ngân tại các đơn vị nội bộ.

    Qua kết quả chấm điểm thử có trường hợp cơ quan đạt điểm cao do hoàn thành mức đăng ký giải ngân trong tháng nhưng tỷ lệ giải ngân thực tế vẫn thấp hơn mức bình quân chung cả nước (đạt khoảng trên 80% so với mức bình quân chung cả nước). Do vậy, Bộ Tài chính sẽ điều chỉnh lại cách đánh giá, xếp loại để kết quả xếp loại chấm điểm giải ngân áp dụng từ kỳ tháng 10/2026 phản ánh sát hơn kết quả giải ngân thực tế; đồng thời khuyến khích các đơn vị đăng ký giải ngân sát với tiến độ, khả năng thực hiện và có tính phấn đấu. Cách đánh giá, xếp loại không làm thay đổi các chỉ tiêu, công thức và nguyên tắc tính điểm theo phương án đã được phê duyệt.

    Giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công các tháng cuối năm 2026

    Theo Bộ Tài chính, để đạt được yêu cầu giải ngân 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” theo Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương cần tiếp tục bám sát tiến độ từng dự án, lường trước các yếu tố bất lợi có thể xảy ra trong gia đoạn cuối năm (biến động của thời tiết, giá cả, tiếp tục khan hiếm nhân công,…) để xây dựng các kịch bản ứng phó, đề xuất các giải pháp kịp thời, khả thi.

    Tại báo cáo, Bộ Tài chính đã nêu rõ một số nhiệm vụ cụ thể cần tiếp tục khẩn trương thực hiện như: Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; công tác quản lý nguyên vật liệu; về các dự án giao thông trọng điểm; về tổ chức thực hiện dự án; về công tác nghiệm thu, thanh toán; về chấp hành chế độ báo cáo.

    Trong đó, về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cần tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Các địa phương chủ động rà soát cụ thể từng dự án, từng vị trí còn vướng; đẩy nhanh việc xác định nguồn gốc đất, giá đất, hoàn thiện hồ sơ, lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tăng cường tuyên truyền, vận động, giải thích các quy định pháp luật và chính sách bồi thường, hỗ trợ để tạo sự đồng thuận của người dân. Đối với phần mặt bằng đã đủ điều kiện, khẩn trương tổ chức bàn giao để chủ đầu tư, nhà thầu triển khai thi công; kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện, không để ảnh hưởng đến tiến độ dự án.

    Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu tái định cư, bảo đảm điều kiện ổn định đời sống cho người dân bị thu hồi đất, tạo điều kiện để người dân sớm bàn giao mặt bằng; đồng thời thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ di dời, ổn định chỗ ở, đời sống và sinh kế theo quy định…

    Về tổ chức thực hiện dự án, đối với kế hoạch vốn năm 2026 mới được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung và số kế hoạch vốn chưa triển khai phân bổ (bao gồm cả kế hoạch vốn cho các CTMTQG), đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư, đảm bảo điều kiện phân bổ chi tiết cho các nhiệm vụ, dự án. Triển khai ngay việc nhập dữ liệu phân bổ hoặc điều chỉnh kế hoạch vốn (nếu có) trên Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công theo đúng quy định pháp luật về đầu tư công.

    Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, gắn giải ngân vốn đầu tư công với khối lượng thực hiện và hiệu quả sử dụng vốn; thực hiện nghiêm quy định về tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư công theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 262/NQ-CP ngày 5/9/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2026. Kiểm soát chặt chẽ vốn tạm ứng bảo đảm tạm ứng phù hợp với tiến độ dự án, sử dụng vốn tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng, không để xảy ra tạm ứng quá hạn. Đối với các dự án có số dư tạm ứng lớn, chủ đầu tư tập trung đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành khối lượng để nghiệm thu, thanh toán và thu hồi vốn tạm ứng theo quy định, bảo đảm việc đẩy nhanh giải ngân thực chất, gắn với tiến độ thi công, hoàn thành và đưa công trình, dự án vào khai thác, phát huy hiệu quả đầu tư, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế…

    Toàn văn báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026; các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2026; giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026./. 

    Nguồn https://baomoi.com/giai-ngan-von-dau-tu-cong-9-thang-nam-2026-mot-so-bo-nganh-dia-phuong-con-cham-c56186844.epi

error: Bạn đang vi phạm bản quyền !!!